Để có được một cái nhìn tổng quát về các mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông nhìn từ hành lang pháp lý, cơ cấu nguồn thu, sự uyển chuyển trong thay đổi mô hình kinh doanh báo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN TUYẾT HOA
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ KINH NGHIỆM THAM CHIẾU CHO BÁO CHÍ VIỆT NAM
(Khảo sát các trường hợp Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Văn Dững
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Văn Dững
Các nội dung trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Tuyết Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN-THỰC TIỄN VẤN ĐỀ KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG 10
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 30
1.3 THỰC TIỄN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG Ở CÁC NƯỚC KHẢO SÁT 38
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 46
2.1 GIỚI THIỆU ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 46
2.2 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG DIỆN KHẢO SÁT THEO TỪNG QUỐC GIA 50
2.3 NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT 80
CHƯƠNG 3: MẤY KINH NGHIỆM THAM CHIẾU CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM 85
3.1 NHU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HỌC HỎI KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 85
3.2 MẤY VẤN ĐỀ CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM HIỆN NAY 91
3.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC CÓ THỂ THAM CHIẾU CHO VIỆT NAM 100
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 129
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kinh tế là một lĩnh vực lâu đời và là nền móng cho sự phát triển của một
xã hội Xét về quan điểm hệ thống, cùng với kinh tế, báo chí cũng là một tiểu hệ thống cấu thành nên hệ thống xã hội nói chung Với mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành trong cùng một hệ thống, báo chí và kinh tế có sự ràng buộc, chi phối lẫn nhau và cùng vận động trong những điều kiện lịch sử xác định
Mối giao thoa, tương tác giữa kinh tế và báo chí là không thể tránh khỏi, bởi nếu không có kinh tế làm tiền đề vật chất, thì báo chí, truyền thông cũng khó lòng tạo được những cú “hích” - những đột phá mới mẻ để phát triển thành một lĩnh vực “nóng”, linh hoạt, phản ánh được mọi mặt, mọi vận động của cuộc sống Và ngược lại, báo chí cũng là “nhiệt kế khổng lồ” của nền kinh tế, đo đạc, thể hiện những bước thăng trầm của những chuyển động kinh
tế diễn ra trong từng lĩnh vực, từng mặt trận của đời sống xã hội
Việc nhìn nhận một cách nghiêm túc rằng, báo chí truyền thông là một ngành kinh tế, thậm chí là ngành kinh tế mũi nhọn đã được nhiều nước có nền truyền thông phát triển như Anh, Mỹ, Thụy Điển khẳng định và chú trọng đầu tư nghiên cứu Còn ở khu vực Đông Nam Á, tuy việc quan tâm đến kinh
tế báo chí truyền thông có chậm hơn các nước phát triển, nhưng đã những nước như Singapore, Malaysia, đã biết tận dụng một cách có hiệu quả các
mô hình làm kinh tế báo chí, với sự hợp nhất của hành lang pháp lý, sự minh bạch trong quyền sở hữu báo chí truyền thông và cơ cấu nguồn thu cùng với
sự linh hoạt trong thay đổi mô hình kinh doanh báo chí truyền thông
Trong khi đó, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á thời gian qua đã biến ý tưởng thành lập Cộng đồng ASEAN thành hiện thực dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và
Trang 6Cộng đồng Văn hóa - Xã hội Trong đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ chính thức có hiệu lực vào cuối năm 2015, với mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề Nếu theo mục tiêu này thì báo chí truyền thông cũng là một lĩnh vực có cơ hội hội nhập và phát triển Đơn giản vì sản phẩm báo chí cũng là sản phẩm hàng hóa - một loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa phục vụ nhu cầu tinh thần Báo chí truyền thông,
vì thế, cũng phải hoạt động theo quy luật của nền kinh tế thị trường trong đó nổi trội nhất là quy luật cung - cầu Muốn bán được nhiều sản phẩm - dịch vụ, muốn sản phẩm - dịch vụ của mình tiếp cận và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng mục tiêu, thì doanh nghiệp phải có thương hiệu, để phân biệt mình với rất rất nhiều những doanh nghiệp với các loại sản phẩm - dịch vụ khác trên thị trường Để có thể tiếp cận và đáp ứng được nhu cầu của công chúng, trước hết, các tòa soạn báo cần xây dựng chiến lược tiếp thị hiệu quả, nhằm đưa công chúng đến gần với thương hiệu của mình, cũng như xây dựng thương hiệu của mình ngày càng vững mạnh hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Trong những năm vừa qua, dưới tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, hoạt động báo chí truyền thông của Việt Nam cũng trở nên rất sôi động Báo chí phát triển nhanh về số lượng ấn phẩm, các loại hình truyền thông, các loại hình báo chí phát triển đa dạng (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử) Tính đến tháng 5 năm 2015, toàn quốc có 840 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm, trong đó các cơ quan Trung ương có 86 báo, 507 tạp chí; địa phương có 113 báo, 132 tạp chí; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và
265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí Mạng lưới phát thanh, truyền hình có 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có 3 đài phủ sóng mặt đất toàn quốc, gồm có Đài Tiếng nói
Trang 7Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC;
64 đài phát thanh, truyền hình địa phương Hiện tại, Việt Nam có 178 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 103 kênh chương trình truyền hình, 75 kênh chương trình phát thanh Bên cạnh đó là sự phát triển nhanh của đội ngũ phóng viên, biên tập viên (gần 18.000 nhà báo được cấp phép chuyên nghiệp để hoạt động) [14], đội ngũ này ngày càng được trang bị những phương tiện kỹ thuật hiện đại, phương pháp tiếp cận nguồn tin, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ được nâng cao; tòa soạn được trang bị cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính và từng bước nâng cao về chất lượng
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thực tế đòi hỏi các cơ quan báo chí - với vai trò như những doanh nghiệp - phải có tư duy chiến lược
về vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu của mình, nếu muốn tồn tại và phát triển được trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Để làm được điều đó, Việt Nam cần có một môi trường tốt trong một thể chế xã hội hiện đại, đổi mới nhằm tạo ra một mô hình phát triển kinh tế báo chí hợp lý, có hiệu quả Trong đó, hành lang pháp lý cho kinh tế báo chí như thế nào, làm thế nào để hợp nhất trong quyền sở hữu báo chí, vấn đề phát triển nguồn thu trong báo chí truyền thông ra sao hay sự thay đổi về mô hình kinh tế truyền thông diễn ra như thế nào là những điểm mấu chốt nhất
Để có được một cái nhìn tổng quát về các mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông nhìn từ hành lang pháp lý, cơ cấu nguồn thu, sự uyển chuyển trong thay đổi mô hình kinh doanh báo chí truyền thông, từ đó rút ra được những bài học về xây dựng mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông
hiệu quả cho Việt Nam, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông của một số nước Đông Nam Á và kinh nghiệm tham chiếu cho báo chí Việt Nam” cho luận văn cao học báo chí của mình
Trang 82 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, vấn đề kinh tế báo chí đã và đang được nhiều chuyên gia kinh tế, quan hệ công chúng (PR) và báo chí đặc biệt quan tâm Nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được đưa ra mổ xẻ, bàn luận
Trên thế giới, một số đề tài được nghiên cứu về vấn đề này nhưng ở
những khía cạnh khác nhau Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông - Sự ra đời một ý thức hệ mới, hai ông đã phân tích và chỉ rõ ảnh hưởng sâu sắc của
truyền thông đại chúng đối với công chúng, đồng thời đặc biệt lưu tâm đến
vấn đề "khảo sát khâu tiếp nhận” với những phân tích về tính chủ động trong
tiếp nhận truyền thông của công chúng
Trong nước, cuốn sách “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển” của
Đinh Thị Thúy Hằng (2008) được tác giả phát triển từ luận án tiến sĩ bảo vệ tại Đại học Tổng hợp Công nghệ Sydney, Australia năm 2003 và các công trình nghiên cứu khác Cuốn sách giới thiệu những lý luận, khái niệm, phạm trù và hoạt động báo chí thế giới đang được phổ biến tại các trường đại học trên thế giới và trong giới nghiên cứu báo chí
Bên cạnh đó, một số đề tài tập trung vào những lĩnh vực chi tiết, như
“Nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình từ góc độ kinh tế học truyền thông” (Luận án tiến sỹ của Bùi Chí Trung, 2007), liên quan đến việc hệ thống hóa
các học thuyết về kinh tế học truyền thông, kinh tế học truyền hình đang phổ biến trên thế giới; phân tích so sánh và đưa ra nhận thức mới trong môi trường truyền thông Việt Nam; khẳng định khả năng vận dụng lý luận kinh tế truyền thông trong hoạt động thực tiễn; phân tích thực trạng hoạt động kinh tế truyền hình tại Việt Nam trong những năm qua, nêu xu hướng phát triển chính yếu, những kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động kinh tế truyền hình Việt Nam hiện nay và trong tương lai Đề tài này đã góp phần xây dựng cơ sở nền tảng cho một lĩnh vực nghiên cứu khoa học mới tại Việt Nam: Kinh tế học truyền thông
Trang 9Một vấn đề khác, nhỏ nhưng không kém phần quan trọng trong kinh tế báo chí, là xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí như một sản phẩm hàng hóa của công chúng, cũng đã được đề cập đến trong Luận án tiến sĩ của Lê Thu
Hà (2014): “Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam” nhằm làm rõ thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí ở Việt Nam
Đặc biệt, Luận án đề cập đến xu hướng tiếp nhận của công chúng Việt Nam đối với bốn loại hình báo chí cơ bản (bao gồm báo in, báo hình, báo phát thanh và báo mạng điện tử) và các phương tiện truyền thông mới Trên cơ sở này, luận án cung cấp những dự báo có độ tin cậy cao về sự phát triển của báo chí Việt Nam, nói chung và các loại hình báo chí, nói riêng
Cũng liên quan tới kinh tế báo chí truyền thông, Thạc sĩ Nguyễn Thị
Bích Yến lại nghiên cứu một khía cạnh khác Đó là “Phát triển công chúng thị trường như thế nào” - Luận văn cao học (2010) Nghiên cứu của Thạc sĩ
Nguyễn Thị Bích Yến tập trung chủ yếu vào công tác khảo sát kinh nghiệm phát triển công chúng thị trường của tờ báo Wierner Zeitung (Áo), từ đó đưa
ra một số gợi ý cho phát triển báo chí Việt Nam
Một vấn đề tương đối lớn khác trong kinh tế báo chí đã được Thạc sỹ Nguyễn Hữu Trung đề cập đến trong luận văn tốt nghiệp (2013) của mình Đó
là “Vấn đề tự chủ tài chính ở các tạp chí kinh tế” Theo Thạc sỹ Nguyễn
Hữu Trung, tự chủ tài chính ở Việt Nam tuy không còn là vấn đề mới mẻ nhưng nhiều cơ quan còn lúng túng khi thực hiện do cơ chế chính sách chưa đồng bộ Đặc biệt, hiện này chưa hề có văn bản pháp lý nào đề cập đến việc
tự chủ tài chính của các cơ quan báo chí truyền thông mà phần lớn vận dụng theo cách quản lý tài chính của doanh nghiệp.Vì vậy, Thạc sỹ Nguyễn Hữu Trung đã khảo sát thực trạng tự chủ tài chính ở một số tạp chí kinh tế hiện nay
ở Việt Nam và đưa ra giải pháp, khuyến nghị để nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính tại các tạp chí kinh tế ở nước ta
Trang 10Những nghiên cứu trên đây phần nào đã làm sáng tỏ một số khái niệm
về kinh tế truyền thông, cũng như những câu hỏi có liên quan đến thực tế của vấn đề này Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đưa ra được một mô hình đặc trưng của kinh tế báo chí truyền thông nói chung, hay một quốc gia nói riêng nhìn
từ góc độ hành lang pháp lý, cơ cấu tài trợ và mô hình kinh tế báo chí truyền thông Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi không trùng lặp với những đề tài đã
có ở trên và sẽ trình bày một cái nhìn toàn diện về các mô hình phát triển kinh
tế báo chí truyền thông trên thế giới nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng dựa trên các góc nhìn nói trên
3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Có thể các nước trên thế giới nói chung và khu vực ASEAN nói riêng
đã và đang vận hành mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông hiệu quả
và các mô hình này, ở các cấp độ khác nhau, có thể tham chiếu cho quá trình phát triển kinh tế báo chí truyền thông Việt Nam?
Do yếu tố lịch sử - văn hóa và trình độ phát triển, mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông ở các nước thuộc các khu vực khác nhau là không giống nhau?
Và như vậy, ở khu vực ASEAN có thể có mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông của riêng mình, trong đó các nước đã chú trọng vào việc sự hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ cấu phát triển nguồn thu và vận hành một
mô hình phát triển kinh tế báo chí hiệu quả hay chưa?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất, các nước ASEAN về cơ bản đã có mô hình phát
triển kinh tế báo chí truyền thông, và mô hình này cần nghiên cứu vì nó có khả năng chia sẻ, nhân rộng trong khu vực
Giả thuyết thứ hai, thực tế phát triển của báo chí Việt Nam đang cần
tham chiếu mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông ở các nước có trình độ phát triển khu vực ASEAN
Trang 114 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông một số nước Đông Nam Á, luận văn bước đầu rút ra những kinh nghiệm có thể tham chiếu cho vấn đề phát triển kinh tế báo chí truyền thông Việt Nam hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp thông tin, tư liệu, trên cơ sở đó phân tích, lý giải để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò của kinh tế báo chí truyền thông trên thế giới, cũng như ở Việt Nam
- Khảo sát thực trạng mô hình kinh tế báo chí truyền thông ở bốn nước Đông Nam Á có tốc độ phát triển cao, cơ cấu chính trị và những truyền thống văn hóa, có những nét tương đồng với Việt Nam Đó là Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan
- Từ thực tế khảo sát, nêu ra những vấn đề thảo luận và những kinh nghiệm tham chiếu cho quá trình phát triển kinh tế báo chí truyền thông Việt Nam hiện nay
5 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình kinh tế báo chí truyền
thông của một số nước Đông Nam Á dựa trên cơ sở pháp lý về quyền sở hữu truyền thông, cơ cấu nguồn thu và sự thay đổi trong mô hình kinh doanh báo chí, truyền thông
5.2 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát của đề tài là mô hình kinh tế báo chí truyền thông ở một số tập đoàn, đơn vị báo chí, truyền thông của bốn quốc gia Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan Thời gian khảo sát đến 2014
Trang 126 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở lý luận (Phương pháp luận)
Cơ sở lý luận chung, dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, đường lối của Đảng và pháp luật của Việt Nam về báo chí và kinh tế, kết hợp phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kinh tế học, luật học
và kinh tế học truyền thông
Cơ sở lý luận chuyên ngành là các lý thuyết về báo chí truyền thông của trong nước cũng như nước ngoài , chủ yếu những quan điểm và lý thuyết chỉ dẫn từ kinh tế báo chí truyền thông được nghiên cứu trong chương trình thạc sĩ báo chí
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu: sử dụng thông tin thu thập
được từ các tài liệu, văn bản về pháp luật, kinh tế, báo chí của các quốc gia có liên quan
- Phương pháp phân tích trường hợp (case study): Lựa chọn bốn quốc
gia là Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan để phân tích mô hình kinh
tế báo chí nhằm rút ra bài học cho Việt Nam Đây là bốn nước phát triển hàng đầu và tiêu biểu của khu vực ASEAN
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Lựa chọn một số nhân vật quan trọng,
như người chịu trách nhiệm về tài chính, một số đại diện của các hãng truyền thông, đại chúng lớn, của một số cơ quan báo chí, truyền thông thuộc 4 nước khảo sát
7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung lý luận về kinh tế báo chí truyền thông ở Việt Nam
Trang 137.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng kết quả nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương pháp, hình thức, nhằm xây dựng một mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông có hiệu quả ở Việt Nam; là tài liệu tham khảo bổ ích cho học tập, nghiên cứu báo chí truyền thông ở Việt Nam cũng như tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý báo chí và cơ quan báo chí nói chung
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 03 chương, 9 tiết và các bảng, biểu minh họa
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VẤN ĐỀ KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm kinh tế báo chí truyền thông
1.1.1.1 Kinh tế
Theo ngôn ngữ Hán-Việt, kinh tế được hiểu theo nghĩa “Kinh bang tế thế”, kinh bang có nghĩa là trị nước và tế thế có nghĩa là cứu đời Hay còn có thể hiểu theo nghĩa đó là công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm, đó là: chăm lo đời sống vật chất của bề tôi
Theo từ điển kinh tế chính trị học, kinh tế là “lĩnh vực trọng yếu của các quan hệ xã hội trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng; là kết quả hoạt động của con người, cũng như sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có”
Theo từ điển Hy Lạp, kinh tế - oikomomike - có nghĩa là nghệ thuật quản lý tài sản bao gồm:
- Kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất;
- Bộ môn khoa học, chuyên ngành nghiên cứu các bộ phận và các phạm
vi kinh tế của đất nước, khu vực, các điều kiện và các yếu tố sản xuất.[69]
- Kinh tế học - khoa học về tổ chức thị trường của nền sản xuất xã hội, bao gồm kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô
Trên thế giới, thuật ngữ kinh tế cũng được tìm hiểu một cách khá kỹ càng Năm 1777, Adam Smith đã định nghĩa kinh tế là một môn nghiên cứu
về của cải với thiên nhiên và tác động của nó với quốc gia [37] Mill (1806 - 1973) nhận định kinh tế là “môn khoa học mang tính thực hành về sản xuất và phân phối của cải Alfred Marshall (1842 - 1924) lại cho rằng “kinh tế là môn nghiên cứu của con người về kinh doanh hàng ngày của cuộc sống”[69] Những thuật ngữ này đều tập trung vào thế giới “của cải vật chất, từ đó thu hẹp phạm vi của kinh tế”.[101]
Trang 15Thời gian sau này, cái nhìn về thuật ngữ kinh tế đã bắt đầu thay đổi Gần đây nhất, năm 2002, hai tác giả Onwukwe and Agwu đã định nghĩa “kinh
tế là môn khoa học có liên quan đến việc sử dụng các nguồn để sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ theo cách làm cho con người cảm thấy hài lòng” [40]
Từ những định nghĩa khác nhau dưới các góc nhìn về xã hội, kinh tế, tác
giả xin đưa ra định nghĩa kinh tế dưới góc độ báo chí như sau: Có thể hiểu một cách cơ bản rằng, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn
Khi nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là kinh tế báo chí truyền thông, người
ta không thể không nhắc đến phạm trù về hàng hóa, khách hàng và thị trường
vì tầm quan trọng và sự liên kết chặt chẽ của nó
1.1.1.2 Hàng hóa - khách hàng - thị trường
* Hàng hóa
Để hiểu được báo chí truyền thông là một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt như thế nào, trước tiên cần tìm hiểu các khái niệm hàng hóa Philip Kotler cho rằng: “Hàng hóa là tất cả những cái gì có thể thỏa mãn được mong muốn hay nhu cầu và được cung ứng cho thị trường nhằm mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng”[33] Quan điểm này của tác giả về hàng hóa là khá toàn diện và bao trùm
Trong kinh tế chính trị, TS Ngô Văn Lương lại cho rằng: “Hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi và mua bán”.[15, tr.33] Còn C Mác và Ph Ăngghen thì định nghĩa hàng hóa như sau: “Theo lối nói của các nhà kinh tế học Anh, thì hàng hoá trước hết là "một vật thể nào đó, cần thiết, có ích cho đời sống hoặc làm cho đời
Trang 16sống dễ chịu", là một đối tượng của nhu cầu của con người, là một tư liệu sinh hoạt hiểu theo nghĩa rộng nhất Phương thức tồn tại ấy của hàng hoá với tư cách là giá trị sử dụng nhất trí với phương thức tồn tại tự nhiên, có thể sờ mó được của nó
Như vậy, có thể thấy hàng hóa là tất cả những gì có khả năng phục vụ, tức là thỏa mãn được nhu cầu Ngoài vật phẩm và dịch vụ, hàng hóa còn có thể là nhân cách, địa điểm, tổ chức, loại hình hoạt động và ý tưởng sáng tạo Người tiêu dùng quyết định đọc báo nào, nghe chương trình phát thanh nào, xem chương trình giải trí nào trên truyền hình hay đọc quyển sách nào, nghỉ ở đâu, tài trợ cho tổ chức nào Vì vậy, nếu việc sử dụng thuật ngữ “hàng hóa” đôi lúc không được hợp lý thì có thể thay thế nó bằng những thuật ngữ khác như “người thỏa mãn nhu cầu” hay “phương tiện bù đắp” hay “cung ứng” Tất
cả đều có một giá trị xác định với mọi người.[33]
Hàng hóa có những đặc điểm cơ bản như sau: Trước tiên, hàng hóa là một loại sản phẩm của lao động Sau đó, hàng hóa được sản xuất ra để trao đổi, tiêu dùng với mục đích nhất định; thứ ba, hàng hóa phải bao gồm song hành giá trị và giá trị sử dụng; thứ tư, hàng hóa trong các hình thái xã hội khác nhau thể hiện được các quan hệ sản xuất khác nhau.[4, tr.165]
Từ đây, trong phần sau, chúng tôi sẽ nói rõ thêm về thị trường báo chí truyền thông
* Khách hàng
Trên thực tế, chỉ có một số khía cạnh nghiên cứu khái niệm khách hàng Trên phương diện marketing, khách hàng là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp… có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó
Việc phân loại khách hàng chủ yếu dựa vào hai loại: khách hàng bên ngoài và khách hàng nội bộ Trong đó, vấn đề quan trọng mà chúng ta cần
Trang 17làm rõ ở đây là khách hàng bên ngoài vì nó có liên quan mật thiết đến khách hàng báo chí truyền thông sẽ được đề cập ở phần sau Theo tác giả Peters
Drucker, tác giả cuốn Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21, khách
hàng bên ngoài là những người thực hiện các giao dịch với doanh nghiệp, bằng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua điện thoại hay giao dịch trực tuyến Đây chính là cách hiểu truyền thống về khách hàng, không có những khách hàng như thế này, doanh nghiệp cũng không thể tồn tại
Khách hàng truyền thông nằm trong khách hàng bên ngoài Trên thực
tế, hầu như chưa có tác giả nào hoàn toàn nghiên cứu khách hàng truyền thông từ góc độ kinh tế Hơn thế, việc nghiên cứu để đưa ra khái niệm, định nghĩa về một sự vật, hiện tượng - cụ thể là khách hàng truyền thông là một công việc khó khăn Mặc dù vậy, theo những khái niệm đã được phân tích ở trên, có thể thấy rằng khách hàng truyền thông chính là công chúng, người thụ hưởng các giá trị thông tin mà bên bán (toà soạn, hãng phát thanh, truyền hình, hãng phim ) đem lại
* Thị trường
Theo nghĩa rộng, thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm và/ hoặc tiền tệ, nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của hai phía cung và cầu (về một loại sản phẩm nhất định) theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định
rõ số lượng và giá cả cần có của sản phẩm Theo nghĩa hẹp, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm ẩn cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu đó.[99] Thị trường
là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là
Trang 18thị trường sản lượng), thị trường lao động và thị trường tiền tệ Còn trên bình diện quốc tế, nhà kinh tế học Philip Kotler cho rằng “thị trường là tập hợp những người mua hàng hiện có và sẽ có (nói cách khác, thị trường là bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại mà khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm” [33, tr.15] Quan điểm của ông coi thị trường là khách hàng, đã góp phần mở
ra cho doanh nghiệp các khả năng khai thác rộng lớn Vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp (hay các cơ quan báo chí truyền thông) không chỉ diễn ra ở địa điểm cố định mà có thể mở rộng đến bất kỳ nơi nào có khách hàng (công chúng) Đối với các cơ quan báo chí truyền thông, điều này có thể sẽ phức tạp hơn vì nó gắn liền với việc chuyển tải bằng ngôn ngữ Còn tác giả V.V.Vôrôsilốp lại đưa ra ý kiến của mình về thị trường như sau: “Ở phương diện rộng hơn, thị trường được định nghĩa như tổng hòa của các quan hệ kinh tế - xã hội trong lĩnh vực trao đổi mà nhờ vậy hàng hóa được tiêu thụ Thị trường chỉ có thể tồn tại trong trường hợp khi cùng một lúc tồn tại các thị trường sau: a) Thị trường tư liệu sản xuất; b) Thị trường hàng tiêu dùng; c) Thị trường sản phẩm trí tuệ (phát kiến, phát minh, ý tưởng tiên tiến ); d) Thị trường tài chính; đ) Thị trường sức lao động Khái niệm “thị trường” đôi lúc được dùng theo nghĩa ẩn dụ: “Thị trường ý tưởng”, “Thị trường chính trị”, đôi khi còn nói về thị trường như từ đồng nghĩa cơ chế tự tổ chức xã hội”.[34, tr.345]
1.1.1.3 Kinh tế báo chí truyền thông
Bất kỳ một lĩnh vực kinh tế vi mô nào cũng có những đặc điểm riêng của mình Xuất phát từ tác động và vai trò của các nhà sản xuất đối với thị trường, từ các mô hình sản xuất tiêu thụ, kinh tế báo chí truyền thông cũng có
sự khác biệt với các loại hình kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân Sự khác biệt này được phân biệt dựa theo những tiêu chí như sau:
- Theo mô hình thị trường, nơi các phương tiện thông tin đại chúng cạnh tranh;
- Theo bản chất và mức độ cạnh tranh trên các thị trường này;
- Theo đặc thù sản phẩm trong lĩnh vực này;
- Theo một số tính chất độc quyền [12, tr.27]
Trang 19Theo đó, ta có thể thấy việc nghiên cứu kinh tế báo chí truyền thông cần xuất phát từ lý luận nền tảng kinh tế học cơ bản Vì vậy, thuật ngữ kinh tế truyền thông đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu và thảo luận Nhà kinh tế học người Mỹ, R Picard đã đưa ra khái niệm về kinh tế báo chí truyền thông là “những con đường mang lại hiệu quả tối đa của doanh nghiệp truyền hình nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung” [43, tr.61]
Nhà kinh tế học người Nga, TS Gurevic lại cho rằng: “ngay kể từ khi thông tin được bán ra thị trường, nó đã trở thành hàng hóa và đó là điều kiện
để hình thành hoạt động kinh tế truyền thông”.[12, tr.29]
Ở các công trình nghiên cứu về kinh tế học truyền thông khác như
“Kinh tế chính trị truyền thông: Lý thuyết và thực tiễn” của A Alexander và J.Owers và R.Carveth; “Kinh tế chính trị và truyền thông: Khám phá thị trường, các ngành công nghiệp và các quan niệm” của A, Albarran; “Kinh tế chính trị công nghiệp giải trí” của G Volgel; “Kinh tế và luật báo chí Hoa Kỳ” của Lacy S Simon T; đều đưa ra những khái niệm khác nhau về hoạt động kinh tế truyền thông Tuy nhiên, các khái niệm này đều nhấn mạnh về mối liên hệ giữa các phương tiện thông tin đại chúng - công chúng - các nhà quảng cáo Các tác giả cho rằng mối tương tác của các thị trường quảng cáo
và nội dung, cầu và cung, cạnh tranh và độc quyền là nền tảng cơ bản của hoạt động kinh tế truyền thông
Trong khi báo chí truyền thông từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội ở các nước phát triển và thậm chí một số nước đang phát triển Doanh số hàng năm của nó lên tới hàng tỷ USD Cho dù mô hình quản lý hệ thống truyền thông tại các quốc gia có nhiều điểm khác nhau, nhưng việc nhìn nhận kinh tế truyền thông đang trở thành một lĩnh vực kinh tế mũi nhọn đã dần được khẳng định Song, ở Việt Nam, đến thời điểm hiện tại, chưa có một khái niệm cơ bản thống nhất nào cho hoạt động
Trang 20này PGS TS Vũ Văn Hà, Tạp chí Cộng sản, trong cuộc phỏng vấn sâu năm
2012, đã cho rằng: “kinh tế báo chí, truyền thông phản ánh hoạt động hay là quan hệ con người với con người trong quá trình triển khai các hoạt động báo chí truyền thông và nó vận động theo cơ chế thị trường, đấy mới là hoạt động kinh tế báo chí, truyền thông” [12, tr.29] GS TS Tạ Ngọc Tấn, trong một cuộc trả lời phỏng vấn sâu năm 2012, đã đưa ra ý kiến về kinh tế truyền thông như sau: “Kinh tế báo chí, truyền thông là các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận trên cơ sở hoạt động báo chí, truyền thông”.[12, tr.28]
Tác giả Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung trong cuốn Một số vấn đề kinh tế báo in, đã đưa ra định nghĩa về kinh tế báo chí truyền thông là “hoạt động kinh tế của các cơ quan báo chí truyền thông trong quá trình sử dụng con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính để đi đến hiệu quả tối đa mà các doạnh nghiệp báo chí nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung có thể đạt được” [12, tr.30]
Với tác giả V.V Vôrôsilốp, ông lại cho cơ quan báo chí truyền thông như một doanh nghiệp - một chủ thể kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động trong điều kiện tự cấp vốn và cố gắng kiếm lãi bằng cách tiêu thụ hàng hoá, mặc dù mặt hàng này là hàng hóa đặc biệt - có tính chất trí tuệ
và tư tưởng Do đó, cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào, các cơ quan báo chí truyền thông tham gia vào hệ thống kinh tế thị trường Từ đó, ông đưa ra định nghĩa về kinh tế báo chí truyền thông như sau: “Kinh tế ngày nay trong ngành báo chí là tổng hòa các quan hệ xã hội trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những kết quả hoạt động báo chí trên cơ sở cơ chế kinh doanh thị trường”[34]
Từ những nghiên cứu về kinh tế học, kinh tế chính trị Mác Lênin cũng như các nghiên cứu nước ngoài, tác giả xin được đưa ra ý kiến riêng về khái
niệm “kinh tế truyền thông”: “đó là các vấn đề nghiên cứu và thực tiễn liên quan đến hoạt động kinh tế của các cơ quan truyền thông, bao gồm cả các cơ
Trang 21quan báo chí và các các doanh nghiệp về tin tức, sản xuất phim, giải trí, truyền thông di động, quảng cáo và quan hệ công chúng Hoạt động kinh tế này có liên quan đến việc sử dụng nguồn nhân lực, vật lực, kỹ thuật công nghệ, tài chính để đạt được hiệu quả tối đa”
1.1.1.4 Sản phẩm báo chí - Công chúng - Thị trường
* Sản phẩm báo chí: Phần trên chúng ta đã đề cập đến các khái niệm về
hàng hóa cũng như đặc trưng của hàng hóa Mặc dù vậy, những khái niệm về sản phẩm báo chí cũng cần được làm rõ vì sản phẩm báo chí được gọi là sản phẩm hàng hóa đặc biệt Trước hết, theo PGS TS Nguyễn Văn Dững, sản phẩm báo chí là sản phẩm được tổng hợp hoàn chỉnh (số báo, chương trình phát thanh, truyền hình để có thể phát hành, phát sóng (với báo in, phát thanh, truyền hình).[4, tr.63] Song, sản phẩm báo chí lại là loại hàng hóa đặc
biệt Vì: Thứ nhất, những tin tức mà báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin hầu hết là các sản phẩm của lao động; thứ hai, sản phẩm tin
tức được sản xuất ra là để trao đổi và trao đổi thường xuyên, liên tục trên diện
rộng, mang tính công khai trong cộng đồng, đông đảo người; thứ ba: sản
phẩm tin tức có giá trị sử dụng và giá trị Giá trị sử dụng của tin tức báo chí thông thường có tính thời sự tức thì, càng nhiều người sử dụng thì giá trị sử dụng càng cao Giá trị sử dụng của tin tức báo chí rất đa dạng - từ chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, dân sinh, trên cả diện rộng hay mang tính cá nhân, nhóm Giá cả và giá thành của tin tức báo chí có những đặc thù riêng của nó Thường là giá cả bán dưới giá thành; mặt khác, kết cấu và mối quan hệ giá cả,
giá thành trong tin tức báo chí cũng hết sức phức tạp; thứ tư: sản phẩm tin tức
trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thể hiện được các quan hệ sản xuất khác nhau.[4, tr.164-165] Trên phương diện kinh tế - chính trị, sản phẩm tin tức trong xã hội các nước phương Tây lại khác với xã hội các nước phương Đông hay ở Việt Nam nói riêng
Trang 22Cũng liên quan đến sản phẩm báo chí hay sản phẩm hàng hóa báo chí truyền thông, các tác giả Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng cho rằng sản phẩm hàng hóa báo chí “ là sản phẩm hàng hóa, báo chí chịu tác động của quy luật cạnh tranh như bất cứ loại hàng hóa nào khác Bán báo chí tức là bán thông tin Mua báo chí tức là mua giá trị thông tin in trên tờ báo, tạp chí, phát trên đài phát thanh, truyền hình”[2, tr.122-123] Còn trên góc độ kinh tế, hàng hóa truyền thông được cho rằng nó là loại hàng hóa đặc biệt, và tòa soạn cũng là một dạng doanh nghiệp đặc biệt, trong đó nguồn thu chủ yếu của báo chí là nhờ tiền tài trợ, quảng cáo mà các doanh nghiệp là đối tác chủ yếu.[27]
Từ các khái niệm và quan điểm nói trên, có thể đưa ra khái niệm về hàng hóa báo chí truyền thông như sau:
Báo chí truyền thông là một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt Nó có thể định hướng, trấn an hay tác động làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, tư duy công chúng (khách hàng) Vì thế, mặt hàng này khi được xem xét dưới góc độ chính trị, nó được sử dụng để tăng thêm quyền lực cho giai cấp cầm quyền Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, hàng hóa báo chí truyền thông vẫn chịu sự tác động của quy luật cung cầu, cạnh tranh, độc quyền như các loại hàng hóa thông thường khác Bán báo (toà soạn, hãng phát thanh, truyền hình, hãng phim ) là bán thông tin, tin tức Mua báo (công chúng/khách hàng) là mua giá trị thông tin của sản phẩm báo chí truyền thông Như vậy, để bán thông tin thì điều quan trọng nhất là phải có khách hàng (công chúng)
Vậy, công chúng truyền thông là gì và tại sao cần phải nghiên cứu nhóm khách hàng này?
* Công chúng báo chí và phân loại công chúng
Trong một số nghiên cứu về công chúng thị trường báo chí, rất ít tác giả đưa ra khái niệm, định nghĩa về một sự vật - hiện tượng, cụ thể là công chúng thị trường báo chí Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững “ Công chúng báo chí là
Trang 23quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí hướng tác động của mình vào để cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng để
có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của họ theo mục đích thông tin nhất định Về khía cạnh kinh tế, công chúng báo chí là khách hàng của cơ quan báo chí; trên khía cạnh xã hội, là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí”[4, tr.137] Còn tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường lại cho rằng “công chúng truyền thông là một tập hợp
xã hội rộng lớn Đó là những người không dễ dàng tin bất cứ điều gì mà ai đó muốn họ tin”.[13, tr.181]
Vì vậy, việc kế thừa các khái niệm công chúng báo chí của các tác giả
đi trước và nghiên cứu các tài liệu kinh tế học, chúng tôi xin đưa ra khái niệm
công chúng thị trường báo chí truyền thông như sau: Công chúng báo chí truyền thông là những nhóm cư dân - nhóm khách hàng đặc biệt, không hoàn toàn đồng nhất trong xã hội nhưng có cùng một mục đích hưởng thụ, tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm các giá trị thông tin, các giá trị gia tăng từ truyền thông Công chúng báo chí truyền thông vừa là khách thể được báo chí truyền thông hướng vào để tác động hoặc chịu ảnh hưởng tác động của báo chí, vừa đóng vai trò là chủ thể tác động, quyết định, giám sát ngược trở lại đối với sản phẩm báo chí truyền thông (cơ quan báo chí, truyền thông)
Lĩnh vực báo chí truyền thông được ví như một ngành công nghiệp hiện đại, tạo nên thị trường truyền thông có người mua và người bán (người có nhu cầu và người cung cấp), tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ về lĩnh vực thông tin đại chúng Chính vì vậy, quyết định của công chúng với sản phẩm truyền thông thể hiện cách thức và tập quán sử dụng cũng như thái độ của họ với báo chí truyền thông Từ việc phải mua báo hay tự nguyện, đọc báo nào khi ở mục gì, có xem truyền hình hay lướt web
Trang 24Vì vậy, để làm tốt công tác nghiên cứu công chúng thị trường báo chí truyền thông, có một số kết quả phân loại trên góc độ xã hội học hay báo chí học Ở góc độ xã hội học, theo một nghiên cứu của chuyên gia xã hội học người Mỹ phát biểu tại hội thảo quốc tế về "Công chúng truyền thông trong thời đại truyền thông kỹ thuật số" diễn ra tại Mỹ tháng 4 năm 2012, có bốn
loại công chúng truyền thông như sau:
1
1
Không chọn lựa Nhóm công chúng này tiêu thụ bất kể sản phẩm
của báo chí truyền thông nào, xem tất thảy mọi thứ nội dung chương trình mà không phân biệt
2 Có chọn lọc theo
nguồn
Chỉ chủ định theo dõi một loại phương tiện truyền thông đại chúng
3 Chọn lọc theo đề tài Chỉ chọn đề tài mà mình muốn thưởng thức trên
các phương tiện truyền thông khác nhau
4 Có xu hướng bàng
quan
Nhóm này không quan tâm đến mọi phương tiện truyền thông đại chúng Có số lượng ít nhưng vẫn tồn tại trong xã hội
Còn ở góc độ kinh tế báo chí truyền thông, công chúng thị trường báo chí được phân ra làm hai loại: đó là công chúng bao cấp và công chúng thị trường Đặc điểm của hai loại này như sau:
* Công chúng bao cấp: là công chúng sử dụng loại báo chí truyền thông
có số lượng phát hành và tiêu thụ lớn nhưng không hẳn là báo chí thị trường Đây là một số tờ báo của Đảng và Trung ương, báo Đảng địa phương, một số
tờ báo, tạp chí ở các bộ, ban, ngành Mảng báo chí này có những đặc trưng
như sau: Thứ nhất, kinh phí được bao cấp hoàn toàn, từ in ấn, lương đến nhuận bút; thứ hai, Được bao tiêu sản phẩm đầu ra; thứ ba, Ban biên tập ít phải quan tâm đến nghiệp vụ kinh doanh; thứ tư, hoạt động của tòa soạn
Trang 25không bận tâm đến lỗ lãi, ít chịu sự cạnh tranh của quy luật kinh tế thị trường;
thứ năm, nhiệm vụ hàng đầu của tờ báo là phục vụ nhiệm vụ chính trị nên thường khô khan, kém hấp dẫn; thứ sáu, không hoàn toàn đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ thông tin của khách hàng Chính vì vậy, loại công chúng của mảng báo chí truyền thông này thường không phải bỏ tiền túi ra mua hay nói cách khác, công chúng được bao cấp kinh phí mua báo
* Công chúng thị trường: Công chúng thị trường báo chí truyền thông chính là người bỏ tiền mua sản phẩm báo chí, làm tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng quyền lực, vị thế cho các cơ quan báo chí truyền thông Vì thế, họ cũng chính là người có thể hạ uy tín, giảm sức cạnh tranh hoặc khiến cơ quan báo chí truyền thông đó phá sản trên thị trường báo chí Công chúng thị trường
là những người thường đi theo mảng báo chí truyền thông (1) nửa bao cấp (đơn vị hành chính sự nghiệp có thu) Đó là những cơ quan truyền thông được
hỗ trợ kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ quan, hỗ trợ in ấn, phát sóng, nhuận bút nhưng phải tự hạch toán thu chi, lời ăn, lỗ chịu Có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách Nhà nước và cơ quan chủ quản Mảng
truyền thông này thường có những đặc trưng sau: Thứ nhất, không được bao
tiêu sản phẩm đầu ra nhưng được hỗ trợ về mặt công văn, giấy tờ, văn bản,
chỉ thị ; thứ hai, đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thu
nhập cá nhân, hạch toán lỗ lãi, lợi nhuận, như các doanh nghiệp kinh doanh;
thứ ba, cởi mở hơn về nội dung nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước; thứ tư, đóng góp cho cơ quan chủ quản; hoặc (2) tự hạch toán kinh doanh Mảng báo chí này có những đặc trưng sau: Thứ nhất, không được ưu đãi bất kỳ điều khoản nào; thứ hai: nội dung, thiết kế, trình bày đa dạng, cởi
mở hơn, phong phú hơn, nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước; thứ ba: phương châm hoạt động “lợi nhuận đặt lên hàng đầu” nên nhiều tờ bị chuyển sang “lá cải”; thứ tư: có ý thức rõ ràng trong hoạch định
Trang 26chiến lược, phải phát triển như một doanh nghiệp; thứ năm: đóng góp các
khoản thuế, nghĩa vụ với Nhà nước như các doanh nghiệp
* Thị trường báo chí truyền thông và tại sao phải nghiên cứu thị trường báo chí truyền thông?
Thị trường báo chí - truyền thông
Sau “Cuộc cách mạng Thương mại” trong báo chí những năm
1830-1840, các phương tiện thông tin đại chúng bắt đầu trở thành những doanh nghiệp tư bản sinh lời Vì vậy, theo tác giả X.A Mikhailốp, bản thân chúng cũng chịu sự tác động của tất cả các quy luật của hoạt động kinh doanh như: Cạnh tranh và hạn chế cạnh tranh; Tập trung hóa, độc quyền hóa và những luật lệ khác Tất cả những điều này để lại trong hoạt động báo chí hàng ngày
và hoạt động của những tổ chức hữu quan Hoạt động tổ chức của mọi phương tiện thông tin đại chúng đều nhằm đạt được hiệu quả cao về phương diện kinh tế - tài chính, cũng như các phương diện tư tưởng Nếu chỉ xét về phương diện kinh tế của vấn đề thì cần nêu rõ rằng, để đạt được mức sinh lời cao, khâu quản lý ở các báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình cũng phải được xây dựng trên những nguyên tắc giống như những nguyên tắc trong điều hành các xí nghiệp công nghiệp.[35, tr.167-168] Ông cũng cho rằng sau
“Cuộc cách mạng Thương mại, những nguồn thu của báo chí định kỳ chủ yếu đến từ quảng cáo chứ không phải từ số lượng phát hành Cho nên những tổ chức đặt quảng cáo bắt đầu hướng đến những ấn phẩm nào có số lượng phát hành cao nhất” Vì lẽ đó, các ấn phẩm báo chí cũng phải thay đổi, cải tiến nội dung, cách thức thiết kế
Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm của mình
về thị trường báo chí Tác giả Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Chính phủ, trong bài viết nhân kỷ niệm 82 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21.6.1925 - 21.6.2007) gửi báo Người Lao động, đã nêu quan điểm của mình
Trang 27về báo chí trong nền kinh tế thị trường: “Kinh tế thị trường, mà chúng ta áp dụng, trên thực tế đã không thương mại hóa báo chí theo hướng mà không ít người lo ngại Sự tín nhiệm của công chúng, của bạn đọc quyết định vị trí của các sản phẩm báo chí” [23]
Còn tác giả Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng lại cho rằng “Thị trường báo chí là nơi diễn ra quá trình mua, bán sản phẩm báo chí, thực hiện những hợp đồng quảng cáo hoặc những cam kết tài trợ để thông qua đó, quảng bá cho các thương hiệu sản phẩm”.[2, tr.122]
Bên cạnh đó, báo chí truyền thông đóng vai trò quan trọng như một hệ thống xã hội, thực hiện rất nhiều chức năng mang tính xã hội quan trọng Từ góc nhìn đó, thị trường báo chí truyền thông có thể hiểu là “không gian công cộng, nơi các cơ quan báo chí truyền thông thể hiện những ý tưởng chính trị
xã hội khác nhau, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công chúng”[16, tr.31] TS Võ Trí Thành nhấn mạnh sự “thừa nhận” của xã hội hiện nay đối với sự hình thành phát triển của thị trường báo chí truyền thông: “Nhìn vào mục đích của báo chí truyền thông cũng thấy đây là một hoạt động kinh doanh Xã hội phải thừa nhận nó như một cách thức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường”.[21] Theo hai tác giả Đinh Văn Hường - Bùi Chí Trung, thị trường báo chí truyền thông là một khái niệm đa nghĩa, nghiên cứu về thị trường truyền thông có thể được xem xét ở một số khía cạnh - thị trường hàng hóa, dịch vụ
cụ thể, thị trường địa lý và thị trường ý tưởng sáng tạo [13,tr.31]
Thạc sỹ Nguyễn Thị Bích Yến lại cho rằng “Thị trường báo chí là nơi diễn ra các hoạt động dịch vụ thương mại, trao đổi, mua bán hàng hóa - thông tin giữa nhà cung cấp (toà soạn/các nhà báo) với công chúng (khách hàng), với các doanh nghiệp và đối tượng có liên quan Thị trường báo chí còn được biết đến là nơi diễn ra các xung đột về lợi nhuận quảng cáo và bài vở của tòa soạn Nó được tính đến trong khả năng chọn “đất” đăng quảng cáo
Trang 28của các doanh nghiệp Thị trường báo chí tạo nên sự cạnh tranh sôi động cho các hoạt động mua bán, cung cấp các dữ liệu thông tin “nóng” giữa các cơ quan thông tấn trong nước và quốc tế, giữa các nhà báo truyền thống cạnh tranh với các nhà báo công dân” [17, tr.16]
Dựa trên các khái niệm, nghiên cứu có liên quan đến thị trường báo chí truyền thông như trên, các tác giả đều cho rằng việc hình thành thị trường báo chí truyền thông luôn có ý nghĩa lớn, đánh dấu sự phát triển của nền báo chí các quốc gia Từ đó, tác giả xin đưa ra quan điểm về thị trường báo chí như sau:
Thị trường báo chí truyền thông là nơi mà một nhóm các nhà tiêu dùng
có thể truy cập vào cùng một thông điệp (tin tức) dựa trên hoạt động dịch vụ thương mại, trao đổi, mua bán hàng hóa - thông tin Điển hình, thị trường báo chí truyền thông có liên quan đến phát thanh, truyền hình, ấn phẩm in (báo, tạp chí) Từ khi Internet đóng vai trò quan trọng trong thị trường ngày nay, thị trường báo chí truyền thông kỹ thuật số cũng được coi trọng Thị trường báo chí truyền thông còn được sử dụng để đề cập đến thị trường truyền hình, phát sóng, khu vực báo chí, khu vực thị trường được thiết kế, khu vực thị trường truyền hình và thị trường chung Các yếu tố chính trong việc thiết lập thị trường báo chí truyền thông là địa lý Khu vực báo chí điển hình thường gắn liền với khu vực địa lý (lãnh thổ), nơi nó phát hành và gắn liền về đặc trưng nội dung, văn hóa
Từ đó có thể thấy thị trường báo chí truyền thông liên quan mật thiết đển các vấn đề như nhà báo công dân, các tổ chức ngân hàng dữ liệu; các hoạt động tài chính song song với hoạt động báo chí Thị trường báo chí truyền thông khiến cho các phương tiện thông tin đại chúng trở thành những “doanh nghiệp tư bản sinh lời”, chấp nhận sự tác động của các quy luật cung cầu, cạnh tranh, độc quyền, tập trung hóa, toàn cầu hóa cũng như các quy luật của nền kinh tế
Trang 29Tại sao phải nghiên cứu thị trường báo chí?
Nghiên cứu thị trường là một trong những vấn đề quan trọng, nếu như không muốn nói rằng đó là vấn đề quan trọng nhất của kinh doanh Tất cả những thất bại, thường là liên quan đến việc không có sự đầu tư trong nghiên cứu thị trường một cách cẩn trọng và chi tiết, hay sự cường điệu dung lượng của nó và không đánh giá đúng những nỗ lực của các đối thủ cạnh tranh Trên thực tế, khi một cơ quan báo chí truyền thông không biết rõ, nắm chắc đối tượng công chúng của mình thì những nỗ lực của toàn bộ cơ quan sẽ trở nên vô ích Việc nghiên cứu công chúng là cần thiết, trước hết để xác định những nhu cầu của họ về các loại thông tin khác nhau, phát hiện các loại khách hàng sử dụng những loại ấn phẩm thực tế nào, tiềm năng ra sao, tìm trong các mối quan hệ đó sự thiếu hụt thông tin của mình trên thị trường Thông tin về thị trường, về công chúng, về đối thủ cạnh tranh sẽ được dùng làm cơ sở cho chiến lược tiếp thị (mà nó thường được coi là công việc chuẩn bị và tiến hành bán hàng) của hệ thống cung cầu ổn định đối với sản phẩm thông tin Xuất phát từ chiến lược tiếp thị, tiếp theo sẽ bắt đầu việc sản xuất, quản lý, xây dựng chính sách phát triển lâu dài của sản phẩm
đó [30, tr.191-193]
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy một cách dễ dàng là khách hàng - công chúng ngày càng có quyền lực hơn Họ có quyền lựa chọn sản phẩm báo chí truyền thông mà họ cảm thấy cần thiết, thích, bổ ích, phù hợp với mình Nhu cầu của khách hàng - công chúng rất đa dạng nên bất cứ một sản phẩm hàng hóa - sản phẩm báo chí truyền thông nào muốn tồn tại và phát triển, thì phải vận dụng nghiên cứu, bám sát quy luật cung - cầu của kinh tế thị trường -
mà ở đây là thị trường báo chí truyền thông Từ đó, mới có thể đưa ra những giải pháp, chiến lược marketing kịp thời, phục vụ cho việc bán sản phẩm báo chí truyền thông một cách hiệu quả nhất
Trang 301.1.2 Khái niệm sở hữu, sở hữu truyền thông
1.1.2.1 Sở hữu
Trong Từ điển Hán - Việt, sở hữu nghĩa là có, chiếm hữu, thuộc về, của mình có[22] Còn trong từ điển kinh tế - chính trị, thì sở hữu là một phạm trù
cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải
Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu[100]
Trên phương diện thuật ngữ quốc tế, sở hữu - ownership - có nghĩa là quyền tối thượng và độc quyền dựa trên một yêu cầu hoặc tiêu đề hợp pháp, chịu những hạn chế nhất định trong việc chiếm, sở hữu, thuê, bán, sử dụng, cho đi, hoặc thậm chí phá hủy một khoản mục tài sản nào đó [103]
Khái niệm quyền sở hữu vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù pháp lý
Là phạm trù kinh tế, sở hữu thể hiện các quan hệ sản xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế - xã hội và quan hệ xã hội nhất định Sở hữu là việc tài sản, thành quả lao động, tư liệu sản xuất thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra và phân phối các thành quả vật chất
Là phạm trù pháp lý, quyền sở hữu mang tính chất chủ quan vì nó là sự ghi nhận của Nhà nước, nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo
ý chí chủ quan của mình mà quyền sở hữu được qui định trước hết bởi nội dung kinh tế xã hội, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những của cải vật chất do con người tạo ra [18]
Quyền sở hữu, theo Từ điển luật học Orfoxd, là tổng thể của quyền sử dụng và tận hưởng một tài sản, để người khác làm gia nghiệp, hoặc để truyền đạt nó bằng cách bán [102]
Trang 31Liên bang Nga và của một số nước Đông Âu khác cũng có những quan điểm riêng về định nghĩa quyền sở hữu Theo đó quyền sở hữu vật được mở rộng thành quyền sở hữu tài sản nói chung và được hiểu thông qua ba quyền năng cấu thành là chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Khoản 1 Điều 209 Bộ luật dân sự Liên bang Nga quy định rằng: “Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình” [44]
Còn nếu dựa trên khái niệm quyền sở hữu của pháp luật dân sự Việt Nam, Điều 173 Bộ luật dân sự quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” Sau đó, điều luật này được bổ sung thêm trong Điều 164
Bộ luật dân sự năm 2005: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”
Tóm lại, quyền sở hữu là một khái niệm cốt lõi, cơ bản nhất của luật dân sự Nếu hình dung luật dân sự như một ngôi nhà thì chế định tài sản và quyền sở hữu được coi là những viên gạch xây nên ngôi nhà đó.[7]
1.1.2.2 Sở hữu truyền thông
Ở nhiều nước châu Âu, các chính sách liên quan đến truyền thông đã được đưa ra bàn luận trong thời gian gần đây Quyền sở hữu truyền thông có liên quan nhiều đến các vấn đề khả năng của cơ chế hiện tại về chính sách cho báo chí truyền thông để đối mặt với những ảnh hưởng của sự phát triển về công nghệ thông tin trong tương lai.[39]
Quyền tự chủ của phương tiện truyền thông được đưa ra trong ranh giới của lợi nhuận của chủ sở hữu Trường hợp các hãng truyền thông được sở hữu thương mại, nội dung sẽ phản ánh quan điểm của chủ sở hữu các tổ chức tin tức và các nhà quảng cáo Trường hợp các hãng truyền thông phù hợp với
Trang 32những gì Altschull gọi là một "mô hình quan tâm" các nội dung phản ánh những mối quan tâm và mục tiêu của bất cứ ai đang cung cấp các nguồn tài chính Shoemaker và Reese (1991) đã cố gắng để tinh chỉnh và mở rộng nghiên cứu của Altschull (Altschull, 1984) Lý thuyết của họ về quyền sở hữu phương tiện truyền thông và các nội dung tin tức chỉ ra rằng các chủ sở hữu của một tổ chức truyền thông có sức mạnh tối thượng trên các nội dung tin tức của tờ báo Họ cho rằng trọng tâm chính của một tổ chức tin tức thuộc sở hữu của một công ty được tổ chức công khai là để tạo ra lợi nhuận, và khách quan được xem như là một cách để thu hút các độc giả mong muốn của các nhà quảng cáo Nội dung của những tin tức được xây dựng thành các mục tiêu kinh tế của công ty Mặc dù trong một số trường hợp hiếm gặp, chủ sở hữu có thể chọn để làm cho lợi nhuận tập trung vào một mục tiêu ý thức hệ, chẳng hạn như việc thúc đẩy một chương trình đặc biệt, tổ chức có thể không vô thời hạn bỏ qua các mục tiêu kinh tế Sở hữu truyền thông hiện nay diễn ra trên bốn xu hướng sau đây:
- Tập trung sở hữu trong nội bộ một ngành Ví dụ như sở hữu liên hợp báo, tạp chí, phát thanh và truyền hình và các mạng lưới nghe nhìn
- Sở hữu truyền thông theo trục ngang - các công ty sở hữu hơn một loại hình truyền thông
- Sở hữu tập đoàn - các công ty sở hữu các tài sản truyền thông và tham gia các hoạt động kinh doanh khác ngoài kinh doanh truyền thông
- Liên kết theo trục dọc - các công ty kiểm soát nhiều mặt khác nhau của cùng một ngành truyền thông như sản xuất và phân phối [42, tr 275]
1.1.2.3 Tính hấp dẫn của quyền sở hữu truyền thông
Doanh thu về sở hữu trong ngành báo chí truyền thông là cao nhất, Có nhiều nhân tố đã tác động đến thị trường các tài sản này
Trang 33- Quyền sở hữu báo in và phát thanh - truyền hình là những khoản đầu
tư hấp dẫn Nhiều công ty báo cáo mức lợi nhuận 10%/năm, gấp đôi mức lợi nhuận của một công ty sản xuất thông thường
- Báo in, đài phát thanh - truyền hình là những hàng hóa khan hiếm Vì các
số lượng các tờ báo đang giảm đi trong khi các đài phát thanh - truyền hình thuộc kiểm soát của chính phủ nên chỉ có bấy nhiêu quyền sở hữu Cũng như tất
cả các loại hàng hóa khan hiếm khác, điều này khiến chúng trở nên hấp dẫn
- Đặc biệt, có nhiều tờ báo từng trải qua thời kỳ thuộc sở hữu gia đình Nếu người được thừa kế tờ báo không hứng thú với việc gia nhập công ty, cách duy nhất để họ hưởng thụ tài sản thừa kế là bán tờ báo đi
- Việc mua các tờ báo hay đài phát thanh - truyền hình dễ hơn việc xây dựng chúng Vì xây dựng mới đòi hỏi khoản đầu tư không lồ về thiết bị, do đó việc bắt đầu kinh doanh rất tốn kém
- Trong ngành phát thanh - truyền hình, nhân tố chính kích thích sự thay đổi sở hữu trong những năm 1980 chính là sự nới lỏng quy định Điều này cho phép những người trước đó chưa từng tham gia kinh doanh phát thanh - truyền hình gia nhập ngành này bằng cách sử dụng tiền vay ngân hàng để thanh toán phần lớn khoản đầu tư của họ Nhưng sự nới lỏng quy định cũng
có những tác động khác Trong những năm 1990, các công nghệ mới ra đời đã thay đổi tình hình kinh tế của ngành này
Một số chủ nhân mới của các công ty truyền thông tiếp cận quyền sở hữu các đài phát thanh - truyền hình giống như cách họ tiếp cận với các lĩnh vực kinh doanh khác Họ hy vọng đầu tư một khoản tiền tối thiểu cần thiết
Họ cũng mong giữ tài sản này cho đến khi điều kiện thị trường thuận lợi và khi đó họ sẽ bán và thu được một khoản lợi nhuận khổng lồ Tại Mỹ, kể từ khi Quốc hội bãi bỏ quy định hạn chế về số lượng các đài phát thanh một công ty
có thể sở hữu năm 1996, đã có hơn 2.200 đài trao tay, đổi chủ [41]
Trang 341.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Một số lý thuyết chung về kinh tế báo chí truyền thông
Sự phát triển của kinh tế châu Á nói chung và kinh tế báo chí truyền thông châu Á nói riêng trong thời gian qua đã được nhiều chuyên gia đưa ra bàn luận, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến lý thuyết và học thuyết Trong nghiên cứu gần đây của Linda Lim, giáo sư về chiến lược kinh tế của Ross School of Business, Đại học tổng hợp Michigan (Mỹ) tại hội thảo về Chính sách chính trị kinh tế các nước Đông Nam Á, diễn ra tại Singapore, tháng 10 năm 2014, cho rằng sự tăng trưởng kinh tế nói chung và kinh tế báo chí nói riêng của châu Á và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á là đi theo học thuyết kinh tế về “lợi thế so sánh” (theory of comparative advantage) của David Ricardo (1772 - 1832) Tuy nhiên, để có thể hoàn thiện được học thuyết này, Ricardo cũng phải dựa trên những điểm mạnh và quan điểm của A Smith với học thuyết “Bàn tay vô hình” Không chỉ có vậy, những học thuyết của A Smith hay D Ricardo đã được C.Mác hoàn thiện và nâng cao Để nắm bắt được quy luật phát triển của kinh tế báo chí truyền thông, chúng ta cần đi từ những lý thuyết lâu đời nhất của A Smith, tập trung nhiều vào học thuyết của D Ricardo và phân tích thêm về học thuyết giá trị của C.Mác
1.2.1.1 Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith
A.Smith (Scotland, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1723) được xếp là một trong những nhà lý luận xuất sắc nhất của giai cấp tư sản Trong hệ thống lý luận của mình, ông vừa tiếp thu vừa phê phán gay gắt trường phái trọng nông Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia xuất bản năm 1776, thường được gọi với tên đơn giản là “Của cải của các dân tộc” (The Wealth
of Nations)
Trang 35A.Smith là người đã phát minh ra cơ chế vận động của thị trường tự do Ông đã nghiên cứu tại sao các cá nhân chỉ theo đuổi mục đích cho riêng mình, không cần chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội, nhất định phải tuân theo
sự dẫn dắt của một lực lượng vô hình nào đó để tất cả mọi người đều được
hưởng lợi và ông đã tìm ra sức mạnh của “bàn tay vô hình” (the invisible hand theory)
Theo A.Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh; ông kết luận: “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh” - Tư tưởng này đã chế ngự trong suốt thể kỉ XIX Ông cho rằng: “Mỗi cá nhân không có ý định để thúc đẩy lợi ích công cộng, cũng không biết sẽ xúc tiến nó nhiều thế nào anh ta chỉ có ý định bảo mật cho riêng mình; và bằng cách chỉ đạo ngành công nghiệp mà trong một cách thức như sản phẩm của nó có thể là giá trị lớn nhất, anh ta dự định chỉ đạt riêng của mình, và dù trong trường hợp này, hay nhiều trường hợp khác, dẫn đầu bởi một bàn tay vô hình để thúc đẩy một kết thúc mà không có một phần của ý định của mình” [37, tr.184-185]
Lý luận của A.Smith về cơ chế của thị trường tự do hay về tác động của
“Bàn tay vô hình” được thể hiện qua các nội dung cụ thể:
- Mỗi người chỉ làm công việc gì mang lại lợi ích cho chính họ Trong
cơ chế thị trường đơn giản đó là công việc mà họ được trả tiền Một người làm việc không phỉa do sự thúc đẩy nhu cầu của người khác mà chính lợi ích của anh ta, anh ta sẽ được gì từ công việc của mình
- Cơ chế cạnh tranh sẽ kìm hãm sự tham lam vị kỷ của mỗi người khi người đó tìm cách kiếm lời quá đáng, nó buộc mọi người phải quan sát đối thủ để xem bằng cách nào anh ta có thể bán được nhiều hàng chiếm được ưu thế trong việc giành giật khách hàng và lợi nhuận, việc trả công cao hay thấp
Trang 36chi phí nhiều hay ít không còn là việc riêng mỗi người Cơ chế cạnh tranh đã mang lại “sự hài hòa xã hội”
- “Bàn tay vô hình” còn điều tiết sản xuất hàng hóa theo nhu cầu của xã hội một cách hợp lý Việc phân phối các nguồn lực để sản xuất hàng hóa một cách hợp lý nhất đạt được không cần bất kỳ một lực lượng nào khác bên ngoài thị trường can thiệp
- Kết quả có tính chất tổng hợp của cơ chế thị trường nói chung và của cạnh tranh nói riêng là việc phân bổ vốn và lao động hợp lý giữa các ngành sản xuất khác nhau Bí ẩn của cơ chế thị trường tự do là khả năng tự điều tiết làm cân bằng cung cầu Đằng sau sự hỗn loạn có tính chất tưởng tượng đó là những yêu cầu về trật tự rất nghiêm khắc của thị trường Các lực lượng vô hình của thị trường luôn thường trực để cưỡng chế tác nhân các chủ thể tham gia thị trường
đi đúng những luật lệ của nó Đó là sức mạnh của bàn tay vô hình
Lý thuyết “Bàn tay vô hình” có vai trò quan trọng, nó thể hiện tôn trọng quy luật kinh tế khách quan; tôn trọng tư tưởng tự do kinh tế (tự do kinh doanh,
tự do sản xuất, tự do cạnh tranh, thị trường tự do ) Chính vì vậy, ở bốn nước trong diện khảo sát, học thuyết này hầu hết đều được áp dụng để thúc đẩy được
sự cạnh tranh báo chí và phát triển kinh tế báo chí truyền thông
1.2.1.2 Lý thuyết kinh tế của David Ricardo
Năm 1817, D Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage) Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản
phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác Ông cho rằng mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không
có lợi thế so sánh Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế [38, tr.140]
Trang 37Và một trong những vấn đề được D Ricardo phân tích khá hay là lý thuyết giá trị của lao động Theo đó, giá trị hay giá cả của hàng hoá phụ thuộc nhiều vào số lượng lao động được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó Điều này ngụ ý rằng: (1) hoặc lao động là yếu tố duy nhất để sản xuất ra hàng hóa hoặc lao động được sử dụng với một tỷ lệ cố định như nhau ở tất cả các loại hàng hoá và (2) lao động là đồng nhất (nghĩa là chỉ có một loại lao động) Vì
cả hai giả thiết này không hợp lý nên chúng ta không thể giải thích lợi thế so sánh dựa trên lý thuyết giá trị của lao động Thậm chí, D Ricardo còn khẳng định : "giá trị của hàng hoá hay số lượng của một hàng hoá nào đó khác mà hàng hoá đó trao đổi là do số lượng lao động tương đối cần thiết để sản xuất
ra hàng hoá đó quyết định” Điều đó cho thấy rằng D Ricardo đã thấy rõ nguyên nhân của hàng hóa có giá trị trao đổi Ông đã khẳng định một cách thuyết phục rằng giá trị hàng hoá giảm khi năng suất lao động tăng lên
Tuy đã có những tiến bộ nhất định, nhưng học thuyết lợi thế so sánh của
D Ricardo vẫn còn những hạn chế, đặc biệt trong lý luận giá trị Đó là : Thứ nhất: Chưa phân biệt giá trị và giá cả sản xuất mặc dù đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận ; thứ hai : Coi giá trị là phạm trù vĩnh viễn, là
thuộc tính của mọi vật (theo Mác phạm trù này chỉ tồn tại trong nền sản xuất
hàng hoá); thứ ba: Chưa phát hiện ra tính chất hai mặt của sản xuất hàng hoá; thứ tư: Chưa làm rõ tính chất lao động xã hội quy định giá trị như thế nào,
thậm chí cho rằng lao động xã hội cần thiết do điều kiện sản xuất xấu nhất
quyết định; thứ năm: Chưa phân tích được mặt chất của giá trị và các hình
thái giá trị
Chỉ khi đến lý luận của C.Mác ra đời mới phân biệt số 2 thuộc tính của hàng hoá đó là giá trị sử dụng và giá trị có sự thống nhất biện chứng Đây là chìa khoá để giải quyết một loạt các vấn đề trong kinh tế
Trang 381.2.1.3 Lý thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác
C Mác (Đức, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 - mất năm 1883) là người
đã để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng quý giá
C Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, nên ông đã đưa lý luận giá trị lao động tới đỉnh cao Lao động sản xuất ra hàng hóa có tính hai mặt:
* Lao động cụ thể: Đó là những lao động ngành nghề, chúng được phân biệt với nhau bởi thao tác riêng, đối tượng riêng, mục đích riêng và kết quả riêng Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Tính đa dạng và phong phú của của cải là do tính đa dạng và phong phú của những lao động cụ thể quy định Tất cả những lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn Như vậy, với việc phát hiện ra mặt thứ nhất của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã trả lời được câu hỏi: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Nhưng đã là hàng hóa thì vật phẩm ấy phải được dùng để trao đổi trên thị trường Cái gì đã tạo ra được sự trao đổi ấy, C.Mác nói đó là giá trị do lao động trừu tượng tạo ra
* Lao động trừu tượng: Lao động sản xuất ra hàng hóa nếu coi là sự hao phí sức lao động nói chung của con người không tính đến các hình thức cụ thể của nó như thế nào thì gọi là lao động trừu tượng Lao động trừu tượng tạo nên giá trị của hàng hóa
Với việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã lý giải được cơ sở tạo ra các thuộc tính hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động Một hàng hóa có hai thuộc tính bởi lao động để sản xuất
ra hàng hóa đó có tính hai mặt Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Hàng hóa là hết thẩy những vật và những thứ có thể thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người và chúng được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng mà để trao đổi, mua bán trên thị trường
Trang 39Ông từng nói: "Thời gian lao động được vật hoá trong các giá trị sử dụng của hàng hoá, là cái thực thể làm cho các trị sử dụng trở thành những giá trị trao đổi, vì vậy trở thành những hàng hoá, đồng thời nó cũng đo những
lượng nhất định giá trị của hàng hoá” [31, tr.352-353]
Học thuyết này phần nào đã giải thích rõ cho phương diện phát triển kinh tế báo chí, truyền thông Thông tin báo chí nói riêng và các sản phẩm thông tin báo chí nói chung cũng được coi là một loại hàng hóa Do vậy, nó cũng được sản xuất (lao động báo chí) và đem ra trao đổi (phát hành, phát sóng) Hoạt động kinh tế báo chí cũng phải tuân theo quy luật giá trị: giá trị của các sản phẩm báo chí phải dựa trên cơ sở lao động của đội ngũ phóng viên, biên tập, quản lý báo chí, đảm bảo cung cấp đầy đủ các điều kiện để người làm báo sản xuất và tái sản xuất các sản phẩm đó, tạo thành một quy trình khép kín Quy luật về giá trị cũng góp phần kích thích báo chí nâng cao chất lượng, tăng năng suất lao động trong các bộ phận của mình
1.2.2 Cơ sở lý thuyết cụ thể của vấn đề nghiên cứu
1.2.2.1 Sản phẩm báo chí là sản phẩm hàng hóa
Lâu nay ở Việt Nam, sản phẩm báo chí được coi là sản phẩm chính trị
-xã hội và được bao cấp, hoặc được phát không hoặc được mua từ tiền ngân sách Như vậy, sản phẩm báo chí không được coi là sản phẩm hàng hóa; và đương nhiên, báo chí truyền thông không có thị trường Nhưng như trên đã trinh bày, theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, trong Giáo trình Bài giảng Kinh
tế báo chí - Truyền thông cho các lớp cao học báo chí, sản phẩm báo chí cũng
là sản phẩm hàng hóa, và là hàng hóa đặc biệt Loại hàng hóa này được trao đổi, mua bán mà sản phẩm của nó khá phong phú, đa dạng
1.2.2.2 Công chúng là khách hàng
Nếu sản phẩm báo chí không được coi là hàng hóa thì công chúng cũng không được coi là khách hàng; thậm chí sản phẩm thông tin báo chí được bao
Trang 40cấp và phân chia quyền hưởng thụ, quyền tiếp cận theo những tiêu chí riêng,
có tính chất nội bộ của hệ thống chính trị Trong luận văn này, vẫn theo tư tưởng đã nêu trên ở Giáo trình Kinh tế báo chí - Truyền thông cho các lớp cao học báo chí, thì công chúng là khách hàng Tức là những người tiếp nhận sản phẩm và dịch vụ báo chí - truyền thông cần chi trả những gì mà họ có nhu cầu Do đó, nhà cung cấp cần đặc biệt quan tâm tới nhu cầu công chúng - khách hàng trước khi sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ; đồng thời, lấy công chúng - khách hàng làm trọng Bởi vì trên cơ sở phát triển công chúng - khách hàng mới phát triển thị trường báo chí, truyền thông
Báo chí truyền thông ở Indonesia hoạt động dựa trên những nguyên tắc triết
lý quốc gia, dựa trên tinh thần độc lập dân tộc và phát triển Điều này đã được đưa vào Lời nói đầu của Hiến pháp Indonesia năm 1945 và cả Luật báo chí (sửa đổi) năm 1982: “Nền báo chí dân tộc phải có nghĩa vụ cổ vũ tinh thần dân tộc, tăng cường sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, củng cố trách nhiệm xã hội và
kỷ luật quốc gia, góp phần nâng cao dân trí, và cổ động mọi người tham gia vào xây dựng đất nước” Hiện tại, việc phát triển báo chí truyền thông ở nước này dựa trên những văn bản, luật dưới đây: Luật số 32 năm 2002 hạn chế quyền sở hữu báo chí truyền thông theo chiều ngang; Luật phát sóng số 32- 2002; Luật Thông
tin điện tử và giao dịch (được trình bày rõ trong mục 2.2.1.1)