Đã có các công trình nghiên cứu về chọn tạo giống thích nghi vớithời vụ và điều kiện sinh thái, nghiên cứu quy trình trồng và chăm sóc đậuxanh, nghiên cứu phân lập gen cystein liên quan
Trang 1NGUYỄN THỊ THU VIÊN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ CHẤT CÓ HOẠT TÍNH THẨM THẤU VÀ ENZYME CHỐNG
OXY HÓA CỦA ĐẬU XANH (Vigna radiata L.)
TRONG ĐIỀU KIỆN GÂY HẠN VÀ PHỤC HỒI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Bình Định - Năm 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ THU VIÊN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ CHẤT CÓ HOẠT TÍNH THẨM THẤU VÀ ENZYME CHỐNG
OXY HÓA CỦA ĐẬU XANH (Vigna radiata L.)
TRONG ĐIỀU KIỆN GÂY HẠN VÀ PHỤC HỒI
Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số
Người hướng dẫn: TS TRƯƠNG THỊ HUỆ
Trang 3sự hướng dẫn khoa học của TS Trương Thị Huệ Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nàokhác.
Trang 4đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp
đỡ, động viên của bạn bè và đồng nghiệp
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kínhtrọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trương Thị Huệ đã tận tình hướng dẫn,dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Khoa học Tự nhiên,các giảng viên đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi và các cán bộ,nhân viên phòng thí nghiệm thực hành đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đãtạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyếnkhích tôi hoàn thành luận văn
Bình Định, tháng 8 năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thu Viên
Trang 5MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) là một trong những cây
lương thực quan trọng ở nước ta Đậu xanh là cây trồng có thời gian sinhtrưởng ngắn nên dễ luân canh với cây trồng khác, có thể tăng vụ để đạt hiệuquả kinh tế Cây đậu xanh được trồng chủ yếu lấy hạt để chế biến thức ăn Hạtđậu xanh chứa khoảng 25,98% protein, 1,3% lipit, 4,79% chất xơ, 62,12%hydratcacbon, các loại vitamin A, B1, B2, C và một số nguyên tố khoáng như
K, Na, Mg, P, Fe, Ca… Hạt đậu xanh không chỉ là thực phẩm mà còn là mộtthứ dược liệu có thể giải độc, thanh nhiệt, chữa bệnh…cho con người Hạt đậuxanh còn là một mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị; hạt đậu xanh được sửdụng để chế biến thành các loại thực phẩm như chè, bánh đậu xanh, bánhnướng, … Ngoài ra, sản phẩm của cây đậu xanh còn được dùng làm thức ăncho gia súc Trồng đậu xanh còn có tác dụng chống xói mòn, cải tạo đất Hệ rễcủa cây đậu xanh có nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm Vì vậy, cây đậu xanhkhông những mang hiệu quả về mặt dinh dưỡng, kinh tế mà còn có tác dụngcải tạo đất
Tuy nhiên, ở nước ta diện tích trồng đậu xanh còn nhỏ lẻ, không tậptrung, chủ yếu chỉ là trồng xen canh và luân canh tăng vụ do đó năng suấtthấp Việc mở rộng diện tích gieo trồng đậu xanh gặp nhiều khó khăn phụthuộc vào một số yếu tố như giống, đất đai, thời tiết khí hậu, biện pháp kỹthuật canh tác…trong đó quan trọng nhất là chưa có những giống có khả năngchống chịu các điều kiện bất lợi từ môi trường đặc biệt là điều kiện hạn
Hiện nay, mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất đậu xanh, chỉ có một số ít vùng có khả năng chủ động nguồn nước tưới Trong khi đó, lượng mưa ở
Trang 6nước ta thường phân bố không đều giữa các vùng và các tháng trong năm, đặcbiệt lưu lượng mưa ở nước ta có xu hướng giảm dần trong những năm gầnđây Do vậy, trong các vụ gieo trồng, cây đậu xanh đều có thể gặp hạn ởnhững giai đoạn sinh trưởng, phát triển nhất định Nước là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, ảnh hưởngnghiêm trọng đến năng suất của cây trồng.
Đối với cây trồng, để có thể tồn tại được với điều kiện thiếu nước phải
có những cơ chế thích nghi Một trong những phản ứng thích nghi đó là khảnăng tạo áp suất thẩm thấu cao trong tế bào để cạnh tranh nước với môitrường xung quanh, dẫn đến sự xuất hiện và tích lũy các chất hòa tan,protein, axit amin đặc hiệu…Ngoài ra, cây trồng còn có cơ chế tự bảo vệ,hình thành các enzyme chống oxy hóa nhằm loại bỏ các gốc tự do độc hạiđược tạo ra khi cây gặp stress
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu trên đối tượng đậu xanh đã và đang đượctiến hành Đã có các công trình nghiên cứu về chọn tạo giống thích nghi vớithời vụ và điều kiện sinh thái, nghiên cứu quy trình trồng và chăm sóc đậuxanh, nghiên cứu phân lập gen cystein liên quan đến khả năng chịu hạn, Tuynhiên, các nghiên cứu về sự hình thành các chất bảo vệ của cây đậu xanhtrong điều kiện thiếu nước nhằm làm rõ hơn bản chất phản ứng của đậu xanhtrong quá trình bị hạn, để từ đó đánh giá khả năng chịu hạn và tìm kiếm cácgiải pháp nâng cao khả năng chịu hạn của đậu xanh là vấn đề quan trọng đang
cần được nghiên cứu Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự biến động một số chất có hoạt tính thẩm thấu và enzyme chống
oxy hóa của đậu xanh (Vigna radiata L.) trong điều kiện gây hạn và phục
hồi”.
Trang 72. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phân tích được sự biến động hàm lượng của một số chất có hoạt tínhthẩm thấu của đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi ở giai đoạn cây non, ra hoa và tạo quả
- Xác định được sự biến động hoạt độ một số enzyme chống oxy hóacủa đậu xanh trong điều kiện gây hạn và phục hồi ở giai đoạn cây non, ra hoa
và tạo quả
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu về các chất có hoạt tínhthẩm thấu và một số enzyme chống oxy hóa của cây đậu xanh trong quá trìnhgây hạn và phục hồi
- Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá rõ hơn phản ứng của đậu xanhtrong quá trình bị hạn, làm cơ sở khoa học cho việc chọn các giống đậu xanhchịu hạn phục vụ cho nhu cầu sản xuất ở những vùng gặp khó khăn về nướctưới, góp phần làm tăng năng suất cây đậu xanh
4. Bố cục của luận văn
MỞ ĐẦU (từ trang 1 đến trang 3)
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (từ trang 4 đến trang 21)
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU (từ trang 23 đến trang 29)
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (từ trang 30 đến trang 73) KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (trang 76)
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về cây đậu xanh
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại đậu xanh
Đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) có nguồn gốc từ Ấn Độ vàTrung Á, được phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới trong đó chủ yếu là ởcác nước Đông và Nam Á Hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy tổ tiên của
cây đậu xanh là phân loài Vigna radiata var Sublobata còn mọc hoang dại ở
Mông Cổ Điều đó cho biết Mông Cổ cũng là nơi đã thuần hóa loài cây đậuxanh từ lâu đời [11]
Ở châu Á cây đậu xanh được trồng nhiều ở các quốc gia như: Ấn Độ,Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, ViệtNam, Campuchia, Lào, Philippines, Malaysia và Indonesia Sau này cây
đậu xanh còn được trồng ở Trung Phi, các vùng khô và nóng ở Nam Âu, phíaĐông Bắc châu Úc, Nam Mỹ và miền Nam Hoa Kỳ Ở Việt Nam đậu xanhđược trồng khắp cả nước từ Bắc vào Nam Đây là loài cây rau và thực phẩmquan trọng và là một loại đậu có giá trị đặc biệt trong văn hóa ẩm thực ViệtNam
Phân loại khoa học của cây đậu xanh:
- Giới (regnum): Plantae
- Ngành (division): Magnolyophita
- Lớp (class): Magnolyopsida
- Bộ (order): Fabales
- Họ (Familia): Fabaceae
- Chi (genus): Vigna
- Loài (species): V radiata
Trang 9Chi Vigna là một trong những chi lớn trong họ Đậu, bao gồm khoảng
150 loài thuộc 7 chi phụ là Vigna; Plectotropis; Ceratotropis; Lasionspron; Sigmoidotropis; Haydonia; Macrohynchus, trong đó đậu xanh là một trong số
16 loài của phân chi Ceratotropi [11].
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây đậu xanh
Cây đậu xanh thuộc loại cây thân thảo, là loại cây trồng cạn thu quả vàhạt
Rễ đậu xanh thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và các rễ phụ Rễ chínhthường ăn sâu khoảng 20 - 30 cm, trong điều kiện thuận lợi có thể ăn sâu tới
70 - 100 cm Rễ phụ thường gồm 30 - 40 cái, dài khoảng 20 - 25 cm Trên rễphụ có nhiều lông hút do biểu bì rễ biến đổi thành, có vai trò tăng cường sứchút nước và các chất dinh dưỡng cho cây Tuy nhiên, bộ rễ của cây đậu xanhyếu hơn nhiều so với các cây đậu đỗ khác nên khả năng chịu hạn và chịu úngcủa cây đậu xanh tương đối kém [9]
Trên rễ cây họ Đậu có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm
Rhizobium Các nốt sần trên rễ bắt đầu hình thành khi cây có 2 - 3 lá thật và
đạt tối đa khi cây ra hoa rộ Trên mỗi cây có khoảng 10 - 20 nốt sần, tập trungchủ yếu ở cổ rễ Kích thước của các nốt sần không giống nhau, đường kínhdao động từ 4 - 5 mm, so với peroxidase và lạc thì nốt sần của cây đậu xanh ít
và nhỏ hơn Trung bình mỗi vụ, 1 ha đậu xanh có thể bù lại cho đất tương ứng
85 - 107 kg nitơ, làm cho đất tơi xốp hơn
Thân cây đậu xanh thuộc loại thân thảo, hình trụ, phân đốt, cao khoảng
40 - 70 cm Thân xanh hoặc tím đỏ tùy thuộc vào giống Trên thân có lôngphủ, nhất là ở phần thân non Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân từ ngày thứ
20 đến khi ra hoa, quả tương đối ổn định, có thể đạt từ 1-1,5 cm/ngày Đậuxanh thường có 2-4 cành, tùy thuộc ở giống và điều kiện canh tác
Trang 10Lá cây đậu xanh thuộc loại lá kép, có 3 lá chét, có lông hai mặt Trênmỗi thân chính có 7-8 lá thật Diện tích của các lá tăng dần từ dưới lên, các lámọc ở giữa thân rồi lại giảm dần lên phía ngọn Số lượng lá, kích thước, hình
dạng và chỉ số diện tích lá thay đổi tuỳ thuộc vào giống, đất trồng và thời vụ
Hoa đậu xanh là loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn, mọc thành chùm to ởnách lá Đậu xanh bắt đầu nở hoa khoảng 40-45 ngày sau khi gieo (vụ xuân)
và 30 -35 ngày (vụ hè) Thời gian ra hoa kéo dài, liên tục khoảng 15-40 ngàytùy giống và điều kiện canh tác [5]
Quả đậu xanh có dạng hình trụ, dạng tròn hoặc dạng dẹt với đường kính
4 - 6 mm, dài 8 - 14 cm, khi chín vỏ quả có màu nâu vàng hoặc xám đen,đen Quả xuất hiện 1-2 ngày sau khi hoa nở và đã có độ dài 1-1,5 cm Quảlớn nhanh trong khoảng 5-7 ngày đầu và đạt kích thước tối đa vào khoảng 8-
10 ngày sau khi hoa nở
Hạt có hình tròn, hình trụ, hình ô van, hình thoi và có nhiều màu sắckhác nhau như màu xanh mốc, xanh bóng, xanh nâu, vàng mốc, vàng bóng …Trọng lượng hạt của mỗi cây biến động lớn từ 20 - 90 gam tùy giống, thời vụ
và chế độ canh tác
Đậu xanh là một loại cây thực phẩm ngắn ngày có khả năng thích ứngrộng trên nhiều vùng, miền khác nhau, thời gian sinh trưởng chỉ khoảng 65-70ngày [11]
1.1.3 Giá trị sử dụng của cây đậu xanh
1.1.3.1 Thành phần dinh dưỡng của đậu xanh
Hạt đậu xanh có thành phần dinh dưỡng cao, chứa 23 - 28% protein,1,3% lipid, 56 - 60% gluxit, 12% nước, các vitamin B1, B2, C, PP… các muốikhoáng như Ca, Na, Fe, K … Protein thực vật nói chung và protein đậu xanhnói riêng là nguồn cung cấp đạm dễ tiêu hoá cho con người và một số vậtnuôi Trong hạt đậu xanh, protein được chia thành hai nhóm: nhóm protein
Trang 11đơn giản và nhóm protein phức tạp Trong nhóm protein đơn giản chủ yếu làglobulin, chiếm từ 60 - 80%, còn lại là albumin và một số loại khác Chứcnăng chính của protein dự trữ là cung cấp axit amin và nitơ cho quá trình nảymầm của hạt Protein đậu xanh được đánh giá là có chất lượng tốt do có chứađầy đủ các axit amin không thay thế Hàm lượng lipit trong hạt đậu xanhchiếm tỷ lệ thấp (trung bình khoảng 1,3% nhưng đó lại là một chỉ tiêu quantrọng để đánh giá phẩm chất và khả năng bảo quản hạt [11], [26].
1.1.3.2 Giá trị sử dụng của đậu xanh
Đậu xanh được sử dụng rộng rãi với nhiều cách chế biến khác nhau
Từ xưa đậu xanh đã được người dân Việt sử dụng trong chế biến các loạibánh truyền thống như bánh chưng, bánh tét, bánh ít hay sử dụng để nấuchè, nấu xôi, nấu cháo, làm rau mầm, làm bột thức ăn cho trẻ sơ sinh, bột đậuxanh hòa tan giải khát Đậu xanh còn được người ta sử dụng như là dượcliệu dùng để giải độc, giải nhiệt, bồi bổ sức khỏe Lá non và ngọn của câyđậu xanh có thể được dùng để làm rau, muối dưa Thân, lá xanh có thể dùnglàm thức ăn cho vật nuôi
Cây đậu xanh còn có tác dụng cải tạo đất Hệ rễ đậu xanh có các nốt sần
chứa các vi khuẩn cộng sinh thuộc chi Rhizobium có khả năng cố định nitơ từ
khí trời, cung cấp một phần đạm cho cây và để lại lượng đạm đáng kể trongđất sau khi thu hoạch Vì vậy, đất sau khi trồng đậu xanh sẽ trở nên tơi xốp vàgiàu dinh dưỡng hơn [13]
1.1.4 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới và Việt nam
1.1.4.1 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ ( FAOSTAT ), tìnhhình sản xuất đậu xanh trên thế giới ngày càng tăng về năng suất và diện tíchtrồng trọt Đặc biệt, trong những năm gần đây do nhu cầu của con người vềdinh dưỡng protein thực vật tăng nhanh đã làm thúc đẩy việc sản xuất đậuxanh trên thế giới
Trang 12Năm 1994 diện tích trồng đậu xanh của toàn thế giới là 1.021.030 ha
và sản lượng là 6.918.021 tấn đến năm 2017 thì diện tích trồng là 1.579.971
ha và sản lượng là 24.221.252 tấn Đậu xanh được trồng khắp nơi trên thế giớitrong đó phổ biến nhất là châu Á, chiếm 88% tổng diện tích trồng đậu xanhtrên thế giới, rồi đến châu Âu chiếm 6,1 %, châu Phi chiếm 3,6 %, Châu Mỹchiếm 2,1%, châu Đại Dương 0,3% [42]
1.1.4.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam
Đậu xanh là một trong ba loại cây đậu đỗ chính: lạc, peroxidase, đậuxanh Đậu xanh của nước ta sản xuất ra chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong nước như làm rau, làm bánh Các sản phẩm làm từ đậu xanh rất phongphú, nhưng hiện nay chỉ có một số ít sản phẩm có chất lượng ổn định và cóthương hiệu lâu năm trên thị trường
Trồng đậu xanh đã trở thành tập quán ở nhiều vùng Gần đây, do cónhững giống mới có năng suất cao, do nhu cầu thâm canh, cải tạo đất ngàycàng cao, cho nên đậu xanh đang được phát triển rộng trong các cơ cấu câytrồng ở nhiều tỉnh trên địa bàn cả nước Từ năm 1991 - 1995 năng suất sảnxuất đậu xanh bình quân đạt khoảng 5,5 - 12 tạ/ha Từ 1996 - 2000 năng suấtdao động trong khoảng 15 - 20 tạ/ha Đến năm 2000, Việt Nam có diện tích vàsản lượng đậu xanh đứng thứ 6 trên thế giới
Ngày nay, đậu xanh có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng do nhucầu sử dụng Để đạt được kết quả tốt cần có các phương pháp lai tạo, chọn racác giống mới có năng suất cao, chống chịu được với các điều kiện khắcnghiệt của môi trường [23]
1.2 Đặc tính chịu hạn của cây đậu xanh
1.2.1 Ảnh hưởng của hạn đến cây trồng
Môi trường khô hạn gây ra hàng loạt những tác động tiêu cực đến câytrồng ở tất cả các cấp độ, từ hình thái, cấu trúc tới phân tử và ở tất cả các giai
Trang 13đoạn phát triển Để đối phó với điều kiện hạn hán, cây trồng sẽ khởi động cơchế phòng vệ chống lại sự thiếu hụt nước, sau đó sẽ là một loạt các cơ chế ởcác cấp độ khác nhau như giữ không để mất nước hoặc nhanh chóng bù lại sựthiếu hụt nước thông qua những biến đổi về hình thái, duy trì áp suất nội bào.
Sự đáp ứng chống chịu stress hạn của cây trồng được thực hiện thông qua mộtchuỗi các quá trình rất phức tạp với sự tham gia của hàng loạt các yếu tố [22]
Nước là điều kiện quan trọng cho sự nảy mầm Nước tham gia vào quátrình trao đổi chất, các phản ứng sinh hoá trong tế bào, là nguồn nguyên liệucủa nhiều phản ứng Nước đảm bảo cho cây tồn tại và phát triển Hạt khô cóhàm lượng nước từ 10 - 14% thì không nảy mầm Nhờ lực hút trương nướccủa keo nguyên sinh mà hạt hút được nước và khi hàm lượng nước bằng 50 -70% khối lượng hạt thì các hoạt động sống tăng lên mạnh mẽ và phôi phátđộng sinh trưởng hay nảy mầm Hạn làm thay đổi hệ thống keo nguyên sinhchất như tăng độ nhớt chất nguyên sinh, làm chậm các hoạt động sống, giảmmức độ phân tán, khả năng thủy hoá và tính đàn hồi của keo nguyên sinhchất [48]
Quá trình quang hợp bị ức chế khi thiếu nước Do khí khổng đóng nênthiếu CO2, lục lạp có thể bị phân huỷ, ức chế tổng hợp diệp lục, lá bị héo vàkhô chết, sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá và về cơ quan dựtrữ bị tắt nghẽn Quá trình hô hấp ban đầu sẽ tăng, về sau giảm hô hấp nhanh,hiệu quả sử dụng năng lượng của hô hấp rất thấp vì hô hấp sản sinh nhiệt làchính Từ hoạt động tổng hợp là chủ yếu khi đủ nước chuyển hướng sangphân giải khi thiếu nước Quá trình phân giải quan trọng nhất là phân giảiprotein và axit nucleic, kết quả là giải phóng và tích luỹ NH3 gây độc cho cây
và có thể làm cây chết [43]
Hạn làm mất cân bằng nước trong cây, lượng nước thoát ra lớn hơn
Trang 14lượng nước hấp thu vào cây, làm cho cây bị héo Hạn dẫn đến một số biến đổitrong mô và tế bào như làm biến tính và kết tủa protein, làm tăng độ lỏng củalipit màng, mở xoắn các acid nucleic Hạn cũng phá hoại hệ thống quang hóa
AItrên màng thylacoid Ảnh hưởng của hạn trước hết là gây ra sự mất nướccủa tế bào và mô, tiếp theo là hệ nguyên sinh chất bị đứt vỡ cơ học dẫn đến
tế bào và mô bị tổn thương và chết Hạn là nguyên nhân chính của sự mấtmùa và làm giảm năng suất gieo trồng [23]
Hạn làm cho quá trình sinh trưởng và phát triển bị kìm hãm, ức chế rahoa, tạo quả Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm, ống phấn không sinhtrưởng được, sự thụ tinh không xảy ra và hạt sẽ bị lép, giảm năng suất nhiều [19]. Như vậy, ảnh hưởng cực đoan của hạn ở bất cứ giai đoạn sinh trưởngnào của cây trồng cũng ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và làmgiảm năng suất của cây trồng [4]
Do vậy tính chịu hạn của cây trồng và vấn đề chống chịu hạn thường xuyên được quan tâm
1.2.2 Cơ sở sinh lý, hóa sinh và sinh học phân tử của tính chịu hạn
Thực vật có khả năng ngăn ngừa thương tổn khi bị tổn thương gọi làtính chống chịu Mỗi cây trồng có một giới hạn nhất định đối với các nhân tốsinh thái của môi trường như hạn, nóng, lạnh,… Khi các nhân tố này vượt quágiới hạn sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, dẫn đếngiảm năng suất Để chống lại khô hạn thực vật có những biến đổi về sinh lý,sinh hoá nhằm không để mất nước
Khả năng duy trì chức năng của bộ máy quang hợp dưới điều kiện hạn
có ý nghĩa quan trọng với khả năng chịu hạn Cây phản ứng với sự thiếu hụtnước bằng cách đóng khí khổng nhanh chóng để hạn chế sự mất nước do quátrình thoát hơi nước, hệ quả là sự khuếch tán CO2 qua lá bị hạn chế (Ahmed
et
Trang 15al., 2002; Flexas et al., 2006; Lawlor và Tezara, 2009) [26], [37], [32].
Nghiên cứu trên cây đậu xanh, Ahmed et al (2002) [26] cho biết, khi bị
hạn làm giảm lượng CO2 hấp thu qua lá và giảm hàm lượng nước trong lá.Hàm lượng diệp lục a, diệp lục b và hàm lượng diệp lục tổng số ở các loàihướng sáng bị giảm dưới điều kiện hạn hán Sự suy giảm hàm lượng diệp lụctổng số làm hạn chế khả năng quang hợp của thực vật, do đó làm giảm sảnlượng của quá trình quang hợp Hàm lượng diệp lục giảm trong điều kiện hạnđược giải thích chủ yếu là do lục lạp bị phá hủy dưới tác động của sự tích lũy
các gốc tự do trong tế bào (Mafakheri et al., 2010) [39] Hassanzadeh et al.
(2009) [34] đã đề nghị, có thể dựa vào hàm lượng diệp lục b và diệp lục tổng
số để tuyển chọn giống chịu hạn và có năng suất cao
Một trong những xu hướng điển hình để thực vật chống lại hạn là dựavào khả năng làm tăng ASTT tế bào, tăng tính đàn hồi của màng tế bào cũngnhư giảm kích thước tế bào Trên phương diện hóa sinh, cây trồng xảy ranhiều biến đổi nhằm chống lại hạn hán như giảm tổng hợp protein và các axitnucleic, tăng hàm lượng proline, tăng nồng độ các chất hòa tan Ngoài ra, câytrồng còn chống lại sự khô hạn bằng cách giữ không để mất nước hoặc nhanhchóng bù lại sự thiếu nước thông qua những sự biến đổi về cấu trúc và hìnhthái như: rễ to, khỏe, dài, có khả năng xuyên sâu; giảm diện tích lá; rút ngắnchu kỳ sống… Cây trồng nói chung và cây đậu xanh nói riêng, khi ở giai đoạncây non chịu tác động mạnh của hạn vì bộ rễ chưa phát triển đầy đủ
Tính chống chịu của đậu xanh nói riêng và tính chống chịu của cây trồngnói chung rất phức tạp liên quan đến đặc điểm sinh lý, hoá sinh và do nhiều genquy định Đã có nhiều cơ chế liên quan đến tính chịu hạn ở thực vật đã được biếtđến như: vai trò của bộ rễ, khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu, abscisic acid(ABA), aquaporin, các nhân tố ức chế protease, các gen điều
Trang 16khiển phiên mã và các gen chức năng (HSP, LEA, LTP, PLC ) [1].
Khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu là một đặc tính của tế bào khi bịmất nước do hạn, nóng, lạnh Trong điều kiện hạn, áp suất thẩm thấu tănglên giúp rễ cây nhận được một lượng nước rất nhỏ còn lại trong đất Các chất
và các gen tương ứng có khả năng tạo áp suất thẩm thấu cao trong tế bào để
cạnh tranh nước với môi trường xung quanh bao gồm: ion K+
; các axit aminnhư proline, estonine; các chất đường như sucrose, fructant, manitol, pinitol
và các chất khác như glycine betain, β- alanin betain Các chất này có khảnăng điều chỉnh áp suất thẩm thấu nhờ khả năng hút nước và giữ nước vào tế
bào hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của ion Na+
Khả năng điều chỉnh áp suấtthẩm (ASTT) có liên quan trực tiếp đến khả năng cạnh tranh nước của tế bào
rễ cây đối với đất Bằng cơ chế như vậy, thực vật có thể vượt qua tình trạnghạn cục bộ Trong điều kiện hạn, áp suất thẩm thấu được điều chỉnh tăng lêngiúp cho tế bào rễ thu nhận được những phân tử nước có rất ít trong đất Khi
tế bào bị mất nước dần dần các chất hòa tan sẽ được tích lũy trong tế bào chấtnhằm chống lại việc giảm tiềm năng nước và tăng khả năng giữ nước củanguyên sinh chất Các chất hòa tan có liên quan bao gồm các loại đường, cácaxit hữu cơ, các loại axit amin, các loại rượu đa chức hay các ion (chủ yếu làion K+) Các chất có hoạt tính thẩm thấu có khả năng giữ và lấy nước vào tếbào hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của ion Na+, ngoài ra còn có thể thay thế vịtrí của nước nơi xảy ra các phản ứng sinh hóa, tương tác với protein và lipitmàng, ngăn chặn sự phá hủy màng [8]
Một số công trình nghiên cứu về cơ chế chịu hạn của cây trồng đã chothấy vai trò của một số chất có hoạt tính thẩm thấu đối với khả năng tăngcường tính chống chịu ở điều kiện cực đoan [8]
Trang 17Ở mức độ phân tử, phản ứng của thực vật với điều kiện thiếu nước đãcho thấy những thay đổi trong biểu hiện gen Tuy nhiên, hiện nay các nhàkhoa học vẫn chưa xác định được gen điều khiển tính chịu hạn, mà chỉ xácđịnh được các gen liên quan đến tính chịu hạn (Trần Thị Thanh Huyền, 2011)[7].
Khả năng chịu hạn ở cây trồng do nhiều gen qui định, trong đó có genLEA (Late embryogenesis Abundant) Protein LEA là những protein hòa tan,chịu nhiệt thường gặp nhất, sinh ra khi tế bào bị mất nước và được khẳng địnhliên quan đến khả năng chịu hạn, sự phát triển phôi và cảm ứng ABA ở thựcvật (Nguyễn Vũ Thanh Thanh và cs., 2006) [20]
Gen chaperonin liên quan đến tính chịu nóng, chịu hạn ở thực vật.Chaperonin còn gọi là chất môi giới phân tử, có hoạt tính ATPase Chúng giúpcho việc tạo không gian đúng của protein trong khung actin và tubulin tế bàochất Chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành thoi vô sắc củagiai đoạn phân bào, đặc biệt là thời kỳ phát triển mầm từ hạt (Chu Hoàng Mậu
và cs., 2008) [16]
LTP (Lipid transfer protein) có khả năng tổng hợp ra protein, thúc đẩyquá trình vận chuyển phospholipid tới màng Vai trò của LTP là tham gia vàocấu tạo lớp sáp hoặc lớp biểu bì giúp thực vật bảo vệ, phản ứng lại những thayđổi của môi trường Khi stress hạn, LTP được tăng cường tổng hợp ở lớpngoại bì, làm thực vật giảm mất nước nhờ tăng độ dày của lớp vỏ ngoài(Nguyễn Vũ Thanh Thanh và cs., 2011) [22]
1.3 Vai trò của các hợp chất có hoạt tính thẩm thấu và các enzyme chống oxy hóa trong việc đánh giá khả năng chịu hạn
1.3.1 Vai trò của các hợp chất có hoạt tính thẩm thấu
Trang 181.3.1.1 Các chất đường tan và vai trò của đường trong cơ chế chống chịu hạn
Đường tan là một trong những chất tham gia điều chỉnh áp suất thẩmthấu trong tế bào Enzyme α-amylase là enzyme xúc tác cho quá trình thủyphân tinh bột, glycogen và polysacharide… Chúng phân giải các liên kết 1,4-glucozit ở giữa chuỗi mạch polysacharide tạo thành các đextrin phân tử thấp
Sự tăng hoạt độ α-amylase sẽ làm tăng hàm lượng đường tan do đó làm tăng
áp suất thẩm thấu và tăng khả năng chịu hạn của cây trồng
Đường khử bao gồm các loại monosaccarit như fructose, glucose,galactose, xylose… ảnh hưởng đến khả năng giữ nước của tế bào Trong đófructose là một chất giữ nước tuyệt vời trong một thời gian dài, kể cả khi độ
ẩm tương đối thấp Vì vậy, hàm lượng đường khử trong cây cũng là một chỉtiêu phản ánh khả năng giữ nước của tế bào do nó có vai trò trong điều chỉnh
áp suất thẩm thấu trong dịch bào Đường khử thuộc các chất có hoạt tính thẩmthấu, giúp tăng cường khả năng giữ nước cho tế bào, tăng khả năng chốngchịu của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường Vì thế sự tổng hợp
và tích lũy đường là một trong những phản ứng của cây với điều kiện ngoạicảnh bất lợi Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho biết, hàm lượng đườngtan trong cây liên quan trực tiếp đến khả năng chống chịu như chịu hạn, chịulạnh, (Nguyễn Hoàng Lộc và cộng sự, 2002) [12]
Glucose, fructose tăng lên một lượng lớn trong tế bào khi gặp yếu tốcực đoan Chúng tương tác với màng tế bào, hình thành cầu nối hydro giữagốc hydroxyl của đường với nhóm phospholipid Bằng cách này chúng thaythế vị trí nước trong màng tế bào Sự có mặt của chúng trong nguyên sinh chấtcòn có khả năng bảo vệ các phức enzyme khác Chức năng chính của chúng làngăn chặn sự thay đổi và tăng cường áp suất thẩm thấu, ổn định pH
Trang 19cho tế bào Trong các loại polysaccharide, glucan (tinh bột) có khả năngchống chịu yếu nhất, fructan (polyfructose) trung bình, họ rafinose là có khảnăng tốt nhất Khi gặp hạn, các polysaccharide nhanh chóng thủy phân thànhmonosaccharide, góp phần điều chỉnh áp suất thẩm thấu Sau đó, cácmonosaccharide lại chuyển về trạng thái polysaccharide [10].
1.3.1.2 Proline và vai trò của proline
Proline là một axit amin ưa nước, có khối lượng phân tử nhỏ, đượctổng hợp từ glutamin nhờ sự xúc tác của enzyme delta-1-pyrroline-5-carboxylate sythetase (P5CS) Axit amin này được tích lũy nhiều ở lá cây củanhiều loài thực vật, mô lá, mô phân sinh chóp rễ thực vật và ở hạt phấn khithực vật bị mất nước [45]
Proline thuộc nhóm các chất điều hòa thẩm thấu, chúng có khốilượng phân tử nhỏ, các hợp chất này có chung tính chất là không tích điện ở
pH trung tính và có khả năng hòa tan tốt trong nước, không độc khi có nồng
độ cao và làm ổn định cấu trúc của các phân tử protein [46] Khi cây gặpstress, proline tự do có hiệu ứng sinh học đa năng, không chỉ trong chức năngđiều chỉnh áp suất thẩm thấu mà còn có tác động bảo vệ hàng loạt enzymetrong điều kiện biến tính (nhiệt độ cao, nồng độ muối cao…), bên cạnh đó nócòn thể hiện khả năng bảo vệ gián tiếp protein và màng khỏi tổn thương.Proline còn được xem như một dạng dự trữ nitơ khi gặp stress, proline còn lànguồn cung cấp năng lượng và đương lượng khử
Phân tử proline có cấu trúc vòng (pirolidin), cấu trúc này tạo choproline một hình dáng vững chắc hơn so với các axit amin khác Trong điềukiện stress phi sinh học, thực vật có xu hướng sản sinh proline, proline đóng
vai trò như một chất điều hòa thẩm thấu, một chất chống oxy hóa và là một
phân tử tín hiệu (Yaish, 2015) [46]
Trang 20Theo Chu Hoàng Mậu và Hà Tiến Sỹ [15], khi nghiên cứu một sốgiống đậu tương địa phương của tỉnh Cao Bằng đã cho rằng tính chịu hạn củacây đậu tương liên quan đến hàm lượng proline và protein Khi gặp hạn câyđậu tương giảm tổng hợp protein và tăng cường tổng hợp proline Sự gia tănghàm lượng proline và giảm hàm lượng protein của các giống đậu tương saukhi gây hạn đã chứng tỏ các cây đậu tương có phản ứng một cách tích cựctrước sự thay đổi của điều kiện môi trường.
Proline được tổng hợp từ L-glutamate nhờ sự xúc tác của enzyme pyrrolin-cacboxilat-synthetase (P5CS), enzyme này được điều hòa bởi prolinethông qua cơ chế ức chế ngược Thực vật chịu stress nước, sự điều hòa ngượcnày đã biến mất và đây có thể là nguyên nhân làm tăng sự tích lũy prolinedưới các điều kiện stress
δ-Ở Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về vai trò của prolineđối với khả năng chịu hạn của nhiều loại cây trồng cũng cho kết quả khảquan Tác giả Nguyễn Hữu Cường (2003) [2], bằng việc xử lý lạnh, mặn, hạntrên các giống lúa đã cho thấy có mối tương quan thuận giữa tính chống chịucủa cây với hàm lượng proline gia tăng của các giống lúa nghiên cứu Tác giảĐinh Thị Phòng (2001) khi xử lí hạn, hàm lượng proline đều tăng lên, mức độtăng lên ở các giống khác nhau là khác nhau, những giống chịu hạn tốt tăng 9lần sau khi xử lí hạn 8 ngày [18]
Như vậy, proline có ảnh hưởng lớn tới tính chịu hạn ở thực vật và câytrồng nói riêng Những nghiên cứu về proline trên đối tượng lúa, đậu xanh, càchua, cây thuốc lá… cho thấy sự tương quan thuận giữa gia tăng hàm lượngproline với tính chống chịu sự thiếu nước, stress muối… Do đó có thể xemaxit amin này như một chất chỉ thị về khả năng chịu hạn của thực vật, hay sựtích lũy proline là biểu hiện của phản ứng thích nghi của thực vật với điều
Trang 21kiện cung cấp nước khó khăn Do đó cần đi sâu nghiên cứu về vai trò củaproline đối với cây đậu xanh, từ đó có những nhận định khách quan về khảnăng chịu hạn của các giống đậu xanh, đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn
to lớn
1.3.1.3 Glycine betaine và vai trò của glycine betaine
Glycine betain (GB) là một hợp chất amin bậc 4, sản phẩm của quátrình oxy hóa choline trong quá trình tổng hợp methionine Ở thực vật bậccao, glycine betaine được tổng hợp trong lục lạp thông qua con đường:Choline → betaine aldehyde → glycine betaine nhờ vào sự xúc tác của 2enzyme lần lượt là choline monooxxygenase và betaine aldehydedehydrogenase (BADH) [28]
Cùng với proline, glycine betain cũng được biết đến là một trong nhữngchất có vai trò quan trọng trong điều chỉnh áp suất thẩm thấu nội bào khi thựcvật sống trong các điều kiện bất lợi như khô hạn, mặn, lạnh, (Sakamoto vàMurata, 2002) [44].Các nghiên cứu cho thấy tăng hàm lượng glycine betaintrong cây có thể gia tăng khả năng chịu hạn của thực vật
Glycine betaine bảo vệ cây bằng cách duy trì cân bằng nước giữa tế bào
và môi trường, ổn định các đại phân tử, điều chỉnh và duy trì màng thylacoid,đảm bảo hiệu quả quang hợp dưới điều kiện khô hạn và nồng độ muối cao(Yang et al., 2005) [47] Trong tự nhiên, rau bina, ngô, củ cải đường và lúamạch, nhanh chóng tích lũy glycine betaine khi cây bị tác động bởi môitrường hạn hán, nồng độ muối cao và nhiệt độ thấp Glycine betaine giúpchống lại tác dụng phụ gây ra bởi các yếu tố phi sinh học, ngăn ngừa sự biếntính và mất hoạt tính của protein Nó có vai trò bảo vệ màng tế bào của lá, bảo
vệ các thành phần của bộ máy quang hợp, bảo vệ ribulose-1,5-bisphosphatecarboxylase/oxygenase (Rubisco) và hệ sắc tố quang hợp
Trang 22Glycine betaine cũng tham gia vào việc bảo vệ cơ quan sinh sản, bảo vệ
bộ máy quang hợp và giải độc các ROS trong stress do các nhân tố môitrường ở thực vật, đồng thời kích hoạt một số gen liên quan đến chống chịu vàbảo vệ màng tế bào ở thực vật Glycine betaine cũng liên quan đến việc bảo
vệ cấu trúc bậc bốn của protein bởi các áp lực gây ra bởi các tác động từ môitrường Glycine betaine được tổng hợp nhằm bảo vệ bộ máy quang hợp bằngcách ổn định hoạt động của các protein sửa chữa [35]
1.3.1.4 Protein tổng số và vai trò của protein tổng số
Những thay đổi trong biểu hiện protein, sự tích lũy và tổng hợp cácprotein đã được quan sát thấy ở lá cây trong điều kiện khô hạn trong suốt thờigian phát triển (Chen T.H và cộng sự, 2002) [30] Sự thay đổi protein trongđiều kiện stress hạn xảy ra cả về số lượng và chất lượng Trong điều kiện khôhạn, ngoài sự suy giảm hàm lượng của một số protein đồng thời cũng diễn raquá trình tổng hợp các protein mới
Protein sốc nhiệt (heat shock protein - HSP) có vai trò cơ bản trongviệc bảo vệ cây chống lại stress phi sinh học (Zhang cộng sự, 2015) [49] Cácprotein này chiếm 1% protein tổng số trong lá của các loài thực vật này Nóichung, sự tổng hợp của các protein có trọng lượng phân tử thấp tăng khi câysinh trưởng trong điều kiện stress khô hạn
1.3.2 Vai trò của các enzyme chống oxy hóa trong cơ chế chịu hạn của cây trồng
Hạn hán dẫn đến tích lũy nhiều gốc oxy phản ứng (reactive oxygenspecies-ROS), được tạo ra chủ yếu trong lục lạp và trong ty thể, gây ra sự oxyhóa mạnh Các phân tử ROS bao gồm superoxide anion (O2 *-), hydro peroxide
H2O2, gốc hydro peroxide tự do (OH*) và gốc pehydroxyl tự do (O2H*) Câytrồng chịu hạn có một số cơ chế tự bảo vệ tránh tác hại của stress oxy hóa
Trang 23Cây có mức độ chống oxy hóa cao thì khả năng chịu đựng tốt hơn và đềkháng với tổn thương oxy hóa nhiều hơn (Parida và Das, 2005) [41] Để hạnchế những thiệt hại do stress “oxy hóa”, thực vật có những cơ chế kiểm soát,điều chỉnh hàm lượng ROS phù hợp, trong đó có sự tham gia của các enzymechống oxy hóa như superoxide dismutase (SOD), catalase (CAT), peroxidase(POD) và ascorbate peroxidase (APX) (Maffei và cs., 2007; Ahmad và cs.,2008) [25] Các enzyme này vừa duy trì sinh tổng hợp ROS để tăng cườngkhả năng chống chịu trước tác động từ môi trường ngoài, đồng thời kiểm soát,giảm thiểu độc tính của ROS đối với các yếu tố cấu trúc và quá trình sốngdiễn ra bên trong tế bào Các loài thực vật khác nhau có những cơ chế bảo vệkhông giống nhau và tùy điều kiện chống chịu mà hình thành các chất bảo vệkhác nhau [40].
1.3.2.1 Catalase và vai trò của catalase:
Catalase (CAT) xúc tác cho phản ứng chuyển hóa H2O2 thành H2O và
O2 Mỗi phân tử của nó chứa 4 nhóm hem Catalase đa dạng ở nhiều loại thựcvật khác nhau, thậm chí trong cùng một loài Các izozyme đều là tetramer cókhối lượng phân tử 220 kDa, ví dụ catalase của ngô có 3 izozyme: cat 1, cat 2,cat 3 Catalase là một enzyme quan trọng trong việc bảo vệ tế bào khỏi bị oxyhóa bởi các loại oxy phản ứng [25]
1.3.2.2 Peroxidase và vai trò của peroxidase:
Peroxidases (POD) là một tập hợp gồm nhiều enzyme chống ôxy hóa
có chức năng giải độc peroxide Enzyme peroxidase rất phổ biến trong cơ thểđộng vật và thực vật, đóng vai trò quan trọng trong quá trình oxy hóa Một sốPOD xúc tác biến đổi H2O2 và loại khả năng gây độc của H2O2, bảo vệ tế bào
và cơ thể thực vật trước tác động của điều kiện bất lợi [38]
1.4 Tình hình nghiên cứu về khả năng chịu hạn của cây đậu xanh
1.4.1 Nghiên cứu về khả năng chịu hạn của cây đậu xanh trên thế giới
Trang 24Có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng chịu hạn, cơ chế chịu hạn
và phân lập gen liên quan đến tính chịu hạn của cây đậu xanh trên thế gớinhằm chọn tạo ra các giống đậu xanh có khả năng chịu hạn tốt
Chen và cộng sự (2004) [31] đã tiến hành phân lập 3 gen Hsc70 ở đậuxanh là VrHsc70 - 1, VrHsc70 - 2, VrHsc70 - 3 nhằm nghiên cứu cơ chế vàchọn tạo giống đậu xanh có khả năng chịu hạn, chịu nóng
Theo Sadeghipour (2008) [43], khi bị hạn bất kể ở giai đoạn sinh trưởngsinh dưỡng hay sinh thực đều làm giảm các yếu tố cấu thành năng suất đậuxanh và năng suất hạt, tuy nhiên hạn ở giai đoạn nở hoa và hình thành quả ảnhhưởng đến năng suất hạt nghiêm trọng hơn so với các giai đoạn khác Khôhạn nếu xảy ra ở thời kỳ ra hoa (xuất hiện hoa đầu tiên đến 75% số quả nonđược hình thành) làm giảm số quả/cây, số hạt/quả và năng suất hạt, nếu gặphạn ở thời kỳ quả mẩy (75% quả non đến quả chín) làm giảm đáng kể khốilượng 1000 hạt
Ranawake và cộng sự (2011) [42] nghiên cứu về ảnh hưởng của hạn đốivới sinh trưởng và năng suất của đậu xanh thấy rằng điều kiện hạn ảnh hưởngđáng kể đến chiều dài rễ, số rễ, chiều cao cây, trọng lượng khô, nụ hoa
Ranawake và cộng sự (2011) [42] chỉ ra rằng đối với cây đậu xanh, hạnhán xảy ra trong thời kỳ quả mẩy (6 tuần sau khi gieo) bị ảnh hưởng nghiêmtrọng hơn so với khi bị hạn ở thời kỳ cây con (3 tuần sau khi gieo) và thời kỳquả chín (8 tuần sau khi gieo)
Kumar và cộng sự (2013) [36] đã chỉ ra rằng, thiếu nước làm giảm diệntích lá, tốc độ sinh trưởng, sự tăng trưởng bộ rễ, số lượng nốt sần, cường độquang hợp, hàm lượng chlorophyl và carotenoit, khả năng ra hoa và hìnhthành quả, khả năng tích lũy chất khô và năng suất hạt Các giống đậu xanh(Pusa Baisakhi và MH-1 K-24) nhạy cảm với khô hạn cho thấy có sự giảmmạnh các chỉ tiêu sinh lý nêu trên và phục hồi chậm cường độ quang hợp
Yin Z và cộng sự (2015) đã nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của gâyhạn nhân tạo bằng etylen glycol đến đậu xanh giai đoạn ra hoa và thấy rằng
Trang 25các chỉ số hóa sinh như hoạt động của các enzyme superoxide dismutase,peroxidase, hàm lượng malondialdehyde và hàm lượng ABA có liên quan đếnkhả năng chịu hạn của đậu xanh [48].
1.4.2 Nghiên cứu về khả năng chịu hạn trên cây đậu xanh ở Việt Nam
Chu Hoàng Mậu (2001) [14] bằng phương pháp gây đột biến thựcnghiệm đã tạo được 2 dòng đậu xanh MX1103 và TX16012 có năng suất cao,
ổn định và có khả năng chịu hạn tốt Tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứuhàm lượng protein, thành phần và hàm lượng các axit amin trong hạt cácgiống đậu xanh đột biến và giống gốc để đánh giá chất lượng hạt của cácgiống đậu xanh Kết quả cho thấy hạt của giống đậu xanh đột biến MX103 cóhàm lượng protein là 20,58%, cao hơn so với các giống còn lại, hàm lượngaxit amin của các giống đậu xanh đột biến cũng cao hơn các giống đối chứng
Nguyễn Vũ Thanh Thanh và cộng sự (2006) [ 20] khi phân lập và đọctrình tự gen mã hóa protein LEA của 4 giống đậu xanh KP11, MN93, 263 vàKPS1 có khả năng chịu hạn khác nhau cho biết gen LEA của 4 giống đậuxanh nghiên cứu dài khoảng 516 - 520 nucleotide gồm 2 exon và 1 intron,đoạn mã hóa protein dài 339 nucleotid, so sánh trình tự nucleotid của genLEA giữa 4 giống đậu xanh nêu trên cho thấy có độ tương đồng cao (95,9 –99,6%), so sánh mức độ protein cho thấy trình tự axit amin của chúng saikhác rất ít
Nguyễn Vũ Thanh Thanh và Chu Hoàng Mậu (2010) [21] đã nghiêncứu về gen mã hóa cystatin phân lập từ hai giống có khả năng chịu hạn cao(KP11 và KPS1) và hai giống chịu hạn kém (MN93, 263) cho biết, trình tựnucleotide của gen cystatin của bốn giống đậu xanh thể hiện sự khác nhaumặc dù trình tự axit amin không khác biệt nhau và không khác với trình tự có
Trang 26nghiên cứu đã chỉ ra 2 giống đậu xanh ĐX22 và ĐXVN5 có khả năng chịuhạn tốt hơn ở giai đoạn mọc mầm so với các giống khác.
Nguyễn Vũ Thanh Thanh và cộng sự (2011) [22] cho rằng, gen LTP ởgiống đậu xanh 044/ĐX06 và HN2 đều có kích thước 351 bp, chuỗipolypeptide được tổng hợp từ gen LTP gồm 116 amino acid Khi so sánh vớitrình tự nucleotide của gen LTP đã công bố trên ngân hàng gen quốc tế(NCBI) với mã số AY300807, trình tự nucleotide của gen LTP ở hai mẫunghiên cứu có độ tương đồng 98,8% Độ tương đồng về trình tự amino acidtrong protein từ 97,4% - 98,2
Vũ Ngọc Thắng và cộng sự (2012) [24] đã đánh giá khả năng chịu hạncủa 2 giống đậu xanh ĐX22 và ĐXVN5 ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ,quả vào chắc trong điều kiện chậu vại, sử dụng đất phù sa sông Hồng, kết quảnghiên cứu cho thấy nếu hạn ở thời kỳ bắt đầu ra hoa cây có khả năng phụchồi tốt hơn và ảnh hưởng giảm năng suất nhẹ hơn ở các giai đoạn sau Sự suygiảm năng suất mạnh nhất khi thiếu nước ở thời kỳ quả mẩy, giống ĐX22 cókhả năng chịu hạn tốt hơn giống ĐXVN5 Kết quả nghiên cứu này đã gópphần xác định phương pháp đánh giá khả năng chịu hạn của đậu xanh phù hợpvới điều kiện nghiên cứu ở nước ta
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các giống đậu xanh được dùng trong nghiên cứu bao gồm ĐX 044 đượcTrường Đại học Nông nghiệp I chọn lọc cá thể từ giống VC 2768A Giống
ĐX 208 được tuyển chọn từ giống địa phương ở miền Nam nước ta vàNTB.02 được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộtuyển chọn từ các dòng giống nhập nội
Bảng 2.1 Đặc điểm nông học của các giống đậu xanh nghiên cứu
Đặc điểm Thời gian sinh trưởng Chiều cao cây Khối lượng
1000 hạt Năng suất
Khả năng chống chịu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2018
đến tháng 07 năm 2019
- Địa điểm: Các nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinhlý-Hóa sinh và vườn Sinh học trường thuộc Khoa Sinh-KTNN, trường Đạihọc Quy Nhơn
Trang 292.3.1 Hóa chất và nguyên liệu khác
Thuốc thử Bradford, coomassie brlliant blue R-250, BSA, toluen,ninhydrin được mua từ Biobasic (Canada); glycine betaine chuẩn, prolinechuẩn được mua từ Sigma (Mỹ); ethanol, methanol, β-mercaptoethanol, tris-base, guaiacol, 1,2 dichloroethane được mua từ Merck (Đức) và một số hóachất khác
2.3.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
Một số thiết bị chính dùng trong nghiên cứu bao gồm máy ly tâm lạnh(Mikro 22R- Hattich, Đức), máy lắc ngang (Eppendorf, Đức), máy đo pH(Orion, USA), máy đo độ ẩm Takemura DM-15 (Nhật Bản), tủ lạnh (Sanyo,Nhật Bản), máy đo quang phổ (Pharmacia LKB - Ultraspec, Denmark), máykhuấy từ, pipetman các loại (Gilson), tủ sấy (Anh), cân điện tử (Đức),
Một số dụng cụ khác như bếp điện, đầu côn các loại, ống eppeendorf,ống falcon 50 ml, 15 ml; ống đong 10 ml và 100 ml, 250 ml; bình tam giác 50
ml, bình định mức 50 ml, chày, cối sứ, cối thủy tinh, găng tay, khẩu trangchống độc
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát sự ảnh hưởng của điều kiện gây hạn nhân tạo và phục hồiđến hàm lượng protein tổng số, hàm lượng proline, hàm lượng glycine betaine
và hàm lượng đường khử của lá đậu xanh ở thời kỳ cây non, ra hoa và tạo quả
- Xác định hoạt độ một số enzyme chống oxy hóa như catalase,peroxidase của lá đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi ở thời kỳ cây non, ra hoa và tạo quả
Trang 302.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
(1) Thời kỳ cây non:
Thí nghiệm gây hạn nhân tạo được tiến hành theo phương pháp của
Lê Trần Bình [1] Số lượng cây/chậu là 15 cây, mỗi công thức lặp lại 3 lần
Hạt đậu nảy mầm được gieo trong chậu trồng cây chứa cát sạch Câyđược đảm bảo chế độ chăm sóc thông thường bằng cách bổ sung dung dịchdinh dưỡng Knop, đến ngày thứ 7 sau khi gieo, cây có 3 lá thật, gây héo lô thínghiệm bằng cách không tưới nước và cách li với nước, lô đối chứng tướinước bình thường Sau 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày gây hạn thì tiến hành thumẫu lá để phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu Ở giai đoạn phục hồi, lô thínghiệm gây hạn 5 ngày được tưới nước phục hồi sao cho ẩm độ đất luôn đượcduy trì từ 75 – 80% Ẩm độ đất được kiểm tra bằng máy đo độ ẩm TakemuraDM-15 (Nhật Bản), sau đó tiến hành thu mẫu lá và phân tích vào các thờiđiểm sau 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày phục hồi
(2) Thời kỳ cây ra hoa, tạo quả:
Cây được chăm sóc bình thường đến thời điểm cây đậu xanh bắt đầu rahoa đầu tiên thì tiến hành gây hạn Sau 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày hạn thì thumẫu lá để phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu Ở giai đoạn phục hồi, lô thínghiệm gây hạn 5 ngày được tưới nước phục hồi sao cho ẩm độ đất luôn đượcduy trì từ 75 – 80% và tiến hành thu mẫu lá và phân tích vào các thời điểmsau 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày phục hồi Ở giai đoạn cây tạo quả, cách thức gâyhạn và phục hồi cũng tương tự như giai đoạn ra hoa Thời điểm bắt đầu gâyhạn và phục hồi là giai đoạn chuẩn bị hình thành quả non
2.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định
2.5.2.1 Phương pháp xác định hàm lượng proline
Trang 31Hàm lượng proline được xác định theo phương pháp Bates (1973)[29].
+ Nguyên tắc: Khi proline phản ứng với thuốc thử ninhydrin ở nhiệt độcao, proline bị oxi hóa còn ninhydrin bị khử tạo thành dixeto oxihindriden.Sản phẩm tiếp tục phản ứng với một phần tử ninhydrin thứ hai tạo thành hợpchất có màu vàng da cam Hỗn hợp phản ứng được tách chiết bằng dung dịchtoluen, so màu ở bước sóng 520 nm Đối chiếu với đồ thị chuẩn proline, xácđịnh được hàm lượng proline trong mẫu thí nghiệm và tính toán theo trọnglượng tươi như sau:
V : thể tích dung môi chiết (ml)
P : trọng lượng mẫu phân tích (g)+ Cách làm: Cân 0,5 g mẫu nghiền trong 10 ml axit sulphosalisilic 3%.Lọc và lấy 2 ml dịch lọc, thêm vào dịch lọc 2 ml ninhydrin và 2 ml axit axeticlạnh, để ở 100oC trong 1 giờ Kết thúc phản ứng ở điều kiện lạnh (ngăn đá).Hỗn hợp được tách chiết bằng 4 ml toluen, trộn mạnh trong 15-20 s, hợp chấtmàu được đo trên máy quang phổ ở bước sóng 520 nm Xác định hàm lượngproline dựa vào đồ thị proline chuẩn
2.5.2.2 Phương pháp xác định hàm lượng glycine betaine
Hàm lượng glycine betaine được xác định theo phương pháp của
Grieve và Grattan (1983) [33].
+ Nguyên tắc: phương pháp phân tích glycine betaine bằng Kali triiod(KI-I2) dựa trên hợp chất amoni bậc 4 bị kết tủa bởi iod để tạo thành phức
Trang 32chất periodide Phức chất periodide sau đó được chiết xuất bằng
1,2-dichloroethan và dịch này hấp thụ ánh sáng tại bước sóng 365 nm
+ Cách tiến hành: Lấy 0,5 g mẫu nghiền trong 5 ml nước cất Sau đó, lytâm lạnh 7000 vòng/phút trong 15 phút Lấy 1 ml dịch chiết, bổ sung thêm 1
ml H2SO4 2N Chuyển hỗn hợp này vào cốc thủy tinh, bổ sung thêm 0,2 mldung dịch Kali triiod, toàn bộ hỗn hợp này được làm lạnh bằng đá khoảng 90phút trên máy lắc Sau đó bổ sung 2 ml nước cất và 20 ml 1,2-dichloroethanvào hỗn hợp trên Bỏ lớp nước phía trên và xác định mật độ quang học củalớp chất hữu cơ phía dưới ở bước sóng 365 nm Xác định hàm lượng prolinedựa vào đồ thị glycine betain chuẩn
2.5.2.3 Phương pháp xác định hàm lượng đường khử
Hàm lượng đường khử được xác định theo phương pháp Betrand [3].+ Nguyên tắc: Phương pháp này cho phép định lượng đường khử chínhxác trong khoảng từ 1-40 mg Phương pháp dựa trên cơ sở trong môi trườngkiềm, các đường khử (glucose, fructose, mantose, ) có thể dễ dàng khử đồng(AI) oxit thành đồng (I) oxit (Cu2+ → Cu1+ ), kết tủa đồng (I) oxit có màu đỏ gạch, qua đó tính được lượng đường khử
+ Cách tiến hành: Nghiền kỹ 5 g mẫu với 20 ml nước cất Chuyển hỗnhợp trên vào bình định mức và dẫn nước tới vạch 100ml Lấy 5 ml dịch chiếtcho vào bình nón và thêm 20 ml thuốc thử Đun sôi hỗn hợp bên bếp cho đếnkhi thấy có kết tủa được tạo thành có màu đỏ gạch (Cu2O) Rửa tủa bằng nướcnóng cho đến khi hết kềm Hòa tan tủa bằng Fe2(SO4)3 và chuẩn độ bằngKMnO4 0,1N
2.5.2.4 Phương pháp xác định hàm lượng protein
Hàm lượng protein được xác định theo phương pháp Bradford (1976) [17].+ Nguyên tắc: Các protein khi phản ứng với thuốc thử CoomassieBrilliant Blue (CBB) sẽ hình thành hợp chất màu có khả năng hấp thụ ánhsáng ở bước sóng 595 nm, cường độ màu tỷ lệ với nồng độ protein trong dung
Trang 33dịch Phương pháp này có độ nhạy cao, cho phép phát hiện tới vài microgam protein/ml, dễ thực hiện và tiết kiệm thời gian.
+ Cách làm: Nghiền 1g mẫu lá trong dung dịch đệm Tris-HCl 0,05 M,
pH 6,8 chứa β- mercaptoethanol 1%, ly tâm 2 lần ở 12000 vòng/phút trong 10phút ở 40C, thu dịch nổi làm nguồn protein Cho vào ống nghiệm 200 µl dungdịch mẫu protein, 2,3 ml dung dịch thuốc thử Bradford, lắc đều, sau 3 phút(nhưng phải trước một giờ) đo độ hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 595nm Dựngđường chuẩn protein từ dung dịch BSA nồng độ 1 mg/ml, đồ thị biểu diễn sựtương quan giữa A595 và hàm lượng protein Từ số đọc của mẫu thí nghiệm,đối chiếu với đồ thị chuẩn để tính ra hàm lượng protein trong mẫu
2.5.2.5 Phương pháp xác định hoạt độ enzyme catalase:
Hoạt độ enzyme catalase được xác định theo phương pháp Bakh –Oparin [3]
+ Nguyên tắc: Dựa vào lượng peroxit bị thủy phân dưới tác dụng của
enzyme catalase bằng cách chuẩn độ với dung dịch KMnO4
+ Tiến hành: Cân 5 gam lá nghiền với 20 ml nước cất thành dịch đồng
thể, cho vào bình định mức 50 ml và dẫn nước đến vạch Lắc đều hỗn hợp,sau 30 phút đem lọc hoặc li tâm Lấy 2 bình nón 100 ml, cho vào mỗi bình2ml dịch lọc Đun sôi bình kiểm tra 2 phút, làm nguội bình Thêm vào mỗibình 20 ml nước cất và 3 ml dung dịch H2O2 1%, để ở nhiệt độ phòng 30 phút,cho thêm 4 ml dung dịch H2SO4 10% và chuẩn độ bằng dung dịch KMnO4
0,1N đến khi xuất hiện màu hồng nhạt không bị mất màu trong 1 phút Hoạt
độ của enzyme được tính theo công thức sau:
X =
W x V2
Trong đó: X: hoạt độ enzyme catalase
A: số ml KMnO4 0,1N dùng để chuẩn độ bình kiểm tra.B: số ml KMnO4 0,1N dùng để chuẩn độ bình thí nghiệm
Trang 34V1: tổng thể dung dịch enzym (ml)
V2: số ml dung dịch enzym để phân tích (ml)1,7: số ml H2O2 tương ứng với ml KMnO4 0,1 NW: khối lượng nguyên liệu mẫu (g)
2.5.2.6 Phương pháp xác định hoạt độ enzyme peroxidase
Hoạt độ enzyme peroxidase được xác định theo phương pháp của Malik
và Singh (1980)
+ Nguyên tắc: POD sẽ xúc tác và oxi hóa hợp chất hữu cơ như phenol,amin có nhân thơm Hoạt độ được xác định dựa trên sự oxi hóa guaiacol vàguaiacol chính là cơ chất
+ Tiến hành: Nghiền 1 g mẫu lá đậu xanh trong 3 ml đệm photphat 0,1
M, pH 7,0 Ly tâm 10.000 vòng trong 15 phút ở 4°C Lấy dịch trong làmnguồn enzyme Hút 3 ml dung dịch đệm photphat, thêm vào 0,05 ml dungdịch guaiacol có nồng độ 20 mM; thêm 0,1 ml dịch chiết enzyme, sau đó cho0,03 ml H2O2 0,042% Lắc kỹ hỗn hợp, đo quang phổ ở bước sóng 436 nm
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các kết quả nghiên cứu được đánh giá theo phương pháp toán thống kêqua các thông số: Giá trị trung bình mẫu ( X ), độ lệch chuẩn (δ), sai số trung bình (m)
n
∑ Xi
- Trung bình mẫu: X =i= 1
n
n : số lượng mẫu nghiên cứu
Xi: giá trị đo đếm ở mỗi lần nhắc lại
- Độ lệch chuẩn: δ =
- Sai số trung bình: m = ±
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Sự biến động các chất có hoạt tính thẩm thấu trong cây đậu xanh trong điều kiện gây hạn và phục hồi
Khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu là một đặc tính rất quan trọngcủa tế bào khi bị mất nước do hạn, mặn, lạnh…Những thực vật sống trongmôi trường thiếu nước bị mất cân bằng về áp suất thẩm thấu trong tế bào đòihỏi phải có khả năng chống chịu lại được điểu kiện khắc nghiệt đó Cây trồngsống trong môi trường hạn có thể hạn chế sự thiếu nước nhờ tổng hợp và tíchlũy các chất hòa tan, protein, axit amin đặc hiệu…, được xem là một cơ chếquan trọng để cây duy trì sự sinh trưởng trong điều kiện thiếu nước
3.1.1 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi
Đường khử có mặt trong tế bào có vai trò điều chỉnh áp suất thẩm thấudịch bào, khi thực vật gặp điều kiện stress phi sinh học Vì vậy khảo sát hàmlượng đường khử trong cây đậu xanh để tìm mối tương quan về khả năng chịuhạn của đậu xanh là rất cần thiết
3.1.1.1 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi ở giai đoạn cây non
Hàm lượng đường khử trong lá đậu xanh ở giai đoạn cây non được trìnhbày ở bảng 3.1
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng đường khử có sự khác nhaugiữa các giống và hàm lượng đường tăng trong giai đoạn cây non khi xử lýsau 1 ngày hạn đến 5 ngày hạn Khi gây hạn thì các công thức thí nghiệm cóhàm lượng đường khử cao hơn so với công thức đối chứng Điều này chứng tỏcây đậu xanh đã có phản ứng tích cực trước điều kiện thiếu nước Ngoài ra, sựtăng lên về hàm lượng đường khử còn tùy thuộc vào từng giống khác nhau
Trang 36Sau 1 ngày gây hạn, hàm lượng đường khử ở giống NTB.02 tăng 5,52%
so với đối chứng, tỷ lệ này ở giống ĐX 208 là 6,29% và ở giống ĐX 044 là
9,04%
Sau 3 ngày gây hạn, hàm lượng đường khử trong lá ở cả 3 giống đều
tăng lên rõ rệt Với giống NTB.02, hàm lượng đường khử đã tăng lên 13,94%
so với lô đối chứng, giống ĐX 208 tăng 14,36%; tỷ lệ tăng cao nhất thể hiện
rõ ở giống ĐX 044, tăng 18,46% so với đối chứng
Bảng 3.1 Hàm lượng đường khử trong lá cây đậu xanh ở giai đoạn cây non (%)
Giống
ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC
Sau 5 ngày gây hạn, hàm lượng đường khử ở giống NTB.02 tăng 19,64%
so với đối chứng, giống ĐX 208 tăng 20,51% và tăng cao nhất vẫn là giống
ĐX 044, tăng 23,56% so với đối chứng Như vậy, trong điều kiện thiếu nước,
hàm lượng đường khử tăng nhiều ở giai đoạn cây non
Sau khi tưới nước trở lại, hàm lượng đường khử có sự biến động qua các
ngày phục hồi Cụ thể, giống NTB.02, sau 1 ngày phục hồi, hàm lượng đường
khử có trong mẫu thí nghiệm cao hơn đối chứng là 10,40%, sau 3 ngày cao
hơn 5,23% và cao hơn 1,15% sau 5 ngày Giống ĐX 208, sự khác biệt giữa
Trang 37hàm lượng đường khử có trong lá giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm sau 1ngày, 3 ngày và 5 ngày lần lượt là 112,18%, 106,12% và 102,03% Ở giống
ĐX 044, hàm lượng đường khử cũng giảm dần qua từng ngày phục hồi Sau 1ngày phục hồi, hàm lượng đường khử tăng 12,21%; sau 3 ngày và 5 ngày, sựkhác biệt giảm dần, hàm lượng đường khử giảm lần lượt xuống còn 6,98% và2,79% so với đối chứng Như vậy có sự biến động hàm lượng đường khửtrong lá đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi Điều này chứng tỏ câyđậu xanh đã có những biến đổi sinh lý, hóa sinh mạnh mẽ trước điều kiệnthiếu nước
Đồ thị 3.1 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình gây
hạn và phục hồi ở giai đoạn cây non
3.1.1.2 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình gây hạn và phục hồi ở giai đoạn cây ra hoa
Sự biến động hàm lượng đường khử của các giống đậu xanh nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.2 và đồ thị 3.2
Qua bảng 3.2, chúng tôi nhận thấy có sự biến động về hàm lượng đường khử ở giai đoạn cây ra hoa tương tự như giai đoạn cây non, nghĩa là thời gian
Trang 38gây hạn càng dài thì hàm lượng đường khử càng tăng và mức độ tăng phụ
thuộc vào từng giống Cụ thể như sau:
Ở giống NTB.02, sau 1 ngày gây hạn, hàm lượng đường khử có trong
mẫu thí nghiệm tăng 12,57% so với mẫu đối chứng, tăng 25,15% sau 3 ngày
gây hạn và tăng cao nhất sau 5 ngày, đạt 35,8%
Đối với giống ĐX 208, hàm lượng đường khử tăng 17,14% so với đối
chứng sau 1 ngày gây hạn, tăng 28,18% sau 3 ngày gây hạn và tăng cao nhất
sau 5 ngày gây hạn, đạt 42,78%
Đối với giống ĐX 044, sau 1 ngày và 3 ngày gây hạn, hàm lượng đường
khử ở mẫu thí nghiệm tăng lên so với mẫu đối chứng lần lượt là 23,24% và
35,29% và tăng cao nhất sau 5 ngày, đạt 45,5% so với đối chứng
Bảng 3.2 Hàm lượng đường khử trong lá cây đậu xanh ở giai đoạn cây ra hoa (%)
Giống
ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC
Như vậy, khi gây hạn thì hàm lượng đường khử của 3 giống đều tăng
hơn so với đối chứng Trong đó, hàm lượng đường khử ở giống ĐX 044 tăng
nhiều hơn so với giống ĐX 208, giống NTB.02 tăng ít nhất Ở giai đoạn cây
ra hoa, hàm lượng đường khử tăng nhiều hơn so với giai đoạn cây non
Trang 39Đồ thị 3.2 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình gây
hạn và phục hồi ở giai đoạn cây ra hoa.
Ở giai đoạn ra hoa khi tưới nước phục hồi, hàm lượng đường khử trong
lá đậu xanh thí nghiệm diễn ra tương tự như giai đoạn cây non, đó là hàmlượng đường khử càng giảm sau nhiều ngày tưới nước và gần tương đươngđối chứng sau 5 ngày tưới nước phục hồi
Ở giống NTB.02, sau 1 ngày và 3 ngày phục hồi, hàm lượng đường khử
ở lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng lần lượt là 22,86% và 15,34% Qua 5ngày phục hồi, hàm lượng đường khử ở mẫu thí nghiệm đã giảm xuống, chỉcòn 3,43%
Ở giống ĐX 208, hàm lượng đường khử có trong mẫu thí nghiệm cũnggiảm qua các ngày phục hồi tương tự như NTB.02 So với mẫu đối chứng, sau
1 ngày phục hồi và 3 ngày phục hồi, hàm lượng đường khử có trong mẫu thínghiệm cao hơn lần lượt là 24,18% và 18,48% Sau 5 ngày phục hồi, hàmlượng đường có trong mẫu thí nghiệm cao hơn mẫu đối chứng là 3,83%
Ở giống ĐX 044, hàm lượng đường khử có trong mẫu thí nghiệm sau 1ngày phục hồi cao hơn so với mẫu đối chứng là 25,13% Tuy nhiên, sự khác
Trang 40biệt này đã giảm dần qua các ngày phục hồi tiếp theo, chỉ cao hơn đối chứng
là 18,95 (sau 3 ngày) và 4,69% (sau 5 ngày)
3.1.1.3 Sự biến động hàm lượng đường khử của lá đậu xanh trong quá trình
gây hạn và phục hồi ở giai đoạn cây tạo quả
Kết quả nghiên cứu hàm lượng đường khử trong quá trình gây hạn và
phục hồi ở giai đoạn cây tạo quả được trình bày ở bảng 3.3 và đồ thị 3.3
Trong điều kiện thiếu nước, chúng tôi nhận thấy có sự biến động về hàm
lượng đường khử có trong mẫu lá thí nghiệm so với mẫu đối chứng Hàm
lượng đường khử trong mẫu thí nghiệm tăng tỷ lệ thuận so với ngày gây hạn
trong nghiên của chúng tôi tương tự như giai đoạn cây non và ra hoa Tuy
nhiên, trong điều kiện hạn, hàm lượng đường khử ở giai đoạn ra hoa tăng
nhiều hơn so với giai đoạn tạo quả
Bảng 3.3 Hàm lượng đường khử trong lá cây đậu xanh ở giai đoạn cây tạo quả (%)
Giống
ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC ĐC
%ĐC