1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của việt nam với quyền bình đằng giới tại điều 3 trong công ước ICESCR

24 69 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 114,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là một tiền đề quan trọng trong việc ràng buộc các quốc gia thànhviên của Công ước này thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định của Công ướcnày về vấn đề bình đẳng giới trong

Trang 1

Đề bài Phân tích sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với Quyền bình đẳng giới (Điều 3) trong Công ước

ICESCR Sinh viên thực hiện:

Họ và tên:

MSSV:

Lớp:

Hà Nội – 11/2021

Trang 2

Có thể nói các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa là một trong những nhómquyền cơ bản và quan trong nhất của quyền con người được cộng đồng thế giớicông nhận thông qua Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa năm

1966 Trong đó, một trong những nội dung mang tính quan trọng và có tác độnglớn đến tiến trình bình đẳng xã hội nói chung và bình đẳng giới nói riêng chính làviệc yêu cầu các quốc gia thành viên của công ước trên cam kết đảm bảo quyềnbình đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Côngước trên quy định Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vớithế giới, vấn đề bình đẳng giới đang cần được quan tâm hơn bao giờ hết Đặc biệt

là vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục Bởi việc thực hiện bình đẳng giớitrong lĩnh vực này không chỉ xóa bỏ đi định kiến về giới đem lại sự thành công chotiến trình bình đẳng giới mà còn nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái, đảm bảoquyền con người được thực thi một cách đầy đủ mà không lo bị giới hạn bởi giớitính của từng cá nhân

Nhận thức được sự tiến bộ và tính nhân văn của Công ước quốc tế về cácquyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Việt Nam đã chủ động gia nhập Côngước trên vào ngày 24/9/1982 Vậy sau một thời gian dài gia nhập Công ước trên,Việt Nam đã có những bước đi cụ thể nào trong thực hiện bình đẳng giới đối vớilĩnh vực giáo dục?

1 Quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới và bình đẳng giới trong lĩnhvực giáo dục

a Quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới

Để nói về quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới, tôi xin trích dẫnĐiều 3 Phần II ICESCR năm 1966 như sau:

"Các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ

Trang 3

Với trích dẫn trên, chúng ta có thể thấy quan điểm của ICESCR về vấn đề bìnhđẳng giới là hết sức triệt để Mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được quy địnhtrong Công ước này đều phải được thi hành một cách đầy đủ đối với mọi cá nhânkhông phân biệt giới tính của họ Ngoài ra Điều 3 của Công ước này cũng đóng vaitrò là một ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên trong việc cam kếtthực hiện tiến trình bình đẳng giới trong chính quốc gia đó

Đây cũng là một tiền đề quan trọng trong việc ràng buộc các quốc gia thànhviên của Công ước này thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định của Công ướcnày về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục

b Quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục

Về quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục,bên cạnh tiền đề là Điều 3 Phần II ICESCR năm 1966 tôi xin trích dẫn khoản 1Điều 13 Phần III ICESCR năm 1966 như sau:

"Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được họctập Các quốc gia nhất trí rằng giáo dục phải hướng vào việc phát triển đầy đủ nhâncách và ý thức về nhân phẩm, và phải nhằm tăng cường sự tôn trọng các quyền và

tự do cơ bản của con người Các quốc gia cũng nhất trí rằng giáo dục cần phải giúpmọi người tham gia hiệu quả vào xã hội tự do, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung vàtình hữu nghị giữa các dân tộc và các nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo,cũng như nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động duy trì hoà bình của Liên HợpQuốc."

Với quy định trên, chúng ta có thể thấy một lần nữa ICESCR nhấn mạnh việctiếp cận cơ hội giáo dục và học tập là dành cho tất cả mọi người không phân biệtgiới tính Hơn nữa tại Điều này, ICESCR cũng quy định các quốc gia thành viênphải công nhận rằng vấn đề giáo dục phải hướng trọng tâm vào việc "tôn trọng cácquyền và tự do cơ bản của con người" Đây là một sự khẳng định gián tiếp về

Trang 4

quyền tiếp cận cơ hội giáo dục và tự do lựa chọn cơ hội giáo dục của con người baogồm cả hai giới.

Với tiền đề là Điều 3 của Công ước này, việc thực hiện bình đẳng giới tronglĩnh vực giáo dục tuy không được trực tiếp đề cập nhưng lại là một yêu cầu bắtbuộc đối với các nước thành viên tham gia thông qua một loạt những yêu cầu cụthể Dựa trên những nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 13 ICESCR năm

1966, những quy định đó là :

"2 Nhằm thực hiện đầy đủ quyền này, các quốc gia thành viên Công ước thừanhận rằng:

a) Giáo dục tiểu học là phổ cập và miễn phí với mọi người;

b) Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng giáo dục miễnphí, phải làm cho giáo dục trung học dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả giáodục trung học kỹ thuật và dạy nghề, trở nên sẵn có và đến được với mọi người.c) Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng giáo dục miễnphí, phải làm cho giáo dục đại học trở thành nơi mọi người có thể tiếp cận một cáchbình đẳng trên cơ sở năng lực của mỗi người;

d) Giáo dục cơ bản phải được khuyến khích hoặc tăng cường tới mức cao nhất

có thể được cho những người chưa tiếp cận hoặc chưa hoàn thành toàn bộ chươngtrình giáo dục tiểu học

e) Việc phát triển một hệ thống trường học ở tất cả các cấp phải được thực hiệntích cực, một chế độ học bổng thích đáng phải được thiết lập và những điều kiệnvật chất cho đội ngũ giáo viên phải được cải thiện không ngừng."

Dựa trên những quy định này, chúng ta có thể rút ra một số nhận định cơ bản

về quan điểm của ICESCR về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục

Trước hết, xuyên suốt những quy định có liên quan đến vấn đề giáo dục,

Trang 5

đều có cơ hội tiếp cận giáo dục Tuy nhiên, tại điểm a khoản 2 Điều 13 ICESCRnăm 1966 còn nêu cụ thể hơn vấn đề này trong việc yêu cầu các quốc gia thànhviên phải đảm bảo thực hiện giáo dục tiểu học phải mang tính phổ cập và miễn phíđối với tất cả mọi người Có nghĩa là tất cả công dân của các quốc gia thành viênkhông phân biệt giới tính, tôn giáo, đều phải được tiếp cận giáo dục tiểu học vàkhông phải chi trả cho chương trình giáo dục tiểu học này.

Hơn nữa, không dừng lại ở việc yêu cầu các quốc gia thành viên cung cấpchương trình giáo dục tiểu học cơ sở mang tính phổ cập và miễn phí Tại khoản b,khoản c Điều 13 của Công ước này, ICESCR còn khuyến khích các quốc gia thànhviên phải chủ động tích cực trong việc hoàn thiện và áp dụng hệ thống giáo dụctrung học, đại học miễn phí dành cho tất cả mọi người Đặc biệt tại khoản c khi nói

về vấn đề tiếp cận giáo dục bậc đại học, ICESCR có nêu một nội dung nhưsau:"phải làm cho giáo dục đại học trở thành nơi mọi người có thể tiếp cận mộtcách bình đẳng trên cơ sở năng lực của mỗi người" Nội dung này có thể hiểu rằng,ICESCR muốn nhấn mạnh việc tiêp cận giáo dục đại học phải có tính bình đẳngdựa trên năng lực nhận thức, học vấn cũng như tài chính của từng cá nhân Cácquốc gia thành viên không được căn cứ dựa trên giới tính, tôn giáo, để quyết địnhhoặc tạo ra những rào cản về quy định pháp luật, chính sách từ đó hạn chế cơ hộitiếp cận giáo dục đại học đối với công dân của mình

2 Sự tương tích của hệ thống pháp luật Việt Nam đối với ICESCR về vấn đề bìnhđẳng giới trong giáo dục

Khi nói về vấn đề bình giới nói chung và vấn đề bình đẳng giới trong lĩnhvực giáo dục nói riêng Chúng ta đều phải thừa nhận rằng Việt Nam dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một trong những quốc gia rất “hăng hái”trong việc thực hiện tiến trình bình đẳng giới Điều này đã được thể hiện rõ ràngtrong tiến trình lịch sử từ khi giành được độc lập từ tay thực dân Pháp đến giai đoạn

Trang 6

Không chỉ dừng lại ở đó, vấn đề bình đẳng giới tại Việt Nam hiện nay đã cónhững quy định pháp luật rõ ràng với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới năm 2006.Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở Luật Bìnhđẳng giới mà còn được chú ý xây dựng ở trong các bộ luật khác như Luật Giáo dụcnăm 2019, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 Ngoài ra, vấn đề bình đẳng giớitrong lĩnh vực giáo dục còn được quan tâm lồng ghép trong những văn bản phápluật có liên quan.

Vậy với hệ thống pháp luật được đề cập như trên thì tính tương thích đối vớiICESCR về vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục được thể hiện như thế nào? Tôixin nêu một số ví dụ tiêu biểu như sau

Trước hết, theo Điều 26 Hiến Pháp 2013 có nội dung như sau:

"1 Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách đảm bảoquyền và cơ hội bình đẳng giới

2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện,phát huy vai trò của mình trong xã hội

3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới."

Với nhưng quy định pháp luật trên, đây là ví dụ rõ ràng nhất cho việc hệthống pháp luật Việt Nam có tính tương thích cao với ICESCR mà cụ thể là Điều 3Phần II ICESCR Nhà nước Việt Nam công nhận quyền bình đẳng của cả công dânnam và nữ trong mọi mặt có nghĩa là trong lĩnh vực giáo dục cũng không phải làngoại lệ Ngoài ra, theo khoản 2, khoản 3 Điều 26 Hiến Pháp cũng thể hiện tinhthần bình đẳng giới phù hợp với những quy định của ICESCR

Theo khoản 1 Điều 28 Luật Giáo dục 2019, pháp luật Việt Nam đã nhấnmạnh vấn đề bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo bồi dưỡng giữa nam và nữ nhưsau:

Trang 7

Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến lớp năm.Tuổi của học sinh vào lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;

Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hếtlớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học Tuổi củahọc sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;

Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mườiđến lớp mười hai Học sinh vào lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm

Từ quy định trên ta có thể thấy, tinh thần bình đẳng giới của khoản a Điều 13Phần III ICESCR được thể hiện rõ thông việc Luật Giáo dục 2019 không sử dụng

độ tuổi của nam, nữ là một công cụ để phân biệt thơi gian tiếp cận chương trìnhgiáo dục tiểu học, đảm bảo tính phổ cập đối với mọi người

Hiện nay, do ảnh hưởng của định kiến giới nên trong lĩnh vực giáo dục vàđào tạo vẫn còn khoảng cách giới Tỷ lệ nữ được học tập, bồi dưỡng còn thấp hơn

so với nam, dẫn đến tỷ lệ lao động nữ được đào tạo, bồi dưỡng thấp Theo kết quảđiều tra lao động việc làm năm 2016, tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo là 81,6%,cao hơn nam giới (76,7%), trong khi lao động nữ tham gia thị trường lao động ởViệt Nam chiếm tỷ lệ đến 49% Vì vây, pháp luật quy định nữ cán bộ công chức,viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu thángtuổi được hỗ trợ nhằm thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Cụ thể hóa quy định về hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức khi thamgia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi, Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồidưỡng cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020 quy định rõ “Có cơ chếkhuyến khích cán bộ, công chức, viên chức nữ, người dân tộc thiểu số; cán bộ,công chức, viên chức công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng

Trang 8

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn học tập, nâng cao trình độ, năng lựclàm việc” Đồng thời, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chínhphủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có quy định riêng đối với

nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng, cụ thể: “Nhànước có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ công chức,viên chức là nữ, là người dân tộc thiểu số” Bên cạnh đó, Nhà nước xây dựng chínhsách nhằm thu hút người học tham gia học nghề, đặc biệt ưu tiên đối với người học

nữ “Người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đàotạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phíđào tạo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ” Quy định này đảm bảo cân bằng

về giới đối với học viên học nghề, nhà giáo dạy nghề, cũng như tạo cân bằng vềgiới trong các nghề đào tạo

Từ những thông tin trên chúng ta có thể thấy, bên cạnh những bộ Luật cầnthời gian dài để nghiên cứu và đưa vào thực tiễn thì Chính phủ Việt Nam cũng cónhững văn bản quy phạm pháp luật kịp thời giải quyết những vướng mắc, khó khăntrong việc thực hiện tiến trình bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục Điều một lầnnữa thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với ICECSR và tính tương thích cao đối vớicác quy định của Công ước mà cụ thể ở đây là Điều 13 Phần III ICECSR năm1966

Có thể thấy, từ khi gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa năm 1966 Chính phủ Việt Nam không chỉ phát huy những thành tựucủa hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề bình đẳng giới nói chung và trong lĩnhvực giáo dục nói riêng Mà Chính phủ Việt Nam còn liên tục nghiên cứu, hoànthiện hệ thống pháp luật để đảm bảo hệ thống pháp luật liên quan không lỗi thời sovới tiến trình phát triển của xã hội Có thể nói, tuy xã hội Việt Nam một số nơi còngiữ những tư tưởng lạc hậu về định kiến giới đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục

Trang 9

nhưng đây chỉ là thiểu số và Chính phủ Việt Nam đang hàng ngày cải thiện vấn đềnày bằng hệ thống pháp luật của mình.

Trang 10

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966

2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

8 Công ước ICESCR

9 Bài báo: “Bình đẳng giới tại Việt Nam: còn nhiều khoảng trống”, TháiYến/Báo Đại biểu nhân dân

tai-viet-nam-con-nhieu-khoang-trong-499257.tld

http://www.congdoan.vn/tin-tuc/cong-tac-nu-cong-gioi-510/binh-dang-gioi-10.“Việt Nam trong tiến trình nỗ lực tham gia các công ước quốc tế về quyềncon người”, Ly Anh, Tạp chí nghiên cứu, hướng dẫn công tác tổ chức xâydựng Đảng của ban tổ chức trung ương

tien-trinh-no-luc-tham-gia-cac-cong-uoc.aspx

Trang 11

http://xaydungdang.org.vn/Home/nhan_quyen/2020/13633/Viet-Nam-trong-Đề bài: Phân tích sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với

một quyền trong công ước ICESCR Cụ thể trong bài này là Quyền bình đẳng giữanam và nữ tại Điều 3 của Công ước

Việt Nam gia nhập các điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người vàođầu những năm 80 của Thế kỷ XX, ngay thời điểm đủ điều kiện tham gia các Côngước quốc tế về quyền con người sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc năm

1977 Theo đó các công ước liên quan đến quyền con người cũng đã được ký kếtnhư: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), Công ước về cácQuyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phânbiệt chủng tộc 1969, Đây đều là những Công ước quốc tế cơ bản về quyền conngười Trong đó Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) được gianhập ngày 24-9-1982 Từ khi gia nhập đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lựctrong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người,xem đó là nguyên tắc cơ bản của mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đấtnước Đây cũng là sự hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn khổ pháp lý vàthể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên Để thấy rõ hơn điều này, chúng ta thửphân tích một điều luật trong Công ước ICESCR và xem Việt Nam đã thực hiệnđiều này như thế nào qua thực tiễn và các quy định pháp luật hiện hành

Điều luật được nhắc tới trong bài này chính là Điều 3, Công ước ICESCR vớinội dung “Các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và

nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Công ước này quy định.” Điềunày được hiểu rằng mọi quốc gia đều phải cam kết đảm bảo việc đối xử bình đẳnggiữa nam và nữ trên các lĩnh vực về kinh tế, xã hội và văn hóa Đương nhiên ViệtNam cũng không ngoại lệ bởi khi tham gia vào Công ước này thì phải đảm bảođược các quyền con người cơ bản đã được quy định Điều này thể hiện qua các quyđịnh trong pháp luật Việt Nam cũng như thực trạng trong đời sống xã hội, văn hóatại đây

Trang 12

Về mặt pháp luật, có rất nhiều quy phạm pháp luật tương thích nhằm khẳngđịnh việc bình đẳng giữa nam và nữ tại Việt Nam Bởi Vấn đề bình đẳng giới làmột trong những chính sách được Đảng và Nhà nước quan tâm; thể hiện qua nhữngquy định rõ ràng và xuyên suốt trong các bản Hiến pháp cũng như trong hệ thốngpháp luật Việt Nam Ngay từ bản Hiến pháp 1946 cũng khẳng định “Không phânbiệt nòi giống, gái trai, (Điều 1); Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọiphương diện (Điều 9)” Cho tới nay sau nhiều lần sửa đổi, Hiến pháp 2013 cũngvẫn giữ được điều này thể hiện qua các điều luật cụ thể.

Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối

xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Điều này khẳng địnhquyền được bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người và luôn được pháp luậtbảo vệ quyền này, không ai được phép xâm phạm hại tước bỏ đi quyền này Không

ai bị đối xử một cách không công bằng dựa trên bất kì một tiêu chí nào: giới tính,màu da, mọi người đều được đối xử một cách công bằng trên mọi lĩnh vực kinh tế,văn hóa, xã hội hay đời sống chính trị

Điều 26 khẳng định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt ; Nghiêmcấm phân biệt đối xử về giới” Điều 16 công nhận mọi nguwoif đều có quyền bìnhđẳng thì trong điều này rõ ràng hơn khi tiêu chí xác định là giới tính, công dân namhay nữ đều bình đẳng trước pháp luật Hơn thế tất cả những hành vi được coi là códấu hiệu phân biệt đối xử đều bị nghiêm cấm

Điểu 36: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tựnguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Đisâu hơn nữa trong vấn đề hôn nhân thì Hiến pháp khẳng định nam và nữ đều cóquyền kết hôn và ly hôn không như trước đây việc kết hôn không do chủ thể củaquan hệ này định đoạt mà do bố mẹ, hay khi kết hôn thì người phụ nữ không cóquyền ly hôn Không những thế cũng giúp giải quyết vẫn nạn khi xưa, một chồng

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w