Ngoài các chương trình, chuyên mục, tờ báo dành cho người cao tuổi cũng có một số báo cáo, luận văn tại các trường đại học trên cả nước nghiên cứu về vấn đề truyền thông cho người cao t
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỖ THỊ HƯỜNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
DÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM (Khảo sát chương trình “Tuổi cao gương sáng” trên kênh VTV1
và Chương trình Vui - Khỏe - Có ích trên kênh VTV3 năm 2014 - 2016)
Chuyên ngành : Báo chí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Đức Dũng
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PGS,TS NGUYỄN THỊ TRƯỜNG GIANG
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và trung thực
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hường
Trang 4Xin được bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Đức Dũng,
đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trung tâm Phim Tài liệu và Phóng sự, các anh, chị Phòng Phóng sự 3, Trung tâm Phim Tài liệu và Phóng sự, Đài Truyền hình Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Đỗ Thị Hường
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tiêu chí/yêu cầu đánh giá các yếu tố nội dung và hình thức
của tác phẩm truyền hình 56
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1: Thống kê số đề tài phản ánh của chương trình 58
“Tuổi cao gương sáng” 58 Biều đồ 2.2: Thống kê đánh giá về sự kiện được phản ánh trong
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 60 Biểu đồ 2.3: Thống kê đánh giá về chi tiết được phản ánh trong hai
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 61 Biểu đồ 2.4: Thống kê đánh giá về thông điệp được phản ánh trong
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 62 Biểu đồ 2.5: Thống kê đánh giá về nhân vật được phản ánh trong
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 63 Biểu đồ 2.6: Thống kê đánh giá về Tít được phản ánh trong chương
trình “Tuổi cao gương sáng” 65 Biểu đồ 2.7: Thống kê đánh giá về hình ảnh được phản ánh trong
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 66 Biểu đồ 2.9: Thống kê đánh giá về lời bình được phản ánh trong
chương trình “Tuổi cao gương sáng” 67 Biểu đồ 2.10: Thống kê đánh giá về chi tiết được phản ánh trong
chương trình “Vui- Khỏe- Có ích” 70 Biểu đồ 2.11: Thống kê đánh giá về thông điệp được phản ánh trong
chương trình “Vui- Khỏe- Có ích” 70 Biểu đồ 12: Thống kê đánh giá về nhân vật được phản ánh trong hai
chương trình “Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” 72 Biểu đồ 2.13: Thống kê đánh giá về hình ảnh được phản ánh trong
chương trình “Vui- Khỏe- Có ích” 73 Biểu đồ 2.14: Thống kê đánh giá về hình ảnh được phản ánh trong
chương trình “Vui- Khỏe- Có ích” 74 Biểu đồ 2.15: Thống kê đánh giá về lời bình được phản ánh trong
chương trình “Vui- Khỏe- Có ích” 75
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình sản xuất chương trình truyền hình tại VTV1 53 Hình 2.2: Quy trình sản xuất chương trình truyền hình tại VTV3 55
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN
HÌNH DÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 15
1.1 Cơ sở lý luận 151.2 Cơ sở thực tiễn 28
Chương 2: KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH “TUỔI CAO GƯƠNG
SÁNG” TRÊN KÊNH VTV1 VÀ “VUI KHỎE CÓ ÍCH” TRÊN KÊNH VTV3, ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2014-2016 52
2.1 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình 522.2 Khảo sát chương trình “Tuổi cao gương sáng” và chương trình
“Vui- Khỏe- Có ích” 55
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 81
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với công tác truyền thông cho người cao
tuổi ở Việt Nam hiện nay 813.2 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình
truyền hình dành cho người cao tuổi 85
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay, diện mạo của đất nước ta đã thay đổi một cách đáng kể Chất lượng cuộc sống của nhân dân tăng cao, đặc biệt là tuổi thọ của người cao tuổi được nâng lên rõ rệt Từ 1/7/2010 luật dành cho người cao tuổi được sửa đổi bổ sung nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và khẳng định người cao tuổi cần được quan tâm chăm sóc và phát huy vai trò trong công cuộc xây dựng đất nước Điều này thể hiện
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các bậc cao niên, những người có nhiều công lao đối với đất nước, gia đình, con cháu Tuy nhiên, công tác truyền thông về người tao tuổi Việt Nam hiện nay đang gặp các vấn đề sau:
Thứ nhất, Việt Nam đang chuyển dần từ thời kỳ “dân số vàng” sang thời
kỳ “già hóa dân số”, dẫn tới các vấn đề liên quan tới người cao tuổi cần được giải quyết ngày càng tăng lên Theo phân tích của các chuyên gia, Việt Nam
đang đứng trước nguy cơ bước qua thời kỳ dân số vàng, và bước vào giai đoạn già hóa dân số, một sự đe dọa cho đà tăng trưởng quốc gia Theo giáo sư Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Wasesa, Nhật Bản, giai đoạn “dân số vàng” là một trong các giai đoạn tăng trưởng dân số của một quốc gia, được mô tả như sau: Thông thường sự thay đổi dân số của một nước có bốn giai đoạn
+) Giai đoạn 1: Tốc độ sinh lớn và tốc độ tử cũng cao nên dân số hầu
như không tăng hay tăng rất chậm
+) Giai đoạn 2: Tốc độ tử giảm nhưng tốc độ sinh tiếp tục cao nên dân
số tăng nhanh Đặc tính của giai đoạn này là tỉ lệ dân số trẻ (dưới 15 tuổi) rất cao Do kinh tế chưa phát triển, thu nhập đầu người rất thấp, các nước phải kế hoạch hóa gia đình để dân số không tăng nhanh mới có thể tích lũy để khởi động quá trình phát triển Do sự thay đổi có tính quy luật của cơ cấu dân số
Trang 8như vậy, con đường phát triển đúng đắn nhất của một nước là từ giai đoạn 2 phải chuẩn bị các tiền đề để phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 3, chẳng hạn phải nhanh chóng phổ cập giáo dục cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hành lang pháp lý
+) Giai đoạn 3: Tốc độ sinh giảm và dân số tăng ít Số người sinh trong
giai đoạn 2 trước đó nay trở thành lực lượng lao động Trong giai đoạn này tỉ
lệ người trong độ tuổi lao động (15-65 tuổi) rất cao trong khi tỉ lệ của số người sống phụ thuộc thấp vì tỉ lệ dân số trẻ (0-14 tuổi) thấp, và tỉ lệ của người già (trên 65 tuổi) cũng chưa cao Đây là giai đoạn lý tưởng để kinh tế phát triển nên được gọi là món quà tặng về dân số (demographic gift hoặc demographic bonus), hoặc có thể gọi đó là cơ cấu dân số vàng Giai đoạn này khá dài (ở Việt Nam khoảng 50 năm như sẽ thấy dưới đây) nên cần quan tâm đẩy mạnh giáo dục ở các bậc cao hơn để từng bước chuyển dịch cơ cấu lợi thế
so sánh từ các ngành dùng nhiều lao động giản đơn sang các ngành mà hàm lượng lao động có kỹ năng cao Đây cũng là giai đoạn chuẩn bị các tiền đề để đón giai đoạn 4 một cách hiệu quả, chẳng hạn phải chuẩn bị chế độ phúc lợi cho người cao tuổi, chấn hưng nghiên cứu và phổ cập khoa học, công nghệ để tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên cao hơn nữa, và như thế kinh tế mới tiếp tục phát triển khi tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động giảm
+) Giai đoạn 4: Đây là lúc giai đoạn dân số vàng qua đi, bắt đầu giai
đoạn dân số ngày càng lão hóa (tỉ lệ người cao tuổi, trên 65, tăng cao) Lúc này tỉ lệ của số người trong độ tuổi lao động giảm dần và số người sống phụ thuộc đông, gánh nặng phúc lợi xã hôi đè trên vai người trong tuổi lao động Tính tới cuối 2016, dân số Việt nam là khoảng 93 triệu người (Tổng cục Thống kê, 2016) Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc dân số Việt nam sẽ đạt
100 triệu trong nửa sau thập niên 2020, đạt đỉnh cao khoảng 105 triệu vào năm 2040 và giảm sau đó Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 13 trong những nước
Trang 9đông dân nhất thế giới Trên thế giới hiếm có một nước như Việt Nam vừa đông dân lại vừa có sự thống nhất cao về văn hóa, ngôn ngữ Nếu có thể chế, chiến lược, chính sách tốt, Việt Nam chắc chắn sẽ thành một nước lớn, giàu
và mạnh
Đây sẽ là một mối nguy cơ lớn, khi ở Việt Nam, số người già tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi đó, đời sống kinh tế khó khăn, sức khỏe lại giảm sút, người cao tuổi được liệt vào nhóm yếu thế của xã hội Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số như hiện nay, để các cụ hòa nhập được với nhịp sống hiện đại là vô cùng khó khăn Các bậc cao niên hầu hết vẫn cập nhật tin tức thông qua các sản phẩm báo chí thông dụng như báo giấy hoặc các chương trình phát thanh, truyền hình Đa số người cao tuổi không sử dụng báo mạng điện tử, thậm chí không sử dụng điện thoại di động, đặc biệt ở miền núi, vùng sâu vùng xa Bởi vậy, việc tuyên truyền qua sóng truyền hình là một lợi thế và cũng là cách tiếp cận gần gũi đối với lớp người cao tuổi
Thứ hai, công tác truyền thông về các vấn đề của người cao tuổi là cần thiết, cũng như đã và đang được quan tâm tích cực ở Việt Nam Bằng chứng
là, trên thực tế, đã có một số cơ quan báo chí có các chương trình, chuyên mục dành riêng cho người cao tuổi như: Đài Phát thanh và Truyền hình (PT-TH) Hà Nội có chuyên mục “Chuyện tuổi già”, Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) có chương trình “Cây cao bóng cả” thuộc Trung tâm Phim Tài liệu
và Phóng sự, VTV1, chương trình game show “Vui- Khỏe- Có ích” kênh VTV3 Ngoài ra Báo Người cao tuổi thuộc quản lý của Cơ quan trung ương hội Người cao tuổi Việt Nam là tiếng nói của người cao tuổi cả nước, góp phần rất tích cực trong việc tuyên truyền tấm gương người tốt việc tốt, các
chính sách chế độ của người cao tuổi để đông đảo nhân dân biết đến,
Có thể nói, việc quan tâm chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan lãnh đạo mà còn của cộng đồng, xã
Trang 10hội và các tổ chức, cá nhân Báo chí với vai trò và trách nhiệm của mình đã và đang góp phần to lớn vào công tác truyền thông dành cho người cao tuổi Theo đánh giá của đông đảo công chúng thì các tờ báo, chương trình, chuyên mục nêu trên đã có nhiều cố gắng đáng ghi nhận Đặc biệt trong số đó, chương trình “Tuổi cao gương sáng” trên Kênh VTV1 và “Vui- Khỏe- Có ích” trên kênh VTV3 Đài THVN đã rất tích cực trong việc tham gia vào đưa các thông tin mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc dành cho người cao tuổi, nêu được các tấm gương điển hình để nhân rộng trong xã hội, hay phát huy vai trò người cao tuổi trong các hoạt động giữ gìn di sản văn hóa dân tộc, nêu được vai trò các cụ là kho tư liệu quý giá, có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực
Thứ ba, tuy nhiên, trên thực tế, ngoài các chương trình nói trên, công tác truyền thông dành cho người cao tuổi còn yếu, chưa được nhiều cơ quan báo chí xem trọng Đài THVN tuy là đài quốc gia nhưng các chương trình
dành cho người cao tuổi không nhiều và thời lượng dần bị rút ngắn Ví dụ, chương trình “Tuổi cao gương sáng” phát sóng kênh VTV1 trước đây thời lượng mỗi chương trình là 30 phút/1 số thì nay đã giảm xuống còn 15 phút/1
số và game show “Vui- Khỏe- Có ích” kênh VTV3 Nói như vậy để thấy rằng vấn đề truyền thông dành cho người cao tuổi chưa sâu rộng, đòi hỏi sự tích cực hơn nữa của báo chí, truyền thông, qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu đề ra trong “Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012 – 2020” của chính phủ
Thêm vào đó, nội dung các chương trình cũng chưa thực sự phong phú, chưa nỗ lực phản ánh mọi mặt đời sống người cao tuổi Trên các chương trình truyền hình, các thông tin về giai đoạn tuổi cao của đời sống chưa được thông tin một cách đầy đủ, chân thực, và toàn diện Những khó khăn của người cao tuổi chưa được đề cập nhiều, dẫn đến cái nhìn chưa toàn diện về đời sống và
Trang 11các hoạt đông kinh tế xã hội của người cao tuổi trong đời sống xã hội còn thiếu toàn diện
Thứ tư, công tác nghiên cứu khoa học về truyền thông về vấn đề người cao tuổi hiện cũng chưa được chú trọng Ngoài các chương trình, chuyên
mục, tờ báo dành cho người cao tuổi cũng có một số báo cáo, luận văn tại các trường đại học trên cả nước nghiên cứu về vấn đề truyền thông cho người cao tuổi Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có rất ít các nghiên cứu khảo sát các chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi, đặc biệt là chưa có đề tài nghiên cứu nào khảo sát riêng chương trình “Tuổi cao gương sáng” trên Kênh VTV1
và “Vui- Khỏe- Có ích” trên kênh VTV3 Phần này sẽ được nói rõ hơn ở trong lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng chương trình dành cho người cao tuổi trên Đài Truyền hình Việt Nam” Khảo sát chương trình “Tuổi cao gương sáng” trên kênh VTV1 và
Chương trình Vui- Khỏe- Có ích trên kênh VTV3 năm 2014- 2016 với mong
muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của chương trình nói riêng và báo chí nói chung đối với việc quan tâm, chăm sóc
và phát huy vai trò người cao tuổi, để báo chí xứng đáng với vai trò và vị thế của mình trong đời sống xã hội
2 Lịch sử nghiên cứu
Trải qua nhiều năm, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về người cao tuổi và các vấn đề liên quan tới cuộc sống của lớp người này Các nghiên cứu đó chủ yêu tập trung đánh giá tình hình kinh tế xã hội, tình hình chăm sóc sức khỏe, các chính sách dành cho người cao tuổi trong và ngoài nước
Thứ nhất, về hoạt động nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội của người cao tuổi: Cho tới nay, ở Việt Nam, nghiên cứu được cho là đánh giá đầy đủ
Trang 12về tình hình kinh tế xã hội của người cao tuổi Việt Nam là “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng, dự báo và gợi ý chính sách” Báo cáo này nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin và phân tích kỹ lưỡng, toàn diện
về các vấn đề có liên quan đến già hóa dân số cũng như những gợi ý chính sách giải quyết vấn đề già hóa dân số trong những năm tới
Ngoài ra, các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở quy mô nhỏ, cấp tỉnh thành phố Do đặc điểm kinh tế xã hội nói chung ở các địa phương khá khác biệt, nên các nghiên cứu này cũng chưa mang tính đại diện và chỉ ra được các vấn đề phát triển chung nhất của nhóm người cao tuổi trong xã hội nói chung
và các yếu tố kinh tế, xã hội nói riêng của người cao tuổi Một trong số đó, là nghiên cứu “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn (khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ - TP Quy Nhơn)” Đề tài chỉ ra các đặc trưng về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe- y tế, tinh thần, vật chất) ở Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Gần đây nhất, nghiên cứu “Đời sống của người cao tuổi Việt Nam trong giai đoạn già hóa dân số” của thạc sĩ Mai Tuyết Hạnh, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội cũng chú trọng nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần, sức khỏe và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như một số chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi Bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện việc thực hiện và xây dựng các chính sách chăm sóc người cao tuổi trước bối cảnh già hóa dân số diễn ra rất nhanh ở Việt Nam
Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu hết mới chỉ nhắc tới truyền thông về vấn đề người cao tuổi như một giải pháp phụ trợ cho an sinh xã hội mà không tập trung vào nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho hoạt động truyền thông
đối với nhóm đối tượng này
Trang 13Thứ hai, về hoạt đông nghiên cứu các vấn đề sức khỏe và chăm sóc người cao tuổi: Các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có
vẻ được quan tâm hơn cả, với các góc độ phong phú và tương đối toàn diện Cần phải kể đến các nghiên cứu lớn như Chương trình Hợp tác Y tế Việt Nam – Thụy Điển, trong năm 2005-2006, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tiến hành nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác CSSK cho người cao tuổi cũng như tìm hiểu việc triển khai thực hiện chính sách chăm sóc người cao tuổi tại một số tỉnh (Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, và Khương Anh Tuấn, 2007)
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tình hình sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay để cung cấp bằng chứng khoa học cho việc xây dựng chính sách và chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi Nghiên cứu này cũng đề cập đến việc triển khai các chính sách liên quan đến chăm sóc người cao tuổi tại một số tỉnh nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành tại 7 tỉnh thuộc 7 vùng trong cả nước Điều tra hộ gia đình được thực hiện ở 1.132 hộ gia đình có người cao tuổi
Đề tài “Nghiên cứu nhu cầu, đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp cộng đồng tại huyện Đông Anh, Hà Nội” Đề tài (1) mô tả nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, thực trạng đám ứng của trạm y tế xã và cộng đồng tại huyện Đông Anh,
Hà Nội và (2) đánh giá hiệu quả mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa trên cộng đồng tại hai xã của huyện Đông Anh, Hà Nội
Thứ ba, về hoạt động nghiên cứu các hoạt động truyền thông về người cao tuổi: Đây có lẽ là một trong những dạng thông tin được nhắc tới nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng lại ít thấy xuất hiện nhất trong các nghiên cứu khoa học bài bản Tìm kiếm từ khóa “g”, số bài
báo liên quan lên tới 3200.000 kết quả trong vòng 48 giây Tuy nhiên, khi tìm
Trang 14kiếm từ khóa “nghiên cứu khoa học về truyền thông cho người cao tuổi ở Việt Nam”, số lượng bài có liên quan giảm hẳn, xuống 922.000 bài trong 48 giây
Mà trong đó, các tài liệu nghiên cứu chủ yếu được tìm thấy là nghiên cứu khoa học về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Thậm chí, chúng tôi không tìm thấy một tài liệu nghiên cứu chính thức nào về chủ đề liên quan tới truyền hình dành cho người cao tuổi được thực hiện ở trong nước
Trên cổng thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có 394 kết quả tìm kiếm có liên quan tới người cao tuổi Tuy nhiên, trong số đó chủ yếu tập trung vào nhóm đề tài sau đây: Một số nguyên nhân căn bản ảnh hưởng đến tâm trạng người cao tuổi, chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Hoàng Thị Diễm Ngọc; 3 Người cao tuổi sống trong các trung tâm dưỡng lão-Một số vấn đề cần quan tâm, ngành Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng; Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nông thôn tác giả Lê Hữu Quế ngành Nông thôn mới; Ảnh hưởng của sóng nhiệt lên sức khỏe cộng đồng người trên 60 tuổi tại thành phố vinh, tỉnh Nghệ An, ngành Y học cộng đồng của tác giả Lê Thị Thanh Hương; Nguyễn Thị Liên Hương; Một số yếu tố liên quan đến sự sẵn sàng chi trả dịch
vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2015 ngành Y học cộng đồng, của các tác giả Nguyễn Văn Tiến; Nguyễn Đức Thanh; Ngô Văn Đông; Phan Thu Nga; Chăm sóc người cao tuổi - bài học từ Nhật Bản, thách thức của Việt Nam, ngành Y học Cộng đồng, của tác giả Hoàng Thị Bạch Dương; Phạm Nguyên Quý; Phát huy ý thức trách nhiệm người cao tuổi trong sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam, của tác giả Đặng Huy Huỳnh; Đỗ Lê Thị Minh Đánh giá hiệu quả
vô cảm của gây tê tủy sống bằng ropivacain đẳng trọng liều 6MG phối hợp với Fentanyl trong phẫu thuật thay khớp háng ở người cao tuổi, ngành Y học, tác giả Nguyễn Đăng Thứ; Chăm sóc người cao tuổi thông qua giải pháp định
vị bằng sóng vô tuyến, ngành Tự động hóa, tác giả Nguyễn Chí Ngôn; Thực
Trang 15trạng mất răng và nhu cầu phục hình răng ở người cao tuổi phường Quang Trung Thành phố Thái Nguyên ngành Y học thực hành, tác giả Đàm Thu Trang; Hoàng Tiến Công; Dương Thị Hòa; Dấu hiệu trầm cảm ở người cao tuổi tại xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2015, ngành Y học thực hành, tác giả Vũ Minh Tuấn; Lê Tiến Tùng; Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến bệnh da người cao tuổi tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm
2014, tác giả Khưu Bạch Xuyến; Huỳnh Văn Bá, ngành Y học; Tình hình tăng huyết áp, yếu tố liên quan và sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi tại huyện An Phú tỉnh An Giang, tác giả Trần Văn Sang; Trần Đỗ Hùng, ngành Y học; Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại xã Trung Lương, Bình Lục, Hà Nam, năm 2014, ngành Y học, tác giả Trần Thị Thoa;
Lê Thị Hoàn; Bùi Thị Lụa; Nguyễn Phương Hoa; Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương cột sống thắt lưng ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi, tác giả Vũ Thị Thanh Huyền; Nguyễn Bảo Hiền; Nguyễn Thị Phương Thùy, ngành Y học; Mối liên quan giữa chỉ số Non - HDL Cholesterol và biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi có yếu tố nguy cơ tim mạch, tác giả Khúc Thị Hương; Hà Trần Hưng; Vũ Thị Thanh Huyền, ngành Y học; Nhận xét kết quả kiểm soát đường máu khi điều trị Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi, ngành Y học, tác giả Phạm Thị Th Hằng; Nguyễn Trung Anh; Vũ Thị Thanh Huyền Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về truyền thông cho người cao tuổi, cần phải được khẳng định lại một lần nữa là rất thiếu
Như đã nêu ở trên, từ trước tới nay mặc dù số lượng các cuốn sách, báo, công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến người cao tuổi ở nước ta
là khá nhiều; việc tuyên truyền vấn đề quan tâm, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi trong đời sống xã hội cũng được các cơ quan báo chí chú trọng, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có nhiều công trình nghiên cứu đề
Trang 16cập đến nội dung truyền thông dành cho người cao tuổi Qua quá trình đọc và nghiên cứu tài liệu tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu, vấn đề truyền thông dành cho người cao tuổi trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa nhiều Những điều đã làm được thì chưa thể hiện hết sức mạnh của báo chí trong việc truyền thông về người cao tuổi Điều này có thể dẫn tới những khó khăn lới khi Việt Nam phải thực sự đối đầu với tình trạng dân số già đi trong khi kinh tế chưa thực sự phát triển như mong đợi
Việc khảo sát những vấn đề lý luận và thực trạng với những ưu điểm, nhược điểm trong việc tham gia công tác truyền thông dành cho người cao tuổi trong chương trình “Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra những giải pháp có tính khả thi, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài “Nâng cao chất lượng chương trình dành cho người cao tuổi trên Đài Truyền hình Việt Nam” tác giả hy vọng sẽ phần nào khắc phục những khoảng trống này bằng cách làm rõ cơ sở lý luận của đề tài, khảo sát và chỉ ra thực trạng của công tác truyền thông về các vấn đề của người cao tuổi như việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi; giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích trong cộng đồng
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các lý luận về hoạt động truyền thông
dành cho người cao tuổi mà cụ thể là công tác sản xuất chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi ở Việt Nam
- Nghiên cứu này khảo sát nhằm chỉ ra những ưu điểm cũng như là hạn chế trong công tác truyền thông về người cao tuổi trên Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 17- Nghiên cứu này tập trung khảo sát hai chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam để tìm hiểu và phân tích những ưu điểm, nhược điểm của quá trình sản xuất và chất lượng tác phẩm truyền hình của hai chương trình này
- Trên có sở đó, luận văn cũng đề ra giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, giúp nâng cao chất lượng công tác
truyền thông dành cho người cao tuổi trên Đài truyền hình Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đề ra, người viết luận văn cần thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Thu thập các tư liệu, văn bản pháp luật dành cho người cao tuổi, các chương trình của Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam đối với việc truyền thông dành cho người cao tuổi và công tác quan tâm, chăm sóc, phát
huy vai trò người cao tuổi
- Khảo sát các tác phẩm thuộc chương trình “Tuổi cao gương sáng” và
“Vui-khỏe- có ích” trong khoảng thời gian từ 6/2014-12/2016, chỉ ra cụ thể các cách thức tuyên truyền như thế nào Ngoài việc trình bày chi tiết, cần có
sự tổng hợp, đánh giá, đưa ra những kết luận chung
- Phân tích, tổng hợp, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác truyền thông dành cho người cao tuổi thuộc chương tình “Cây cao bóng cả” trên kênh VTV1; nêu ra một số giải pháp, kiến nghị để giúp các chương trình trên kênh VTV1 thực hiện công tác này hiệu quả hơn
- Phỏng vấn các bên có liên quan tới công tác truyền thông về người cao tuổi, ví dụ lãnh đạo Hội Người cao tuổi các cấp, lãnh đạo Đài, và các phóng viên biên tập viên trực tiếp tham gia sản xuất chương trình truyền hình
về người cao tuổi của Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 184 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những thành công, hạn chế và
những vấn đề đặt ra cuả các chương trình truyền hình về người cao tuổi trong các hoạt động truyền thông dành cho người cao tuổi được thể hiện trong chương trình “Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” trên Đài Truyền
hình Việt Nam
4.2 Phạm vi khảo sát
Phạm vi nghiên cứu, khảo sát của luận văn là toàn bộ các tác phẩm
được sử dụng chương trình “Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” trên Đài THVN trong thời gian từ tháng 6/2014-12/2016
Bắt đầu nghiên cứu từ năm 2014, đề tài được quan tâm khảo sát kéo dài tới cuối năm 2016 Trong khi đó, do có một số thay đổi về mặt tổ chức và với mục tiêu nâng cao chất lượng chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi ở Đài Truyền hình Việt Nam, chương trình “Cây cao bóng cả” đã được tổ chức lại thành chương trình “Tuổi cao gương sáng” Do vậy, luận văn này có
đề cập tới việc khảo sát hai chương trình truyền hình với sự thay đổi về tên gọi như dưới đây:
- Chương trình “Tuổi cao gương sáng” được phát sóng trên kênh VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam với Thời lượng vào 18h, thứ 6 hàng tuần
“Mũ chương trình” (tên gọi) này được sử dụng chính thức từ tháng 10 năm
2016 Đây chính là chương trình “Cây cao bóng cả” được tổ chức lại Từ đây, tên “Tuổi cao gương sáng” được hiểu là tên gọi chung cho toàn bộ chương trình từ năm 2014-2016; tên “Cây cao bóng cả” được hiểu là chương trình trước tháng 10 năm 2016
- Chương trình “Vui, khỏe, có ích” được phát sóng trên kênh VTV3- Đài Truyền hình Việt Nam với Thời lượng 45 phút/số vào 8h, thứ 7 hàng tuần
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp sau đầy trong quá trình nghiên cứu, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất đối với các mục tiêu và nhiệm
vụ nghiên cứu đã được đặt ra
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử
dụng để khảo sát (1) các sách, giáo trình lý luận báo chí, đặc biệt là thể loại phóng sự truyền hình và phim tài liệu; (2) các tài liệu, văn bản, chương trình phối hợp của Hội Người cao tuổi và các Bộ ngành có liên quan đến công tác truyền thông dành cho người cao tuổi; và (3) các đề tài nghiên cứu khoa học
về người cao tuổi và các vấn đề của người cao tuổi để hệ thống hóa lý luận nhằm xây dựng khung lý thuyết của đề tài
- Phương pháp phân tích văn bản truyền thông: được sử dụng để làm
sáng tỏ nội dung tuyên truyền về người cao tuổi được thể hiện thông qua từng tác phẩm, từng con người, vấn đề được nêu ra trong chương trình “Cây cao bóng cả” trên kênh VTV1 trong thời gian khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn: đối với một số lãnh đạo Hội Người cao tuổi
các cấp, các đơn vị có lien quan trong việc phối hợp thực hiện các chương trình dành cho người cao tuổi để thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá của họ về hiệu quả nội dung truyền thông dành cho người cao tuổi trong chương trình
“Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” trên kênh VTV1, từ đó nắm bắt được ưu nhược điểm để đưa ra những khuyến nghị phù hợp
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để đánh giá những kết
quả nghiên cứu Trên cơ sở phân tích này rút ra những thành công đã làm được cũng như những hạn chế còn tồn tại để đưa ra các giải pháp cho phù hợp kịp thời nâng cao hiệu quả sản xuất các chương trình truyền thông dành cho người cao tuổi
Trang 206 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về công tác truyền thông dành cho người cao tuổi trong chương trình
“Tuổi cao gương sáng” và “Vui- Khỏe- Có ích” trên kênh VTV1 và VTV3, Đài THVN
Việc phân tích để đưa ra thực trạng, nêu bật những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của công tác truyền thông dành cho người cao tuổi, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp, khuyến nghị Đó là những đóng góp mới vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn và góp phần nâng cao công tác này trong bối cảnh đất nươc ta hiện nay
Những kết quả nghiên cứu của luận văn này nếu được Hội Người cao tuổi Trung ương, các Bộ ngành liên quan và lãnh đạo Đài THVN xem xét, vận dụng, có thể sẽ góp phần tích cực vào việc điều chỉnh, phát huy ưu điểm, khắc phục nhước điểm một cách kịp thời để nâng cao chất lượng các chương trình tuyên truyền có liên quan đến người cao tuổi trên kênh VTV1
Cuối cùng, hi vọng luận văn có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu khác về người cao tuổi nói chung và công tác truyền thông về người cao tuổi nói riêng của các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu, các trường đại học và cao đẳng, và những người có quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, các nội dung chính của luận văn
được trình bày trong 3 chương, với cấu trúc sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề truyền thông về người cao tuổi ở Việt Nam
Chương 2: Chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi trên Đài
Truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình “Tuổi cao gương sáng” trên kênh VTV1 và Chương trình Vui- Khỏe- Có ích trên kênh VTV3 năm 2014- 2016”)
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi trên Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN HÌNH
DÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM
2009 người cao tuổi (NCT) là người đủ 60 tuổi trở lên
Theo sách Truyền thông Đại chúng (Tạ Ngọc Tấn, 2001), truyền thông
là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau (tr.8) Như vậy có thể hiểu rằng, truyền thông về NCT có thể là tập hợp các hoạt động truyền thông với các thông tin phản ánh đời sống và các vấn đề của người cao tuổi; các thông tin cung cấp cho nhu cầu trau giồi, trao đổi thông tin, tăng cường hiểu biết và cập nhật thời
sự cho NCT; và các thông tin nhằm phục vụ nhu cầu giải trí của NCT
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm; chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo
sự phát triển bền vững (Nguyễn Văn Dững, 2015, tr15) Như vậy, truyền
thông là quá trình tương tác liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng, trong đó có
sự lưu chuyển dòng thông tin chủ yếu từ đối tượng cung cấp thông tin tới đối tượng tiếp nhận và dòng thông tin phản hồi ngược lại từ khách thể thông tin với chủ để thông tin
Trang 22Theo tác giả Trần Bảo Khánh (1999), chương trình truyền hình có thể
hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất là cách bố trí sắp xếp toàn bộ các sản phẩm truyền hình được sản xuất ra theo ngày hoặc theo thời lượng phát song
Ví dụ: VTV luôn luôn có mục giới thiệu chương trình truyền hình vào đầu mỗi ngày hoặc có đưa lên trang website của Đài toàn bộ lịch phát song trong một ngày hoặc một tuần Lịch phát sóng đó thể hiện chương trình truyền hình
trong ngày hoặc trong tuần của Đài Nghĩa thứ hai, chương trình truyền hình
là một sản phẩm báo chí, bao gồm một hoặc nhiều tin tức, phóng sự, ký sự, tác phẩm truyền hình có nội dung thống nhất, phục vụ một chủ đề chung Một
khái niệm khác cho rằng, chương trình truyền hình là à một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền hình, mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim Nó có thể là một bản sản xuất duy nhất, hoặc phổ biến hơn, một loạt các phần liên quan (cũng được gọi là một phim bộ truyền hình)
Người cao tuổi hay người cao niên hay người già là những người lớn tuổi, thường có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: “người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội” Tại Việt Nam quy định công dân 55 tuổi trở lên đối với nữ và 60 tuổi trở nên đối với nam sẽ được áp dụng các quy định pháp luật dành cho người cao tuổi, như chế độ hưu chí, ưu đãi trong các chương trình an sinh xã hội
Theo cách hiểu của khái niệm trên, các chương trình truyền hình dành cho người cao tuổi là các chương trình phát trên sóng truyền hình mà có đối tượng chính là người cao tuổi Các chương trình này có thể coi người cao tuổi là đối tượng phản ánh, cũng có thể coi người cao tuổi là đối tượng phục
vụ hoặc là bên tiếp nhận thông tin Như đã đề cập ở trên, các chương trình
Trang 23truyền hình danh cho người cao tuổi và nói về người cao tuổi nổi bật nhất ở Việt nam trong thời gian hiện hay là “Tuổi cao gương sáng” trên kênh VTV1,
“Vui -khỏe -có ích” trên kênh VTV3, và “Chuyện tuổi già” trên Đài Truyền hình Hà Nội
1.1.2 Yêu cầu của chương trình truyền hình cho người cao tuổi
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về việc đánh giá chất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm truyền hình Tuy nhiên, các tranh luận đều cho rằng, chương trình truyền hình có chất lượng cao bao gồm một số đánh giá chủ quan về giá trị của các chương trình đó Ví dụ, Robert Thompson cho rằng, chất lượng chương trình truyền hình bao gồm một
Tuyên bố rằng các chương trình truyền hình có chất lượng cao hơn bao gồm một số đánh giá chủ quan và đánh giá giá trị Ví dụ như lời tuyên bố của Robert Thompson rằng các chương trình truyền hình có được gọi là có chất lượng khi nó bao gồm một kịch bản có chất lượng, các nhận vật được sắp xếp hợp lý, một nội dung có xâu chuỗi, tạo ra các yếu tố mới trên cơ sở của các yếu tố đã trình bày, sự tự nhận thức, các quan điểm và khuynh hướng rõ ràng
về những vấn đề thực tế hoặc các vấn đề tranh cãi, được đánh giá dựa trên các tiêu chí chủ quan
Các tiêu chí cho “chương truyền hình chất lượng” do Nhóm Người xem truyền hình chất lượng của Hoa Kỳ (một tổ chức phi chính phủ của Hoa Kỳ) chỉ ra rằng “Một chương trình chất lượng là điều chúng tôi mong đợi [nó] tập trung nhiều hơn vào các mối quan hệ và khám phá nhân vật, nó soi sáng, bao gồm và đối mặt với người xem, nó kích thích tư tưởng “, tuy nhiên tất cả các tiêu chí này cũng đòi hỏi một số đánh giá chủ quan
- Các yêu cầu chung của chương trình truyền hình ở Việt Nam
Trang 24Theo nhà báo Vũ Quang, Phó giám đốc Trung tâm Nghiệp vụ, Đài Truyền hình Việt Nam Trọng tâm của câu chuyện mà nhà báo truyền hình cần chú ý thể hiện qua các câu hỏi: Ai (Who)? Làm cái gì (What)? Tại sao (Why)? Nhà báo cũng cần xác định chính xác tiêu chí của một tác phẩm truyền hình tốt Đó là các tiêu chí sau: Thông tin có phong phú, đa chiều; Có phù hợp vơí đối tượng thông tin; Có gần gũi và hấp dẫn công chúng không;
Có sự phân tích sâu không? Có tính thời sự không? Thời điểm phát sóng có phù hợp không? Kết cấu tác phẩm, hình thức thể hiện: Thể hiện của MC, Có độc đáo, hấp dẫn không? (Vũ Quang)
Tuy nhiên, các yếu tố chất lượng của tác phẩm truyền hình có thể đánh
giá được, mà không cần xem xét quá trình sản xuất tác phẩm, có thể bao gồm
chất lượng nội dung của tác phẩm (bao gồm chủ đề, chi tiết, nhân vật) và chất lượng hình thức của tác phẩm (bao gồm kết cấu, chất lượng hình ảnh, và lời bình) Như vậy, chất lượng chương trình truyền hình có thể được xác định
thông qua chất lượng nội dung và chất lượng hình thức của tác phẩm đó Đối với từng yếu tố nội dung và hình thức cụ thể thì sẽ cần có những tiêu chí riêng biệt để đánh giá chất lượng của chúng Trong luận văn này, chúng tôi cũng nêu ra các tiêu chí mà chúng tôi công nhận để đánh giá chất lượng nội dung
và hình thức của các tác phẩm truyền hình được chúng tôi chọn nghiên cứu
Trước hết, chúng tôi xin nêu rõ quan điểm của mình về thể loại báo chí
mà hai chương trình được lựa chọn khảo sát của chúng tôi thuộc về Về mặt lý thuyết, cần phải khẳng định rằng thể loại báo chí ở Việt Nam vẫn còn là một
đề tài gây nhiều tranh cãi Trong đó, các nhà nghiên cứu báo chí đã cố gắng gọi tên cách mình định nghĩa về thể loại báo chí, nhằm mục đích trả lời câu hỏi “Thể loại báo chí là gì?” và “các tiêu chí nào để sắp xếp các tác phẩm báo chí vào cùng một thể loại Theo PGS TS Đinh Văn Hường, trong bài “Một số vấn đề thể loại báo chí” quan niệm: Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ
Trang 25bản thống nhất và tương đối ổn định các các bài báo, được phận chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị - tư tưởng nhất định” Ở nước ta có nhiều quan niệm về thể loại báo chí Lí do, báo chí Việt Nam ra đời muộn hơn
so với báo chí Châu Âu và phương Tây hơn hai thế kỷ Sự hình thành và xác lập thể loại báo chí ở Việt Nam là do nhu cầu của quá trình xây dựng kinh tế -
xã hội của đất nước Có rất nhiều quan niệm về thể loại nhưng để đưa ra một khái niệm chung nhất cho thể loại báo chí chưa có mà chỉ đưa ra cách hiểu về từng thể loại GS TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Tác phẩm báo chí” cho rằng:
“Thể loại tác phẩm là một khái niệm chỉ tính quy luật loại hình của tác phẩm báo chí Thể loại là sự thống nhất có tính quy luật lặp lại của các yếu tố trong một loạt tác phẩm báo chí”
Về mặt thực tiễn, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi quá
sâu vào phân biệt thể loại cho các chương trình truyền hình Chúng tôi khu biệt chúng với mục tiêu là để nghiên cứu hai thể loại chính là chính luận truyền hình và gameshow giải trí truyền hình dành cho người cao tuổi Mặc
dù hai thể loại này có những đặc điểm riêng biệt, chúng tôi không cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa hai chương trình truyền hình thuộc về hai thể loại khác nhau như thế nào Chúng tôi cố gắng tìm ra việc các chương trình truyền hình này đã thực hiện nhiệm vụ truyền thông về người cao tuổi tốt tới đâu trong phạm vi có thể Do vậy, chúng tôi cố gắng đánh giá các chương trình này dưới góc độ các yếu tố nội dung và hình thức của chương trình truyền hình, cụ thể như sau:
Về mặt nội dung: Các yếu tố nội dung của các phẩm truyền hình sẽ
được xem xét chủ yếu trong luận văn này là đề tài, chi tiết, thông điệp và nhân vật
Trang 26Đề tài: Trong các bộ môn nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng,
đề tài là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm văn học nghệ thuật hoặc báo chí Khái quát hơn, đề tài thể hiện phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm đó Phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm rất đa dạng, có thể là chuyện con người, thú vật, cây cỏ, chim muông, đồ vật, thần tiên, ma quái, chuyện quá khứ và chuyện viễn tưởng
Đề tài trong lĩnh vực báo chí là phạm vi đời sống hiện thực được phản ánh vào các tác phẩm báo chí Đề tài có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Với nghĩa rộng, đề tài tương ứng với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống như đề tài quốc tế, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế, thể thao Với nghĩa hẹp, có thể hiểu đề tài là sự kiện, vấn đề mà nhà báo hướng tới, nhận thức và phản ánh vào tác phẩm.Đối với xã hội hiện đại ngày nay, khi mọi thứ không ngừng biến động, cái cũ cái mới giao thoa, hàng loạt vấn đề nảy sinh chúng ta có thể dễ dàng tìm được đề tài cho tác phẩm của mình ở mọi nơi, mọi lúc, trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống Đề tài nảy sinh từ hiện thực cuộc sống, nó có thể diễn ra ngay trước mắt chúng ta nhưng cũng có thể ẩn sâu, giấu kín mà chỉ những con mắt tinh tế mới nhận ra được (Lê Thư, 2013)
Đề tài của tác phẩm truyền hình phải thỏa mãn tính mới, tính liên quan, tính hấp dẫn Tính mới của đề tài cố thể xét trên hai góc độ: sự kiện, nhân vật, vấn đề hoàn toàn mới, chưa được đề cập, chưa được nhắc tới trên báo chí lần nào; hoặc sự kiện, nhân vật, vấn đề cũ, đã được nhắc tới nhưng được phát hiện ra các khía cạnh, các mặt, các chi tiết, hoặc sự biến chuyển mới (Đinh Văn Hường, 2004) Thêm vào đó, đề tài phải đảm bảo tính liên quan về mặt địa lý, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, địa vị, hoặc sự quan tâm giữa con người, sự kiện, nhân vật được nhắc tới và các khán giả của chương trình Tính hấp dẫn của đề tài có thể thể hiện ở sự lạ, đọc đáo, kì dị, thú vị, hoặc gây sốc của con người, sự kiện, hoặc nhân vật được đề cập tới trong tác phẩm (đề tài)
Trang 27Chi tiết là một thành phần quan trọng giúp hình thành nên tác phẩm
báo chí Lựa chọn chi tiết là lựa chọn các biểu hiện sinh động của cuộc sống
để đưa vào tác phẩm báo chí, nhằm cho nội dung của bái báo trở nên đặc sắc, đáng tin cậy hơn (Giáo trình báo chí truyền hình, 2009) Tuy nhiên, chính việc lựa chọn chi tiết như thế nào lại làm cho việc thể hiện quan điểm của tác giả trở nên rõ ràng hơn: chi tiết trực tiếp hay gián tiếp, chi tiết giật gân câu khách, hay nhân văn nhân dạo hoặc trung dung không rõ đều thể hiện rõ ràng quan điểm cá nhân cũng như tư tưởng của tác giả bài viết Đôi khi, chỉ một chi tiết nhỏ có thể gây xúc động cho đông đảo công chúng, thay đổi quan niệm về một vấn đề gì hoặc thay đổi cách nhìn nhận vốn có về vấn đề đó
Nhà văn Nguyễn Công Hoan phát biểu: “…dù nằm ở vị trí nào trong tác phẩm, chi tiết đều đóng vai trò là những vật liệu cơ bản cùng với các yếu
tố khác làm nên hình hài, diện mạo của tác phẩm, chi tiết là những hòn gạch xây lên bức tường…” Không có các chi tiết, nhà báo mới chỉ làm được phận
sự là đưa người đọc tiếp cận với đời sống và chưa giúp họ quan sát và nhận thức đầy đủ về nội dung, bản chất sâu xa của đời sống hiện thực đó
Chi tiết trong tác phẩm truyền hình còn có giá trị đặc biệt ở chỗ, hình ảnh và âm thanh sống động được truyền tải Nhờ sự có mặt của hình ảnh thực, các chi tiết như được tự nói nên ý nghĩa của mình và người xem có thể được cảm nhận trực tiếp Chi tiết, do vậy, trở thành phương tiện cực kỳ quan trọng
để truyền tải thông điệp trong tác phẩm truyền hình
Thông điệp: Thông điệp là một đơn vị của truyền thông, được hình
thành bởi nguồn để hướng tới một hoặc một số người hoặc nhóm nhận tin Một thông điệp có thể được truyền tải bằng nhiều phương tiện, ví dụ bưu chính, ảnh, bồ câu đưa thư, thậm chí là gửi bằng xe buýt Sự trao đổi các thông điệp hình thành nên các hội thoại (Wikipedia) Thông điệp phải dựa trên nguyên tắc là cần nói những cái cần nói, gắn với trí tuệ và tình cảm, tránh
Trang 28việc nói sáo rỗng, giáo điều, hoặc dài dòng diễn giải thiếu trọng tâm Một bài báo có thể không sử dụng thông điệp trực tiếp trên tit, sapo nhưng ở cấp độ chi tiết thì cũng có rất nhiều nhà báo ưa chuộng sử dụng thông điệp trong các chi tiết Nhiều nhà báo cũng ưa sử dụng chi tiết với hình thức đưa trực tiếp thông điệp hoặc đưa gián tiếp với những chi tiết có liên quan hoặc gợi hình tượng, hoặc tạo liên tưởng của người đọc tới một trong số các nội dung mà thông điệp truyền thông hướng tới Tỉ lệ sử dụng chi tiết cũng cho biết xu hướng sáng tạo tác phẩm của nhà báo đề truyền tải tốt nhất thông điệp
Như vậy, thông điệp có thể không được thể hiện trực tiếp bằng ngôn
từ, nhưng có thể được hệ hiện thông qua cách lựa chọn và sử dụng đề tài, chi tiết, và nhân vật, cùng với các góc độ được đề cập của các yếu tố đã được nói ở trên
Nhân vật: Do có rất ít tài liệu đề cập tới lý thuyết về nhân vật báo chí,
chúng tôi xin bắt đầu tìm hiểu từ nhân vật văn học, để thấy sự khác biệt của nhân vật báo chí đối với nhân vật văn học
Trước hết, nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu
tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia ) hay
có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao ) Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập
Trang 29trung miêu tả số phận của con người Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật nhưng lại gán cho nó phẩm chất của con người
Nhân vật chính (từ Hy Lạp cổ đại: protagonistes), có nghĩa là “một trong những người đóng vai đầu tiên” hay “diễn viên chính”) là một nhân vật đóng vai trò trung tâm, xuyên suốt, chủ đạo trong một tác phẩm văn học, sân khấu, điện ảnh, hoặc âm nhạc (một live Show, một chương trình ca nhạc…), trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh thì nhân vật chính thường được tập trung thể hiện hình ảnh cá nhân và nêu lên những tư tưởng, quan điểm chủ đạo của tác giả trong tác phẩm của mình, nhân vật chính thường được kết thúc trong xung đột và giải quyết xung đột với nhân vật phản diện (Wikipedia) Nhận vật chính có thể là nhân vật chính diện hoặc phản diện Ngày nay, thuật ngữ nhân vật chính được hiểu theo nghĩa rộng đề cập đến nhân vật (người) đang được nhắc đến trong một câu chuyện, một buổi hội thoại, một sự kiện hoặc một vụ bê bối Khác hẳn với nhân vật văn học, nhân vật báo chí phải là con người có thật trong cuộc sống, không được phóng đại, không hư cấu, hay tưởng tượng
Trong báo chí, trước kia, các nhân vật thường là những người tiêu biểu, điển hình trong cộng đồng Với cách nhìn này, nhân vật thường mang tới cho người xem cảm giác về các yếu tố tích cực là chủ yếu Do vậy, được “lên truyền hình” là niềm vinh dự, không phải của bản thân nhân vật mà còn là của
cơ quan, gia đình, dòng họ, hoặc cộng đồng Tuy nhiên, ngày nay khi báo chí trở nên phổ thông và đại chúng hơn, mọi người đều có thể trở thành nhân vật của báo chí Và không phải, cứ phải là người có thành tích tốt trong cộng đồng hoặc cơ quan thì mới xứng đáng được lên truyền hình Do vậy, trong luận văn này chúng tôi sẽ xem xét mức độ phổ thông của việc chọn lựa các nhân vật “không phải là điển hình của cộng đồng” để đưa vào phân tích
Trang 30Về mặt hình thức: Các yếu tố hình thức của tác phẩm truyền hình
được đề cập trong nghiên cứu này bao gồm tít (tên chương trình), hình ảnh,
âm thanh, lời bình, và người dẫn chương trình
Tít chương trình: Đầu đề là một loại tên gọi đặc biệt của tác phẩm báo
chí Nó là sự biểu đạt cô đọng nội dung, thể hiện bản chất, tư tưởng chính trị của tác phẩm, là yếu tố tiếp xúc đầu tiên giữa tác phẩm với công chúng Khác với đầu đề của tác phẩm văn học, đầu đề tác phẩm báo chí có vai trò rất quan trọng Việc đặt đầu đề có tính quyết định số phận của bài báo Có khi chỉ cần đọc đầu đề, người ta cũng đã có thể nắm bắt được phần nội dung quan trọng nhất, chủ yếu nhất của tác phẩm báo chí (Đỗ Văn Hường, 2008)
Bài báo dù rất hay, nhưng đầu đề dở thì có thể làm mất đi ít nhất một nửa độc giả vì đầu đề bài báo là một yếu tố phân biệt bài nào quan trọng hơn bài nào Đầu đề không thể làm nên giá trị của toàn bộ tác phẩm nhưng nó là yếu tố đầu tiên thu hút sự quan tâm của người đọc để họ tự quyết định xem có cần phải đọc cả nội dung bài bào đó (ở trang trong) hay không?Đầu đề của tác phẩm báo chí có thể là một tập hợp của một nhóm đầu đề, được sắp xếp theo trình tự như sau: Đầu đề dẫn (Tít dẫn)- Đầu đề chính (Tít chính) -Đầu đề phụ (Tít phụ)
Hình ảnh: Một ưu thế của truyền hình là truyền tải cả hình ảnh và âm
thanh cùng một lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp cận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượn thông tin con người thu được là do thị giác và 20% qua thính giác (Giáp Thị Bé, 2012) Trong đó, hình ảnh vừa là phương tiện vừa là nội dung thể hiện ý đồ tư tưởng của tác phẩm, hình ảnh trong truyền hình phản ánh không gian ba chiều lên mặt phẳng hai chiều của truyền hình, là hình ảnh động có thực đã qua xử lý kỹ thuật
Trang 31Theo tập bài giảng Báo chí truyền hình của Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Hà Nội, các cỡ ảnh chính trong truyền hình là: toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh Trong các tác phẩm truyền hình, “mỗi hình ảnh đều phải bao hàm một ý nghĩa, một nội dung nào đó, hoặc là nguyên nhân, diễn biến hoặc
là kết quả của quá trình phát triển sự kiện trong cuộc sống” (p 16) Ý nghĩa của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình thể hiện ở chỗ cảnh quay cho xem cái gì, góc quay và động tác máy có ý nghĩa gì, tác giả muốn biểu lộ ý đồ gì qua góc quay này Điều này tác động lên khả năng truyền hình có thể trở thành một phương tiện cung cấp thông tin lớn có độ tin cậy cao, giúp làm thay đổi nhận thức của con người
Âm thanh, cũng theo tác phẩm kể trên, là những yếu tố tồn tại khách
quan trong đời sống xã hội, âm thanh đóng vai trò quan trọng trong quá trình thông tin, truyền hình đã kế thừa kinh nghiệm xử lý, thể hiện âm thanh của phát thanh Ba yếu tố chính cả âm thanh là lời bình, tiếng động, âm nhạc Các yếu tố này được kết hợp với nhau, sử dụng nhằm thông tin phản ánh cuộc sống khách quan qua truyền hình bằng các phương tiện kỹ thuật Thứ nhất, tiếng động hiện trường có thể bao gồm âm thanh của thiên nhiên như mưa, gió, nước chảy, âm thanh do sinh hoạt con người tạo nên như tiếng dụng cụ lao động, máy móc, tiếng động nhân tạo làm tăng sự gợi cảm, chân thực của tác phẩm truyền hình nhằm tác động vào tình cảm, nhận thức của người xem Thứ hai, am nhạc là một trong ba yếu tố quan trọng của tác phẩm truyền hình
Nó có tác dụng làm tôn thêm hình ảnh và sự kiện, âm nhạc thường xen kẽ với tiếng động hiện trường
Theo kinh nghiệm của các nhà làm phim Canada, thì trong phóng sự tài liệu: 90% la lời bình, 5% là phỏng vấn, 1% là tiếng động Sau đó một thời gian, tỉ lệ này là 80% lời bình, 15% phỏng vấn, và 5% tiếng động Tuy nhiên,
tỉ lệ này đã thay đổi tới mức 40% lời bình, 40% phỏng vấn và 20% tiếng
Trang 32động Thêm vào đó tiếng động trong phóng sự không nên là tiếng động giả tạo như trong phim truyện Điều này chứng tỏ tiếng động rất quan trọng với
nội dung của tác phẩm truyền hình
Lời bình, theo tác giả Dương Xuân Sơn, là những nội dung mà hình
ảnh không thể chuyển tải hết Chúng tôi cố gắng tách phần lời bình thành một biến nghiên cứu riêng, bởi vì yếu tố này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện ngôn ngữ của chương trình
Lời bình đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm chính luận truyền hình Đó là sự bổ sung cho những gì được xem thấy trên màn hình chứ không phải những gì họ đã nhìn thấy Lời bình được tiến hành song song với hình ảnh Được hình thành từ giai đoạn viết kịch bản, lời bình cần phải truyền đạt được nội dung tư tưởng của phim Nó cần giúp người xem khái quát được ý nghĩa của sự việc sự kiện phản ánh trong tác phẩm truyền hình (Giáo trình báo chí truyền hình, 2009)
Người dẫn chương trình: Là một người dẫn chương trình hay phát
thanh viên, một trong những nhiệm vụ khó nhất là đọc văn bản do người khác viết một cách gây ấn tượng Trách nhiệm của họ là làm sao phải trình bày ý tưởng một cách xác thực trong tâm trí người nghe Người nói trên sóng giỏi phải có cá tính, phong cách riêng của họ khi truyền đạt thông tin Những người có kinh nghiệm luôn nhắc nhở rằng: khi nói trên sóng, bạn đang nói với
từng người chứ không phải nói với một đám đông
Việc thông tin truyền miệng có thể không gây hiệu quả khi người nói không thể trình bày một cách thuyết phục và rõ ràng Năng lực chú ý của khán giả thì rất dễ khơi dậy, nhưng nếu nội dung của thông tin không gây hứng khởi cho người nói thì năng lực cũng chỉ là giả dối Sự nhiệt tình không cần thiết sẽ làm cản trở việc truyền thông Thông tin truyền miệng giỏi chỉ có được khi người nghe hoặc người xem cảm nhận được ý nghĩa
Trang 33đúng sự thật và có ấn tượng trong cách nói của người dẫn Nền tảng đối với vấn đề trình bày trên sóng giỏi là sự am hiểu kỹ lưỡng những nội dung sẽ được trình bày
Cũng như một nhạc sỹ hay nhạc trưởng phải hiểu được ý định của nhà soạn nhạc, người dẫn chương trình phải hiểu ý định người viết Không chỉ trong truyền hình mà ngay cả trong phát thanh, người ta vẫn cho rằng trong khi nói vẫn nên biểu hiện tình cảm, thái độ qua nét mặt, tay và cơ thể (giống như khi đang hội thoại thông thường) vì việc tổng hợp các kỹ năng truyền thông sẽ giúp phát thanh viên làm cho thông tin của mình thêm sâu sắc mặc dù người nghe không nhìn thấy người nói Tất nhiên trong trường hợp nói ứng khẩu, bình luận trực tiếp hoặc trình bày văn bản của chính mình thì người dẫn chương trình là người hoàn toàn sáng tạo Sự biểu hiện qua ánh mắt, nét mặt, đôi khi cả tay nữa cũng diễn ra được ý nghĩa cho người xem
Hiện nay, công chúng khán giả còn đòi hỏi người dẫn chương trình phải có một trình độ chuyên môn cao, nghĩa là họ phải có khả năng đảm nhiệm toàn bộ một tác phẩm từ khâu chọn đề tài – viết – dựng có khả năng đứng trước ống kính máy quay để thể hiện tác phẩm của mình và kể cả thể hiện lời dẫn cho những tác phẩm khác với một phong cách riêng Nhiều phóng viên, biên tập viên của Đài truyền hình Việt Nam đã có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, chính xác và trong phong cách dẫn chương trình đã có những tiến bộ đáng ghi nhận Tuy nhiên, do ở nước ta cho đến nay vẫn chưa thực sự có được một đội ngũ dẫn chương trình truyền hình chuyên nghiệp và vì vậy, có thể nói việc đào tạo một đội ngũ những người dẫn chương trình chuyên nghiệp hiện vẫn đang là một vấn đề nan giải của ngành truyền hình cả nước
Trang 341.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số đặc điểm thực tiễn của người cao tuổi ở Việt nam
Trong quá trình tìm kiếm các tài liệu có liên quan tới hoàn cảnh kinh tế
xã hội, sức khỏe, tâm lý, quan hệ xã hội của người cao tuổi, chúng tôi đã tìm thấy những phân tích hết sức quý báu của các nhà nghiên cứu về các vấn đề đặt ra đối với người cao tuổi Một số vấn đề nổi bật cần đực quan tâm là sức khỏe, đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm tâm lý và nhân cách, mối quan hệ xã hội, vấn đề kích lực (stress); chất lượng đời sống, hoạt động giải trí, và hoạt động truyền thông dành cho người cao tuổi
Đặc điểm dân số xã hội của cá nhân người cao tuổi: Đặc điểm dân
số xã hội của mỗi cá nhân, trước hết được xác định dựa vào hoàn cảnh cá nhân của từng cá nhân Mặc dù người cao tuổi là cá nhân trưởng thành, đã có nhiều thời gian trải nghiệm và thay đổi, các vấn đề hoàn cảnh cá nhân vẫn tác động mạnh mẽ lên hiện trạng đời sống của người cao tuổi Hiện nay tuy sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa không đồng đều giữa các nước trên thế giới, góp phần ảnh hưởng tới tình hình chung của người cao tuổi ở từng quốc gia, nhưng có một số trọng điểm chung thường được đề cập tới, có thể kể tới là: Giới tính, chủng tộc, quá trình giáo dục, và đặc điểm văn hóa cộng đồng nơi sinh ra và lớn lên Đây chính là một số yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách và sự phát triển cá nhân của mỗi người, trong đó có
cả người cao tuổi Ở mỗi cá nhân, các yếu tố này lại khác nhau, dẫn tới hoàn cảnh khá đa dạng và phức tạp ở mỗi cao người cao tuổi nói riêng và cộng đồng nói chung Và nó quyết định việc, dù là mỗi cá nhân người cao tuổi ở trong cùng một cộng đồng cũng có những đặc điểm riêng biệt (BBC Tiếng Việt, 2015) Ngoài ra những vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, sự phân biệt đối xử,
kỳ thị chủng tộc trong cộng đồng đều là những yếu tố có tầm quan trọng nhất định đối với từng cá thể người cao tuổi
Trang 35Ngoài ra, các yếu tố cá nhân khác như tình trạng hôn nhân, nghiệp vụ công tác, các khoản thu nhập, sự phù hợp của thu nhập, hộ gia đình, các khoản bảo hiểm cũng cho thấy sự khác biệt ở người cao tuổi Phân tích chi tiết một vài điểm nêu trên cho thấy mối liên hệ với từng cá nhân có ý nghĩa nhất định như công việc lao động, chế độ hưu trí, sự di chuyển nơi cư trú, sống độc thân hay có con cháu, hoàn cảnh góa bụa, quan hệ bạn bè, môi trường nơi sinh sống, sự hỗ trợ của xã hội
Những đặc điểm nói trên đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới
sự phát triển của cá nhân, chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người trong cuộc đời
Tình trạng sức khỏe của người cao tuổi: Vấn đề sức khỏe là một
trong những mối quan tâm nổi bật của người cao tuổi và những người xung quanh họ Ở Việt Nam đây có vẻ là chủ đề được quan tâm nhiều nhất khi đề cập tới vấn đề người cao tuổi
Cùng với tuổi đời tăng cao, các chứng bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa xương khớp, giảm tưới máu não mạn tính thường diễn ra khá phổ biến Khoảng 3/4 số người 80 tuổi có ít nhất một bệnh mạn tính, trung bình có thể mắc sáu bệnh đồng diễn
Về mặt lão hóa của hệ thần kinh, thường thấy giảm khứu giác, thị giác, thính giác và vị giác Một số trường hợp bị rối loạn tiểu tiện và có khi nhất thời kết hợp với rối loạn đại tiện
Có thể có sự suy giảm các chất truyền dẫn thần kinh ảnh hưởng tới chức năng thần kinh nói chung, chức năng nhận thức nói riêng và là hậu quả sinh lý của quá trình lão hóa não Tuy nhiên, suy giảm dopamin tới một mức nhất định có thể gây bệnh Parkinson và nếu thiếu hụt apolipoprotein E4 có thể
là một yếu tố nguyên nhân quan trọng của bệnh Alzheimer Đặc biệt sự cộng
Trang 36hợp của nhiều yếu tố nguy cơ mạch máu có thể gây tai biến mạch não với hai thể lâm sàng phổ biến là nhồi máu não và chảy máu não
Thói quen dùng bia rượu, thuốc lào thuốc lá hoặc giữ chế độ ăn chay, kiêng khem cũng đều có ảnh hưởng nhất định đến toàn trạng ở một số cá thể đối tượng Ngoài ra các hoạt động trong đời sống hàng ngày như tập luyện, lao động chân tay hay trí óc, giải trí, nghỉ ngơi, giấc ngủ đều là những yếu tố liên quan đến sức khỏe cá nhân
Tình trạng kinh tế người cao tuổi: Đối với người cao tuổi, khi sức
khỏe không còn được tráng kiện như thời thanh niên hoặc thanh niên, và trong hoàn cảnh xã hội còn khó khăn, kinh tế là một trong những nỗi lo lắng hàng đầu
Trước hết, người cao tuổi là người đã nằm ngoài độ tuổi lao động, nguồn lực kinh tế chủ yếu là được tích lũy ở giai đoạn trước đó hoặc các hỗ trợ xã hội Một trong những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng quan trọng tới tình trạng kinh tế của người cao tuổi là vấn đề bảo hiểm và lương hưu Nếu không có hai công cụ an toàn này, đời sống của người cao tuổi sẽ hết sức khó khăn Thêm vào đó nhận thức và hiểu biết về già hóa dân số và người cao tuổi còn chưa cao
Tuổi thọ trung bình của người Việt hiện nay là 73 tuổi, tức là khá tốt nhưng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn thì còn rất khó khăn - tỉ lệ nghèo ở người cao tuổi là 23,5% Theo bà Phạm Tuyết Nhung, Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương, Hội Người cao tuổi Việt Nam cho biết thì hiện chỉ có 60% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế mà bảo hiểm y tế cũng chỉ có tác dụng khi bị bệnh nặng
Tuy nhiên vấn đề quan trọng mà những người vận động cho quyền của người cao tuổi muốn nhấn mạnh đó là cách tiếp cận đối với người cao tuổi tại Việt Nam “Phần lớn luật và chính sách về người cao tuổi của chính phủ thì
Trang 37nhiều và đầy đủ nhưng vẫn nặng về chăm sóc, coi người cao tuổi là đối tượng
đi thăm, tặng nhà khi đã quá già và nghèo v.v trong khi thực sự vẫn còn rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ tuổi 60 đến 75, họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng “Người cao tuổi ít được tham gia những chương trình phát triển như xóa đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai, hay chương trình vay quỹ tín dụng để làm kinh tế
để tự mình vươn lên,” bà Nhung nói Như vậy, ở một nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề kinh tế của người cao tuổi là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt
Tình trạng các mối quan hệ xã hội của người cao tuổi: Những đặc
điểm cơ bản về mặt sức khỏe, tâm lý, nhân cách và dân số – xã hội nêu trên là những vấn đề sinh lý-sinh học chủ yếu của tuổi già trong bối cảnh xã hội hiện nay Nhưng muốn tăng cường sự thoải mái về mặt tâm lý và thể chất, theo quan niệm về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới, việc duy trì các quan hệ xã hội trong quãng đời xế chiều có vai trò vô cùng quan trọng Người ta nhận thấy việc giải quyết tốt các mối quan hệ xã hội gắn liền với sự giảm nguy cơ bệnh tim-mạch, nguy cơ suy giảm chức năng và tử vong Tình cảm bạn bè và tương tác xã hội góp phần làm cho cảm xúc được phong phú, mang lại sự thoải mái và niềm hạnh phúc cho con người Tất nhiên các mối quan hệ xã hội nói chung phần lớn mang tính tích cực nhưng cũng có khi gây tác động khó
dự đoán đối với một số người già
Có ba mặt của quan hệ xã hội đã được xác định là hỗ trợ cơ cấu, hỗ trợ
xã hội và hỗ trợ tiêu cực Sự hỗ trợ cơ cấu là số lượng và thể loại các mối dây liên lạc phản ánh sự hòa nhập hoặc gắn bó của một cá nhân với xã hội Ví dụ trong mạng lưới sinh hoạt xã hội, mỗi cá nhân có thể có vợ hoặc chồng, bạn
bè, đối tác, là tín đồ của một giáo phái, thành viên của một trường phái với các mức độ giao tiếp nhất định Nhiều nghiên cứu cho thấy các người cao tuổi
Trang 38có nhiều mối dây liên lạc xã hội dường như ít bị suy giảm khả năng cơ thể và nhận thức sau khi đã được điều chỉnh tình trạng sức khỏe và chức năng Một
số nghiên cứu khác cũng nhận thấy những người có màng lưới quan hệ xã hội rộng lớn và thường xuyên tiếp xúc với các thành viên trong màng lưới đó thường có tốc độ suy giảm chức năng chậm hơn cũng như có thể sống lâu hơn Như vậy mức độ thấp trong hòa nhập xã hội, ví dụ cách biệt với cộng đồng có thể là một yếu tố nguy cơ lớn đối với tử vong; đây là yếu tố độc lập đối với các yếu tố nguy cơ khác về mặt y-sinh học và ứng xử Tuy vậy hiện chưa xác định được cơ chế và tác động tốt của sự hòa nhập xã hội đối với sức khỏe con người nói chung, người cao tuổi nói riêng
Sự hỗ trợ xã hội bao gồm sự hỗ trợ cảm nhận và sự hỗ trợ tiếp nhận với bốn hình thái khác nhau Sự hỗ trợ công cụ là sự trợ giúp tiền bạc, các đồ hàng cụ thể hoặc giúp đỡ chăm sóc cá nhân Sự hỗ trợ tình cảm liên quan đến việc dành tặng sự thương yêu, chăm sóc và các cảm xúc tích cực khác Sự hỗ trợ thông tin là cách cung ứng lời khuyến nghị, hướng dẫn hoặc chỉ báo cách giải quyết các vấn đề cụ thể Sự hỗ trợ đánh giá nhằm giúp cho cá nhân tự nhận định bản thân trong các tình huống đã trải qua Các mặt hỗ trợ trên đều
có tác động hữu ích cho trạng thái tâm lý cũng như hoạt động cơ thể và chức năng nhận thức ở người cao tuổi
Tuy nhiên mặt tiêu cực của các sự hỗ trợ nêu trên là ở chỗ có thể làm cho cá nhân người được chăm sóc hỗ trợ quá mức trở nên bị lệ thuộc, bị động dẫn đến giảm hoạt động và cơ thể nhanh chóng bị suy thoái Đây là điều cần cân nhắc trước từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, căn cứ vào việc lượng giá đúng thực trạng của từng đối tượng người cao tuổi
Tình trạng tâm lý và nhân cách của người cao tuổi: Sự hình thành
nhân cách là một quá trình kéo dài nhiều năm từ lúc sơ sinh đến tuổi trưởng thành Sự hình thành này kết hợp các yếu tố sau: sự phát triển và trưởng thành
Trang 39hoặc suy thoái của cơ thể, sự tiếp nhận các yếu tố văn hóa và xã hội qua nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, sự hình thành các cơ cấu tâm lý qua những quá trình vô thức hay hữu thức Điều cơ bản là các yếu tố tâm lý và mô hình nhân cách đều chịu sự chi phối của hệ thần kinh trung ương với những đáp ứng nội tiết thích hợp
Nói chung, người cao tuổi với sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc đời,
sự gia tăng kiến thức và sự thành thạo các kỹ năng trải qua những biến động của thời gian sẽ có tác phong khác người trẻ tuổi Ngoài sáu mươi tuổi, các nhóm tuổi già cũng có những tính chất không giống nhau Mặt khác, quá trình lão hóa của cơ thể cùng với những bệnh tật đồng diễn cũng đều có ảnh hưởng tới sự ứng xử của tuổi già Cổ văn Trung Hoa có câu: “[…] ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ” có thể được coi là sự tổng kết triết lý về tâm lý sống và hành động của con người Điều đáng chú ý là từ cá tính vô tư, bình thản hoặc dễ cảm xúc đến những biểu cảm tự tin, tự chủ, lạc quan, bi quan hoặc giận hờn, bùng nổ, có thể nói những phản ứng của cá nhân còn tùy thuộc rất nhiều vào các kích lực (stress)
mà bản thân người cao tuổi đã trải nghiệm
Vấn đề tâm lý – xã hội và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi:
Chất lượng cuộc sống bao gồm hai lĩnh vực liên quan đến sức khỏe và môi trường Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được phản ánh qua việc thực hiện chức năng mọi mặt hàng ngày và cũng là hậu quả của bệnh tật hoặc sau can thiệp điều trị; ví dụ khả năng vận động, tắm rửa, mặc áo quần, khí sắc, tiếp xúc, không đau đớn Chất lượng cuộc sống liên quan đến môi trường
là nguồn thu nhập kinh tế, nhà ở, chất lượng không khí và nước dùng, sự ổn định của cộng đồng, việc tiếp cận nghệ thuật và giải trí, khả năng quan hệ bạn
bè, cảm nhận hài lòng trong đời sống tinh thần hoặc tôn giáo
Trang 40Hai mặt nói trên của chất lượng cuộc sống cũng đều có liên quan với nhau: một môi trường nghèo nàn thiếu thốn có thể ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và tất nhiên sức khỏe hạn hẹp rất cần tới một môi trường sống thuận lợi phù hợp Nhìn chung, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe có xu hướng giảm dần theo tuổi tác là hậu quả của những bệnh mạn tính và quá trình lão hóa với những biến đổi trên nhiều khía cạnh sinh lý Tuy vậy, điều may mắn là chất lượng cuộc sống liên quan đến môi trường có xu hướng ngày càng được cải thiện góp phần tạo thuận lợi cho
sự thích nghi của tuổi già
Hiện nay có một số thang đánh giá chất lượng cuộc sống được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng trên nhiều mặt từ lượng giá các khuyết tật, di chứng, tổn thiệt (handicap) đến các cảm xúc, ứng xử xã hội, sự hài lòng với đời sống
và cả chất lượng cuộc sống Vì vậy có thể ứng dụng khi muốn lượng giá chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi trong nghiên cứu và thực hành Tuy nhiên mỗi quốc gia, mỗi xã hội, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm và sắc thái riêng trong đời sống cộng đồng Do đó, khi tiếp cận người cao tuổi, ngoài việc thu thập đầy đủ các dữ liệu về lứa tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh cá nhân và những yếu tố tâm lý-xã hội, còn có những điều nhạy cảm chỉ có thể ghi nhận được với sự rung động của tâm hồn con người trong bối cảnh cuộc đời
Do vậy, có thể thế, những vấn đề rất quan trọng đối với người cao tuổi, nhất là trong thời kỳ hiện này là (1) vấn đề kinh tễ xã hội lứa tuổi; (2) vấn đề môi trường và chất lượng sống; (3) vấn đề sức khỏe; (4) vấn đề giải trí; và (5) vấn đề truyền thông dành cho người cao tuổi
1.2.2 Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi: Trong lời
hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trách