1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG – NHÌN TỪ CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

12 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 49,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học các môn khoa học xã hội hiện nay ở trường phổ thông, trong đó hứng thú học tập của người học có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy nhiều học sinh chưa thật sự yêu thích, có niềm đam mê đối với các môn khoa học này. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi chia sẻ cách nhìn hứng thú học tập từ nguyên nhân các thành tố tạo nên quá trình dạy học, từ đó đề xuất những định hướng nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.

Trang 1

NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG – NHÌN TỪ CẤU TRÚC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

Trần Thị Kim Huệ*

TÓM TẮT

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy - học các môn khoa học xã hội hiện nay ở trường phổ thông, trong đó hứng thú học tập của người học có vai trò quan trọng Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy nhiều học sinh chưa thật sự yêu thích, có niềm đam mê đối với các môn khoa học này Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trong bài viết này chúng tôi chia sẻ cách nhìn hứng thú học tập từ nguyên nhân các thành tố tạo nên quá trình dạy học, từ đó đề xuất những định hướng nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.

Từ khóa: hứng thú học tập, các môn khoa học xã hội, quá trình dạy học

1 Đặt vấn đề

Khoa học xã hội là khoa học nghiên cứu các hiện tượng xã hội, bao gồm chính trị học, pháp luật học, giáo dục học, lịch sử, mĩ học, văn học… những phạm trù thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội Khoa học xã hội có nhiệm vụ nghiên cứu các quy luật hình thành và phát triển của xã hội và con người, cùng mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Khoa học xã hội ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia (Trần Lê Quốc Bảo, 2014) [8]

Với thế hệ trẻ, việc học tập các môn khoa học xã hội có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của họ Bởi lẽ những môn học thuộc lĩnh vực này sẽ hình thành ở học sinh tư tưởng, tình cảm; giúp các em có thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn; hun đúc ở học sinh tình yêu quê hương, đất nước, con người; giúp các em có nhận thức, thái

** ThS., Trường Đại học Phạm Văn Đồng.

Trang 2

độ, hành vi và thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa xã hội; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cá nhân - cộng đồng - xã hội; có vai trò cơ bản trong việc hình thành mặt phẩm chất trong nhân cách học sinh

Để phát huy được vai trò này của các môn khoa học xã hội, hứng thú học tập của học sinh

là điều kiện cần Tuy nhiên, thực trạng học sinh “quay lưng”, “thờ ơ”, “lạnh nhạt” với các môn học này thời gian qua đã chứng tỏ một thực tế khách quan là nhiều học sinh không thích các môn học này Các em học các môn khoa học xã hội nhưng không có hứng thú, không có niềm đam mê; học với tính chất đối phó, ép buộc… thì chắc chắn những môn này không thể phát huy được tác dụng giáo dục như mục tiêu đề ra; không thể nâng cao chất lượng dạy và học

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, những tác động từ nhà trường, gia đình, sự thay đổi của xã hội Bài viết này chia sẻ quan điểm của chúng tôi về nguyên nhân của thực trạng trên từ phía các thành tố của quá trình dạy học; trên cơ sở đó đưa ra các định hướng nhằm nâng cao hứng thú học tập các môn khoa học xã hội cho học sinh

2 Cấu trúc quá trình dạy học các môn khoa học xã hội và những bất cập ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh

Có nhiều quan điểm khác nhau về hứng thú và hứng thú học tập Một cách cơ bản, hứng thú được hiểu làthái độ đặc thù của cá nhân với đối tượng vừa có ý nghĩa với cuộc sống vừa

có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động (Nguyễn Quang Uẩn, 2004) [5]

Hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với các môn học trong nhà trường, nó là thái độ đặc biệt của người học với môn học mà họ thấy có ý nghĩa và có khả năng đem lại khoái cảm trong học tập bộ môn Đối tượng của hứng thú học tập là nội dung các môn học và hoạt động học để lĩnh hội nội dung đó Nội dung các môn học gồm hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Hoạt động học gồm hệ thống các hành động học tập để lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Hứng thú học tập bao gồm thái độ lựa chọn của cá nhân với những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả thái độ với hành động học tập để đạt tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó Vì vậy, khi hình thành hứng thú học tập cần xem xét cả hứng thú đối với môn học và hứng thú với hoạt động học tập bộ môn để lĩnh hội nội dung đó [6]

Trang 3

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh, nhưng trực tiếp nhất vẫn là những yếu tố thuộc cấu trúc quá trình dạy học

Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người dạy, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Cấu trúc của quá trình dạy học là cấu trúc hệ thống Cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm một hệ thống các thành tố vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: mục đích, nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; phương pháp dạy học; phương tiện dạy học; giáo viên với hoạt động dạy; học sinh với hoạt động học; hình thức tổ chức dạy học, kết quả của quá trình dạy học (Nguyễn Ngọc Bảo, 2006) [1]

Có thể hình dung một cách khái quát mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học qua sơ đồ dưới đây

Trang 4

Sơ đồ 1 Cấu trúc quá trình dạy học

Các thành tố của quá trình dạy học trên đây là những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông Thực trạng học sinh phổ thông không yêu thích, quay lưng, thờ ơ với những môn khoa học xã hội trong nhà trường cũng bắt nguồn

từ những nguyên nhân trực tiếp này

Mục đích, mục tiêu dạy học

Ghi chú:

Mối liên hệ ngược của quá trình dạy học

Trang 5

Về vai trò: mục đích, mục tiêu dạy học là sản phẩm dự kiến mà quá trình dạy học cần đạt

tới; được cụ thể bằng các nhiệm vụ dạy học; có vai trò định hướng sự vận động của các nhân

tố và của cả quá trình dạy học [2] Nhưng nhiều giáo viên dạy các môn khoa học xã hội không quan tâm đến vai trò này của mục đích, mục tiêu dạy học; việc xác định mục tiêu dạy học cho từng phần, chương, bài rất chung chung, rất khó định lượng; nhiều khi mang tính chất quán tính, thủ tục Giáo viên khi xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng ít khi bám sát vào mục tiêu Học sinh thì ít khi được giáo viên thông báo mục tiêu của bài học cũng như tự xác định mục tiêu cho mình Chính điều này làm cho học sinh thấy những nội dung mình được học rất dàn trải, mang tính chung chung, không thấy được ý nghĩ, tính hữu dụng của bài học, không biết học bài học này để làm gì Khi đó, hứng thú học tập của các em sẽ giảm Vậy là ngay từ khi bắt đầu học tập, học sinh đã thiếu sự định hướng cho quá trình học tập

Về nội dung của mục tiêu dạy học: hướng tới 3 nội dung chính: quy định những yêu cầu

về bồi dưỡng hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo; phát triển năng lực và các phẩm chất trí tuệ; hình thành thế giới quan, lý tưởng đạo đức cho học sinh Thế nhưng một thực tế đáng buồn hiện nay là những nội dung này được nhìn nhận và thực hiện một cách phiến diện từ chính giáo viên Giáo viên thường quan tâm đến mục tiêu kiến thức mà xem nhẹ mục tiêu về kỹ năng và giáo dục phẩm chất Vì vậy dẫn đến thực trạng học sinh phải học những con số khô khan trong môn lịch sử, những bài thuộc lòng máy móc trong môn Giáo dục công dân, những bài văn mẫu cứng nhắc trong môn Ngữ văn… mà chưa khai thác được nhiều tính nhân văn vốn là ưu thế của các môn khoa học xã hội, chưa làm người học rung động thực sự, có những tình cảm tích cực sau khi tiếp nhận nội dung bài học

Nội dung dạy học:

Nội dung dạy học quy định hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo người học cần lĩnh hội Nó tạo nên nội dung hoạt động của giáo viên và học sinh; bị chi phối bởi mục đích, nhiệm vụ dạy học và phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học của nhà trường; quy định việc lựa chọn và vận dụng phương pháp, phương tiện dạy học Yêu cầu đối với nội dung dạy học ở trường phổ thông là phải đảm bảo tính khoa học, hiện đại, phổ thông, phù hợp đặc điểm lứa tuổi Nội dung dạy học được thể hiện ở chương trình dạy học, sách giáo khoa [2]

Trang 6

Thế nhưng, đây lại là một trong những thành tố “có vấn đề” nhất của quá trình dạy học các môn khoa học xã hội hiện nay Học sinh chán học các môn khoa học xã hội bởi chương trình dạy học, sách giáo khoa rất ôm đồm, dàn trải, mang tính hàn lâm, nặng nề về lý thuyết

và ghi nhớ máy móc, gây áp lực cho học sinh; nhiều nội dung xơ cứng, xa lạ với cuộc sống hàng ngày; không cập nhật, thiếu tính thực tế và tính thời sự; không vừa sức với lứa tuổi; khô khan, trừu tượng, khó hiểu Những môn học có thế mạnh trong việc tạo cho học sinh những tình cảm tích cực đối với con người, xã hội, với cái chân - thiện - mỹ, làm cơ sở cho sự sáng tạo các giá trị nghệ thuật và trong cuộc sống… thì lại vô tình làm cho các em thui chột sự sáng tạo, chai lì trong tình cảm, dửng dưng thờ ơ trước thời cuộc

Phương pháp dạy học:

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong

sự phối hợp thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, học sinh tích cực, chủ động nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Đây là thành tố có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học [2] Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho học sinh chán học các môn khoa học xã hội như hiện nay

Việc sử dụng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập Đáng lẽ phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học thì các phương pháp dạy học được sử dụng nhiều hiện nay vẫn là thuyết trình, vấn đáp; việc giáo viên độc thoại trong giờ học vẫn khá phổ biến; học sinh ít có cơ hội chia sẻ quan điểm của mình, ít có cơ hội trải nghiệm thực tế và thể hiện sự sáng tạo Điều này làm cho học sinh căng thẳng, mệt mỏi sau giờ học và không có hứng thú học Quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” vẫn còn mang tính lý thuyết mà chưa đi vào thực tế quá trình dạy học

Thuộc về phương pháp dạy học, cách thức kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học các môn khoa học xã hội cũng là vấn đề đáng quan tâm Hiện nay, chúng ta vẫn ưu tiên cho những hình thức kiểm tra đánh giá truyền thống, trong khi mục tiêu dạy học, nội dung dạy học đòi hỏi phải đổi mới Những bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ thường chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức mà ít khi có cơ hội để học sinh vận dụng, liên hệ thực tiễn cuộc sống, bày tỏ thái độ, quan điểm riêng của mình trước một vấn đề xã hội; chưa có cơ hội để học sinh sáng tạo và thể hiện vai trò, trách nhiệm bản thân Phương pháp kiểm tra khá đơn điệu, rập

Trang 7

khuôn Đáng lẽ giờ kiểm tra phải là thời điểm học sinh rất thích thú vì được chia sẻ, thể hiện quan điểm, thể hiện kỹ năng bản thân thì thực tế lại là “cơn ác mộng” với nhiều học sinh khi các em phải đọc đúng, trả lời đúng nội dung sách giáo khoa, các con số, sự kiện…

Chúng ta nói nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng việc đổi mới này vẫn còn mang nặng tính hình thức, “khẩu hiệu” là chủ yếu; chưa thực sự làm nâng cao chất lượng dạy học, làm tăng hứng thú học tập của học sinh

Hình thức tổ chức dạy học

Là một thành tố của quá trình dạy học, hình thức tổ chức dạy học được hiểu là những cách thức tiến hành hoạt động dạy và học thống nhất giữa giáo viên và học sinh được thực hiện theo một trình tự và chế độ nhất định nhằm đảm bảo các nhiệm vụ dạy học Có rất nhiều hình thức tổ chức dạy học như hình thức lên lớp (dạy học lớp - bài); hình thức học tập theo nhóm tại lớp; hình thức tự học; hình thức thảo luận; hình thức hoạt động ngoại khóa; hình thức tham quan học tập; hình thức giúp đỡ riêng (phụ đạo); hình thức trò chơi học tập - nhận thức… Trong quá trình dạy học giáo viên phải vận dụng đa dạng, linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học; đặc biệt là đối với việc giảng dạy, học tập các môn khoa học xã hội thì điều này càng cần thiết Nhưng việc dạy học của chúng ta hiện nay chủ yếu sử dụng hình thức lên lớp Việc học tập các môn khoa học xã hội suốt những năm phổ thông của học sinh chỉ diễn

ra trong không gian chật hẹp của lớp học mà đáng lẽ các em phải được thâm nhập thực tế, tham quan tìm hiểu đời sống xã hội; trải nghiệm bản thân… Chính điều này làm cho học sinh cảm thấy kiến thức mình được học tách rời cuộc sống, tách rời đời sống xã hội; lý thuyết được học trên lớp chỉ là lý thuyết suông, không áp dụng được; niềm tin của các em đối với những điều hay lẽ phải thầy cô giáo giảng cũng giảm sút; làm cho mục tiêu hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn cho học sinh cũng khó thực hiện được; gây khó khăn cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục

Giáo viên với hoạt động dạy và học sinh với hoạt động học:

Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh thể hiện tính hai mặt của quá trình dạy học Trong đó, giáo viên với hoạt động dạy và học sinh với hoạt động học có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, quy định sự tồn tại của nhau và sự tồn tại của quá trình dạy học Đây là hai thành tố trung tâm của quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, giáo viên có vai trò chủ đạo thể hiện ở việc tổ chức, điều khiển hoạt động học

Trang 8

tập của học sinh Giáo viên là người đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức học tập; xây dựng kế hoạch hoạt động dạy và học; tổ chức thực hiện hoạt động dạy và hoạt động học tương ứng; kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của người học; theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh Học sinh vừa là đối tượng tác động của giáo viên, nhưng đồng thời họ là chủ thể của quá trình học tập, có vai trò tự giác, tích cực, độc lập, chủ động thông qua việc tiếp nhận nhiệm vụ và kế hoạch giảng viên đề ra để lập kế hoạch học tập; tổ chức thực hiện những hành động và những thao tác nhận thức; tự tổ chức hoạt động học tập; tự điều chỉnh hoạt động nhận thức; phân tích và tự phân tích những kết quả hoạt động học tập; tự kiểm tra những kết quả của hoạt động học tập Học sinh phải là trung tâm của quá trình dạy học

Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là hai mặt của một quá trình trọn vẹn, luôn tương tác với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Nếu không có sự tương tác giữa dạy và học thì sẽ không tồn tại quá trình dạy học Như

Iu K Babanxki đã nhấn mạnh: “Chỉ trong sự tác động tích cực qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó” [2]

Mặt khác, sự tương tác có tính quy luật giữa dạy và học trong quá trình dạy học sẽ tạo nên

sự vận động và phát triển của quá trình này Quá trình dạy học chỉ thành công khi người dạy

và người học thực hiện đúng vai trò của mình trong mối quan hệ biện chứng với nhau

Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông nói chung cũng như việc giảng dạy các môn khoa học xã hội nói riêng số đông giáo viên và học sinh đều không thực hiện đúng vai trò của mình Vai trò chủ đạo của giáo viên chỉ được hiểu và thực hiện một cách đơn giản là người truyền đạt Nhiều giáo viên hiểu mình phải là người điều khiển, hướng dẫn, tổ chức quá trình học tập cho học sinh nhưng khi thực hiện thì lại gặp khó khăn, không vận dụng vào thực tế quá trình dạy học Vai trò chủ thể của học sinh lại chỉ được thể hiện ở việc tiếp nhận kiến thức mà giáo viên cung cấp Học sinh bị động trong quá trình dạy học, lên lớp thầy đọc gì viết nấy, thầy cho gì nhận nấy mà không có sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo, tự giác, độc lập của mình trong quá trình học tập Đáng lẽ học sinh phải là trung tâm của quá trình dạy học thì giáo viên vẫn là trung tâm trong quá trình dạy học các môn khoa học xã hội Thầy cô giáo cũng ít quan tâm đến việc học sinh đang nghĩ gì, cần gì mà chỉ

Trang 9

lưu tâm đến việc truyền tải đúng - đủ nội dung sách giáo khoa Mối quan hệ của thầy và trò, dạy và học trong quá trình dạy học do đó lại rất rời rạc

Hơn thế nữa, một quan điểm sai lầm trong nhận thức của người dạy và người học tác động trực tiếp đến quá trình dạy học là xem các môn khoa học xã hội chỉ là môn phụ Thế nhưng

để đạt được mục đích giáo dục là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ thì tất cả các môn học ở nhà trường điều có vai trò quan trọng, có chức năng riêng góp phần vào việc tạo ra nhân cách toàn diện Tình trạng học lệch, xem nhẹ vai trò của một môn học nào

đó sẽ làm cho nhân cách thế hệ trẻ không thể “toàn diện” được; thậm chí phát triển lệch lạc,

và cũng có thể sẽ là những phế phẩm của giáo dục và là nguy cơ cho sự phát triển xã hội

Từ những phân tích trên đây có thể thấy các thành tố của quá trình dạy học các môn khoa học xã hội ở nhà trường hiện nay tồn tại rất nhiều bất cập làm giảm hứng thú học tập của học sinh Nâng cao chất lượng dạy học, hứng thú học tập các môn khoa học xã hội cho học sinh thì cần phải đổi mới đồng bộ tất cả các thành tố này

3 Định hướng đổi mới quá trình dạy học các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh

Từ những phân tích ở trên về bất cập, hạn chế của các thành tố trong quá trình dạy học, chúng tôi đưa ra một số định hướng cơ bản nhằm nâng cao hứng thú học tập các môn khoa học xã hội cho học sinh ở trường phổ thông sau đây:

Biện pháp 1 Đổi mới việc xác định mục tiêu dạy học

Cấp độ vĩ mô: Cần đổi mới mục đích giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và

toàn diện giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết số 29 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

XI (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2013) [4] Giáo dục Việt Nam phải hướng đến mục đích “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm

mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành

và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục 2005) [3] Mục đích đó cần phải được hoàn thiện theo xu hướng phát triển xã hội, nhấn mạnh đến các yếu tố cần thiết về phẩm chất

và năng lực của người công dân Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, chú trọng các mặt kỹ năng sống, phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức người công dân

Trang 10

Cấp độ vi mô: Có thể vận dụng nguyên tắc SMART khi xác định mục tiêu dạy học: Cụ

thể; Đo được; Đạt được; Phù hợp; Giới hạn về thời gian Từ đó, viết các mục tiêu cần đạt phải toàn diện về kiến thức, kỹ năng, thái độ; bằng những từ chỉ hành động cụ thể; thiết kế theo thang nhận thức của B.Loom: nhớ (Remembering) → hiểu (Understanding) → vận dụng (Applying) → phân tích (Analyzing) → đánh giá (Evaluating) → sáng tạo (Creating) (Nguyễn Văn Bảy, 2015) [7]

Biện pháp 2 Đổi mới chương trình, nội dung dạy học, sách giáo khoa

Từ những bất cập của chương trình, nội dung dạy học, sách giáo khoa các môn khoa học

xã hội thời gian qua, chúng ta cần thực hiện đổi mới mạnh mẽ chương trình, sách giáo khoa khoa học xã hội theo hướng giáo dục toàn diện, không nặng nề; gần gũi cuộc sống, giảm tính hàn lâm, không đưa nội dung chuyên sâu, nâng cao của các ngành khoa học vào trường phổ thông; giảm số môn học, tăng cường các hoạt động giáo dục và chủ đề tự chọn Đảm bảo tính hiện đại của nội dung dạy học Giảm bớt số giờ lý thuyết, tăng số giờ thảo luận và trải nghiệm Ưu tiên nội dung rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu và kỹ năng sống Tích hợp nội dung giáo dục nhân văn trong các môn học

Biện pháp 3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy vai trò tích cực của học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học; tập trung dạy cách tự học; vận dụng những phương pháp dạy học mới, phù hợp và hướng đến thực hiện mục tiêu dạy học như phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp tình huống, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp dạy học theo góc, phương pháp đóng vai là những phương pháp rất tích cực phù hợp với quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, đồng thời qua đây sẽ rèn luyện được nhiều kỹ năng sống cho người học, làm cho học sinh hứng thú với những giờ học khoa học xã hội Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng nên giáo viên cần khéo léo kết hợp các phương pháp dạy học một cách nhuần nhuyễn nhằm đạt đến mục tiêu dạy học Việc sử dụng các phương pháp dạy học phải là việc làm thường xuyên chứ không chỉ sử dụng trong các tiết học mẫu, tiết dạy dự giờ để rồi sau đó “đâu lại vào đấy“, không áp dụng được vào thực tế

Biện pháp 4 Đổi mới hình thức tổ chức dạy học

Ngày đăng: 15/11/2021, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w