1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay

130 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng đối với QHLIKT giữa các chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ RHC tại xã Vân Nội còn bộc lộ nhiều bất cập, như: lợi ích của nông dân chưa được đảm bảo, một số nông dân chưa gạt bỏ đượ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ MINH THÙY

QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN

XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ MINH THÙY

QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN

XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HIỆN NAY

Ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 8 31 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Ngô Tuấn Nghĩa

Hà Nội – 2020

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn cao học

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, ngày tháng năm 2020

Chủ tịch Hội đồng

PGS, TS Lưu Văn An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả trình bày trong luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Thùy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong và

ngoài Khoa Kinh tế chính trị - Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong thời

gian qua

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ hướng dẫn khoa

học PGS,TS Ngô Tuấn Nghĩa là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ UBND xã Vân Nội, Ban thống kê xã

Vân Nội, Chủ nhiệm Hợp tác xã Rau hữu cơ Vân Nội, và những hộ nông dân

tham gia trồng rau hữu cơ xã Vân Nội đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu

một cách hệ thống, đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin để tôi hoàn thành tốt

luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy

giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu và

nghiên cứu

Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bản luận văn không tránh khỏi

những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy

giáo, cô giáo và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Thùy

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Vân Nội năm 2020 50 Bảng 2.2: Đặc điểm dân số xã Vân Nội năm 2020 54 Bảng 2.3: Chi phí, năng suất, lợi nhuận đối với sản xuất cây khoai tây 59 Bảng 2.4: Tình hình thực hiện hợp đồng giữa người nông dân và các doanh

nghiệp trong tiêu thụ RHC tại xã Vân Nội năm 2019 65

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT DÙNG TRONG ĐỀ TÀI

10 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ 10

1.1 Lý luận về lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế 10

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ 32

1.3 Kinh nghiệm giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của một số địa phương trong nước 38

Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Vân Nội ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ 49

2.2 Tình hình thực hiện quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 56 2.3 Đánh giá mối quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ ở xã Vân Nội 73

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM HÀI HÒA QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 80

3.1 Phương hướng đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội 80

3.2 Giải pháp bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội trong thời gian tới 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 107

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, ở Việt Nam nói chung và thành phố (TP) Hà Nội nói riêng, khi thu nhập của người dân dần được nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm rau không chỉ đơn thuần là nhu cầu về số lượng mà còn đòi hỏi cả về chất lượng Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đưa được những tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến làm cho mặt hàng rau vẫn còn kém chất lượng, chưa đủ đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng

Đứng trước tình trạng đó, TP Hà Nội đã có nhiều chính sách khuyến khích người nông dân sản xuất rau theo mô hình sản xuất hữu cơ Xã Vân Nội - Đông Anh - Hà Nội lại là một vùng có truyền thống trồng rau lâu đời, đây là vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho ngành rau phát triển Bên cạnh đó, xã Vân Nội cũng là một nơi cung cấp số lượng rau quả rộng lớn cho TP Hà Nội Tuy nhiên, việc sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ (RHC) ở

xã Vân Nội cũng đã và đang gặp nhiều vấn đề khó khăn, cản trở đòi hỏi phải được giải quyết Vấn đề giá cả và chất lượng RHC còn thiếu tính ổn định, đặc biệt xuất hiện nhiều bất cập mới, nhất là trong sản xuất và tiêu thụ

Với áp lực thị trường, đòi hỏi phải có những liên kết để tạo nên mối quan

hệ lợi ích kinh tế (QHLIKT) giúp tạo điều kiện thuận lợi, đạt hiệu quả cao trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC Nhưng đối với QHLIKT giữa các chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ RHC tại xã Vân Nội còn bộc lộ nhiều bất cập, như: lợi ích của nông dân chưa được đảm bảo, một số nông dân chưa gạt

bỏ được tư tưởng chạy theo lợi ích trước mắt; doanh nghiệp có khi còn chưa tôn trọng các hợp đồng đã ký cũng như thực hiện thiếu các cam kết Do đó lợi ích của doanh nghiệp chưa thực sự được đề cao; việc thiếu cơ chế cụ thể cũng khiến lợi ích của nhà khoa học bị mờ nhạt; vai trò của các cấp chính quyền địa phương còn chưa thật rõ ràng trong việc thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ mặt

Trang 10

hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội

Vấn đề đặt ra cấp thiết là làm thế nào để phát huy tốt nhất vai trò của các chủ thể, thúc đẩy quan hệ lợi ích lành mạnh giữa các chủ thể liên quan tới sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP

Hà Nội Vì vậy, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện cả lý luận và thực tiễn về mối QHLIKT giữa nông dân với doanh nghiệp, nông dân với nhà khoa học, nông dân với nhà nước (chính quyền địa phương) trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC ở xã Vân Nội Trên cơ sở đó, đánh giá được thực trạng, từ

đó giải quyết tốt hơn mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể góp phần đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế thúc đẩy phát triển bền vững hoạt động sản xuất mặt hàng RHC và đạt hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu của TP

Hà Nội, góp phần đưa vùng Vân Nội – Đông Anh trở thành vùng có quy mô lớn về sản xuất RHC

Với ý nghĩa đó, chủ đề “Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội hiện nay” được tác giả chọn làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên

ngành Kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chủ đề về lợi ích, quan hệ lợi ích luôn thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Do đó, đã có nhiều công trình được công bố Điển hình

trong số đó có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu sau đây: “Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Lênin” của Laprinmencô, xuất bản năm 1978

Laprinmencô phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để soi sáng quá trình hình thành quan hệ lợi ích trong xã hội Ông cho rằng lợi ích và nhu cầu luôn gắn bó hữu cơ với nhau, quan hệ lợi ích chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhu cầu Nhu cầu phản ánh những mối quan hệ tất yếu của xã hội, còn lợi ích thì phản ánh các mối quan hệ xã hội khi thực hiện nhu cầu Nghĩa là khi thực hiện nhu cầu của con người trong xã hội sẽ xuất hiện quan hệ lợi ích… Lợi

Trang 11

ích xuất phát từ nhu cầu và đồng thời là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu Ông cũng chỉ rõ phạm trù lợi ích bổ sung cho phạm trù nhu cầu, lợi ích cố định nhu cầu trong sự thống nhất với điều kiện thỏa mãn nó Nhu cầu của con người bao hàm mục đích còn lợi ích là phương tiện để thực hiện mục đích đó Chính nhu cầu đã tạo ra sự khởi đầu của lợi ích và quy định nội dung của nó Laprinmencô cũng phân tích những đặc tính của lợi ích nói chung, lợi ích kinh tế nói riêng Theo ông, Lênin cho rằng lợi ích kinh tế là một hiện tượng hiện thực, là sự biểu hiện của mối quan hệ kinh tế khách quan…

Một trong những công trình chuyên nghiên cứu về lợi ích kinh tế có thể

kể đến công trình : “Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội” của B.B.Radaev,

xuất bản năm 1971 tại Matxcơva, trong công trình này tác giả bên cạnh việc phân tích bản chất của lợi ích kinh tế, tác giả còn nhận diện lợi ích kinh tế là đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đi sâu phân tích vai trò động lực phát triển xã hội của lợi ích kinh tế trong môi trường xã hội XHCN của Liên Xô (cũ) Ông cũng nhìn thấy mối quan hệ biện chứng của lợi ích kinh tế với lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế riêng và lợi ích kinh tế chung của xã hội Ông cho rằng, điều tiết hợp lí hệ thống các mối quan hệ lợi ích kinh tế này sẽ tạo ra sự phát triển của xã hội

Ở nước ta, trong thập niên 80 - 90 của thế kỷ XX, vấn đề lợi ích kinh tế

đã thu hút được mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Một số công trình chuyên luận và chuyên đề về lợi ích kinh tế đã được xuất bản Tiêu biểu nhất

trong số này phải kể đến 3 công trình: “Bàn về các lợi ích kinh tế” do nhiều

nhà nghiên cứu lý luận viết, nhà xuất bản Sự thật - năm 1982 Công trình của

tác giả Nguyễn Linh Khiếu, đó là : “Vai trò động lực xã hội của lợi ích” xuất bản năm 1999 và “Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2002 “Bàn về lợi ích kinh tế” là một tuyển tập nhiều bài viết của

một số nhà nghiên cứu lý luận của Việt Nam như Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn, Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy Cuốn sách ra đời

Trang 12

nhằm đáp ứng nhu cầu cần phải có những cơ sở lý luận quan trọng và khoa học để hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế Hai công trình của Nguyễn Linh Khiếu đều đã có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu lý luận về lợi ích

nói chung và tất nhiên cả lợi ích kinh tế nói riêng Trong công trình: “Lợi ích động lực phát triển xã hội” xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Linh Khiếu

tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong và ngoài nước tính cho tới thời điểm đó Trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa nhiều quan niệm của các học giả Liên Xô (cũ) và các học giả Việt Nam, Nguyễn Linh Khiếu đã được đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích Ông phân tích quan

hệ lợi ích và tìm thấy rõ sự khác biệt giữa quan hệ nhu cầu thông thường và quan hệ nhu cầu nảy sinh lợi ích

Về phát triển nông nghiệp hữu cơ nói chung và mặt hàng RHC nói riêng

đã có nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết đề cập đến như:

“Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam”

của tác giả Bùi Chí Bửu, Tạp chí Cộng sản, số 791,9/2008 – tác giả cho thấy

sự cần thiết và chiến lược áp dụng cộng nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp mở ra con đường phát triển nông nghiệp sạch ở Việt Nam

“Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam” của Vũ Văn Nam (2009),

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn phân tích những chuyển biến trong phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững, đưa

ra những định hướng và giải pháp làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp sạch của Việt Nam sau này

“Phát triển nông nghiệp sạch và bền vững trên thế giới và ở Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp” của tác giả Vũ Thị Minh (2013), Tạp chí Kinh tế

và Phát triển, số 196,10/2013 Bài viết nói về phát triển nông nghiệp theo hướng sạch

và bền vững là một trong những mục tiêu phấn đấu của ngành nông nghiệp Việt Nam

“ Phát triển nông nghiệp sạch – Hướng đi mới trong xây dựng nông

Trang 13

thôn mới” của tác giả Huy Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 94, 10/2014 Tác giả

khái quát tình hình phát triển nông nghiệp ngày nay, tính cấp thiết phải sản xuất nông nghiệp sạch nhằm chuyển biến nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập

“ Nghiên cứu giải pháp phát triển bền vững rau an toàn ở Hà Nội” của tác

giả Đào Duy Tâm (2010), Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện nông nghiệp Hà Nội Luận án đã đánh giá thực trạng phát triển bền vững rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, phân tích những yếu tố tác động chính và nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển bền vững rau an toàn ở Hà Nội Từ đó đề xuất, định hướng và một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển bền vững rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tóm lại, các tác phẩm và các đề tài trên đã nghiên cứu, làm rõ lý luận và thực tiễn về lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế, về phát triển nền nông nghiệp bền vững, nông nghiệp hữu cơ Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về quan hệ lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn Xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội một cách toàn diện cả lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, trân trọng và kế thừa những thành tựu của những công trình đi trước, luận văn này cố gắng làm rõ hơn về quan hệ lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích đánh giá thực trạng giải quyết các quan hệ lợi ích kinh tế nảy sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bạn xã Vân Nội, huyện Đông Anh Chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các chủ thể để thúc đẩy phát triển bền vững mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quan hệ

Trang 14

lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên phạm vi địa phương cấp xã

- Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và

tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu về thực trạng QHLIKT trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội, bao gồm: quan hệ giữa nông dân với doanh nghiệp tiêu thụ; quan hệ giữa nông dân với nhà khoa học; quan hệ giữa nông dân với chính quyền địa phương; và đưa ra phương hướng, giải pháp để đảm bảo hài hòa những mối quan hệ này nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

- Về mặt không gian: Xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

- Về mặt thời gian: từ năm 2015 đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giải quyết quan hệ lợi ích của các chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ cho phát triển kinh tế - xã hội

Trang 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của chuyên ngành kinh tế chính trị, bao gồm: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, thống kê, logic kết hợp với lịch sử, điều tra, so sánh, tổng hợp, đánh giá,… Các phương pháp này được sử dụng trong các chương, tiết của luận văn cụ thể như sau:

Chương 1: Sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, phân tích, tổng hợp để làm rõ hơn cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về QHLIKT trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

Chương 2: Sử dụng phương pháp điều tra, thu thập thông tin và số liệu,

xử lý thông tin, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng mối quan QHLIKT trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Đối với phương pháp điều tra: điều tra bằng công cụ phỏng vấn trực tiếp; gồm có 4 loại phiếu phỏng vấn, bao gồm: phiếu dành cho cán bộ quản lý xã, phiếu dành cho cán bộ khuyến nông, phiếu dành cho HTX và doanh nghiệp,

và phiếu dành cho các hộ nông dân Nội dung điều tra chủ yếu xoay quanh mối QHLIKT trong quá trình sản xuất và tiêu thụ RHC của xã Vân Nội, những thuận lợi và khó khăn, nguyện vọng và nhu cầu của các chủ thể, các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ lợi ích Các số liệu thu thập được tiến hành tổng hợp, phân loại và xử lý bằng phần mềm Excel, tính tỷ lệ và diễn giải theo các mục nghiên cứu của đề tài

Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra những phương hướng và giải pháp góp phần giải quyết hài hòa mối QHLIKT trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Trang 16

6 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống và hoàn thiện cơ sở lý luận về quan hệ lợi ích trong sản xuất

và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ cấp xã

- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ ở xã Vân Nội, huyện Đông Anh, TP

Hà Nội

- Luận văn đề xuất giải pháp nhằm thực hiện một cách hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể có liên quan đến sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC nói chung và ở xã Vân Nội nói riêng, để góp phần thực hiện tốt việc sản xuất

và tiêu thụ mặt, giúp tăng năng suất và hạn chế những rủi ro, đảm bảo phát triển bền vững

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về lý luận: Luận văn góp phần xây dựng khung lý thuyết về lợi ích kinh tế nói chung và lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC nói riêng

- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh; chỉ ra những hạn chế của quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC trên địa bàn xã Vân Nội

- Đề xuất phương hướng và giải pháp để giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì phần nội dung của đề tài được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quan hệ lợi ích

kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ

Trang 17

Chương 2: Thực trạng quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ

mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà

Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ

lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ

QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ

MẶT HÀNG RAU HỮU CƠ 1.1 Lý luận về lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế

1.1.1 Lợi ích kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm lợi ích

Sự phát triển của xã hội được quy định bởi tổng thể các điều kiện của tự nhiên, xã hội Xét cho cùng, sự phát triển ấy là kết quả của những hoạt động

có ý thức của con người đang theo đuổi những lợi ích nhất định Lợi ích chiếm một vai trò quan trọng trong hoạt động của con người và trong sự phát triển của xã hội

Lợi ích theo cách hiểu thông thường là cái có ích, cái có lợi cho một tập thể người nhất định hay cho một cá nhân nào đó Có thể hiểu lợi ích bao gồm những cái có ích, có lợi cả về mặt vật chất và tinh thần, nó không chỉ có mặt trong lĩnh vực kinh tế mà còn có mặt trong lĩnh vực khác như chính trị tư tưởng, văn hóa, xã hội

Bản thân của lợi ích được hiểu một cách thuần túy tâm lý học là sự mong muốn, thiện cảm, ưa thích, cảm tình, tình yêu (hoặc trái lại là sự chán ghét, ác cảm, căm thù) của con người Lợi ích bị chi phối trong xã hội bởi phương thức hoạt động sống của con người, bởi những quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử

Khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của con người Khi ấy, nhu cầu được biểu hiện ở động cơ Lợi ích là những nhu cầu trở thành động cơ của hành động Nói cách khác, nhu cầu, lợi ích, động cơ là

sự thể hiện của những nấc thang khác nhau của cùng một bản chất Cũng có thể coi nhu cầu được thực hiện là nội dung của lợi ích, hoặc nói lợi ích có tính

Trang 19

vật chất Tuy vậy, không phải mọi nhu cầu tự nhiên là lợi ích kinh tế, mà những nhu cầu được xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế có bản chất xã hội, nó mang quan hệ giữa người với người trong việc thỏa mãn nhu cầu ở những giai đoạn lịch sử nhất định [34; tr.8]

Có nhiều khái niệm được tiếp cận theo các quan điểm khác nhau, tùy vào các lĩnh vực, các ngành chuyên môn khác nhau Dưới góc độ kinh tế chính trị

và theo chủ đề của luận văn này thì có thể tiếp cận đến phạm trù lợi ích như sau:

Mọi hoạt động của con người đều có động cơ, biểu hiện ra ở hành động, mức độ tích cực hoặc không tích cực của hoạt động Động cơ đó bị chi phối bởi lợi ích Con người hoạt động trước hết nhằm thỏa mãn các nhu cầu Nhu cầu có nhiều loại song khả năng, điều kiện để thỏa mãn lại có hạn, do đó hoạt động để thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội mà con người đang sống Từ đó động cơ hoạt động được hình thành dựa trên những điều kiện hiện thực của việc hoạt động để thỏa mãn nhu cầu Vì vậy, có thể định nghĩa:

Lợi ích với tư cách là động cơ của hoạt động, là các nhu cầu được ý thức thành động cơ hoạt động của con người Nhu cầu và lợi ích có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau: nhu cầu là cơ sở để hình thành nên lợi ích, tuy nhiên chỉ có những nhu cầu được ý thức và chuyển thành động cơ của hoạt động thì

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của chủ thể, có thể chia thành: lợi ích cá

Trang 20

nhân, lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp, lợi ích toàn xã hội, lợi ích nhân loại Khái quát hơn đó là: lợi ích riêng và lợi ích chung

Căn cứ vào thời gian tồn tại của lợi ích, lợi ích được chia thành: lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

Căn cứ vào tầm quan trọng của lợi ích, chia thành: lợi ích căn bản và lợi ích không căn bản, lợi ích cấp bách và lợi ích không cấp bách

Căn cứ vào tính chất và các biện pháp thực hiện lợi ích, chia thành: lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng

Mặc dù lợi ích được phân chia như vậy, nhưng sự phân chia đó chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, các lợi ích luôn tồn tại, đan xen và tác động qua lại lẫn nhau, cùng tồn tại trong các chủ thể Lợi ích này được lựa chọn hay ưu tiên hơn lợi ích khác sẽ tùy thuộc vào chủ thể và điều kiện cụ thể Vì vậy, khi xem xét về lợi ích của một chủ thể nhất định thì ta phải xem xét trên quan điểm lịch sử cụ thể và toàn diện

Trong các lĩnh vực đời sống xã hội, có thể dễ dàng nhận thấy lợi ích kinh

tế đóng vài trò quan trọng, quyết định và biểu hiện rõ nét nhất trong các hành

vi của cá nhân và xã hội vì nó hướng tới và nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người

1.1.1.2 Quan niệm về lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế là một vấn đề khá phức tạp, đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu qua nhiều thế kỷ

Các nhà kinh tế học cổ điển Anh cho rằng, lợi ích kinh tế tư nhân là động lực đầu tiên của sự phát triển xã hội, trong hoạt động kinh tế, sự theo đuổi lợi ích cá nhân là nguồn gốc, nguyên nhân làm tăng của cải trong xã hội

Theo A.Smith (1723-1790), trong quá trình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi ích cá nhân, đều nỗ lực cải thiện hoàn cảnh của mình, ai cũng vì lợi ích cá nhân, đó là tư lợi, ham giàu có nên mọi hoạt động của họ

Trang 21

đều vì mục đích vị kỷ Và ông cho rằng chính lòng vị kỷ của cá nhân sẽ đưa tới sự trù phú của xã hội Ông nói: “Quốc gia sẽ trở nên phồn thịnh nếu mọi

cá nhân không ngừng nỗ lực để cải thiện sinh hoạt của riêng mình…người bán thịt, người nấu rượu, người làm bánh mang đồ ăn đến cho chúng ta chính

là vì lợi ích riêng của họ, chúng ta kêu gọi không phải bằng lòng nhân từ của

họ, mà kêu gọi sự ích kỷ của họ, chúng ta không bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta, mà chỉ nói với họ về mối tư lợi của họ” [1; tr.67] Cũng xuất phát từ chính tính vị kỷ của con người, lợi ích của cá nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện lợi ích kinh tế, tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau “ Anh cho tôi thứ mà tôi thích, anh

sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của trao đổi” [8; tr.65] Như vậy, lần đầu tiên A.Smith nghiên cứu các lợi ích kinh tế trong mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng A.Smith cho rằng, bất cứ lợi ích nào cũng chỉ được đáp ứng trong trường hợp nó không mâu thuẫn với tăng năng suất của tư bản Tiền lương cao sẽ không mâu thuẫn với lợi ích xã hội, vì khi tăng tiền lương thì cũng sẽ tăng năng suất lao động Trong lý luận lợi ích của A.Smith, mặt tích cực được thể hiện ở chỗ ông coi lợi ích kinh tế là động lực cơ bản để phát triển sản xuất xã hội

Với D.Ricardo (1772-1823), trong quan điểm kinh tế của ông, ông cho rằng lợi ích kinh tế của các giai cấp khác nhau được xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị Ông coi tiền lương và lợi nhuận chỉ là hai bộ phận của giá trị

và cùng có một nguồn gốc là lao động Cho nên việc tăng hay giảm tiền lương

sẽ không ảnh hưởng đến giá cả của hàng hóa, mà chỉ ảnh hưởng đến việc phân phối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và nhà tư bản, và do đó chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của họ về mặt số lượng Đó là khía cạnh mới trong việc nghiên cứu hệ thống lợi ích Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống, tiền công lao động giảm, lợi nhuận của nhà tư bản sẽ tăng lên Nói

Trang 22

cách khác, trong số giá trị mới được tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của người đi thuê công nhân thì lớn hơn D.Ricardo coi điều đó là do kết quả của các quy luật tự nhiên trong sự phát triển xã hội, là phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế chính trị [7; tr.158]

Đến giữa thế kỷ XIX, C.Mác (1818-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895)

là những người đã đưa ra phương pháp mới về nguyên tắc trong việc nghiên cứu lợi ích kinh tế Hai ông đã tìm ra điều kiện của lợi ích là các quan hệ kinh

tế, những quan hệ này phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất hiện có C.Mác viết: “Năm 1942-1843…lần đầu tiên tôi phải nói lên ý kiến của mình về cái gọi là lợi ích vật chất” trong “các cuộc thảo luận tại Hội đồng dân biểu tỉnh Ranh về vấn đề ăn trộm gỗ và vấn đề phân nhỏ tài sản ruộng đất” Điều đó đã trực tiếp thúc đẩy việc nghiên cứu các quan hệ sản xuất và cốt lõi của chúng là lợi ích kinh tế [8; tr.7]

C.Mác đã nhấn mạnh ý nghĩa xã hội và tính chất bao quát chung của phạm trù lợi ích bằng quan điểm cho rằng, tất cả những gì con người đấu tranh vì nó thì đều gắn với lợi ích của con người và không chỉ những cá nhân riêng lẻ mà còn cả giai cấp khác nhau, cả xã hội nói chung, trong hoạt động thực tiễn của mình đều bị chi phối bởi các lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định Sau đó, vào năm 1845-1946, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mác và Ăng ghen viết “…lợi ích… không phải chỉ tồn tại trong tưởng tượng…mà trước hết, tồn tại trong hiện thực, với tư cách là sự phụ thuộc lẫn

nhau giữa các cá nhân có phân công lao động với nhau” [3; tr.46]

Tiếp tục nghiên cứu về lợi ích kinh tế, V.I.Lênin (1870-1924) đã nhiều lần chứng minh vai trò to lớn của lợi ích kinh tế trong sự phát triển xã hội Lênin đã nhấn mạnh quan điểm của Hêghen khi xem xét lợi ích kinh tế như là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển sản xuất xã hội, đó là: Lợi ích làm sống động các dân tộc

Trang 23

Đối với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, một số tác giả cho rằng lợi ích là một hiện tượng xã hội, tuy nó gắn bó chặt chẽ với nhu cầu, nhưng không phải là sự phản ánh chủ quan của nhu cầu [30; tr62] Trong cuốn “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – vấn đề nguồn gốc và động lực” của tác giả Lê Hữu Tầng, ông viết: Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng

cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội, họ muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển … phương tiện để mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thể hành động chính là lợi ích… Lợi ích… là cái đáp ứng nhu cầu và vì lẽ đó nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu [31; tr.38] Tác giả Vũ Hữu Ngoạn và Khổng Doãn Hợi thì cho rằng: “không phải bản thân nhu cầu là lợi ích kinh tế, mà nhu cầu khi được xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế” và “khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của con người, thôi thúc con người vươn lên giành cho kỳ được” [32; tr.61]

Mặt khác, cũng có một số tác giả lại khẳng định lợi ích là một hiện tượng chủ quan, là các nhu cầu khách quan được chủ thể nhận thức [31; tr.61] Theo tác giả Lê Xuân Tùng: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở một quan hệ sản xuất nhất định, không tùy thuộc vào ý muốn con người… Nhưng lợi ích kinh tế muốn được thực hiện phải thông qua con người… Nhận thức về lợi ích càng đầy đủ, thì hoạt động của con người để đạt lợi ích càng có hiệu quả và theo đó quy luật kinh tế cũng thực hiện đầy đủ [32; tr.96]

Một quan niệm khác lại cho rằng: Lợi ích kinh tế là thu nhập mà mỗi chủ thể có được khi tham dự vào quá trình sản xuất của xã hội Lợi ích kinh tế biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi chủ thể có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế của xã hội và để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế của họ Tất cả

hệ thống lợi ích kinh tế trong xã hội đều do những quan hệ sản xuất quy định

Trang 24

Lợi ích kinh tế phụ thuộc vào mức độ sở hữu các điều kiện của sản xuất và tỷ lệ lao động mà mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất [11; tr.21] Hay tác giả Đào Tùng lại khẳng định, “lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất” [32; tr.9]

Căn cứ vào những quan niệm và luận điểm về lợi ích kinh tế nêu trên, luận văn này hiểu về lợi ích kinh tế như sau: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, được quy định bởi hệ thống các quan hệ kinh tế nhất định và biểu hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa sản xuất vật chất và nhu cầu vật chất Hay có thể nói, lợi ích kinh tế là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của các chủ thể kinh tế Lợi ích kinh tế là sự hiện thực hóa những nhu cầu kinh tế, còn nhu cầu kinh tế là tiền đề, là cơ sở hình thành nên lợi ích kinh tế

1.1.1.3 Những đặc trưng chủ yếu của lợi ích kinh tế

Một là, lợi ích kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu kinh tế

Mặc dù lợi ích kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu, nhưng tuy nhiên, không phải nhu cầu nào cũng đều là lợi ích kinh tế, mà chỉ những nhu cầu về vật chất, kinh tế mới được gọi là lợi ích kinh tế Ở đây, nhu cầu có thể hiểu là những đòi hỏi, mong muốn của con người Có các mức độ đòi hỏi, mong muốn từ thấp đến cao như: bản năng, tiện nghi, đòi hỏi mong muốn được tôn trọng, được thừa nhận và được tự khẳng định mình Những đòi hỏi, mong muốn đó kết hợp lại thành trạng thái tâm, sinh lý Để giải tỏa áp lực tâm, sinh

lý thì phải trải qua nhiều lựa chọn, và quyết định cuối cùng của sự lựa chọn là nhu cầu Chính vì vậy, lợi ích kinh tế chính là phương thức nhằm thực hiện nhu cầu của chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế [8; tr.13] C Mác cho rằng, nhu cầu của con người là vô hạn và khả năng mở rộng những nhu cầu

đó cũng là vô hạn Lợi ích kinh tế sẽ xuất hiện trong các mối quan hệ xã hội,

nó thực sự là mối quan hệ chi phối và định hướng con người hoạt động Những quy luật kinh tế xã hội chỉ có thể thực hiện thông qua hoạt động có

Trang 25

mục đích, có ý thức của con người - người mà đang theo đuổi những lợi ích nhất định

Hai là, lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế và quy

luật kinh tế

Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế, một mặt nó phản ánh những điều kiện, những phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể Suy cho cùng, lợi ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế -

xã hội Mặt khác, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tham gia vào các hoạt động đó để tạo ra của cải vật chất cho mình Những quan hệ đó chính là quan hệ sản xuất trong xã hội Vì vậy lợi ích kinh

tế cũng là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức vốn có bên trong, hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã viết: “Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” [4; tr.376] Và V.I.Lênin cũng cho rằng: Lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ

Lợi ích kinh tế một khi đã thể hiện những quan hệ kinh tế thì đồng thời cũng thể hiện những mối liên hệ tất yếu, trong các mối quan hệ sản xuất có sự

ổn định thì đó chính là những quy luật kinh tế Chính vì vậy, lợi ích kinh tế không những thể hiện các quan hệ kinh tế, mà còn là hình thức biểu hiện những quy luật kinh tế

Trang 26

Ba là, lợi ích kinh tế mang tính chất lịch sử

C.Mác cho rằng : “quy mô của những nhu cầu được gọi là tất yếu và những phương thức để thỏa mãn những nhu cầu ấy chính là sản phẩm của lịch

sử và phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn hóa của đất nước” [5; tr.27]

Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định nên mỗi xã hội đều có một hệ thống lợi ích kinh tế riêng của mình Trong mỗi giai đoạn lịch

sử khác nhau thì các hệ thống lợi ích kinh tế cũng khác nhau về phương thức, tính chất, quy mô, kết cấu và mối quan hệ giữa các thành phần trong kết cấu

đó Cần phân biệt được tính chất, quy mô của của lợi ích kinh tế; làm rõ cơ cấu của hệ thống lợi ích và từng bộ phận cấu thành; vị trí, vai trò của từng bộ phận ấy Việc nhận thức được tính chất lịch sử của lợi ích kinh tế là vô cùng quan trọng để có thể xác định được một cơ chế kinh tế hợp lí, hiệu quả và tổ chức tốt các phương thức thực hiện lợi ích

Như vậy, lợi ích kinh tế là sự thống nhất giữa nhân tố khách quan với nhân tố chủ quan và mang tính chất lịch sử cụ thể, đây là đặc trưng nổi bật của lợi ích kinh tế [8;tr14]

1.1.2 Quan hệ lợi ích kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm về quan hệ lợi ích kinh tế

Ở mỗi nền kinh tế, hoạt động của các chủ thể luôn gắn liền với các mối quan hệ phản ánh mục tiêu lợi ích mà họ theo đuổi, những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định đều biểu hiện dưới hình thức lợi ích, và chính lợi ích đã trở thành động lực thúc đẩy sự gắn bó mật thiết giữa các chủ thể trong xã hội Quan hệ lợi ích kinh tế được hình thành khi các chủ thể kinh tế quan hệ với nhau trong sản xuất kinh doanh, như: giữa người sản xuất với người tiêu dùng, giữa người sử dụng lao động và người lao động làm thuê, giữa người mua và người bán,… Các quan hệ lợi ích này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống quan hệ lợi ích

Trang 27

Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), quan hệ lợi ích kinh tế được biểu hiện dưới hình thái giá trị Ví dụ như giữa người bán và người mua là quan hệ giữa tiền lời và giá trị hàng hóa (ngang giá), giữa người chủ và người lao động làm thuê là quan hệ giữa tiền công và lợi nhuận,… Khi các bên được đảm bảo lợi ích hài hòa thì các hoạt động hợp tác sẽ thuận lợi, ổn định và hiệu quả Lợi ích là động cơ thúc đẩy sự liên kết giữa các chủ thể Khi xã hội tồn tại nhiều động cơ lợi ích khác nhau thì quan hệ lợi ích cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Với động cơ lợi ích lành mạnh, đúng với những chuẩn mực của xã hội thì sẽ tạo nên những quan hệ lợi ích lành mạnh tương ứng Các quan hệ này sẽ tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển Ngược lại, có những quan hệ lợi ích không đúng với chuẩn mực chung của xã hội, khi đó, chúng sẽ tạo ra các xung đột và là thứ ngăn cản sự phát triển của kinh

tế nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Quan hệ lợi ích kinh tế là hệ thống các mối liên hệ giữa các chủ thể trong xã hội, hình thành trên cơ sở thỏa thuận tự giác giữa các bên nhằm thực hiện mục tiêu lợi ích vật chất

1.1.2.2 Hệ thống các chủ thể kinh tế và các lợi ích kinh tế trong nền kinh

tế thị trường ở nước ta hiện nay

Trong thời kì quá độ tiến lên XHCN, với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác nhau, do đó cũng có nhiều lợi ích kinh tế khác nhau trong các thành phần kinh tế

- Thứ nhất, đó là chủ thể Nhà nước và lợi ích kinh tế của nhà nước (xã

hội) Lợi ích kinh tế của Nhà nước được hình thành từ các khoản đóng góp thu nhập của các đơn vị kinh tế và người dân thuộc tất cả các thành phần kinh

tế vào ngân sách Nhà nước

Lợi ích kinh tế của Nhà nước hay còn gọi là lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động, lợi ích của tất cả thành viên trong xã hội Lợi

Trang 28

ích kinh tế của xã hội được thực hiện qua sự quản lý, điều hành tập trung thống nhất của bộ máy Nhà nước từ trung ương, địa phương đến cơ sở Chính quyền là người đại diện duy nhất cho lợi ích kinh tế chung của tất cả nhân dân lao động, vì thế lợi ích kinh tế của Nhà nước có mặt ở tất cả các thành phần kinh tế, chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức kết hợp các lợi ích kinh tế diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, trong đó diễn ra trực tiếp và tập trung trong lĩnh vực phân phối - lưu thông vì lĩnh vực này bộc

lộ rõ nét nhất các lợi ích mà qua đó tác động mạnh đến sản xuất

Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý nhà nước về kinh tế bằng cách sử dụng những công cụ, biện pháp, hình thức thông qua quy định pháp luật để điều hành xã hội Nhà nước quản lý phải nằm ở những lĩnh vực, những khâu, thực hiện những công việc quan trọng nhất mà thị trường và nhân dân lao động không làm được, biết sử dụng cơ chế thị trường để phục vụ cho mục tiêu quản lý của mình, biết phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy động lực của sự phát triển kinh tế, làm cho cơ chế thị trường ra đời đồng bộ và vận hành thông suốt, thúc đẩy kinh tế phát triển và cũng chính là thực hiện lợi ích kinh tế của Nhà nước

Bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà nước còn đầu tư vốn, thành lập các đơn vị kinh tế do Nhà nước làm chủ sở hữu và thông qua các hoạt động kinh tế hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước đóng góp tích cực vào lợi ích kinh tế của xã hội, đồng thời thông qua công cụ thuế thực hiện việc điều tiết thu nhập của các thành phần kinh tế nhà nước và các thành phần kinh tế, cá nhân, tập thể vào ngân sách nhà nước

- Thứ hai, trong các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác

nhau, ngoài việc đóng góp để đảm bảo lợi ích kinh tế của Nhà nước (xã hội), còn có các chủ thể và lợi ích kinh tế theo đặc thù riêng của mình:

Trang 29

+ Trong các đơn vị kinh tế nhà nước còn có lợi ích kinh tế của tập thể doanh nghiệp nhà nước, lợi ích kinh tế cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước là đơn vị kinh tế thuộc vốn sở hữu của Nhà nước bao gồm các Tập đoàn, Tổng công ty, công ty nhà nước và một số các doanh nghiệp nhà nước liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Đây là những doanh nghiệp giữ những vị trí then chốt, quan trọng, tập trung vào những lĩnh vực đầu tư dài hạn như kết cấu hạ tầng, công nghiệp mũi nhọn… nhằm tăng trưởng bền vững, mặt khác còn là công cụ để Nhà nước thực hiện những chính sách xã hội như cung cấp những hàng hóa dịch vụ thiết yếu, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu, doanh nghiệp nhà nước còn có sứ mệnh rất lớn là tạo điều kiện và thúc đẩy toàn bộ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước và là hạt nhân, nòng cốt trong việc liên doanh, liên kết lôi cuốn các thành phần kinh

tế khác vào quỹ đạo phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hiệu quả sản xuất kinh doanh thì sẽ

có lợi nhuận, vừa đóng góp những sản phẩm tốt cho xã hội, mà còn tăng cường mở rộng sản xuất, vừa tăng thêm phúc lợi cho doanh nghiệp, vừa cải thiện nâng cao đời sống cho người lao động Như vậy, trong doanh nghiệp Nhà nước vừa có lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và lợi ích kinh tế của người lao động, lợi ích kinh tế này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn nhau, song có thể thấy được xu hướng tính thống nhất nhiều hơn Do đó, để có thể phát triển doanh nghiệp Nhà nước, phải hết sức quan tâm đến điều kiện, môi trường làm việc, thực hiện tốt các chính sách pháp luật theo quy định, chăm lo đời sống

và lợi ích kinh tế của người lao động, làm cho người lao động yên tâm, gắn bó lâu dài, thực hiện tốt nghĩa vụ lao động góp phần làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển

Trang 30

+ Trong các đơn vị kinh tế tập thể có lợi ích kinh tế của tập thể (hợp tác xã) và lợi ích kinh tế cá nhân của người lao động (xã viên)

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật Hợp tác xã, để phát huy sức mạnh của tập thể từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các họat động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật

Trong HTX bao gồm lợi ích kinh tế của tập thể hợp tác xã và lợi ích kinh

tế của xã viên (người lao động, hộ gia đình, pháp nhân) Hợp tác xã hoạt động tốt, ngoài việc đóng góp cho xã hội, sẽ mở rộng sản xuất, phân phối cho xã viên, mở rộng quỹ phúc lợi, muốn vậy hợp tác xã phải có những quy định, phân phối tốt trong điều lệ hợp tác xã, nhằm tạo động lực cho xã viên hăng hái tham gia sản xuất phát triển hợp tác xã

+ Trong các đơn vị kinh tế tư nhân có lợi ích kinh tế của chủ doanh nghiệp và lợi ích kinh tế của người lao động làm thuê

Đơn vị kinh tế tư nhân theo luật doanh nghiệp hiện nay bao gồm rất nhiều loại hình họat động như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty

cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty liên doanh, công ty hợp doanh là những đơn vị kinh tế cơ sở có tư cách pháp nhân, có chức năng sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ một cách hợp pháp, theo nhu cầu của thị trường, nhằm đạt lợi nhuận và hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa Trong kinh tế tư nhân bao gồm lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động và lợi ích kinh tế của người lao động Lợi ích kinh tế này thường mâu thuẫn với nhau,

Trang 31

một bên muốn đạt tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp, một bên mong muốn tiền lương, thu nhập cao, ổn định, nên trong những năm qua thường xảy ra nhiều vụ ngừng việc, đình công trên phạm vi cả nước

Qua nghiên cứu các quan hệ chủ thể trong các loại hình kinh tế, có thể thấy rằng trong xã hội suy cho cùng thì có ba loại lợi ích kinh tế: lợi ích kinh

tế xã hội, lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế cá thể Ba loại lợi ích kinh tế

này luôn có mối quan hệ biện chứng thống nhất, gắn bó hữu cơ, chế ước lẫn nhau, nhưng có tính độc lập tương đối không thể đồng nhất, không thể thay thế nhau Do đó, phải biết kết hợp hài hoà các loại lợi ích kinh tế này

sẽ góp phần tạo động lực phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.3 Đặc điểm của quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ ở cấp xã

Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC là quan

hệ lợi ích kinh tế được hình thành giữa các chủ thể tham gia sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

Như đã giới hạn tại phạm vi nghiên cứu, trong luận văn này chỉ xem xét

ba cặp quan hệ lợi ích cơ bản liên quan tới sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC bao gồm: Quan hệ lợi ích giữa người nông dân với doanh nghiệp, quan hệ giữa người nông dân với nhà khoa học, và quan hệ giữa nhà nước (chính quyền địa phương) với nông dân Sở dĩ chọn ba cặp quan hệ này vì đây là ba cặp quan hệ cơ bản nhất, trọng tâm liên quan tới sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

Về chủ thể QHLIKT trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC:

+ Nông dân

Khi xét một quy trình sản xuất nông sản nói chung trong cơ chế thị trường thì vai trò của nhà nông là rất quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất rau hữu cơ Trong việc trồng RHC, đòi hỏi người nông dân phải có sự

Trang 32

hiểu biết về kỹ thuật chăm sóc, biết tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt

Do RHC là mô hình trồng rau đòi hỏi sự khắt khe về quy trình từ khâu chọn giống, cách trồng, chăm sóc cho đến bảo quản sau thu hoạch thì mới có năng suất cao Do đó, người trồng RHC phải có trình độ chuyên môn về chăm sóc,

kỹ thuật chăm sóc nhất định Những kỹ thuật trồng và chăm sóc này không thể tự hình thành mà phải qua truyền đạt, tập huấn và đào tạo

Bên cạnh đó, độ hao phí lao động để trồng RHC cũng sẽ nhiều hơn khi trồng rau theo kiểu truyền thống Việc trồng và chăm sóc RHC về nguyên tắc không quá khác so với trồng rau thông thường Tuy nhiên, trồng RHC đòi hỏi nhiều công lao động hơn do phải chuẩn bị hết các vật tư sản xuất, từ: Tạo vùng đệm cách ly - không để các hóa chất độc hại từ thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học từ rưộng sản xuất thông thường lây nhiễm sang ruộng hữu cơ Phân bón - phải sử dụng nguyên liệu hữu cơ như: phân chuồng, lá rau xanh, cây cỏ tươi, rơm, lá khô,… được trộn đều với nhau rồi ủ trong một quy trình nhất định Nước tưới - phải tự đào giếng hoặc dẫn nước trực tiếp từ vòi về ruộng để đảm bảo không lây nhiễm hóa chất sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trong vùng Đến biện pháp phòng trừ sâu bệnh - thuốc trừ sâu hóa chất tuyệt đối bị cấm trong sản xuất hữu cơ, thay vào đó người nông dân phải áp dụng các biện pháp dân gian như chiết xuất nước tỏi, gừng để phun trừ sâu bệnh, trồng các loại cây xua đuổi côn trùng, bên cạnh đó, người dân cũng không được phép dùng thuốc trừ cỏ nên phải làm cỏ hoàn toàn bằng tay Chính vì vậy, hao phí lao động bỏ ra sẽ nhiều hơn bình thường

Đặc biệt, trong quản lý canh tác RHC, người nông dân phải ghi chép đầy

đủ các vật tư đầu vào, các biện pháp tác động, xử lý trong quá trình canh tác

và sản lượng thu hoạch được Các thông tin này cho thấy sự minh bạch trong sản xuất RHC, giúp tránh được việc tái sử dụng hóa chất hay trộn hàng từ bên ngoài

Trang 33

Do không được phép dùng các loại giống biến đổi gen, thuốc kích thích tăng trưởng nên thời gian sinh trưởng của RHC dài hơn rau thông thường, ví

dụ rau thông thường từ khi gieo đến khi thu hoạch chỉ khoảng 25 ngày, nhưng rau sản xuất theo quy trình hữu cơ sẽ phải mất 35 ngày Vì vậy đòi hỏi người nông dân cần phải có sự kiên trì, không vì lợi nhuận mà phá vỡ quy tắc

+ Doanh nghiệp

Doanh nghiệp ở đây thường là các hệ thống siêu thị, các doanh nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ hàng hóa nông sản, thương lái, công ty giống cây trồng,… Các doanh nghiệp kinh doanh RHC thường kinh doanh thêm nhiều mặt hàng khác, đặc biệt là thêm nhiều loại nông sản khác như: rau thường, thịt lợn, thịt gà, thịt bò sạch,…Hầu hết các doanh nghiệp và hệ thống siêu thị thực hiện việc thu gom và mua bán RHC thì luôn kết hợp thu mua các mặt hàng nông sản sạch khác Thực chất, khi xem xét trên thực tế, nguyên nhân khách quan của đặc điểm này là mặt hàng RHC không phải là mặt hàng

ưa chuộng của toàn dân, không phải ai cũng có nhu cầu mua RHC, nhất là ở Việt Nam Người dân vẫn thường chọn mặt hàng theo xu hướng giá rẻ và số lượng hơn là chất lượng Nếu chỉ kinh doanh một mình mặt hàng RHC thì lợi nhuận sẽ thấp, thậm chí có thể bị lỗ và phá sản Do đó, các doanh nghiệp và

hệ thống siêu thị phải kết hợp kinh doanh nhiều mặt hàng khác thì mới giảm được chi phí và tăng lợi nhuận kinh doanh

Các nhà doanh nghiệp có hoạt động kinh tế nhưng là “phi canh tác” thông qua việc thu mua mặt hàng RHC để chế biến, cung cấp trong nước và xuất khẩu Các doanh nghiệp có khả năng tài chính khá mạnh, có thể tiếp cận thị trường trong và ngoài nước Lợi nhuận thu được chủ yếu từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán và đó là mục đích cao nhất trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp thường có trình độ học vấn hơn người nông dân

Trang 34

nhưng lại ít phụ thuộc vào hệ thống chính trị và các tổ chức quần chúng, chỉ xem chính quyền như “đối tác làm ăn” Bên cạnh những đại lý nhỏ lẻ, thì RHC đa số được các chuỗi siêu thị lớn nhập vào để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng Các doanh nghiệp kinh doanh RHC phải đảm bảo yếu tố về vốn, điều đó góp phần bảo đảm quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong quá trình tiêu thụ RHC

+ Nhà khoa học

Trong sản xuất, để tạo nên những sản phẩm vừa có năng suất, chất lượng

và có giá trị kinh tế cao, vừa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như đơn đặt hàng của các doanh nghiệp thì vai trò của nhà khoa học cũng hết sức quan trọng Gồm các nhà khoa học từ Viện, Trường và các trạm, trại nghiên cứu địa phương, trung tâm kiểm định chất lượng sản phẩm, các cán bộ khuyến nông Nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao trong nghiên cứu khoa học công nghệ và khoa học xã hội Nhà khoa học không bó hẹp hoạt động trong phòng nghiên cứu mà năng động, chuyên nghiệp trong việc bắt tay với nhà nông, doanh nghiệp để hỗ trợ họ trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản nông sản Nhà khoa học phối hợp với Nhà nước thực hiện ứng dụng những

mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp trong việc quy hoạch các vùng canh tác phù hợp với điều kiện

cụ thể của địa phương

Hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và trong sản xuất RHC nói riêng hiện còn khá phân tán, chưa có sự liên kết hỗ trợ giữa các ngành, các chủ thể Bên cạnh đó, môi trường, điều kiện và phương tiện nghiên cứu của các nhà khoa học còn hạn chế, nhất là trong nước so với các nước phát triển trên thế giới

+ Nhà nước (chính quyền địa phương)

Nhà nước ở đây bao gồm các cơ quan quản lý sản xuất nông nghiệp từ

Trang 35

Trung ương đến địa phương, là chính quyền các cấp, các ngành có liên quan đến sản xuất nông nghiệp Đối với trồng RHC, nhà nước có vai trò ban hành các chính sách trong sản xuất và tiêu thụ RHC, phát triển hợp tác xã, hỗ trợ xây dựng hạ tầng, vốn, nhân lực, phát triển các vùng sản xuất mặt hàng RHC lớn, tập trung Ngoài ra, nhà nước còn giữ vai trò bảo trợ thông qua hệ thống pháp luật, ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện cho sản xuất RHC phát triển, vừa giám sát, điều hòa mối quan hệ giữa các chủ thể Khi tham gia vào mối liên kết giữa các chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ RHC, nhà nước đóng vai trò như một “nhạc trưởng” hay “chất kết dính” nhằm hỗ trợ người nông dân sản xuất và giúp cho doanh nghiệp biết rõ mình đang có cơ hội hay thách thức gì để từ đó xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp, lâu dài và ổn định; đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, đưa khoa học - công nghệ mới vào sản xuất một cách phù hợp; xây dựng hành lang pháp lý nhằm giúp các bên thực hiện liên kết hiệu quả; hỗ trợ trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đã được ký kết, đặc biệt là hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và người nông dân Tóm lại, nhà nước không chỉ phải tạo ra “cơ chế” để vừa khuyến khích, tạo cơ sở và động lực cho các chủ thể trong mối quan hệ mà còn phải tạo hành lang pháp lý buộc các chủ thể còn lại tuân thủ theo đúng pháp luật, tạo sợi dây liên kết giữa các chủ thể mang tính bền vững, lâu dài và hiệu quả

Ở chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, vừa là nơi thực thi cơ chế, chính sách của Chính phủ

và các bộ ngành ban hành, vừa là nơi trực tiếp quản lý người nông dân, các lĩnh vực trong nông nghiệp, nông thôn nên có nhiệm vụ vận dụng cơ chế quản

lý vĩ mô để đề ra cơ chế, chính sách phù hợp với địa phương

- Đặc điểm quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC:

Trang 36

Một là, QHLIKT như đã phân tích ở phần trên, đó là sự hợp tác cùng

phát triển của hai hay nhiều bên, không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh

tế Liên kết kinh tế giữa các chủ thể nhằm khắc phục những bất lợi về quy

mô, loại sản phẩm trong kinh tế thị trường Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, mỗi chủ thể đều có một hoặc vài lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt, hoặc có những sản phẩm đặc thù riêng Bên cạnh

đó, một loạt các hoạt động phụ mà bản thân chủ thể không thể tự mình sản xuất ra thành phẩm, hoặc tự thực hiện tiêu thụ được mà phải nhờ đến các chủ thể khác mới bảo đảm sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm ấy Muốn vậy, phải

có sự hợp tác giữa các chủ thể khác để tạo ra sản phẩm với quy mô lớn hơn và tiêu thụ được trên thị trường; giảm thiểu được bất lợi trong hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh

Hai là, quan hệ lợi ích giữa các chủ thể rất dễ xảy ra mâu thuẫn Sau khi

bán được hàng hóa, các chủ thể kinh tế (trong ngành RHC chủ yếu là người nông dân và doanh nghiệp) sẽ thu về được một số tiền Số tiền đó dùng để bù đắp chi phí sản xuất, phần còn lại chính là lợi nhuận Hay theo kinh tế học, lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí sản xuất Như vậy, lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh ngành RHC chính là phần thu nhập của nông dân và doanh nghiệp thu được thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh RHC Bên cạnh người nông dân và doanh nghiệp, trong mối quan hệ này còn có sự tham gia của nhà khoa học và nhà nước Và đây chính là những đối tượng trong mối QHLIKT ngành sản xuất RHC

Mục đích của việc tham gia mối quan hệ kinh tế của các chủ thể chính là khả năng để họ bù đắp chi phí và có lợi nhuận Lợi nhuận của người nông dân trồng RHC thu được chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như là giá cả thu mua, yếu tố khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng RHC cũng

Trang 37

như thị trường tiêu thụ… Những nhân tố này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và là nội dung thể hiện cụ thể cho thu nhập của nông dân và doanh nghiệp trong mối QHLIKT này

Vì cùng hướng đến lợi nhuận nên nếu mối QHLIKT giữa các chủ thể này được giải quyết hài hòa thì mối quan hệ này sẽ càng trở nên bền vững Nhưng ngược lại, nếu trong trường hợp quan hệ lợi ích giữa các bên bất thuận thì sẽ xảy ra tranh chấp giữa các chủ thể Mà thông thường phần thua thiệt thường rơi vào chủ thể là người nông dân trồng RHC

Sự gắn bó kém bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp trong việc thực

hiện quan hệ lợi ích kinh tế ngành RHC Hiệu quả của quan hệ lợi ích giữa

nông dân và doanh nghiệp ngành RHC được thể hiện qua sự gắn bó giữa hai chủ thể này trong quá trình từ việc trồng, sản xuất đến thu mua RHC Tuy nhiên, một đặc điểm khá nổi bật trong mối quan hệ này là sự gắn bó kém bền

vững giữa nông dân và doanh nghiệp ngành RHC

Người nông dân thường quan tâm đến lợi ích trước mắt, dễ phá vỡ hợp đồng với doanh nghiệp nếu thấy có lợi hơn Nên thường thì quan hệ lợi ích dễ xảy ra xung đột giữa nông dân và doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp đã bán trước ở giá thấp buộc phải gom hàng ở giá cao để xuất khẩu Gặp lúc khủng hoảng kinh tế, tín dụng khó khăn dẫn đến không mua được hàng để giao Nhiều doanh nghiệp bị thiệt hại về vật chất lẫn

uy tín của mình

Như vậy, xuất phát từ giá mà mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp còn chưa bền vững thể hiện ở sự phá vỡ hợp đồng Việc giá cả thị trường là công cụ chi phối rất lớn đến lợi ích của các chủ thể ngành RHC Nó

là biểu hiện rõ nhất cho sự gắn kết thiếu bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng RHC

Phần thiệt thường rơi vào người nông dân trong mối quan hệ lợi ích kinh

Trang 38

tế ngành RHC Trong mối quan hệ kinh tế này, nông dân đóng vai trò là nguồn cung hàng nhưng thường phải chịu thiệt thòi về lợi ích Vì đặc trưng là ngành sản xuất nông nghiệp nên RHC cũng giống như nhiều cây trồng khác chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên Vì vậy, trong nhiều trường hợp, dù

giá RHC tăng nhưng nông dân vẫn khổ do mất mùa không có rau để bán

Ngoài ra, việc người nông dân làm ra sản phẩm, nhưng doanh nghiệp lại

là người quyết định giá, mọi mua bán cũng đều thông qua doanh nghiệp nên tình trạng ép giá vào đầu vụ là không thể tránh khỏi

Ba là, QHLIKT giữa các chủ thể chịu ảnh hưởng lớn của cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế Xu hướng cạnh tranh ngày càng khốc liệt ở hầu hết tất cả các lĩnh vực sản xuất, tất cả các ngành hàng, là đặc trưng cơ bản trong thị trường thế giới hiện nay Nhất là đối với mặt hàng RHC, mặt hàng này còn chưa được ưa chuộng trong thị trường trong nước vì vậy cần phải hướng tới xuất khẩu nhiều hơn Để xuất khẩu được ra các thị trường khó tính, các chủ thể cần liên kết với nhau chặt chẽ để tạo ra sản phẩm RHC đạt chuẩn chất lượng, có khả năng cạnh tranh với các mặt hàng hữu cơ khác của các nước trên thế giới

1.1.2.4 Vai trò của quan hệ lợi ích kinh tế đối với các chủ thể trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ

- Giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp

Nhà doanh nghiệp đầu tư vật tư, bao tiêu sản phẩm và đảm bảo tiêu thụ đầu ra cho người nông dân Nhà nước (chính quyền địa phương) có thể đứng

ra tổ chức việc liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa các doanh nghiệp với người nông dân Nhà khoa học thì tạo ra giống, đào tạo quy trình kỹ thuật sản xuất cho người nông dân

Điều đó sẽ giúp cho người nông dân an tâm sản xuất, có lợi nhuận đảm bảo đời sống và phát triển kinh tế

Trang 39

- Thông qua mối quan hệ lợi ích, việc sản xuất mang tính quy mô cao, hiện đại, hạn chế rủi ro và mang lại hiệu quả cao

Vì khi tham gia vào mối quan hệ lợi ích thì ngay từ đầu các chủ thể sẽ có phương hướng sản xuất cụ thể như: Giống là gì? Kỹ thuật như thế nào? Ai chịu trách nhiệm từng khâu ra sao? Đầu ra ai bao tiêu? Giá cả được định sẵn

có sự thống nhất từ đầu và thị trường đã được các doanh nghiệp định hướng theo hoạt động kinh doanh thường xuyên của họ Từ đó, người sản xuất và người kinh doanh lên phương án và hạch toán sản xuất, kinh doanh ngay từ ban đầu để biết được chi phí và lợi nhuận một cách chủ động Với trí tuệ và sức mạnh tổng hợp của liên kết các nhà chắc chắn sẽ hạn chế rủi ro và thất bại trong sản xuất Thực tế chứng minh những nơi thực hiện mối quan hệ này tốt,

cả doanh nghiệp và nông dân đều phấn khởi khi vụ mùa nào cũng có lợi nhuận cao và ổn định so với những hộ nông dân sản xuất tự phát và nhỏ lẻ, manh mún, không có sự liên kết hoặc hợp tác với nhau

- Quan hệ lợi ích giúp cho các chủ thể phản ứng nhanh với các thay đổi của thị trường

Tạo ra sự đa dạng hoá mẫu mã và chủng loại sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu của thị trường Trong khâu thương mại, quan hệ lợi ích sẽ làm cho sản phẩm được lưu thông nhanh hơn thông qua hệ thống liên kết của các chủ thể

Đới với người nông dân, quan hệ lợi ích sẽ đảm bảo được thị trường tiêu thụ và giảm rủi ro về giá cả do đã có hợp đồng sẵn trước đó Ngoài ra, người nông dân còn được hỗ trợ về giống, vốn, kỹ thuật và các thông tin trên thị trường nên khắc phục được nhiều hạn chế của người nông dân, đồng thời tạo điều kiện cho hộ nông dân tiếp cận với công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến để góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường

Trang 40

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ

1.2.1 Nội dung quan hệ lợi ích

1.2.1.1 Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân với doanh nghiệp

Đối với mối quan hệ này thì đó chính là hoạt động liên kết trong việc mua bán đầu vào và đầu ra giữa người nông dân và các doanh nghiệp Các doanh nghiệp ở đây có thể là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước Trong mối quan hệ với nhà nông, đa phần doanh nghiệp sẽ quyết định đầu vào và đầu ra của mặt hàng RHC, doanh nghiệp quyết định loại sản phẩm, chất lượng, sản lượng cần được sản xuất cũng như quy trình kỹ thuật, đầu tư phục vụ yêu cầu của thị trường Chính vì vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp là liên kết, phối hợp với nhà nước, nhà khoa học để hỗ trợ người nông dân về: nguồn vốn, giống cây rau, kỹ thuật chăm sóc và bao tiêu sản phẩm với giá thỏa thuận nhằm bảo đảm lợi ích của cả hai phía, đồng thời doanh nghiệp cũng tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu để có thể cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu khắt khe của thị trường

Doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho người nông dân đầu vào để họ sản xuất, đồng thời cũng mua lại sản phẩm của họ sau khi thu hoạch Từ đó ta có thể thấy rằng các sản phẩm đầu ra của người nông dân lại chính là nguyên liệu đầu vào cho quá trình thực hiện lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp Mối quan hệ này diễn ra thông qua các hợp đồng có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản để ký kết mua bán đầu vào và đầu ra Điều đó sẽ giúp tránh được tình trạng cung vượt quá cầu hoặc ngược lại và hơn nữa để tạo tâm lý yên tâm cho người nông dân khi tham gia sản xuất, và các doanh nghiệp cũng có sản phẩm cho quá trình sản xuất của mình

1.2.1.2 Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân với nhà khoa học

Mối quan hệ giữa nông dân với nhà khoa học được thể hiện thông qua

Ngày đăng: 12/11/2021, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. C.Mác và Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 18
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ Matxcơva (tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 23
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Matxcơva (tiếng Nga)
Năm: 1995
6. Nguyễn Minh Châu và Đoàn Hữu Tiến, Tăng cường liên kết 4 nhà để phát triền sản xuất trái cây hàng hóa, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở ĐBSCL, Tham luận tại Hội thảo: Liên kết 4 nhà - giái pháp cơ bán góp phần xây dựng nông thôn mới ờ đồng băng sông Cứu Long, ngày 26/7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường liên kết 4 nhà để phát triền sản xuất trái cây hàng hóa, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở ĐBSCL
7. David Ricardo (2002), Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa
Tác giả: David Ricardo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Đồng Quốc Dũng (2007), Quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình hình thành các khu đô thị mới ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình hình thành các khu đô thị mới ở Hà Nội
Tác giả: Đồng Quốc Dũng
Năm: 2007
9. Vũ tiến Dũng (2009), Tăng cường mối quan hệ nông dân – doanh nhân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 800 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường mối quan hệ nông dân – doanh nhân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ tiến Dũng
Năm: 2009
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, NXB Chính trị Quốc gia, II, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Bích Hà, Xây dựng vùng nguyên liệu mía, sắn – Gắn kết trách nhiệm cảa "bốn nhà”, báo Phú Yên số ra ngày 3-8-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bốn nhà
13. Đinh Quang Hải, Liên kết “4 nhà” – nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu lịch sử 2007 Số 4; Thư viện Học viện chính trị Quốc Gia HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết “4 nhà” – nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
14. Lê Phong Hải, Liên kết bốn nhà ở đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn Bến Tre, Tham luận hội tại Hội thảo: Liên kết 4 nhà – giải pháp cơ bản góp phần xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long, ngày 26/7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết bốn nhà ở đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn Bến Tre
15. Hồ Quế Hậu (2008), Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân, Tạp chí Công nghiệp, kì I, tháng 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2008
16. Trần Văn Hiếu, Liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
17. Trần Văn Hiếu (2005), Thực trạng và giải pháp cho sự liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp cho sự liên kết “bốn nhà” "trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Hiếu
Năm: 2005
18. Trần Văn Hiếu, Xử lý đúng đắn vấn đề lợi ích trong liên kết kinh tế giữa kinh tế hộ nông dân và doanh nghiệp Nhà nước, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý đúng đắn vấn đề lợi ích trong liên kết kinh tế giữa kinh tế hộ nông dân và doanh nghiệp Nhà nước
19. Phạm Thị Thu Hồng, Liên kết bốn nhà trong nuôi cá tra – Thực trạng và giải pháp, Tạp chí nông nghiệp nông thôn, số 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết bốn nhà trong nuôi cá tra – Thực trạng và giải pháp
20. Hợp tác xã Vân Nội (2019-2020), Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh
22. Đinh Duy Hưng (2017); Giải pháp tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thu rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thu rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
23. Vũ Trọng Khải, “Liên kết bốn nhà”: Chủ trương đúng vẫn tắc, Thời báo kinh tế Sài Gòn 6/6/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Liên kết bốn nhà”: Chủ trương đúng vẫn tắc
24. Trần Duy Luân, Phát triển sản xuất rau hữu cơ tại địa bàn thành phố Bắc Kạn – tỉnh Bắc Kạn; Luận ăn Thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp; Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất rau hữu cơ tại địa bàn thành phố Bắc Kạn – tỉnh Bắc Kạn

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Đặc điểm dân số xã Vân Nội năm 2020 - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.2. Đặc điểm dân số xã Vân Nội năm 2020 (Trang 62)
Bảng 2.3. Chi phí, năng suất, lợi nhuận đối với sản xuất cây khoai tây - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.3. Chi phí, năng suất, lợi nhuận đối với sản xuất cây khoai tây (Trang 67)
Sơ đồ thể hiện mối liên kết Bốn nhà tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
Sơ đồ th ể hiện mối liên kết Bốn nhà tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh (Trang 68)
Bảng 2.4. Tình hình thực hiện hợp đồng giữa người nông dân và các  doanh nghiệp trong tiêu thụ RHC tại xã Vân Nội năm 2019 - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.4. Tình hình thực hiện hợp đồng giữa người nông dân và các doanh nghiệp trong tiêu thụ RHC tại xã Vân Nội năm 2019 (Trang 73)
Sơ đồ thể hiện mối liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
Sơ đồ th ể hiện mối liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp (Trang 76)
4. Hình thức thanh toán của HTX/Doanh nghiệp đối với người bán rau - Quan hệ lợi ích kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng rau hữu cơ trên địa bàn xã vân nội, huyện đông anh, thành phố hà nội hiện nay
4. Hình thức thanh toán của HTX/Doanh nghiệp đối với người bán rau (Trang 121)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w