1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước của lực lượng công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay

100 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp mới của đề tài Luận văn phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN ĐỨC ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH,

CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN ĐỨC ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH,

CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý xã hội

Mã số : 8 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Trần Quang Hiển

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LUẬN VĂN ĐƯỢC CHỈNH SỬA THEO KHUYẾN NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu và tư liệu được sử dụng từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tiến hành phân tích, tổng hợp số liệu của tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Nhà nước và Pháp luật cùng toàn thể các thầy cô giáo bộ môn đã giúp em có nhận thức, hiểu biết về lý luận chính trị, đã tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm thực tiễn để giúp em hoàn thành chương trình học cũng như Luận văn thạc sĩ này

Em xin gửi lời cảm ơn thầy PGS, TS Trần Quang Hiển, người đã

trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn cụ thể, giúp em hoàn thành Luận văn thạc sĩ của mình

Em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động, viên giúp

đỡ em trong suốt quá trình tham gia học tập tại Học viện và viết Luận văn thạc sĩ này

Do thời gian hạn hẹp và kiến thức bản thân có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy

cô để em có thể hoàn thiện hơn nữa kiến thức của bản thân mình

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

NGUYỄN ĐỨC ANH

Trang 6

TTATXH : Trật tự an toàn xã hội

VPPL : Vi phạm pháp luật

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thống kê quốc tịch của người nước ngoài đến thành phố Hà

Nội 36 Biểu đồ 2.1 Số lượng người nước ngoài cư trú trên địa bàn thành phố Hà

Nội từ năm 2013 đến 2017 35 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ người nước ngoài nhập cảnh, cư trú vào các quận trên

địa bàn thành phố Hà Nội 37 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ người nước ngoài tạm trú và thường trú trên địa bàn

thành phố Hà Nội năm 2015 39

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC

LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước của lực lượng

công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài 8 1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước của lực

lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài 19 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC

LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 31 2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình nhập cảnh, cư

trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay 31 2.2 Kết quả, hạn chế trong quản lý nhà nước của lực lượng Công an

nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội và bài học kinh nghiệm 40 Chương 3: DỰ BÁO, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 64 3.1 Dự báo và quan điểm tăng cường quản lý nhà nước của lực lượng

Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội thời gian tới 64 3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước của lực lượng Công an

nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội thời gian tới 70 KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người nước ngoài nhập cảnh, cư trú trên địa bàn thành phố Hà Nội với mục đích đầu tư kinh doanh, lao động, dạy học, khám chữa bệnh Tuy nhiên, trên thực tế nảy sinh ra một số tình hình làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội trên thành phố như:

Về lĩnh vực nhập cảnh: Tình hình người nước ngoài khai không đúng sự thật để nhập cảnh vào Việt Nam và hoạt động tại Hà Nội ngày càng phức tạp Đa

số các trường hợp đều sử dụng thị thực do các công ty dịch vụ du lịch để nhập cảnh, sau đó làm việc, hoạt động kinh doanh buôn bán hoặc lang thang khất thực trên địa bàn thành phố Tình trạng người nước ngoài cư trú quá hạn thị thực mà không xuất cảnh tuy không diễn biến phức tạp nhưng còn một số trường hợp quá hạn cư trú thời gian dài; tình hình người nước ngoài sử dụng thị thực quá hạn, có hoạt động không đúng mục đích nhập cảnh có chiều hướng gia tăng

Về lĩnh vực cư trú: Tình hình người nước ngoài hoạt động liên quan đến trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, các hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài rất đa dạng, với nhiều hình thức khác nhau

Người nước ngoài vi phạm quy chế xuất nhập cảnh ngày một tăng, năm sau nhiều hơn năm trước Tình hình an ninh quốc gia trên địa bàn vẫn tiềm ẩn diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch cấu kết với các đối tượng cơ hội chính trị, các đối tượng phản động lợi dụng tôn giáo tập hợp lực lượng nhằm thực hiện các hoạt động phá hoại, biểu tình để thay đổi chế độ chính trị của nhà nước ta, tạo điểm nóng ở Thành phố Hà Nội Tình hình trật tự an toàn

xã hội tiếp tục tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, các loại tội phạm người nước ngoài sử dụng công nghệ cao và tội phạm xuyên quốc gia, đối tượng truy nã quốc tế…có chiều hướng gia tăng Trong khi đó, công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn như việc phối hợp quản lý người nước ngoài giữa các đơn vị

Trang 10

chức năng còn có nhiều bất cập, việc duyệt nhân sự và quản lý khách của các công ty sau cấp phép vẫn còn nhiều hạn chế Thực tế thường xảy ra tình trạng người nước ngoài hoạt động tự do, vi phạm pháp luật, hành nghề không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam … điều này gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý người nước ngoài Với những lý do đó,

tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối

với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị học, chuyên

ngành Quản lý xã hội tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay, vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng là vấn đề được nhiều người quan tâm Trong thời gian qua, đã có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này như:

Công trình nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật xuất cảnh, nhập cảnh và

cư trú ở Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2008 của tác giả Nguyễn

Tiến Cường Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về pháp luật xuất nhập cảnh và cư trú, công trình chỉ ra những tồn tại, bất cập trong hệ thống pháp luật về xuất nhập cảnh ở Việt Nam hiện nay như sự chồng chéo, thiếu đồng bộ, thiếu rõ ràng, thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật Tác giả đã phân tích các yếu tố tác động đến việc hoàn thiện pháp luật xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú đồng thời nêu ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này Đây là công trình đề cập được đến lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú

Công trình nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về kiểm soát xuất nhập cảnh tại cảng hàng không quốc tế” của tác giả Trần Quang Tám, NXB Công an

nhân dân năm 2011 Trong cuốn sách tác giả đã tập trung vào nghiên cứu, luận

Trang 11

giải, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về cảng hàng không quốc tế, phân tích những vấn đề có tính quy luật trong hoạt động lợi dụng nhập cảnh, xuất cảnh qua cảng hàng không quốc tế xâm phạm an ninh quốc gia, làm rõ thực trạng công tác kiểm soát xuất nhập cảnh từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát xuất nhập cảnh tại các cảng hàng không quốc tế

Phạm Mạnh Tường, “Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động xuất nhập cảnh ở cảng hàng không quốc tế Nội Bài”, Luận văn

thạc sĩ năm 2014 Luận văn về hoạt động xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam

và người nước ngoài tại cửa khẩu quốc tế Nội Bài, làm rõ thực trạng công tác kiểm soát xuất nhập cảnh từ đó đưa ra 8 giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với hoạt động xuất nhập cảnh ở Cảng hàng không quốc tế Nội Bài

Ngoài ra còn có các nghiên cứu liên quan đến đề tài như:

Luận án tiến sĩ Lê Xuân Viên,”An ninh trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, năm 2006 Trong

công trình nghiên cứu này, tác giả làm rõ những vấn đề cơ bản như: Nghiên cứu vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; thực trạng hoạt động xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam cũng như hoạt động lợi dụng xuất nhập cảnh để thực hiện hành vi xâm phạm

an ninh quốc gia Trên cơ sở phân tích thực trạng, dự báo tình hình, luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác đảm bảo an ninh trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam

Luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng trong đảm bảo an ninh tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài” của tác giả Đào Bá Thống, Học viện An ninh nhân dân, năm 2006; Luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với hoạt động xuất nhập cảnh trái phép tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài”

của tác giả Lê Thị Thanh Huyền, Học viện An ninh nhân dân, năm 2007

Trang 12

Luận văn “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội” của tác giả Đỗ Minh Tuấn, năm

2012 cũng đề cập đến công tác quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân nhưng ở phạm vi rộng đó là về trật tự an toàn xã hội Nội dung về quản lý người nước ngoài cư trú cũng được đề cập nhưng chỉ là một nội dung hẹp

Nghiên cứu về vấn đề nhập cảnh, cứ trú của người nước ngoài, tác giả

Phạm Mạnh Tường đã nghiên đề cập đến trong luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động xuất nhập cảnh ở cảng hàng không quốc tế Nội Bài”, năm 2014 Trong luận văn này, tác giả đã

khảo sát được thực trạng công tác quản lý xuất nhập cảnh của người nước ngoài Tuy nhiên công trình này mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi là Cảng hàng không quốc tế Nội Bài

Mỗi công trình nghiên cứu một lĩnh vực, vấn đề, khía cạnh khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội Bởi vậy,

việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước của lực lượng Công an

nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay” là cần thiết, không trùng lặp với các

công trình đã nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý nhập cảnh cư trú của người nước ngoài:

Trang 13

- Nghiên cứu, làm rõ thực trạng hoạt động quản lý nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài do Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố

Hà Nội tiến hành, chỉ rõ những kết quả đã đạt được, những mặt bất cập, yếu kém và nguyên nhân

- Dự báo tình hình có liên quan đến hoạt động quản lý nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhập cảnh,cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội do Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố Hà Nội tiến hành

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Quản lý nhà nước của chủ thể

quản lý là lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, luận văn không nghiên cứu hoạt động quản lý của

các chủ thể quản lý nhà nước khác

- Phạm vi về thời gian: từ năm 2013 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiên trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà nước, quyền con người, hợp tác quốc tế, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học mác – xít Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

6 Đóng góp mới của đề tài

Luận văn phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; phân tích đánh giá được kết quả, hạn chế trong quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội

từ năm 2013 đến nay Luận văn cũng đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Quản lý nhà nước; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong quá trình hội nhập quốc tế

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Lý giải rõ hơn lý luận về quản lý nhà nước, hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; phân tích các đặc điểm, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Trên cơ sở đó phân tích làm rõ vai trò

Trang 15

quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực tiễn quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng trong bối cảnh đẩy mạnh tiến trình mở cửa, hội nhập Đề tài cũng chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại trong quản lý nhà nước đối với hoạt động này, đồng thời đề xuất những giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm tăng cường quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương, 06 tiết

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Về khái niệm quản lý Quản lý nhà nước là một yêu cầu khách quan và

là một chức năng hoạt động cơ bản, giữ vị trí cực kỳ quan trọng của mọi quốc gia Trình độ phát triển của đất nước càng cao, đòi hỏi hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của xã hội càng cấp thiết, vai trò của quản lý nhà nước càng lớn Có thể khẳng định vai trò của quản lý nhà nước quyết định đến sự ổn định, phát triển hoặc sự bất ổn, thụt lùi của quốc gia, dân tộc đó, dù bất kể quốc gia đó thuộc chế độ chính trị nào

Theo lĩnh vực hành chính, có thể hiểu quản lý là thuật ngữ chỉ “Hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [49, tr.82]

Karl Marx đã hình dung quản lý như công việc của một người nhạc trưởng chỉ huy một dàn nhạc, biết phối hợp một cách hài hoà âm thanh của những nhạc cụ khác nhau, tạo nên những bản nhạc tuyệt vời

Trang 17

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý tức là hoạt động trông coi, điều khiển, sửa sang, sắp đặt các quá trình xã hội và hoạt động của con người theo đạo tự nhiên” [22]

Về khái niệm quản lý nhà nước Ở nước ta, khái niệm quản lý nhà

nước có nhiều quan điểm có thể kể đến:

- Theo nghĩa rộng quản lý nhà nước là hoạt động quản lý nhà nước của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước (bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp) Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước đó

để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người

Quản lý nhà nước là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các hành vi của con người, tập thể, các tổ chức xã hội, các quá trình xã hội nhằm duy trì tính ổn định, phát triển các đối tượng theo mục tiêu đã định

- Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước (quản lý hành chính nhà nước) là quản lý nhà nước của cơ quan hành pháp Đó chính là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến

cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các

cơ quan trong hệ thống hành pháp thực hiện để duy trì các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội

Quản lý nhà nước dưới góc độ hành động chính là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể là Nhà nước tới đối tượng quản lý nhằm nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước

Trang 18

Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích mang tính quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý nhà nước tới đối tượng quản lý và các khách thể có liên quan nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định từ trước

1.1.1.2 Khái niệm lực lượng Công an nhân dân

Nguồn gốc của từ “Công an” là một từ gốc Hán và được sử dụng tại

các quốc gia Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc Nghĩa của nó được hình thành

bởi hai chữ Hán “Công” nghĩa là “công cộng” và “an” nghĩa là “trật tự”, “hoà

bình” “Công an”, theo đó, có nghĩa là “lực lượng gìn giữ trật tự công cộng”

Công an nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ an ninh quốc gia

và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội Công an nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an Khẩu hiệu

của lực lượng từ những ngày đầu thành lập là “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”

Theo Luật Công an nhân dân quy định: “Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân dân

Trang 19

và lực lượng Cảnh sát nhân dân; Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật

tự an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật

có người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống Thuật ngữ “người nước ngoài”

vì thế cũng đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới Mỗi quốc gia đưa ra khái niệm khác nhau về người nước ngoài nhưng trong văn bản pháp luật và khoa học pháp lý của các nước thuật ngữ này thường được hiểu theo hai nghĩa

Theo nghĩa rộng: “người nước ngoài là những người không có quốc tịch nước sở tại” Như vậy, người nước ngoài theo cách hiểu này bao gồm

người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch

Theo nghĩa hẹp: “người nước ngoài là những người có quốc tịch nước ngoài và không phải là công dân nước sở tại” Theo cách hiểu này thì người

không có quốc tịch, người mà quốc tịch của họ chưa được xác định không phải là người nước ngoài

Theo Luật Quốc tịch Việt Nam, “Người nước ngoài là những người không phải là công dân Việt Nam, gồm công dân nước ngoài và người không

có quốc tịch” [31, tr.3]

Theo Luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 16/6/2014, quy định: “Người nước ngoài

Trang 20

là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.” [33, tr.3]

Như vậy, ngay trong các quy định của pháp luật hiện hành cũng đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về người nước ngoài, song tựu chung lại các quan niệm đều tiếp cận về người nước ngoài theo hướng “người nước

ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam” Theo quy định này người nước ngoài sẽ gồm:

+ Người có quốc tịch nước ngoài: người mang quốc tịch của một nước

khác không phải là quốc tịch Việt Nam

+ Người không quốc tịch: người không có quốc tịch Việt Nam và cũng

không có quốc tịch nước ngoài

+ Người mà quốc tịch chưa được xác định: người mà ở họ chưa có các

căn cứ để có thể xác định được mang quốc tịch nước nào

Như vậy, từ rất nhiều cách hiểu như đã trình bày ở trên chúng ta có thể thấy rằng thuật ngữ người nước ngoài ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng Quan niệm này phù hợp với đời sống quốc tế hiện nay, thể hiện sự công bằng trong đối xử giữa công dân mang quốc tịch nước ngoài với công dân không có quốc tịch và công dân mà quốc tịch chưa xác định

Theo từ điển bách khoa Tiếng Việt “cư trú là việc một người ở thường ngày tại một nơi nào đó.” [40, tr.108]

Điều 1 Luật cư trú ban hành ngày 29/11/2006 quy định “cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.” [30, tr.1]

Theo Luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 16/6/2014, quy định: “Cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam.” [33, tr.1]

Trang 21

Theo Luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 16/6/2014, quy định: “Nhập cảnh là việc người nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam.” [33, tr.1]

Từ cách tiếp cận khái niệm người nước ngoài, khái niệm nhập cảnh,

cư trú và khái niệm quản lý nhà nước như đã trình bày ở trên có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài như sau:

Quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú người nước ngoài là quá trình các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước ủy quyền sử dụng quyền lực Nhà nước để tác động, điều chỉnh việc nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam nhằm đảm bảo cho hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được thực hiện đúng pháp luật, đảm bảo

an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Từ cách tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước, người nước ngoài, nhập cảnh và khái niệm cư trú như đã trình bày ở trên có thể đưa ra khái niệm quản

lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài như sau:

Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài là quá trình chủ thể quản lý nhà nước (lực lượng Công an nhân dân) sử dụng quyền lực nhà nước để tác động, điều chỉnh việc nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam nhằm đảm bảo cho hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được diễn ra đúng pháp luật, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 22

Người nước ngoài đến Việt Nam thực hiện nhiều hoạt động bao gồm: nhập cảnh, cư trú, đi lại, hành nghề, xuất cảnh Vì vậy, để đảm bảo cho tất cả các hoạt động của người nước ngoài được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, các cơ quan chức năng đã tiến hành các hoạt động quản lý đối với người nước ngoài như: quản lý nhập cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động Quản lý nhập cảnh, cư trú là khâu tiếp theo của quản lý nhập cảnh, nối liền giữa các khâu trong chuỗi các hoạt động quản lý người nước ngoài tại Việt Nam, giúp cho hoạt động quản lý người nước ngoài trở thành một quá trình liên hoàn, khép kín Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được đặt ra khi người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam và thực tế là đã làm xong thủ tục nhập cảnh tại cửa khẩu của Việt Nam

1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Một là, về chủ thế quản lý

Thực chất của quá trình quản lý nhập cảnh, cư trú là các cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền sẽ tiến hành tác động, điều chỉnh quá trình nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đảm bảo đúng theo các quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia nói chung và quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài nói riêng

Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định: Bộ Công an là cơ quan được Nhà nước ủy quyền thay mặt Nhà nước quản lý cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Công an tổ chức bộ máy và giao cho lực lượng Quản

lý xuất nhập cảnh chủ trì quản lý cư trú của người nước ngoài, các đơn vị khác (Cục Cảnh sát quản lý hành chính trật tự xã hội, Phòng Cảnh sát quản lý

Trang 23

hành chính trật tự xã hội, công an xã, phường; công an quận, huyện ) có nhiệm vụ phối hợp

Như vậy có thể thấy rằng quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó chủ trì, trực tiếp và chịu trách nhiệm chính là lực lượng Quản

lý xuất nhập cảnh Chính vì vậy, trong phạm vi luận văn này tác giả đi sâu nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được thực hiện bởi lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh - lực lượng giữ vai trò chủ trì và trực tiếp quản lý hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Hai là, về đối tượng quản lý

Là người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài hoạt động nhập cảnh,

cư trú diễn ra ở Việt Nam và nhiều khi còn diễn ra tại các cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam Vì vậy, hoạt động quản lý người nước ngoài ở đây mang tính quyền lực đặc biệt Quản lý không chỉ đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội mà còn phải đảm bảo các yêu cầu về chính trị, đối ngoại và yêu cầu quản lý bằng pháp luật

Trang 24

trú của người nước ngoài, bảo đảm trật tự ATXH và ANQG

Bốn là, biện pháp quản lý

- Biện pháp quản lý hành chính công khai

Đây là biện pháp dựa vào việc thi hành pháp luật và các thể lệ hành chính do cơ quan nhà nước ban hành để quản lý về an ninh trật tự đối với người nước ngoài, bao gồm quản lý việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, quan hệ, hoạt động; quản lý các văn phòng đại diện, kết hôn, tôn giáo, dân tộc, du lịch, nhận con nuôi…

Biện pháp quản lý hành chính công khai được các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến người nước ngoài như: Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch sử dụng để quản lý người nước ngoài theo chức năng, nhiệm vụ của từng ngành Riêng ngành Công an sử dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp quản lý hành chính về ANTT là biện pháp cơ bản để phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với các phương thức, thủ đoạn hoạt động

bí mật, công khai của bọn tội phạm

- Các biện pháp nghiệp vụ bí mật của cơ quan an ninh

Cùng với công tác quản lý hành chính, cơ quan an ninh đã sử dụng tổng hợp hệ thống biện pháp nghiệp vụ như công tác điều tra cơ bản, quản lý nghiệp vụ, kiểm tra nghiệp vụ, công tác đấu tranh chuyên án nhằm phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài Hệ thống công tác nghiệp vụ này là đặc thù, riêng có của cơ quan an ninh nhằm đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà các thế lực thù địch lợi dụng danh nghĩa người nước ngoài vào Việt Nam gây phương hại tới an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động

Trang 25

nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực bảo đảm an ninh trật tự nhằm phát hiện, ngăn ngừa, xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài xâm hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản và những hoạt động hợp pháp của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, tạo mọi điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia

Vì vậy, quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài có vai trò vô cùng quan trọng và được biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, thể hiện chủ quyền quốc gia Việt Nam, thể hiện sức mạnh của

pháp luật Việt Nam, tính thống nhất, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước

Chủ quyền an ninh quốc gia có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại của một nhà nước, một chế độ xã hội Do vậy, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia

là một nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động quản lý người nước ngoài Song quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài lại liên quan trực tiếp đến đường lối chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của người nước ngoài ở Việt Nam Vì vậy, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia luôn liên quan mật thiết đến việc thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ tính mạng, tài sản và quyền lợi hợp pháp khác của người nước ngoài Thực hiện vấn đề nêu trên là thông suốt quan điểm đổi mới của Đảng ta - mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế phải trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm chủ quyền quốc gia Quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài là trách nhiệm của các ngành, các cấp Bộ Công an, Bộ Ngoại

Trang 26

giao, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, Bộ đội Biên phòng phải phối hợp chặt chẽ, thông tin thông suốt, an toàn, nhanh chóng từ trong nước đến ngoài nước, đảm bảo cho sự tập trung thống nhất trong quản lý giữa các ngành, các cấp

Thứ hai, góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đảm bảo quyền lợi

của người nước ngoài nhập cảnh cũng như quyền lợi của Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo pháp luật Việt Nam được thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác trong thực tế

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi đối với việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài; bảo

hộ tính mạng, tài sản và lợi ích hợp pháp khác của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trên cơ sở pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn Người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam

và tôn trọng truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của nhân dân Việt Nam Nghiêm cấm việc lợi dụng nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam để vi phạm pháp luật Đây là một quan điểm tương đối toàn diện,

nó đòi hỏi một mặt phải giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn người nước ngoài

để họ thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của họ khi vào Việt Nam; mặt khác phải kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam

Thứ ba, thông qua công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập

cảnh, cứ trú của người nước ngoài giúp cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tính toán thực hiện các đối sách phù hợp trong thực tiễn quản lý nhà nước của ngành mình

Phục vụ yêu cầu phòng ngừa: Thông qua công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, cơ quan Công an

Trang 27

có thể ngăn chặn hoặc điều chỉnh thời gian có mặt ở Việt Nam của các đối tượng nguy hiểm đến an ninh quốc gia, nhất là vào những thời điểm đất nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng Cơ quan công an áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam để trả lời không cho hoặc chưa cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh hoặc đặt biển cấm không cho cư trú ở một số khu vực nhất định…

Phục vụ yêu cầu phát hiện: Qua thực hiện các biện pháp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, cơ quan Công an chủ động phát hiện các đối tượng có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc có nghi vấn xâm phạm an ninh quốc gia

để bố trí lực lượng, lựa chọn biện pháp đấu tranh có hiệu quả nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia

Phục vụ yêu cầu đấu tranh: Khi người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam, cơ quan công an thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam và an ninh đất nước Đồng thời, thông qua xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật, cơ quan Công an có thể tính toán các yêu cầu nghiệp vụ phục vụ công tác bảo vệ

an ninh quốc gia

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Các nguyên tắc quản lý nhà nước tồn tại một cách khách quan, không

lệ thuộc vào ý chí con người Các nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp Nếu các nguyên tắc được xây dựng một cách đúng đắn, với các hình thức thích hợp nhất định, nó sẽ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong lý luận và

Trang 28

cả trong thực tiễn quản lý Tuy nhiên, các nguyên tắc được xây dựng phải đảm bảo không mang tính giáo điều, tức là không phải được xây dựng lên một lần mà nó vận động và có thể thay đổi trong những điều kiện kinh tế, chính trị khác nhau

Các nguyên tắc chính trị - xã hội biểu thị những đặc điểm chính trị rõ rệt, biểu thị thuộc tính của xã hội Còn các nguyên tắc tổ chức lại có những đặc điểm tổng hợp hơn, nó mang nhiều đặc điểm về tổ chức, kỹ thuật Chúng

ta có thể vận dụng được một phần các nguyên tắc tổ chức, kỹ thuật của xã hội khác vào xã hội của mình

Một là, nguyên tắc Đảng lãnh đạo

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn

Hai là, nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở hai nội dung: tập trung

là sự thống nhất về tư tưởng và hành động của tất cả các thành viên trong hệ thống, hoặc đó là sự tập trung quyền lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ thống, tức là phải có đủ quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lãnh đạo, quản lý, điều hành thông suốt Do đó, tập trung là một xu hướng cần thiết Để đảm bảo yêu cầu tập trung trong quản lý cần có những công cụ sử dụng như: luật, chính sách, chế độ, quy chế…và chế độ một người chỉ huy (còn gọi là chế độ thủ trưởng)

Trang 29

Quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài phải có tính tập trung của Nhà nước ở những vấn đề trọng yếu như việc thiết lập khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung Nhấn mạnh tập trung dẫn đến tập trung quan liêu, cứng nhắc, độc đoán; trái lại, mở rộng dân chủ mà không tập trung thì có thể đi tới phân tán, dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật Vì thế, Lê-nin nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một cái gì đó tránh xa tập trung quan liêu

và cũng tránh xa được tự do vô chính phủ Muốn có tập trung dân chủ thì phải bảo đảm dân chủ thực chất đồng thời đề cao kỷ luật, tăng cường chế độ trách nhiệm Đây là nguyên tắc rất quan trọng của quản lý, nó có tính khách quan, phổ quát, song thực hiện không đơn giản, nó phụ thuộc vào bản lĩnh, phẩm

chất đạo đức và phong cách của người quản lý

Ba là, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và một trong những đặc điểm của nhà nước pháp quyền là có pháp luật, tôn trọng pháp luật và tin vào pháp luật Nhà nước pháp quyền lấy pháp luật làm trung tâm, đề cao pháp luật, lấy pháp luật làm tiêu chuẩn cao nhất để phân định đúng sai, điều tiết mọi hành vi của xã hội Hệ thống khung pháp lý về về hoạt động nhập cảnh cư trú của người nước ngoài gồm các bộ luật, luật và văn bản dưới luật từng bước được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện

Tiếp theo, Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện, đồng thời ban hành nhiều cơ chế, chính sách về quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Hệ thống văn bản này đang tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, tạo điều kiện cho người nước ngoài nhập cảnh, cư trú tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng

Trang 30

Bốn là, nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư

trú của người nước ngoài phải đảm bảo tính thống nhất

Yêu cầu thống nhất các hình thức hoạt động quản lý riêng biệt, quy định lẫn nhau trên cơ sở mục đích chung Do vậy, nguyên tắc hệ thống trong quản lý nhà nước phải có hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau, tiến hành theo một phương hướng của cơ quan quản lý khác nhau Điều đó có nghĩa không phải là sự phối hợp bình thường thông qua thỏa thuận, mà là sự thống nhất hành động thành một chương trình có mục đích toàn vẹn, trong đó có các

cơ quan quản lý riêng biệt, nhiệm vụ của chúng thể hiện như là những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, có vị trí và vai trò của mình trong quá trình thực hiện quá trình quản lý

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Thứ nhất, tham mưu, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy

phạm pháp luật liên quan đến hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Nhìn tổng thế, cùng với đổi mới trong chương trình phát triển kinh tế-

xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước đổi mới quản quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII là cả một quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta về phát triển kinh tế- xã hội, thu hút người nước ngoài Đây

là nhân tố nền tảng dẫn đến sự phát triển đất nước trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa Các tư tưởng, quan điểm trên đã từng bước được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, chính sách của nước ta, tạo ra khung pháp lý để thúc đẩy, cải cách thủ tục thu hút người nước ngoài, tăng nguồn lực về trí tuệ cũng như phát triển ngành du lịch nước nhà

Mặt khác, việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, đầy đủ, cụ thể và khoa học nhằm

Trang 31

xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài còn được thực hiện thông qua tham mưu xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý nhập cảnh, khai báo tạm trú, phân công phối hợp giữa các bộ phận thực hiện quản lý nhà nước về nhập cảnh, cư trú Trên cơ sở các chiến lược này bố trí nguồn nhân lực để thực hiện

Quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài có nội dụng rộng và mang tính chất liên ngành, điều đó đòi hỏi phải có

sự phối hợp của các tổ chức ở Trung ương, địa phương, cùng các ngành trong một mục tiêu chung

Thứ hai, tổ chức lực lượng, phân công trách nhiệm và xác định mối

quan hệ phối hợp công tác trong quản lý hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt nam Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì thực hiện quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Cụ thể là:

Cục Quản lý xuất, nhập cảnh có trách nhiệm: Kiểm tra nhân sự, cấp phép nhập cảnh cho các đối tượng thuộc diện phải xét duyệt nhân sự; tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc nhập, xuất cảnh qua các cửa khẩu, sân bay quốc tế,

Trang 32

đối với tất cả các đối tượng nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh Việt Nam; cấp, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ thị thực cho người nước ngoài tại Việt Nam; cấp giấy chứng nhận tạm trú, thường trú và giấy phép vào khu vực cấm cho người nước ngoài; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại, buộc xuất cảnh, tạm hoãn xuất cảnh và trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với tất cả những người nước ngoài hoặc Việt kiều có các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam nói chung và có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia

Các cục nghiệp vụ khác của Bộ Công an như: Cục Bảo vệ chính trị III, Cục Bảo vệ chính trị IV, Cục An ninh chính trị tổng hợp…thực hiện chức năng quản lý người nước ngoài theo chức năng, nhiệm vụ của mình được Bộ trưởng Bộ Công an phân công

Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Công an các huyện thành phố, thị xã thực hiện các nội dung về quản lý người nước ngoài về cư trú, đi lại, hoạt động tại địa phương mình

Cơ quan chủ quản, bao gồm cơ quan nhà nước hoặc chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, các tổ chức ở Việt Nam đón và làm việc với người nước ngoài chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, hướng dẫn khách, đảm bảo các hoạt động của khách đúng pháp luật Việt Nam từ khi họ nhập cảnh đến khi xuất cảnh

Thứ ba, giải quyết các thủ tục hành chính về quản lý hoạt động nhập

cảnh, cư trú cho người nước ngoài

Thủ tục hành chính được hiểu là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính với các tổ chức và công dân Trong hoạt động quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài nói chung và quản lý nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài nói riêng, thủ tục hành chính có một

Trang 33

vai trò rất quan trọng, là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện quản lý được thống nhất và hiệu quả

Thứ tư, tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp

luật về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Mục đích của thanh tra, kiểm tra là để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Thanh tra, kiểm tra trong quá trình quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài là hoạt động bắt nguồn từ yêu cầu quản lý Quản lý phải thể hiện được sức mạnh quyền uy của chủ thể quản lý Sức mạnh đó được thể hiện thông qua hoạt động cụ thể mà chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý Quá trình tác động đến đối tượng quản lý của chủ thể quản lý có thể nảy sinh những vấn đề hoặc tương thích hoặc bất cập Thanh tra, kiểm tra cho phép chủ thể quản lý nắm được trạng thái của hệ thống quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

ở các cấp độ, từ đó điều chỉnh, đánh giá mức độ thực hiện, kết quả của việc thực hiện hoạt động chức năng của toàn bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch chiến lược, chính sách, pháp luật của quản lý nhà nước về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thực hiện các hoạt động này nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lý nhà nước Quản lý mà không có thanh tra, kiểm tra sẽ tạo điều kiện cho những sai sót phát sinh và gây nên hậu quả nghiêm trọng khó lường trước

Trang 34

1.2.3 Phương pháp quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài

Phương pháp quản lý nhà nước là các biện pháp, thủ thuật của các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ

mà Nhà nước giao cho Qua quá trình tổng kết công tác quản lý nhà nước, trải qua thời gian dài người ta đã đúc rút được hai nhóm phương pháp quản lý nhà nước Đó là các phương pháp chung và các phương pháp chuyên ngành Các phương pháp chung được tất cả các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao Các phương pháp này gồm: thuyết phục và cưỡng chế, các phương pháp hành chính và các phương pháp kinh tế… Các phương pháp quản lý chuyên ngành để sử dụng để giải quyết một số nhiệm vụ, chức năng nhất định, như phương pháp kế hoạch hóa trong xây dựng cơ bản, phương pháp thống kê, kiểm tra…

Trong quản lý nhà nước, chủ thể quản lý nhà nước sử dụng tổng thể những cách thức tác động có thể có và có chủ đích tác động đến các đối tượng quản lý (cấp dưới và các tiềm năng có được của tổ chức…), khuyến khích, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành tốt công việc được giao nhằm đạt được mục tiêu dự kiến; đồng thời tác động đến khách thể quản lý (các tổ chức khác, các ràng buộc của môi trường ) Phương pháp quản lý nhà nước được

sử dụng như là những công cụ quan trọng để người quản lý thực hiện mục tiêu có kết quả Trong thực tiễn, chủ thể quản lý nhà nước thường sử dụng các phương pháp tác động khác nhau như:

Thứ nhất, phương pháp giáo dục, thuyết phục

Phương pháp tuyên truyền, giáo dục là cách thức tác động của nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý nhà nước về nhập cảnh, cư trú nói riêng

và trong hoạt động kinh kế - xã hội nói chung Mọi đối tượng quản lý suy cho

Trang 35

cùng cũng chỉ là con người mà con người là tổng hoà của nhiều mối quan hệ

xã hội, ở họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng Do đó, cần phải có nhiều phương pháp tác động khác nhau trong đó có phương pháp giáo dục và tuyên truyền Trong thực tế, phương pháp này thường được kết hợp với các phương pháp khác để nâng cao hiệu quả quản lý Nội dung của phương pháp giáo dục rất đa dạng, nhưng trước hết phải giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung; chính sách, pháp luật về nhập cảnh, cư trú nói riêng thể hiện qua các văn bản luật và văn bản dưới luật

Thứ hai, phương pháp cưỡng chế nhà nước

Biện pháp cưỡng chế được thể hiện dưới các hình thức: đưa ra các điều cấm trong các văn bản pháp luật, quy định các chế tài đối với hành vi vi phạm luật những điều cấm đoán đó Biện pháp cưỡng chế được áp dụng thống nhất đối với những người vi phạm Những điều cấm đoán của pháp luật không phân biệt đó là cán bộ, nhân viên trong bộ máy quản lý nhà nước hay đó là công dân thường Mức độ xử lý đối với các hành vi vi phạm những điều cấm đoán tùy thuộc vào mức độ vi phạm Khi công dân hoặc cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm các điều cấm đoán, họ phải chịu kỷ luật hoặc trách nhiệm hành chính tùy theo mức độ vi phạm Các mức độ kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc… Những người vi phạm luật hành chính có thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính như:

xử phạt cảnh cáo, phạt tiền, thu giữ theo thủ tục hành chính, bồi thường vật chất Trường hợp nghiêm trọng, thực hiện tội phạm, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Biện pháp cưỡng chế còn được thể hiện thông qua việc hủy bỏ các quyết định quản lý không hợp pháp Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định và chỉ thị không thích đáng của các Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp

Trang 36

Thứ ba, phương pháp tổ chức - hành chính

Trong hoạt động quản lý nhà nước, việc ban hành các mệnh lệnh, chỉ thị là việc làm thường xuyên của người lãnh đạo, còn người bị lãnh đạo phải thực hiện nghiêm chỉnh những mệnh lệnh đó Sự tác động quản lý thông qua các mệnh lệnh, chỉ thị gọi là tác động tổ chức - hành chính Sự tác động hành chính mang tính chất đơn phương Tức là, khi cơ quan cấp trên ban hành các chỉ thị, mệnh lệnh thì không phải chờ ý kiến của cơ quan cấp dưới Đối với cơ quan cấp dưới hay người trực thuộc, khi cấp trên đã ra lệnh thì phải tổ chức thực hiện Phương pháp áp dụng tác động này trong quản lý nhà nước gọi là phương pháp tổ chức - hành chính

Các văn bản quản lý do cơ quan quản lý ban hành mang tính chất pháp

lý bắt buộc Đặc điểm này của văn bản quản lý thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước Mọi văn bản quản lý của cơ quan cấp trên mang tính pháp lý bắt buộc đối với cơ quan và cán bộ cấp dưới Trong trường hợp các cơ quan, nhân viên cấp dưới không thực hiện hoặc thực hiện sai tinh thần văn bản quản lý của cấp trên, họ sẽ chịu những mức độ trách nhiệm khác nhau: từ kỷ luật nhà nước đến trách nhiệm hành chính, và nghiêm trọng hơn

có thể chịu trách nhiệm hình sự

Thứ tư, phương pháp kinh tế

Trong hoạt động quản lý nhà nước, sử dụng các đòn bẩy kinh tế để kích thích hoạt động của con người là biện pháp quan trọng và cần thiết Những đòn bẩy kinh tế chính là lợi ích vật chất Việc sử dụng biện pháp kinh

tế trong quản lý đảm bảo cho sự hoạt động độc lập, có định hướng của khách thể quản lý Mặt khác, các biện pháp kinh tế nâng cao tính cảnh giác, phát huy tính sáng tạo, tránh sự can thiệp vụn vặt trực tiếp vào công việc của từng cán

bộ dưới quyền Đồng thời, khi những cán bộ này không thực hiện tốt nhiệm

vụ được giao thì điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ về kinh tế

Trang 37

Hoạt động quản lý, trong nhiều trường hợp, áp dụng những biện pháp kích thích kinh tế mang lại hiệu quả hơn so với biện pháp hành chính Tính ưu việt của biện pháp kinh tế ở chỗ nó giảm bớt tối đa việc ban hành các chỉ thị, mệnh lệnh, đồng thời giảm bớt thời gian giám sát của các cán bộ quản lý đối với hoạt động của từng người Ở đây, chủ thể quản lý đặt ra các định mức, tiêu chuẩn cho hoạt động của khách thể quản lý, đồng thời kiểm tra kết quả thực hiện các định mức tiêu chuẩn đó trong hoạt động của khách thể quản lý

Biện pháp kinh tế được thể hiện thông qua hình thức thưởng bằng tiền hoặc hiện vật và quyết định mức lương cho khách thể quản lý Trong trường hợp

họ hoạt động tốt, hiệu quả công tác cao thì có thể nhận được mức lương cao

Ngoài mặt tích cực, các biện pháp kinh tế cũng có những mặt tiêu cực Nếu áp dụng tốt, đúng lúc, đúng chỗ sẽ gây tác động tích cực, đem lại hiệu quả Nếu áp dụng không tốt, không đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức thì các biện pháp kinh tế sẽ gây ra hiệu quả tiêu cực

Chính vì thế, cần phải biết kết hợp khéo léo các phương pháp này Nghệ thuật của người lãnh đạo là phải biết sử dụng các biện pháp sao cho thích hợp Không có phương pháp chủ yếu, và cũng không có phương pháp thứ yếu Mỗi một phương pháp đều có khả năng gây ra hai tác dụng trái ngược nhau Việc áp dụng phương pháp nào là tùy thuộc vào điều kiện khách quan cụ thể, tuy thuộc vào năng lực của chủ thể và sự thông minh của các nhà quản lý

Trang 38

Tiểu kết Chương 1

Qua những phân tích trên chúng ta có sự lý giải rõ hơn về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, lực lượng Công an nhân dân, hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; vai trò quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

Đưa ra các đặc điểm, nguyên tắc và phương pháp, nội dung quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Qua toàn bộ phân tích trên có thể kết luận rằng hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài có vai trò quyết định sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế Do vậy, muốn quá trình hội nhập kinh tế thành công thì phải hoàn thiện các chính sách về hoạt động nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam nhằm phát triển kinh tế đất nước Đây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP CẢNH, CƯ TRÚ

CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế- xã hội và tình hình nhập cảnh,

cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế- xã hội có ảnh hưởng đến quản

lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với hoạt động nhập cảnh,

cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

- Về địa lý, hành chính: Thành phố Hà Nội nằm ở phía Tây Bắc vùng

đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hoà Bình ở phía Nam; Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông; Hoà Bình, Phú Thọ ở phía Tây, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Thủ đô Hà Nội hiện nay có 29 đơn vị hành chính cấp quận, huyện (gồm 12 quận: Ba Đình, Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm và Hà Đông, 01 thị xã và 17 huyện: Sơn Tây, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phúc Xuyên, Phú Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Sóc Sơn, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hoà), 577 đơn vị hành chính cấp xã gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn Với hệ thống giao thông đang ngày càng được mở rộng và hoàn thiện

đã giúp Hà Nội giao lưu dễ dàng với các địa phương khác trong cả nước Hà Nội có điều kiện thuận lợi để tiếp cận kịp thời các thông tin, các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, để tham gia vào quá trình phân công lao động

Trang 40

quốc tế và dễ dàng hoà nhập vào quá trình phát triển của tam giác phát triển kinh tế quốc tế

- Về tài nguyên đất và khoáng sản: Hà Nội nằm ở trung tâm vùng

đồng bằng sông Hồng, tập trung các loại phù sa mới rất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây nhiệt đới Nếu không tính sông, hồ và đất thổ cư thì còn lại 68.796 ha, chiếm 74,9% diện tích đất tự nhiên, trong đó còn 8.370 ha đất chưa

sử dụng, nhìn chung tổng quỹ đất Hà Nội không lớn cần được tính toán sử dụng triệt để tiết kiệm

Nhờ có vị trí cấu trúc đặc biệt (nơi quy tụ nhiều đời kiến tạo) nên khoáng sản của Hà Nội và các vùng phụ cận rất phong phú, đa dạng nhưng trữ lượng không lớn Tuy nhiên một số loại có thể đáp ứng một phần yêu cầu cho quá trình phát triển một số ngành kinh tế ở thủ đô (như than đá, than nâu, sắt, đồng, đá vôi, nước khoáng, )

Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên như trên, trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI cần phát huy được những tiềm năng, thuận lợi sẵn có; đồng thời phải lường trước để khắc phục những hậu quả do điều kiện tự nhiên bất lợi của Hà Nội đem lại, qua đó có thể đánh giá những thuận lợi của Thành phố Hà Nội đối với thu hút FDI vào công nghệ cao đó là: Kết cấu hạ tầng tương đối tốt so với nhiều địa phương khác trong

cả nước (hệ thống giao thông, điện, nước, ngân hàng, bưu điện, …), Hà Nội là địa bàn có sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vì hai lẽ sau: Tiết kiệm chi phí cho các nhà đầu tư trong việc tạo ra các yếu tố cơ bản cho sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, nhân công lao động; tiết kiệm được thời gian cho khâu chuẩn bị sản xuất, nhờ vậy tận dụng được thời cơ tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Tóm lại với vai trò là thủ đô, đầu não chính trị, là trung tâm văn hoá,

Hà Nội có điều kiện để quảng bá rộng rãi hình ảnh của mình ra khu vực và thế

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an (2000), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2000
7. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2012), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2012
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2012
8. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2013), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2013
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2013
9. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2014), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2014
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2014
10. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2015), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2015
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2015
11. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2016), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2016
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2016
12. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, (2017), Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Quản lý xuất nhập cảnh năm 2017
Tác giả: Cục Quản lý xuất nhập cảnh
Năm: 2017
13. Nguyễn Tiến Cường (2008), Hoàn thiện pháp luật xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú ở Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
18. Nguyễn Ngọc Hiến (2003), Giáo trình Hành chính công, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính công
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
19. Trần Quang Hiển (2017) (Chủ biên), Giáo trình Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư pháp
20. Trần Quang Hiển (2017), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Trần Quang Hiển
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2017
21. Lê Thị Thanh Huyền (2007), Luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với hoạt động xuất nhập cảnh trái phép tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với hoạt động xuất nhập cảnh trái phép tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
Tác giả: Lê Thị Thanh Huyền
Năm: 2007
22. HVHCQ -Viện Nghiên cứu hành chính (2000), Một số thuật ngữ hành chính, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thuật ngữ hành chính
Tác giả: HVHCQ -Viện Nghiên cứu hành chính
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
30. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật cư trú, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cư trú
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
31. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật quốc tịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tịch
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
35. Đào Bá Thống (2006), Luận văn thạc sĩ “ Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng trong đảm bảo an ninh tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng trong đảm bảo an ninh tại cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
Tác giả: Đào Bá Thống
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w