1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ trên sóng truyền hình (khảo sát đài phát thanh truyền hình bắc ninh và đài phát thanh truyền hình bắc giang)

123 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài”.Cũng chính vì thế, trách nhiệm củ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

CHU THỊ MINH

TUYÊN TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DÂN CA QUAN HỌ

TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH (Khảo sát Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh

và Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và độc lập thực hiện, không sao chép bất cứ một tài liệu nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Chu Thị Minh

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT

Chương 2: TUYÊN TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

CỦA DÂN CA QUAN HỌ TRÊN TRUYỀN HÌNH BẮC

2.1 Công tác lãnh đạo, quản lý của các địa phương nhằm bảo tồn, phát

2.2 Việc tổ chức sản xuất và phát sóng các nội dung về dân ca quan họ 47

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN

TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA

3.1 Nâng cao nhận thức, tư duy của các cấp ủy, chính quyền, các ban,

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang : Đài Bắc Giang

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc

SVHTTDL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Ý kiến khán giả về chất lượng âm thanh, hình ảnh các

Bảng 2.2 Ý kiến khán giả về chất lượng âm thanh, hình ảnh các

Bảng 2.3 Mức độ phát sóng các chương trình có nội dung tuyên

truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ

Bảng 2.4 Mức độ tuyên truyền về bảo tồn và phát huy giá trị của

dân ca quan họ trong các chương trình truyền hình của

Bảng 2.5 Mức độ phát sóng các chương trình có nội dung tuyên

truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ

Bảng 3.1 Ý kiến nhận xét của khán giả về chất lượng nội dung và

hình thức tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị

của dân ca quan họ trong các chương trình truyền hình

Bảng 3.2 Ý kiến của khán giả về thời lượng phát sóng các chương

trình về dân ca quan họ của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh 86

Bảng 3.3 Ý kiến của khán giả về sự cần thiết phải tổ chức sản xuất và

phát sóng các chương trình chuyên biệt về dân ca quan họ

trên sóng truyền hình của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh 86

Bảng 3.4 Đội ngũ phóng viên, biên tập viên cần phải tìm hiểu nhu

Bảng 3.5 Cần có đội ngũ phóng viên, biên tập viên có chuyên môn

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hoá là sợi dây kỳ diệu kết nối quá khứ, hiện tại, hướng đến tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc Đó là thành quả được tạo nên bởi lao động sáng tạo không ngừng nghỉ của cả cộng đồng Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, mỗi dân tộc đều sáng tạo nên nền văn hoá với bản sắc riêng của mình Bản sắc đó, sức mạnh nội sinh đó đã giúp mỗi quốc gia, dân tộc, dù trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách vẫn phát triển, trường tồn

Dân ca quan họ - đề tài mà luận văn này hướng đến là một trong những

di sản văn hóa quý báu, có lịch sử hình thành, phát triển từ rất lâu đời

Ca hát quan họ là một sinh hoạt văn hóa độc đáo của nhân dân vùng Kinh Bắc xưa, bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh ở bờ nam Sông Cầu và Bắc Giang

ở bờ bắc Sông Cầu Quan họ có những giá trị nổi bật về nhiều mặt: lịch sử, tập quán, nghệ thuật trình diễn, lề lối ca hát, trang phục, ngôn ngữ… được Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” vào ngày 30/9/2009 Sự kiện này góp phần khẳng định vị trí, vai trò của di sản đối với

xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và nhân loại

Để di sản dân ca quan họ được bảo tồn và phát triển cần có sự định hướng, quản lý của nhà nước, các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu, của các nghệ nhân, nghệ sỹ, sự chung tay của cả cộng đồng, trong đó có vai trò quan trọng của truyền thông

Kể từ khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, công tác tuyên truyền về dân ca quan họ đã được các phương tiện thông tin đại chúng quan tâm, nhất là trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và các đài địa phương Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang (Đài Bắc Giang), Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh (Đài Bắc Ninh) đã dành thời lượng khá lớn để giới thiệu các bài hát dân ca quan họ và

Trang 7

những nét đẹp, độc đáo của loại hình dân ca này Tuy nhiên, công tác tuyên truyền chưa khai thác, truyền tải đầy đủ các giá trị của dân ca quan họ

Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh mặc dù đã đầu tư kinh phí sản xuất nhiều chương trình về dân ca quan họ, nhưng như thế là chưa đủ Đài chưa xây dựng được một kế hoạch truyền thông tổng thể, mang tính chiến lược, lâu dài; việc tuyên truyền còn mang tính “thời vụ”, khi có những sự kiện, các hoạt động do ngành văn hóa hay các địa phương tổ chức thì tập trung tuyên truyền, sau đó lại lắng xuống Điều này dẫn đến việc tuyên truyền thiếu đồng bộ, mất cân đối, số lượng, chất lượng và hiệu quả thông tin chưa đạt yêu cầu Trong khi Đài Bắc Ninh đồng thời phát sóng quá nhiều chương trình về dân ca quan

họ, thông tin trùng lặp, các chương trình, chuyên mục được phát đi phát lại nhiều lần, việc bố trí thời gian và tần suất phát sóng quá gần, tạo cảm giác nhàm chán đối với người xem thì Đài Bắc Giang lại chưa xây dựng được chuyên trang dành riêng để tuyên truyền, quảng bá phục vụ công tác bảo tồn dân ca quan họ Bên cạnh đó là sự nhận thức chưa đúng của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể về giá trị cũng như tầm quan trọng dân ca quan

họ trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương

Trong khi đó, đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cùng với sự giao lưu, hội nhập toàn diện đã tác động một cách sâu rộng đến mọi tầng lớp cư dân Do đó, di sản văn hóa cũng rất dễ bị mai một

và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh chóng Bởi vậy, vấn đề đang đặt ra là cần có các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóa truyền thống tiếp tục tỏa sáng trong xu thế giao lưu, hội nhập Đây là nhiệm vụ quan trọng, có

ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương V (Khoá 8) về “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “ Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát

Trang 8

triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài”.

Cũng chính vì thế, trách nhiệm của các cơ quan báo chí là phải tuyên truyền giá trị di sản văn hoá truyền thống nói chung, trong đó có dân ca quan

họ nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá truyền thống của dân tộc

Đó là lý do tác giả lựa chọn nội dung: “Tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ trên sóng truyền hình” (khảo sát Đài Phát

thanh - Truyền hình Bắc Ninh và Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang)

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong các nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa, có nhiều công trình nghiên cứu

về giá trị của dân ca quan họ Năm 1996, tác giả Trần Linh Quý công bố công trình “Tìm hiểu về dân ca quan họ” do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản

Năm 1997, Chính phủ cho phép Bộ Văn hoá - Thông tin thực hiện đề án “Điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hoá dân tộc” nhằm bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hoá dân gian truyền thống Theo đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân ca quan họ tại hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh Năm 2006, thực hiện nhiệm vụ công tác của ngành Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa thông tin - triển lãm tỉnh Bắc Giang tổ chức triển khai thực hiện đề tài “Điều tra văn hoá quan họ ở bờ Bắc sông Cầu” Công trình này cũng được tác giả tham khảo trong khi thực hiện đề tài của luận văn

Về các công trình khoa học ngành báo chí ở bậc đại học và sau đại học nghiên cứu về mảng đề tài báo chí với vấn đề bảo tồn các di sản văn hóa cũng

có nhiều Gần đây nhất là 2 luận văn thạc sỹ Truyền thông đại chúng : “Báo chí với vấn đề bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể” của Đỗ Mai Trang - H.: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010; và luận văn “Báo chí Hà Nội góp phần bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống của Thủ đô” của Trần Thị Thuý Lan - H.:

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010

Trang 9

Tuy nhiên, trên truyền hình, mảng đề tài nghiên cứu công tác tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống vẫn còn đang bỏ ngỏ Theo tìm hiểu của tác giả, đến nay cũng chưa có công trình khoa học nào

đi sâu nghiên cứu việc tuyên truyền về việc bảo tồn và phát huy từng giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có dân ca quan họ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: nhằm tìm và đưa ra các giải pháp trong công tác

tuyên truyền cũng như phương pháp tuyên truyền việc bảo tồn, phát huy những giá trị của dân ca quan họ trong các chương trình truyền hình của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết được mục đích trên, tác giả xác

định một số nhiệm vụ cần nghiên cứu chủ yếu sau đây:

1 Làm rõ các khái niệm: “văn hóa”, “tuyên truyền”, “bảo tồn”, “phát huy”, “giá trị”, mối quan hệ giữa việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, giá trị của dân ca quan họ cũng như những vấn đề đặt ra trong việc tuyên truyền việc bảo tồn để phát huy giá trị văn hóa của dân ca quan họ trong các chương trình truyền hình của Đài Bắc Giang, Đài Bắc Ninh

2 Khảo sát các chương trình truyền hình có nội dung tuyên truyền hoạt động giới thiệu, gìn giữ các giá trị của dân ca quan họ, thời lượng và thời gian phát sóng, qua đó đánh giá những thành công cũng như những khó khăn, hạn chế của các chương trình truyền hình đối với việc tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ ở 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh

3 Đề xuất các giải pháp và phương pháp cho công tác tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ trên truyền hình của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: công tác tuyên truyền việc bảo tồn và phát

huy giá trị của dân ca quan họ trên sóng truyền hình

Trang 10

- Phạm vi nghiên cứu: các chương trình được phát trên sóng truyền

hình của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh có nội dung tuyên truyền về dân ca quan họ từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 9 năm 2012

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Vận dụng kiến thức báo chí học, văn hóa học; lấy chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm nền tảng để tiến hành nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu chung: luận văn sử dụng phương pháp nghiên

cứu chủ yếu là phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh đối chiếu

Sử dụng lý thuyết liên ngành như chính trị học, xã hội học, tâm lý học Luận văn coi trọng phương pháp phân tích tài liệu, khảo sát, điền dã, theo dõi các chương trình truyền hình đã và đang được phát sóng tại thời điểm nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, đặc biệt là phương pháp điều tra xã hội học để thu thập thông tin

6 Cái mới của luận văn

Luận văn bước đầu tìm hiểu và đưa ra được một số vấn đề có tính chất

lý luận về công tác tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể, đồng thời phân tích thực tế công tác tuyên truyền việc bảo tồn

và phát huy giá trị của dân ca quan họ, từ đó tìm và đưa ra các nhóm giải pháp tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên sóng truyền hình của hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh nói riêng và các địa phương trong cả nước nói chung ngày càng đạt hiệu quả cao hơn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Với mong muốn góp phần cùng với các nhà nghiên

cứu báo chí - truyền thông và những người trực tiếp sản xuất chương trình truyền hình ở 2 Đài Bắc Giang, Bắc Ninh nói riêng và các Đài Phát thanh - Truyền hình các địa phương nói chung có phương pháp tiếp cận các giá trị văn hóa thông qua lăng kính báo chí, phương pháp tổ chức sản xuất các

Trang 11

chương trình truyền hình tuyên truyền về lĩnh vực văn hóa Cao hơn là góp phần xây dựng phương pháp tiếp cận từ nghiệp vụ của người làm truyền hình đối với những vấn đề tuyên truyền về việc bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể, với mục tiêu là sản xuất được những sản phẩm truyền hình vừa mang tính trí tuệ, hấp dẫn vừa có tính định hướng cao, góp phần bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể ở các địa phương, nhất là trong giai đoạn đất nước hội nhập, mở cửa và đẩy mạnh giao lưu văn hóa

Ý nghĩa thực tiễn:

- Trên cơ sở hoạt động khảo sát và nghiên cứu, tác giả hy vọng sẽ đề xuất được các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của dân ca quan họ trên sóng truyền hình của Đài Bắc Giang, Đài Bắc Ninh với mục tiêu là sản xuất được những sản phẩm truyền hình mang tính trí tuệ, hấp dẫn, có tính định hướng cao, góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương V (Khoá 8) về “Xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa” trong giai đoạn đất nước hội nhập, mở cửa, phù hợp

xu thế chung của thời đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thính giả trong thông tin, tuyên truyền

- Luận văn đóng góp cho thực tiễn sản xuất chương trình truyền hình của Đài Bắc Giang và Đài Bắc Ninh về phương pháp tiếp cận và xây dựng chương trình truyền hình về nội dung tuyên truyền việc bảo vệ và phát huy giá trị của dân ca quan họ nói riêng, từ đó mở rộng để tổ chức xây dựng các chương trình tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể khác như: giá trị của nghệ thuật ca trù, chầu văn, chèo và các giá trị của dân ca các dân tộc thiểu số trên địa bàn như: soong hao, hát then, sli, lượn…

- Luận văn là cơ sở để các đài truyền hình trong cả nước tham khảo trong quá trình xây dựng, sản xuất các chương trình truyền hình đối với mảng

Trang 12

đề tề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương mình một cách hiệu quả nhất Đây cũng có thể là gợi ý cho những ý tưởng đổi mới, sáng tạo, sản xuất các chương trình truyền hình có chất lượng tốt hơn, hấp dẫn khán giả trên lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật

- Bên cạnh đó, những khảo sát nghiên cứu, đánh giá từ luận văn này sẽ

là những căn cứ có thể giúp ích cho công tác định hướng, quy hoạch của các

cơ quan quản lý nhà nước về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

ở các địa phương

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên

truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ

Chương 2: Tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan

họ trên sóng truyền hình Bắc Giang, Bắc Ninh

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền việc bảo

tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ trên sóng truyền hình

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ CỦA DÂN CA QUAN HỌ

1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm “văn hóa”

Khái niệm “văn hóa” mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người

Nghĩa ban đầu của “văn hóa” trong tiếng Hán là những nét xăm mình, qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ấn của thiên nhiên,

chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên Theo bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa

Theo quan niệm của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp; kultur trong tiếng Đức, ) có nguồn gốc từ tiếng Latin cultus có nghĩa là gieo trồng Từ gieo trồng theo

nghĩa đen đến “gieo trồng tinh thần” (cultus animi) tức bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao đời sống tâm hồn, trí tuệ con người [32, tr.23]

Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như: thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này Một cách hiểu thông thường

khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và

cả đức tin, tri thức được tiếp nhận (Theo Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở)

Đã có nhiều tổ chức, quốc gia, dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm, định nghĩa, cách hiểu, cách lý giải khác nhau về văn hoá Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thế giới hiện có xấp xỉ 300 định nghĩa về văn hóa Do có nhiều định nghĩa như vậy nên khái niệm văn hóa được hiểu, tham

Trang 14

chiếu, vận dụng, bổ sung, phát triển nội hàm theo những cách khác nhau Có thể đưa ra một số quan niệm, khái niệm, định nghĩa về văn hoá như sau:

Năm 1871, E Taylo công bố công trình “Văn hóa nguyên thủy” đã đưa

ra một định nghĩa về văn hóa:

Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm: hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng với những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội [22, tr.18]

Năm 1982, tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô, Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa:

Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt

về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền

cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục

và tín ngưỡng[56, tr.23]

Trong thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa, Tổng Giám đốc UNESCO GS Federico Mayor đưa ra quan niệm:

Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ

và trong hiện tại Qua các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [22, tr.21]

Định nghĩa trên tiếp cận văn hóa dưới góc độ hoạt động sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần của con người; văn hóa là hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu; đặc biệt, văn hóa mang đậm đặc tính dân tộc, đó chính là sự

đa dạng, sự độc đáo của văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ rất sớm đã quan niệm về văn hóa, phát triển văn hóa, xây dựng con người trong một xã hội mới giàu chất văn hóa, nhân văn

Trang 15

Trong mục Đọc sách ở phần cuối tập “Nhật ký trong tù” 1943), Hồ Chí Minh đã viết: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

(1942-là văn hóa Văn hóa (1942-là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích

ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [22, tr.22]

Trùng với khoảng thời gian ra đời của tập “Nhật ký trong tù”, “Đề cương văn hóa Việt Nam” được đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng khởi thảo và được Ban Thường vụ Trung ương Đảng thông qua vào cuối tháng 2/1943 Đây là một văn kiện quan trọng trong đường lối của Đảng ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và có giá trị như một bản Tuyên ngôn văn hóa của Đảng, có ảnh hưởng và sự chỉ đạo to lớn, ghi đậm dấu ấn trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn kiện quan trọng về văn hóa, văn nghệ Ngay từ Đại hội III, IV, V, VI, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là phải xây dựng nền văn hóa mới XHCN với đặc trưng là đậm tính dân tộc, tính tư tưởng, tính chân thật, tính nghệ thuật cao Đến Đại hội VII là hướng đến một “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Đặc biệt, vào tháng 7/1998, Đảng đã ra nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” với quan điểm “văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội” Có thể coi đây là cương lĩnh lần thứ hai của Đảng ta về văn hóa trong giai đoạn đất nước đang trên đường đổi mới và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN

Đến Đại hội IX, X, XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định các nội dung chủ yếu của nghị quyết Trung ương V (khóa VIII), đồng thời nâng lên tầm cao mới:

Trang 16

coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần xã hội

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định:

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển [13, tr.70]

Những định nghĩa về văn hóa dù khái quát cao đến đâu hay cụ thể, chi

li đến mấy cũng chỉ nêu được một số nội hàm nào đó của văn hóa

Tóm lại, “văn hóa” là một khái niệm trừu tượng, nội hàm của văn hóa rộng lớn, phong phú, phức tạp, lại được hiểu và vận dụng dưới các góc độ khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các quốc gia, dân tộc, giai tầng, lứa tuổi, tôn giáo, dân tộc khác nhau, nên rất khó có một định nghĩa đầy đủ, chính xác, thỏa mãn yêu cầu của nhiều đối tượng tiếp cận nó Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể, và không quá khắt khe, cầu toàn, vẫn có thể nêu

Trang 17

của mỗi xã hội, mỗi cộng đồng, văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc Những gì trái với chuẩn mực trên thì không phải là văn hóa

Theo nghĩa hẹp: quan niệm văn hóa chỉ ở lĩnh vực sản xuất tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội [22, tr.23]

1.1.2 Khái niệm “tuyên truyền”

Tuyên truyền là hành động truyền bá thông tin với mục đích đưa thái

độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng có lợi cho một phong trào hay tập đoàn, một nhóm xã hội, thường lồng sau mục tiêu chính trị

Mục tiêu cao nhất của tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng (Theo Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở)

Khái niệm “tuyên truyền” được bắt nguồn (hoặc liên quan khá mật thiết) đến khái niệm “truyền thông” Truyền thông (communication) là quá trình truyền thông tin từ người gửi đến người nhận thông tin Môi trường giữa người gửi và người nhận được gọi là kênh hay phương tiện truyền thông

Tuyên truyền là một dạng đặc biệt của truyền thông, có lịch sử ra đời từ

xa xưa, được biến đổi qua thời gian

Theo Từ điển Tiếng Việt: Tuyên truyền là phổ biến, giải thích rộng rãi

để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo [59, tr.1433]

Theo từ điển Tiếng Việt - Tường giải và liên tưởng: Tuyên truyền là tác động vào ý nghĩ, dư luận của quần chúng nhằm lôi cuốn được nhiều người vào việc tán thành một đường lối, ủng hộ một chính phủ, phổ biến một học thuyết [15, tr.879]

Theo R A Nelson, tuyên truyền được định nghĩa là một dạng truyền thông có hệ thống, có chủ ý nhằm tác động đến cảm xúc, thái độ, ý kiến và hành động của một nhóm người xác định vì các mục đích tư tưởng, chính trị

Trang 18

hay thương mại thông qua việc truyền các thông điệp một chiều, được kiểm soát trên các phương tiện truyền thông

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền, giáo dục là đem một việc

gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục

nhật ngày 29-07-2011)

Tuyên truyền là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng Trong điều kiện bùng nổ thông tin, công tác tuyên truyền càng trở nên quan trọng trong việc định hướng thông tin, làm cho công chúng tiếp nhận các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước một cách đầy đủ và đúng đắn nhất

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tuyên truyền như sau:

Tuyên truyền là một hoạt động có mục đích của một chủ thể đến các khách thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng, biến những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ các khách thể hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra

1.1.3 Khái niệm “bảo tồn”

Theo từ điển Tiếng Việt - Tường giải và liên tưởng của tác giả Vũ Cao

Đàm: Bảo tồn là giữ cho còn lại lâu dài; Bảo tồn bảo tàng là giữ cho còn lại lâu dài các tài liệu và di tích lịch sử, văn hóa, xã hội để chuyển đến các thế

Trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiện ngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống,

Trang 19

đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra

Văn hóa là một phạm trù rộng Khái niệm “bảo tồn văn hóa” thường được gắn với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn… Hiểu theo nghĩa chung nhất, bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa

Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa,

mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy lẫn nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình

Theo từ điển Tiếng Việt - Tường giải và liên tưởng: Phát huy là dựa vào thế tạo ra lợi ích, có tác dụng tốt [15, tr.636]

Nói một cách đơn giản, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Vì vậy, có thể hiểu:

Phát huy là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp,

từ đơn giản đến phức tạp

Phát huy các giá trị văn hóa là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực văn hóa nhằm đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người

Trang 20

Mục đích của việc phát huy giá trị di sản văn hóa là phục vụ cho sự tiến

bộ của xã hội, cho việc phát triển bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè quốc tế Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng các hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy là quảng bá hình ảnh của di sản trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút sự chú ý của nhiều người trong lĩnh vực báo chí tuyên truyền và thu hút nhiều khách tham quan, du lịch trong lĩnh vực kinh tế Từ

đó giúp việc phục hồi tối đa các giá trị văn hóa truyền thống, tạo cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau góp phần hiểu biết lẫn nhau và tăng cường mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển của xã hội

Việc phát huy tốt giá trị của di sản còn mang lại một lợi nhuận vô giá

về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về di sản văn hóa sẽ có tác động trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng

1.1.5 Khái niệm “giá trị”, “giá trị văn hóa’’

1.1.5.1 Khái niệm “giá trị”

“Giá trị” là phạm trù được bàn đến và sử dụng từ rất sớm trong lịch sử

tư tưởng, bắt đầu bằng quan niệm lợi ích của các nhà triết học cổ đại, như Xôcrát, Platôn, tiếp tục được phát triển ở thời kỳ trung cổ và cận đại Tuy nhiên, phải đến tận nửa sau thế kỷ XIX những vấn đề về bản chất, cấu trúc của giá trị, vị trí của các giá trị trong hiện thực mới được nghiên cứu với tư cách là lý luận về giá trị

Ở Việt Nam, vấn đề giá trị mới được quan tâm từ khoảng những năm

80 của thế kỷ XX Theo nhận xét của tác giả Hồ Sĩ Quý, hầu hết các nhà nghiên cứu đầu ngành của khoa học xã hội đều ít nhiều đã tham gia bàn luận

về giá trị, giá trị văn hóa, giá trị đạo đức

Trang 21

Theo từ điển Tiếng Việt - Tường giải và liên tưởng:

Giá trị là cơ sở để xác định mức độ lợi ích đối với con người; là cái mà người ta dựa vào để xem một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng ; Giá trị là những quan điểm và

thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội [15, tr.324] 1.1.5.2 Khái niệm “giá trị văn hóa”

Trong từ “văn hóa”, theo truyền thống phương Đông: “văn” đối lập với

“võ” “Văn” có nghĩa là “vẻ đẹp”, là giá trị văn hóa, có nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị ” Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người

“Giá trị” là khái niệm có độ bao quát rất lớn bởi nó mang tính tương đối Như vậy, không chỉ các đồ vật, sách vở, tác phẩm nghệ thuật mới là giá trị, mà cả truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội, biểu trưng, thông tin đều là giá trị

Bản chất của văn hóa là sáng tạo vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ, các giá trị nhân văn để xây dựng con người và phát triển xã hội loài người Vì vậy, có thể hiểu:

Giá trị văn hóa chính là giá trị tinh thần của một cộng đồng, dân tộc Chuẩn mực văn hóa do mỗi cộng cồng dân tộc sáng tạo ra, lưu giữ và truyền đạt cho các thế hệ mai sau tạo thành các giá trị văn hóa truyền thống

1.1.6 Quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc Trong lịch sử bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc, Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa ngoại lai

Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa ngày càng sâu rộng, vấn đề được đặt ra đó là phải xử lý được mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Trang 22

Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Bởi lẽ, văn hóa là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn mà tồn tại, không đem ra sử dụng thì không phát huy được giá trị Thời gian sẽ làm phai mờ giá trị, khiến cho các giá trị đó có thể bị lãng quên Chỉ khi giá trị các di sản văn hóa được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ và làm điều kiện để bảo tồn Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị văn hóa không bị chôn vùi bởi thời gian mà còn lan rộng

và giữ vững được bản sắc Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục

vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn di sản văn hóa được tốt hơn, tỏa sáng hơn Vì vậy, cần xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, để bảo tồn không cản trở sự phát triển, mà trái lại còn tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững

Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đòi hỏi phải có những kiến thức chuyên sâu, phải tuân thủ những nguyên tắc cao nhất của bảo tồn là giữ được tính nguyên gốc của di sản gắn với những điều kiện lịch sử, kinh tế -

xã hội cụ thể của từng thời kỳ Trên nguyên tắc đó, khi giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa cần có sự hiểu biết đầy đủ

về nội dung hàm chứa trong di sản, đồng thời cần phải nhận định cho được đâu là yếu tố gốc, yếu tố nội sinh, đâu là yếu tố ngoại sinh, yếu tố kế thừa của một di sản, từ đó có sự lựa chọn hình thức bảo tồn cho phù hợp

Bảo tồn di sản văn hóa là việc bảo vệ, gìn giữ những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho di sản văn hóa đó lớn mạnh hơn, giàu có hơn và tất yếu cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại để nó có thể tiếp tục song hành cùng xu hướng đi lên của xã hội

Xử lý tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là nhằm mục đích xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bởi vì việc bảo tồn

Trang 23

và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống chính là để làm cho văn hóa đậm

đà bản sắc dân tộc, còn tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chính là để xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại và cũng góp phần trở thành tinh hoa văn hóa nhân loại

1.2 Giá trị đặc sắc của dân ca quan họ

1.2.1 Về tên gọi dân ca “quan họ”

Nghĩa của tên gọi “quan họ” có nhiều cách giải thích khác nhau; có thể

chia thành hai luồng chính: truyền miệng của người dân vùng quan họ và cách giải thích theo sự khảo cứu của từng nhà nghiên cứu

Trước hết, về cách giải thích truyền miệng của người vùng quan họ, ở mỗi vùng lại có cách hiểu khác nhau

Người vùng Châm Khê xã Bùi Xá, huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh truyền rằng: lối hát quan họ là lối hát giữa quan viên họ nhà trai và quan viên

họ nhà gái Vậy, tiếng hát của quan viên hai họ được gọi tắt là hát quan họ Người vùng Chè, Quả Cam, phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh gắn tiếng hát quan họ với những truyền thuyết Chuyện rằng: Chúa Trịnh Sâm đi

du xuân, thấy một người con gái đang cắt cỏ trên núi Chè vừa cắt cỏ vừa hát:

“Tay cầm bán nguyệt xênh xang, bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta” Tiếng hát

hay khiến quan quân phải “họ lại" (dừng lại) để nghe Dân gian cho là tiếng hát đó tạo nên sự may mắn, hạnh phúc nên đua nhau hát, tiếng hát lan rộng, trở thành lối hát, gọi là hát quan họ

Người vùng Hồi Quan nay thuộc huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh kể rằng: khi vua Lý Công Uẩn chạy giặc, dân muốn cản quan quân giặc nên ùa ra đường hát làm quan quân phải họ lại, giúp Lý Công Uẩn chạy thoát

Tuy chi tiết khác nhau, nhưng các truyền thuyết trên đều giải thích quan

họ là tiếng hát làm quan quân phải họ lại, dừng lại

Như vậy, qua truyền thuyết dân gian, ít nhất, tên gọi “quan họ” được giải thích bằng 4 nghĩa: Tiếng hát họ nhà quan; Tiếng hát quan viên hai họ

Trang 24

trong đám cưới; Tiếng hát hay, làm quan quân họ lại, dừng lại; Tiếng hát giữa hai làng kết chạ, kết họ do một vị quan nào đó tác thành

Ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng: tên gọi “quan họ” lại xuất phát

từ nghĩa khác Trong cuốn “Dân ca quan họ Bắc Ninh”, nhiều tác giả cho rằng:

“Quan họ là một danh từ kép Trong ngôn ngữ, dưới chế độ phong kiến chữ “họ” với chữ “phường” là hai danh từ gần đồng nghĩa với nhau, chỉ một tập thể người nhất định”

Trong một tham luận đọc tại hội nghị khoa học về sưu tầm, nghiên cứu

Quan họ lần thứ 4, năm 1971, Mấy ý kiến về vấn đề tìm hiểu nguồn gốc dân

ca quan họ, Lê Thị Nhâm Tuyết, Viện Dân tộc học cho rằng từ “quan” không

phải là một từ Hán - Việt vay mượn mà đã có từ thời Hùng Vương trong từ kép quan lang là một từ Việt cổ trước khi nhập vào từ quan Hán Việt, và có nghĩa là người đàn ông Còn từ “họ” chỉ một cộng đồng gắn theo máu mủ, huyết thống Đã có nhiều thời kỳ cộng đồng này mang ý nghĩa vai trò của những đơn vị xã hội (những công xã thị tộc), sau này thành những làng Do những lý do lịch sử những công xã thị tộc ấy có thể tách ra làm hai (hoặc nhiều hơn), những người đàn ông trong họ (quan họ) mới tách ra, dẫn dân mình (họ mình) về làng gốc chơi và hát theo tục lệ, nên lối chơi và hát ấy cũng được gọi tên là hát “quan họ” như trường hợp hát quan làng, hát đám cưới của người Tày, Nùng Tác giả đã giả định như vậy sau khi so sánh thấy hát quan làng, gọi tên như vậy để chỉ một loại dân ca đám cưới, chỉ vì một điều giản dị: “Quan làng là người đại diện cao nhất của họ nhà trai có thẩm quyền bàn bạc về tất cả mọi việc liên quan tới nghi lễ và tổ chức cưới hỏi với nhà gái Quan làng phải thuộc nhiều bài hát đám cưới để đối lại với họ nhà gái ” [47]

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vũ Ngọc Phan, trong bài viết Mấy ý kiến sơ bộ về dân ca quan họ, sau khi bác bỏ giả thuyết quan họ là quan họ

lại, dừng lại, tác giả gợi ý các nhà nghiên cứu lưu tâm tới những truyền thuyết

Trang 25

về quan họ ở châu Cổ Pháp xã Ðình Bảng, quê hương của Lý Công Uẩn với những người trong họ nhà Lý tụ họp hát mừng mỗi khi các vua Lý về thăm quê hương Vì vậy, theo tác giả, “quan họ” là tiếng hát của quan viên họ Lý hát để mừng vua khi vua về thăm quê hương

Nhìn chung, sự giải thích về tên gọi “quan họ” thì có nhiều, nhưng chưa có cách giải thích nào có thể coi là hoàn toàn thoả đáng Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, nhiều người nghiêng về cách giải thích: Quan họ là quan viên họ nhà trai và quan viên họ nhà gái trong đám cưới; tiếng hát này, chặng đầu gắn liền với hát đám cưới, giữa quan viên hai họ, nên được gọi tắt là tiếng hát quan họ, sau này trở thành tiếng hát hội, tiếng hát họp bạn của trai gái, tiếng hát phong tục của cả vùng Kinh Bắc, được gọi là hát quan họ

1.2.2 Giá trị nội dung tư tưởng của sinh hoạt văn hóa quan họ

Quan họ là một tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa hóa nghệ thuật dân gian xứ Bắc (tên gọi theo sự phân vùng văn hóa dân gian, chỉ vùng đất phía Bắc Thăng Long), trong một quá trình lịch sử lâu dài, có nhiều tầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa; gắn bó với văn hóa, văn minh làng xã, biểu hiện những khao khát của con người xứ Bắc đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc trên bình diện văn hóa - xã hội

Theo chiều dài lịch sử, quan họ đã sáng tạo, dung nạp, chuyển hóa, sinh thành, đào thải để thích nghi, đáp ứng những nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật Vì vậy, giá trị nội dung tư tưởng của sinh hoạt văn hóa quan họ hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú, sâu, rộng, thể hiện qua 4 nét chính như sau:

1.2.2.1 Sinh hoạt văn hóa quan họ là sản phẩm sáng tạo tinh thần của quần chúng lao động, trở thành hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng của của quần chúng lao động vùng quan họ

Theo “báo cáo về công tác sưu tầm, nghiên cứu và phát động quần chúng bảo vệ giữ gìn vốn văn hóa quan họ” tại Hội nghị quan họ lần thứ V tháng 6/1973, nghiên cứu tiểu sử của hầu hết các liền anh, liền chị chơi quan họ, bao

Trang 26

gồm cả những người chuyên hát quan họ và những người vừa có khả năng hát vừa có khả năng sáng tác quan họ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, họ chủ yếu là nông dân lao động, một phần nhỏ là thợ thủ công và dân nghèo thành thị Người chơi quan họ không chỉ là trai gái thanh xuân mà còn là thú vui của cả người già, trẻ nhỏ Người hát quan họ không giống người hát chèo, tuồng ở chỗ coi đó là một nghề và không bao giờ hát lấy tiền công Trai gái vùng quan họ lớn lên đi hát cũng tự nhiên như lớn lên học đi cày, đi bừa, gặt hái Mặc cho đạo lý phong kiến cho rằng đi hát là “xướng ca vô loài” thì người dân vùng quan họ vẫn cứ ông cha hát, cháu con lại hát, trân trọng giữ gìn sự hát ấy

Vì thế, giá trị của sự tồn tại bền vững trong sinh hoạt văn hóa quan họ không chỉ ở chỗ nó là sản phẩm tinh thần do quần chúng sáng tạo và trở thành sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động mà ở đó vượt lên khỏi đạo lý ích kỷ của phong kiến, người ở vùng quan họ quyết giành cho mình quyền sáng tạo nghệ thuật, quyền thưởng thức nghệ thuật, quyền mưu cầu hạnh phúc chân chính của quần chúng lao động

1.2.2.2 Sinh hoạt văn hóa quan họ biểu hiện khát vọng về hạnh phúc cuộc sống, biểu hiện truyền thống yêu chuộng sự bình đẳng, tự do và ý chí duy trì, bảo vệ sự bình đẳng, tự do của quần chúng lao động

Đặt sự tồn tại của sinh hoạt văn hóa quan họ trong bối cảnh lịch sử xã hội của thời phong kiến, chúng ta mới có thể lý giải được tình yêu, khát khao mãnh liệt về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đất nước và cuộc sống hạnh phúc Không phải ngẫu nhiên, quần chúng lao động vùng quan họ đã dành những gì đẹp đẽ nhất, tốt lành nhất cho sinh hoạt văn hóa quan họ khiến cho bất kỳ ai được sống trong không khí ấy, tình cảm ấy, niềm vui ấy đều cảm nhận một cuộc sống tràn trề hạnh phúc Họ mặc những bộ trang phục đẹp nhất, hát những lời nặng nghĩa, nặng tình, nói những lời mềm mỏng, thanh nhã, trân trọng con người, trân trọng lẫn nhau Miếng trầu, chén nước, bữa ăn

Trang 27

đều kết tinh từ bàn tay khéo léo, tấm lòng mến khách, trọng bạn Trong sinh hoạt văn hóa quan họ, người dân vùng quan họ đã vượt qua mọi sự ràng buộc của xã hội phong kiến, để giành cho mình quyền tự do: tự do sáng tạo những bài hát phù hợp với tâm hồn, tình cảm của mình, quyền tự do kết bạn, giao du, sum họp ca hát

1.2.2.3 Sinh hoạt văn hóa quan họ là một kho tàng quý báu về âm nhạc dân tộc

Theo số liệu sưu tầm, ghi chép được của các nhà nghiên cứu về dân ca quan họ, có khoảng 600 bản lời ca Mỗi bài hát quan họ có một giai điệu riêng với cấu trúc riêng để người nghe có thể phân biệt bài này khác với bài kia và hiệu quả về mặt cảm xúc cũng khác nhau đối với người nghe Nhưng toàn bộ những bài hát quan họ lại có những nét chung tài tình về về âm nhạc khiến toàn bộ hệ thống quan họ tạo nên một phong cách âm nhạc quan họ Phong cách âm nhạc quan họ có dáng hình riêng, chỗ đứng bền vững hàng trăm năm

mà còn tạo cho âm nhạc quan họ có sức sống mãnh liệt Về mặt nghệ thuật sáng tạo, nhiều ca khúc âm nhạc quan họ được các nhà nghiên cứu âm nhạc trong nước và thế giới coi là những thành công đạt đến mức “khuôn mẫu” về sáng tác, kể cả đối với âm nhạc hiện đại, ví dụ như bài “cây trúc xinh”, “xe chỉ luồn kim”, “lý cây đa”…

Nhận định về nghệ thuật sáng tạo ca khúc quan họ, nhà nghiên cứu quan

họ Trần Linh Quý cho rằng “âm nhạc quan họ có bố cục điêu luyện, đạt một mức độ cao hơn nhiều so với nhiều loại dân ca khác”; trong mỗi ca khúc quan

họ “dân ca quan họ đã đã đạt đến một tổ chức thẩm mỹ trong sáng và điêu luyện rất hiếm có trong các loại dân ca” [39]

Cấu trúc của một số ca khúc quan họ theo kiểu gồm có câu “bỉ” đầu, âm điệu có tính chất ngâm, không có tiết tấu chặt chẽ để dẫn người nghe vào

“ruột bài”, rồi cuối cùng là một câu kết thúc, gọi là câu “đổ”, chuyển sang làn điệu khác gợi lên một màu sắc mới bất ngờ về âm nhạc báo hiệu là sắp hết

Trang 28

bài Đây là một cấu trúc đầy đủ nhất và độc đáo nhất mà sáng tác ca khúc hiện đại cần nghiên cứu, học tập

Giá trị nhiều mặt của âm nhạc quan họ không phải chỉ dừng ở vai trò là mạch nguồn để người làm âm nhạc, nghệ thuật tìm hiểu, học tập cái mới, mà bản thân nhiều ca khúc quan họ cổ đã và đang là những tác phẩm nghệ thuật

có giá trị rất cao, đóng góp vào việc giáo dục tình cảm, tâm hồn con người trong xã hội hiện đại

1.2.2.4 Sinh hoạt văn hóa quan họ chứa đựng một kho tàng quý báu về văn học, ngôn ngữ dân tộc

Với 600 bản lời ca của bài hát quan họ để lại cho chúng ta hàng ngàn câu thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, thơ 5 chữ, thơ bốn chữ… Người quan họ có khi phổ nhạc những bài ca dao hay, nhưng cũng có khi sáng tạo nên những bài thơ hay và đẹp khiến những câu thơ trong lời ca quan họ nhanh chóng được lưu truyền và gia nhập vào kho tàng ca dao Việt Nam, làm giàu thêm cho kha tàng thơ ca dân gian Phối hợp với âm nhạc quan họ, lời ca quan

họ làm xúc động lòng người từ thế hệ này qua thế hệ khác về những tình cảm thiêng liêng trong mối quan hệ giữa con người với con người Ngôn ngữ giao tiếp trong sinh hoạt văn hóa quan họ cũng mang một sắc thái độc đáo, vừa giàu hình ảnh, vừa tinh tế thanh lịch, lại vừa hàm súc, chân thành

1.2.3 Giá trị nghệ thuật của dân ca quan họ

1.2.3.1 Giá trị về văn bản lời ca

Cho đến nay, chưa có con số chính thức cuối cùng về số bản lời ca quan họ Theo con số đi sưu tầm, thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, quan họ có 600 bản lời ca Nếu tính theo số bài bản về bài hát (ca khúc và lời) thì có trên 200 bản, và nếu mỗi bài ca đều có 2 lời thì

có trên dưới 400 bải lời ca Lời ca cho một bài, nhìn chung thống nhất trong

cả vùng, nhưng cũng có những dị bản khác Quan họ có hệ thống lời ca riêng Cũng như âm nhạc quan họ, lời ca quan họ đã du nhập, thu hút tinh hoa của

Trang 29

kho tàng thơ ca dân gian, dân tộc như: ca dao, tục ngữ, hệ thống truyện thơ nôm, lời ca của hát chèo, tuồng, ả đào, ví, trống quân, vv Chính vì vậy, khi tìm hiều lời ca quan họ cũng cần có những tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc

để nhiều khi phải so sánh, đối chiếu, liên tưởng mới hiểu đúng hoặc hiểu sâu một từ ngữ, một hình ảnh, hình tượng một lời ca Khi chúng ta có một hệ thống lời ca, am hiểu đặc điểm ra đời và lưu hành hệ thống lời ca đó, có tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc, hiểu và vận dụng được các phương pháp tìm hiểu, thưởng thức thơ ca; đặt lời ca gắn liền với âm nhạc và hoạt động ca hát quan họ , chúng ta có thể hiểu được những giá trị nhiều mặt của hệ thống lời

ca quan họ

1.2.3.2 Giá trị nghệ thuật trong ca hát quan họ

Loại những bài hát mở đầu, thường gọi là giọng lề lối Giọng lề lối là

loại giọng cổ, có những âm điệu xưa nhất Loại giọng này tiết tấu chậm, rề rà,

âm điệu thường ở khu thấp, tầm cữ hẹp, đường nét của giai điệu đều đều Theo các nghệ nhân quan họ thì những bài hát thuộc giọng lề lối có từ lâu đời Loại giọng này gồm có: giọng hừ la, giọng la rằng, hay còn gọi là giọng Tôi rằng, A rằng, giọng sổng hoặc thổng; giọng Đường bạn (còn gọi là

giọng Bạn lan), giọng Tình tang; lên núi lên nương; Cái hời cái ả và một số

giọng khác

Loại thứ hai thuộc giọng sổng Giọng sổng là dùng một làn điệu để hát

cho thoát giọng Những câu thuộc giọng la rằng của loại giọng lề lối có làn điệu và tính chất như vậy nên gọi là giọng sổng

Ví dụ như trước khi hát các bài hát bắt buộc thuộc về giọng lề lối thì hát một bài chúc theo giọng sổng, hát hết một bài theo giọng lề lối rồi thì hát một

hoặc hai câu giọng sổng trước khi chuyển sang giọng vặt

Loại thứ ba là loại giọng vặt : gồm tất cả các loại giọng khác như giọng

chầu văn, giọng luyện, giọng lý, giọng tuồng, giọng chèo, giọng kể chuyện,

giọng năm cung, mười cung, giọng thương Loại giọng vặt có nhiều âm điệu

Trang 30

phong phú nhất thường ngắn gọn về giai điệu Tiết tấu của loại giọng vặt linh

hoạt, không đều đều, đơn điệu như giọng lề lối Sắc thái của các âm điệu về

loại giọng này rất phong phú, thanh thoát, tươi sáng, lại có khi duyên dáng

đượm vẻ hài hước, cũng có khi buồn man mác Trong giọng vặt thường được

dùng nhiều đệm lót rất sinh động

Loại thứ tư là loại giọng giã: gồm những bài cuối cùng để từ giã nhau

Nét đặc trưng nhất trong nghệ thuật ca hát quan họ đó là hát đối: đối lời, đối giọng Bản thân sự đối giọng là một động cơ thúc đẩy quan họ phát triển ngày một giàu hơn về số lượng âm điệu và lời ca Việc tổ chức thi hát quan họ

có tác dụng phát triển nghệ thuật mạnh mẽ bởi vì khi thi hát, người nào có được nhiều điệu hát mới, nhiều câu hát mới thì thắng cuộc; nếu như không đối lại được một điệu nào đó coi như thua cuộc

Những giá trị của nghệ thuật ca hát quan họ, từ lời ca giàu chất bác học đến lề lối, nghệ thuật ca hát vang, rền, nền, nẩy đạt tới đỉnh cao của âm nhạc dân tộc, được các liền anh, liền chị quan họ trình diễn thành thục, góp phần giúp người xem thưởng thức, cảm thụ tinh hoa của nghệ thuật ca hát quan họ Tiếng ca quan họ tình tứ, đằm thắm, ân nghĩa, giàu bản sắc nhân văn Việt Nam của anh Hai với khăn xếp áo the, của chị Hai với áo mớ ba mớ bảy, nón quai thao, khuôn mặt búp sen đã trở thành sứ giả của quê hương Kinh Bắc

1.3 Bảo tồn, phát huy giá trị của dân ca quan họ

1.3.1 Bảo tồn dân ca quan họ gắn với môi trường văn hóa với những phong tục, tập quán xã hội riêng

1.3.1.1 Tục kết chạ giữa các làng quan họ

Tục kết chạ ở các làng quan họ khác biệt với tục kết chạ ở các địa phương khác trong vùng châu thổ Bắc bộ Đó là sự kết chạ bằng một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian Từ tục kết chạ, trong các bọn quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ Mỗi bọn quan họ của một làng đều kết bạn với một bọn quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan

Trang 31

họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại Với các làng đã kết chạ, trai gái trong các bọn quan họ đã kết bạn không được cưới nhau Không chỉ ca hát, họ còn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khi gia đình mỗi người trong bọn có việc hiếu, việc hỉ

Tổ chức quan họ ở cơ sở bắt buộc phải là một tập thể cùng giới tính, nghĩa là gồm toàn nam hoặc gồm toàn nữ Người đứng đầu bọn quan họ nam

là ông trùm và người đứng đầu bọn quan họ nữ là bà trùm Ông trùm, bà trùm quan họ chính là các liền anh, liền chị đã lớn tuổi, không trực tiếp đi hát quan

họ nữa, đứng ra tập hợp lực lượng để thành lập bọn quan họ Những người trực tiếp tham gia ca hát, sinh hoạt văn hóa quan họ thì được gọi là các liền anh, liền chị quan họ Một bọn quan họ chỉ được có 5 liền anh (bọn quan họ nam) và 5 liền chị (bọn quan họ nữ) Các liền anh, liền chị đều được phân định thành tên phiếm chỉ theo thứ tự số lượng: anh Hai, anh Ba…anh Sáu và chị Hai, chị Ba…chị Sáu

Khác biệt của dân ca quan họ so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn Sau một ngày lao động, đêm đến, bọn quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 17 tuổi thường rủ nhau ngủ bọn nhà ông trùm, bà trùm để học câu, luyện giọng: phải học đủ lối, đủ câu, luyện giọng sao cho vang, rền, nền, nảy, tập nói năng, ứng xử, giao tiếp và phải biết đặt câu, bẻ giọng, ứng đối kịp thời Yêu cầu đặt với tục ngủ bọn là liền anh, liền chị phải ghép và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát

1.3.1.2 Tục kết bạn quan họ

Các bọn quan họ ở các làng quan họ kết nghĩa với nhau gọi là kết bạn quan họ Việc kết bạn quan họ thực hiện theo nguyên tắc bọn quan họ nam kết bạn với bọn quan họ nữ và nguyên tắc “làng đối làng”, có nghĩa là bọn quan họ nam của làng này kết bạn với bọn quan họ nữ của làng kia Các bọn quan họ cùng một làng không bao giờ kết bạn với nhau

Trang 32

Hiện nay, sinh hoạt văn hóa quan họ tồn tại ở rất nhiều làng quê Bắc Ninh, Bắc Giang, trong đó tỉnh Bắc Giang có 23 làng quan họ, tỉnh Bắc Ninh

có 44 làng quan họ Do chậm trễ, có tới 18 làng Quan họ cổ ở Bắc Giang không kịp đưa vào danh sách đề cử ban đầu trình UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” Các làng quan họ Kinh Bắc tồn tại nhiều ở các huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh

thuộc tỉnh Bắc Ninh và các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa thuộc tỉnh

Bắc Giang

Có 3 tiêu chí xác định làng quan họ gốc: Làng phải có ít nhất một bọn quan họ nam và một bọn quan họ nữ; các bọn quan họ của làng phải kết bạn với các bọn quan họ của làng khác theo nguyên tắc bọn quan họ nam kết bạn với bọn quan họ nữ và hai tiêu chí trên phải tồn tại tối thiểu là ba đời

1.3.2 Khôi phục các hình thức diễn xướng truyền thống

Trình tự một canh hát lề lối thường có 3 chặng:

Chặng đầu tiên: Sau những nghi thức giao tiếp giữa chủ và khách, thường là một bên nam và một bên nữ, quan họ đi vào chặng hát đầu tiên Ở chặng hát này, người ta bắt đầu bằng những giọng cổ (cũng gọi là những giọng lề lối) Đây là chặng khó nhất mở đầu cho một canh hát Giọng la rằng đặc biệt quan trọng trong việc chi phối nghệ thuật ca hát để canh hát ấy cả hai bên sớm ăn nhập về cao độ, trường độ và sự vang, rền, nền, nảy của nghệ

Trang 33

thuật ca hát quan họ Chặng ca những bài cổ là chặng bắt buộc được duy trì rất nghiêm túc và có thể coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự nghiêm chỉnh, đúng

quan họ chỉ ra bằng một câu nói quen thuộc, cửa miệng: “Quan họ càng về khuya càng bổng, càng trầm, càng mặn nồng tình nghĩa” Những nỗi nhớ,

niềm thương hay đôi khi cả những trăn trở về cuộc đời, về số phận con người càng về khuya càng được người quan họ bộc bạch khiến cho canh hát được đẩy lên tới cao trào của tình cảm và tài hoa, sự luyến láy của nghệ thuật

ca hát quan họ

Chặng cuối: Vào khoảng 12 giờ đêm, 1 giờ sáng hoặc gần cuối của chặng giữa, người quan họ thường mời nhau ăn tiệc mặn hoặc tiệc ngọt Khi xong bữa tiệc, tuần trầu, nước, quan họ cũng có thể hát đối đáp thêm một số giọng vặt nữa rồi chuyển sang ca những bài giã bạn cũng tức là chuyển sang chặng cuối của canh hát Đây là thời điểm mà cả chủ và khách đều ca lên bài giã bạn Mở đầu chặng hát này, khách thì ca lên một bài giã bạn tỏ ý xin tạm biệt ra về và để đối lại, quan họ chủ ca những bài giã bạn nhưng hàm ý là giữ khách ở lại Những bài giã bạn được cất lên vào lúc giã hội hoặc khi tàn một canh hát vào khoảng 2- 3 giờ sáng trong tâm trạng quyến luyến, bịn rịn, nuối tiếc nên tình ý, giai điệu, âm thanh bài ca rất xúc động

1.3.2.2 Hình thức hát hội

Trong vùng quan họ, một trong những hoạt động chủ yếu của hội là hát quan họ giữa nhiều bọn quan họ Nam nữ quan họ tấp nập mời nhau đi các hội làng để vui xuân, vui hội, gặp bè gặp bạn và ca một đôi câu quan họ, đôi canh

Trang 34

quan họ để cầu may, cầu phúc Suốt tháng 8 âm lịch hàng năm, các làng đều có

lệ vào đám Ở các hội đình, quan họ lại có dịp mời nhau dự hội và ca hát

1.3.2.3 Hình thức hát vui

Hình thức này chủ yếu ở các ngày hội xuân Có thể là đôi nhóm quan họ nam, nữ đã kết bạn hẹn nhau đến hội để ca hát cùng nhau Cũng có thể là nhóm nam nữ đã kết bạn mời một nhóm nam nữ quan họ khác cũng đã kết bạn, rồi nhóm nam nữ của nhóm này hát với nhóm nam nữ của nhóm kia để

mở rộng “đường đi lối lại, học đòi đôi lối, đôi câu”

Khi hát quan họ ở hội người hát không cần phải theo lề luật như hát thi, hát canh mà chỉ cần tuân theo một số điều của lề lối truyền thống: hát đôi, đối đáp nam nữ Trong hát đối vui ở hội thường nặng về đối ý, đối lời chứ không đối giọng và cũng không phải bắt đầu ngay bằng những câu giọng cổ mà có thể là giọng vặt Họ có thể hát ngay một bài nào đó mà bên hát trước cảm thấy nói ngay được điều muốn nói hoặc là phô diễn được ngay sự thành thạo, khéo léo trong nghệ thuật ca hát của mình Vì thế, khi hát ở hội thường dễ nhanh chóng nhận ra những bài hát hay, giọng hát hay của các liền anh, liền chị

1.3.2.4 Hình thức hát thi

Hình thức hát thi thường được tổ chức khi diễn ra hội làng nhưng không phải hội làng nào trong vùng quan họ cũng tổ chức hát thi (còn gọi là hát giải) Cũng không phải ở một làng nào đấy cứ giữ lệ hàng năm đến kỳ hội là đều tổ chức hát giải Vì muốn mở hội hát giải của một làng thì làng ấy phải chọn được nhóm quan họ ra giữ giải để quan họ các nơi về giật giải

Nhóm giữ giải cần phải hát được thành thạo những bài hát quan họ đã được lưu hành một cách rộng rãi trên vùng quan họ cho đến thời điểm ấy Con số bài bản có thể lên tới 200 bài, có như vậy mới mong người ta ca bài nào- mình đối ngay lại được bài đó

Nguyên tắc đối đáp khi hát: Theo truyền thống hát quan họ thì bao giờ đôi nữ cũng được hát trước mở đầu cuộc thi, đôi nam nữ phải đối lại bằng

Trang 35

giọng ấy với lời ca khác, nếu lời ca đối ý đạt nữa là đối chỉnh Quy ước ứng dụng về từng loại giọng, loại bài trong lề lối hát phải đúng bài bản gốc, có thể chệch đi một chút nhưng do có tính sáng tạo cao nên vẫn chấp nhận được

Để phân định sự hơn thua trong quan họ lại có ban cầm chịch do làng chọn ra gồm những bô lão am hiểu về lề luật quan họ; có đủ trình độ và uy tín

để phân định hơn - thua, đúng - sai trước dân và đông đảo quan họ trong vùng Ban cầm chịch từ 3- 4 cụ, đứng đầu là một người do quan đám chỉ định Hát thi trong ngày hội đã đưa hoạt động ca hát quan họ vào một cuộc thực hành nghệ thuật lớn hàng năm trên tất cả các mặt: sáng tạo, diễn xướng, thưởng thức, học tập, bình phẩm nghệ thuật, góp phần nâng cao trình độ lên một bước mới trong quá trình tồn tại và phát triển quan họ

1.3.2.5 Hình thức hát lễ thờ

Khi các quan họ đi hát hội thì họ thường sắm sửa trầu cau hương nến, hoa quả để vào đình làm lễ thánh hoặc vào chùa lễ Phật và cũng là để trình dân Các nhóm quan họ thường rủ nhau có nam, có nữ cùng vào làm lễ Sau khi đã dâng lễ thờ thánh trong tiếng tróng thờ uy nghiêm, các nhóm quan họ thường ca hát một đôi bài theo giọng la rằng để chúc thánh, chúc dân, xin được nhân an vật thịnh, phúc lộc thọ khang ninh Như vậy quan họ gọi là hát

lễ thờ Khi đã hát lễ thờ rồi, các nhóm quan họ dù hát vui ở hội hay hát canh ở trong nhà đều được dân làng quý trọng và bảo trợ

1.3.2.6 Hình thức hát cầu đảo

Cũng như tất cả cư dân nông nghiệp khác, ở vùng quan họ người dân cũng tin rằng mưa thuận, gió hoà, mùa màng tốt tươi, dân an vật thịnh là kết quả của sự hoà hợp âm dương, hoà hợp giữa đất trời và con người Người quan họ tin rằng tiếng hát quan họ có thể thấu đến trời cao và thế giới của các bậc thần linh, có thể hoà hợp âm dương Vì vậy, nếu trời hạn hán kéo dài mãi không mưa thì ở một số đền, miếu trong vùng quan họ thường có tục hát cầu đảo (cầu mưa)

Trang 36

Hát cầu đảo thường chỉ có quan họ nữ trong làng giữ gìn chay tịnh, đến

ăn ngủ tại đền và hát liền 2, 3 ngày đêm Khi hát cầu đảo, người ta chỉ hát một giọng la rằng, không hát những bài tình tứ trao duyên mà chỉ hát những bài có nội dung cầu nguyện mưa gió thuận hoà

1.3.2.7 Hình thức hát giải hạn

Trước đây, do khoa học chưa phát triển, trình độ dân trí thấp kém nên khi gặp việc không may hoặc tin rằng vào những “năm tuổi”, gặp vận hạn lớn như ốm đau, bệnh tật, mất tiền mất của thì người ta tìm cách giải hạn với hy vọng tai qua nạn khỏi

Ở trong vùng quan họ, nhiều người sau khi làm các nghi thức cúng lễ thường mời 4, 5, 6 nhóm quan họ vừa nam vừa nữ đến nhà ca xướng giao hoà đông vui, gắn bó thì cái may sẽ đến, cái rủi sẽ qua Lối hát giải hạn không bị gò bó nhiều vào lề lối mà chỉ có thể là ca đối đáp một bài theo giọng la rằng, sau đó bên hát trước muốn hát bài nào thì bên hát sau đối lại bài ấy; nếu không đối đúng cũng cho qua và cứ thế mà kéo dài canh hát với những bài có nội dung vui vẻ, gắn bó, hẹn ước, thề nguyền Kết thúc canh hát cũng hát đôi câu giã bạn Trước lúc ra về, quan họ chúc gia chủ may mắn, bình yên, rủi không đến, phúc ùa về

1.3.2.8 Hình thức hát mừng

Đám cưới, làm nhà, con cái đỗ đạt cao … đều có thể ăn mừng Những người lên lão, đỗ bằng cấp cao hay thăng quan tiến chức thường mở tiệc khao Ngoài việc làm các nghi lễ mời họ hàng, dân làng, bè bạn đến ăn mừng thì bao giờ ở những làng có truyền thống hát quan họ những canh hát quan họ của nhiều nhóm quan họ có khi kéo dài tới 2, 3 ngày đêm Trong các cuộc hát mừng này, quan họ không phải tuân thủ lề lối nghiêm ngặt mà cốt là có nam

có nữ, có đối đáp Hầu hết trong hát mừng, người ta ca những bài giọng vặt có nội dung thiên về tình cảm, sâu nặng nghĩa tình, gắn bó keo sơn

1.3.2.9 Hình thức hát kết chạ

Để kết nghĩa, kết chạ, kết bạn giữa làng quan họ này với làng quan họ khác, đầu tiên, dân xã nhờ các cụ cao niên, các vị có chức sắc trong làng sang

Trang 37

đặt vấn đề với làng muốn kết chạ, kết bạn Sau khi các vị cao tuổi bên ấy đồng ý thì sửa soạn một lễ trầu cau tại đình làng và đưa vào hương ước của làng Khi đón chạ, trong số người ra đón các liền anh, liền chị quan họ phải có quan đám Suốt dọc đường, từ đầu làng đến cuối làng, người ta đều đặt bàn thờ lễ vọng Khi tiếp các liền anh liền chị quan họ ở chùa, các bà, các chị chia nhau thành từng nhóm 5-6 người ra tận cửa chùa để đón khách thập phương Gặp nhau, bên khách bưng cơi trầu và toàn bộ lễ vật một cách cung kính tiến lên phía trước Một cụ bắt đầu cất giọng và cả toán khách cùng hát theo Nội dung các bài hát là chào mừng hội làng chạ anh và dâng tấm lòng thành lên phật Tất cả mọi ngôn ngữ dùng lúc đó, ngay cả khi mời nước, mời trầu giữa chủ và khách đều bằng những câu hát quan họ Sau khi các làng quan họ đã kết chạ thì coi như anh em một nhà

1.3.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản dân ca quan họ

Mặc dù đã được cấp ủy, chính quyền các địa phương quan tâm nhưng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản dân ca quan họ ở cả Bắc Giang

và Bắc Ninh cũng gặp nhiều khó khăn, bất cập

Do hoàn cảnh lịch sử, vốn di sản văn hoá quan họ được ghi nhớ, lưu giữ bằng trí nhớ và chỉ được thể hiện thông qua truyền khẩu của con người

Vì vậy, để bảo tồn và phát triển quan họ thì vấn đề đầu tiên là cần bảo tồn các làn điệu, bài ca quan họ của các nghệ nhân, trong đó có sự ưu tiên đặc biệt đối với các làng có truyền thống ca hát quan họ

Ngoài ra, công tác bảo tồn cần khôi phục và duy trì tục kết bạn quan họ, qua đó làm sống lại những sinh hoạt nguyên bản của nó

Trong dân ca quan họ, các bậc nghệ nhân giữ vai trò nòng cốt, là sự sống còn của loại hình văn hoá đặc sắc này Ở mỗi nghệ nhân quan họ, chúng

ta sẽ tìm thấy một kho tàng tri thức văn hoá và họ cũng là những tài năng để biến vốn văn hoá đó thành hiện thực Nhờ các bậc nghệ nhân mà vốn văn hoá

Trang 38

dân tộc được giữ gìn, thể hiện và trao truyền Vì vậy, để bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ cần có chính sách đãi ngộ đối với các nghệ nhân, tổ chức trình diễn, đa dạng các hình thức truyền dạy, đầu tư tài chính để lưu giữ

các hình thức diễn xướng

Một vấn đề khác nữa đặt ra trong công tác bảo tồn, đó là do ca hát quan

họ chủ yếu là truyền khẩu nên việc tìm kiếm, lưu giữa các văn bản lời ca quan

họ gốc cũng gặp không ít khó khăn Nhiều người, nhất là thế hệ trẻ do chưa

có nhiều am hiểu về ca hát quan họ nên có xu hướng thích quan họ cải biên, lãng quên quan họ cổ Nguyên nhân là do quan họ cải biên vẫn dựa trên làn điệu của quan họ truyền thống nhưng lời mới dễ hát, dễ thuộc Các hoạt động sinh hoạt quan họ (hội thi, hội diễn…) còn thưa thớt, rời rạc chưa đáp ứng được nhu cầu của cả người hát lẫn người nghe Mặt khác, do trình độ nhận thức còn hạn chế, chưa có sự học hỏi, tìm hiểu nghiêm túc về các giá trị của dân ca quan họ nên dẫn tới tình trạng không biết đâu là những giá trị văn hóa đích thực, từ đó dễ nảy sinh hiện tượng cải biên, sáng tạo thái quá, đi ngược lại các giá trị truyền thống

Thực tế đã cho thấy một số làng trước kia là làng quan họ cổ song do nhiều nguyên nhân mà bây giờ đã mất hẳn hay vẫn còn nhưng lại sinh hoạt theo lối mới, cải biên quan họ cổ bằng các cụm ca từ mới phù hợp với thị hiếu hoặc biểu diễn quan họ thương mại: hát quan họ trong các tiệc rượu, mua vui Đó là những thách thức lớn đặt ra đối với công tác bảo tồn các giá trị truyền thống của dân ca quan họ ở hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh hiện nay

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn trình bày một số khái niệm có liên quan:

“văn hóa”, “tuyên truyền”, “bảo tồn”, “phát huy”, “giá trị”, “giá trị văn hóa”, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Cũng trong chương 1, luận văn tìm hiểu về giá trị đặc sắc của dân ca quan họ, giá trị

Trang 39

nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật của sinh hoạt văn hóa quan họ Ở phần này, luận văn đã nêu bật những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ cũng như đối với công tác tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ trên sóng truyền hình, đặc biệt

là đối với tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, cái nôi của di sản dân ca quan họ

Chương 2 của luận văn sẽ dựa trên những vấn đề có tính chất lý luận đã trình bày để làm tiền đề nhận thức và là cơ sở phân tích, đánh giá phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề của chương 2

Trang 40

Chương 2 TUYÊN TRUYỀN VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DÂN CA QUAN HỌ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH BẮC GIANG, BẮC NINH

Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Trung ương V (Khoá VIII) về

“Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương về lĩnh vực văn hóa, trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã quan tâm đến việc bảo tồn, sưu tầm, nghiên cứu, phát huy di dản văn hóa dân tộc, của từng vùng miền phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tỉnh Hà Bắc trước đây, sau này chia tách thành tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh, cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, địa phương hai tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ của một dải sông Cầu thơ mộng Trong công cuộc chấn hưng văn hóa đó, Đài phát thanh - truyền hình của hai tỉnh, đặc biệt là sóng truyền hình được coi là phương tiện hữu hiệu nhất

2.1 Công tác lãnh đạo, quản lý của các địa phương nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản dân ca quan họ

2.1.1 Tỉnh Bắc Giang

Để bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Giang đã quan tâm, chỉ đạo, ban hành nhiều văn bản, chương trình hành động, xây dựng đề án, kế hoạch nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca quan họ Cụ thể:

Ngày 7/6/2007, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số 55/2007/ QĐ - UBND phê duyệt Đề án xã hội hóa các hoạt động văn hóa của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 Mục tiêu là: phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực trong nhân dân, của các thành phần kinh tế tham gia bảo tồn, phát huy các gía trị văn hóa truyền thống; sáng tạo, cung cấp, phổ biến và tạo ra nhiều sản

Ngày đăng: 24/11/2021, 19:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
2. Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
3. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
4. Lê Thanh Bình (2009), Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
5. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
6. Hoàng Sơn Cường (1998), Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Sơn Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
7. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
9. Lê Hồng Dương (1973), Báo cáo về công tác sưu tầm, nghiên cứu và phát động quần chúng bảo vệ, giữ gìn vốn văn hóa quan họ, Ty Văn hóa Hà Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác sưu tầm, nghiên cứu và phát động quần chúng bảo vệ, giữ gìn vốn văn hóa quan họ
Tác giả: Lê Hồng Dương
Năm: 1973
10. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), (2006), Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại - từ hàn lâm đến đời thường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại - từ hàn lâm đến đời thường
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
20. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
21. A.A. Grabennhicốp (2004), Báo chí trong Kinh tế thị trường (sách dịch), Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong Kinh tế thị trường
Tác giả: A.A. Grabennhicốp
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2004
22. Đỗ Đình Hãng (chủ biên), Phạm Hải Triều, Giang Thị Huyền, Lưu Khương Hoa, Bùi Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Văn Âu (2007), Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng
Tác giả: Đỗ Đình Hãng (chủ biên), Phạm Hải Triều, Giang Thị Huyền, Lưu Khương Hoa, Bùi Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
23. Lương Khắc Hiếu (1999), Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Lương Khắc Hiếu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
24. Lê Như Hoa (2002), Văn hóa vì sự phát triển xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vì sự phát triển xã hội
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w