KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIBÀI CÁ NHÂN LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI ĐỀ TÀI SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM VỚI QUYỀN ĐƯỢC HỖ TRỢ VỀ GIA ĐÌNH ĐIỀU 10
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÀI CÁ NHÂN
LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
ĐỀ TÀI
SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT
NAM VỚI QUYỀN ĐƯỢC HỖ TRỢ VỀ GIA ĐÌNH
(ĐIỀU 10, CÔNG ƯỚC ICESCR 1966)
HỌ VÀ TÊN:
LỚP: LUẬT HỌC MSSV:
LỚP HỌC PHẦN: CAL 3012 GIẢNG VIÊN: TS NGÔ MINH HƯƠNG
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá hay Công ướcICESCR là một công ước quốc tế được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông quangày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 03 tháng 01 năm 1976 Như têngọi, công ước quy định các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá của con người.Trong đó có quyền được hỗ trợ về gia đình, được quy định tại Điều 10 công ướcnày
Bài viết này với cấu trúc hai phần sẽ dựa trên nội dung quy định về quyềnđược hỗ trợ về gia đình trong Công ước ICESCR và hệ thống, tổng hợp, đưa ranhững nét tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với quyền được
hỗ trợ về gia đình (quy định tại Điều 10 Công ước ICESCR)
Trang 3I Khái quát quyền được hỗ trợ về gia đình
Quyền được hỗ trợ về gia đình hay còn được hiểu là quyền về gia đình, hônnhân tự do, chăm sóc bà mẹ và trẻ em được quy định tại Điều 10 Công ướcICESCR Trong đó các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận cần dành sựgiúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa có thể được cho gia đình – tế bào cơ bản và tựnhiên của xã hội – nhất là đối với việc tạo lập gia đình và trong khi gia đình chịutrách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em đang sống lệ thuộc Việc kết hôn phảiđược cặp vợ chồng tương lai chấp thuận tự do
Bên cạnh đó, cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảngthời gian thích đáng trước và sau khi sinh con Trong khoảng thời gian đó, các
bà mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi an sinh xã hội
Và, cũng cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối vớimọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vìcác lý do xuất thân hoặc các điều kiện khác Trẻ em và thanh thiếu niên cầnđược bảo vệ để không bị bóc lột về kinh tế và xã hội Việc thuê trẻ em và thanhthiếu niên làm các công việc có hại cho tinh thần, sức khoẻ hoặc nguy hiểm tớitính mạng, hay có hại tới sự phát triển bình thường của các em phải bị trừng trịtheo pháp luật Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà việc thuêlao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt
Có thể nói Điều 10 Công ước ICESCR không phải là điều khoản pháp lý đầutiên đề cập đến quyền về gia đình, hôn nhân tự do, chăm sóc bà mẹ và trẻ em.Bởi ngay trong Bị chú của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc về việc soạn thảo Côngước Nhân Quyền (1995) cũng đã ghi nhận các quyền liên quan đến việc làm mẹ,trẻ em, kết hôn và gia đình; Điều 25 UDHR; hay như Điều 23 và 24 của ICCPR.Tuy nhiên vẫn có những sự khác biệt rõ rệt và lý giải tại sao cần đến sự tồn tạipháp lý của điều khoản này Một trong số đó là vởi Điều 10 đề cập rõ ràng tráchnhiệm của quốc gia thành viên “dành sự giúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa” vớigia đình; quy định cụ thể quyền hưởng an sinh xã hội trong thời gian thai sảncũng đã được tích hợp trong quyền hưởng an sinh xã hội và quyền hưởng điềukiện làm việc công bằng và thuận lợi Đặc biệt là bảo hộ trẻ em và thanh thiếu
Trang 4niên khỏi sự bóc lột về kinh tế và xã hội và cấm lao động trẻ em dưới một độtuổi nhất định cũng như các công việc có hại cho trẻ em1.
II Sự tương thích với pháp luật và thực tiễn của Việt Nam
1 Tương thích với pháp luật quy định về hôn nhân gia đình, bà mẹ và trẻ
em sau sinh
Thật vậy, việc tôn trọng hôn nhân tự do của vợ và chồng theo khoản 1 Điều
10 ICESCR cũng tương thích với Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình
2014 Theo đó, công dân Việt Nam cũng được kết hôn tự do, tự nguyện khi đủtuổi và không bị mất năng lực hành vi dân sự Bên cạnh đó, tại Điều 4 Luật Hônnhân và Gia đình 2014, còn đề cập đến trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đốivới hôn nhân và gia đình Nêu rõ Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hônnhân và gia đình; tôn trọng phong tục tập quán của mỗi dân tộc nhưng sẽ vậnđộng nhân dân xoá bỏ nếu nó lạc hậu; và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cácthành viên trong gia đình Điều này đã thể hiện được trách nhiệm của quốc giatrong việc giúp đỡ và bảo hộ với gia đình, tinh thần của Khoản 1 Điều 10ICESCR
Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định: “Chồngkhông có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặcđang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Mục đích của quy định nhằm bảo vệ quyềnlàm mẹ của người phụ nữ, gắn trách nhiệm của người chồng trong việc tạo điềukiện cho người vợ thực hiện chức năng làm mẹ Điều này tương thích với tiêuchí bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước
và sau khi sinh con
Ngoài ra, Bộ luật Lao động 2019 cũng có hẳn một chương riêng quy định vềlao động là phụ nữ, cũng như các điều khoản bảo hộ cho lao động là phụ nữ cóthai, sau khi sinh Cụ thể như việc bảo hộ lao động cho phụ nữ có thai khi quyđịnh người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứthợp đồng lao động với người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ
1 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, (2012) “Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá [ICESCR, 1966]”, Nxb Hồng Đức, Tr 120 – 121.
Trang 5thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động2019)
Thêm nữa, còn có hẳn một điều khoản quy định cụ thể về việc nghỉ thai sản,
là Điều 139 và Điều 140 Bộ luật Lao động 2019 Theo đó, không chỉ quy địnhthời gian được nghỉ thai sản, chế độ thai sản, trợ chấp trong thời gian chăm sóccon ốm đau, thai sản mà còn đề cập đến lao động nam khi vợ sinh con, laođộng nữ mang thai hộ, lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ
Có thể nói, việc bảo hộ quyền lợi trong lao động của bà mẹ sau sinh ở đây đãđược cụ thể hơn rất nhiều, cũng như đã xét đến nhiều mặt của việc sinh sản hơn(liên quan đến chăm sóc trước, sau sinh) Và để cụ thể hoá cho chế độ thai sảnthì đã có quy định từ Điều 32 đến Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quy địnhcác vấn đề về thời gian hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thaichết lưu hoặc phá thai bệnh lý; trợ cấp khi sinh con hoặc nhận con nuôi; mứchưởng chế độ thai sản, Những điều này đều tương thích với quy định tạiKhoản 2 Điều 10 về bảo hộ các bà mẹ trước và sau khi sinh
Đặc biệt là việc quy định quyền của những bà mẹ là phạm nhân cũng đượcpháp luật Việt Nam quan tâm đến Trước đây, Việt Nam không có những quyđịnh về phạm nhân là sản phụ hay về trẻ em là con của phạm nhân và sống cùngtrong trại giam giữ
Ví dụ một thời điểm có thể đưa ra là năm 1994, Thông tư liên tịch 01/TT banhành ngày 02/03/1994 không có quy định gì về phạm nhân là sản phụ hay concủa phạm nhân Tuy nhiên, cùng với quá trình quốc tế hoá, hội nhập hoá, tiếpthu và học hỏi quốc tế thì đến nay những quy định về chế độ của phạm nhân nữmang thai và con của phạm nhân là không còn hiếm thấy trong hệ thống phápluật hình sự, thi hành án hình sự Việt Nam
Qua đây có thể thấy nỗ lực của pháp luật Việt Nam trong việc cố gắng bảo vệcác bà mẹ và trẻ em ngay cả trong những hoàn cảnh đặc biệt nhất, thể hiện tinhthần hội nhập thiện chí và sự tương thích với các quy định nhân quyền về bảo vệ
bà mẹ và trẻ sau sinh
Trang 62 Tương thích với pháp luật về bảo vệ và trợ giúp trẻ em, thanh thiếu niên
Luật pháp Việt Nam cũng có những quy định, những biện pháp bảo vệ và trợgiúp trẻ em, thanh thiếu niên tương thích với Điều 10 ICESCR thuộc quyềnđược hỗ trợ về gia đình Việt Nam đã ban hành Luật Trẻ em năm 2016, trong đó
có đặt ra các quy định cụ thể để bảo hộ, trợ giúp trẻ em trước hết như đưa ramức giới hạn tuổi, trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1 Luật Trẻ em 2016) vàquy định việc cấm kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì bất cứ lý do gì (Khoản 8Điều 6 Luật Trẻ em 2016); phù hợp với tinh thần không phân biệt đối xử vì xuấtthân hay các điều kiện khác của Khoản 3 Điều 10 ICESCR
Về việc chống bóc lột lao động là trẻ em, thanh thiếu niên, Bộ luật Lao động
2019 cũng lập hàng rào ngay từ đầu khi quy định rằng độ tuổi lao động tối thiểucủa người lao động là đủ 15 tuổi, trừ một số trường hợp đặc biệt (Khoản 1 Điều
3 Bộ luật Lao động 2012) Hay tại Khoản 7 Điều 8 Bộ luật Lao động 2019 cũngđặt ra quy định cấm sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật
Bên cạnh đó, nhằm chống việc vi phạm trong sử dụng lao động dưới 16 tuổi,
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) còn quy định tại Điều 296 rằngngười nào sử dụng người lao động dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguyhiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6tháng đến 3 năm
Ngoài Luật Trẻ em 2016, Bộ luật Lao động 2019, Bộ luật Hình sự 2015 (sửađổi, bổ sung 2017), Quốc hội còn ra Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19tháng 6 năm 2020 về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chínhsách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em và Nghị định số 56/2017/NĐ-
CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều củaLuật Trẻ em Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 782/QĐ-TTg
về Phê duyệt chương trình phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy địnhcủa pháp luật giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 (gọi tắt làChương trình) Những hành lang pháp lý này đều để nhằm phòng ngừa, giảmthiểu trẻ em lao động trái pháp luật
Trang 7Qua những quy định pháp luật kể trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam đã đề
ra những biện pháp bảo vệ, trợ giúp đối với trẻ em, thanh thiếu niên mà không
có bất kỳ sự phân biệt nào Tạo ra hành lang pháp lý để phòng ngừa, giảm thiểulao động trẻ em Bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên khỏi vấn nạn bị bóc lột về kinh
tế, xã hội Và cũng định ra giới hạn về độ tuổi mà việc thuê lao động trẻ em dướihạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt Từ đó có thể thấy được
sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các quy định bảo hộ trẻ em, thanhthiếu niên theo quyền được hỗ trợ về gia đình tại Khoản 3 Điều 10 ICESCR
KẾT LUẬN
Bài viết gồm hai phần đã khái quát được về một quyền trong số các quyềnthuộc Công ước ICESCR, đó là “quyền được hỗ trợ về gia đình” Hệ thống vàđưa ra được những điểm tương thích trong pháp luật và thực tiễn tại Việt Namvới nội hàm của quyền được hỗ trợ về gia đình tại Điều 10 Công ước ICESCR.Với những gì được học, tự đúc rút, tôi đã phần nào làm rõ vấn đề cũng nhưlàm rõ được nội dung Từ đây, tôi cũng tự củng cố, làm giàu kiến thức cho bảnthân nhiều hơn nữa về quyền được hỗ trợ về gia đình và sự tương thích với nócủa pháp luật Việt Nam
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, (2012) “Giới thiệu công ước quốc tế
về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá [ICESCR, 1966]”, Nxb Hồng Đức
2 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, (2009) “Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, (1966) “Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hoá, 1966”, Hoa Kỳ
4 Quốc hội, (2014) “Luật Hôn nhân và gia đình”, Nxb Lao động
5 Quốc hội, (2014) “Luật Bảo hiểm xã hội”, Nxb Lao động
6 Quốc hội, (2016) “Luật Trẻ em”, Nxb Lao động
7 Quốc hội, (2017) “Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung)”, Nxb Lao động
8 Quốc hội, (2019) “Bộ luật Lao động”, Nxb Lao động
Trang 9Đề bài: Phân tích sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với Điều 10 trong công ước ICESCR
1 Khái quát lý thuyết
1.1 Quyền con người
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của conngười được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân luôn được tôn trọng và bảo đảm
1.2 Công ước ICESCR
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (InternationalCovenant on Economic, Social and Cultural Rights – viết tắt là ICESCR) là mộttrong hai công ước trụ cột về nhân quyền (bên cạnh Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và chính trị) và là một cấu phần của Bộ luật Nhân quyền quốc tế(bao gồm hai công ước này và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền)
Từ khi tham gia ICESCR (năm 1982), nhà nước Việt Nam đã có những
nỗ lực lớn trong việc hiện thực hóa và thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội, vănhóa của người dân Mặc dù vậy, cũng như nhiều quốc gia thành viên khác, ViệtNam vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức.2
2 Sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với Điều 10 Công ước ICESCR
Điều 10 Công ước ICESCR quy định:
Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận rằng:
1 Cần dành sự giúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa có thể được cho gia đình - tế bào cơ bản và tự nhiên của xã hội - nhất là đối với việc tạo lập gia đình và trong khi gia đình chịu trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em đang sống lệ thuộc Việc kết hôn phải được cặp vợ chồng tương lai chấp thuận tự do.
2 Cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước và sau khi sinh con Trong khoảng thời gian
đó, các bà mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi
2 Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966), Trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2012
Trang 10định ra những giới hạn về độ tuổi mà việc thuê lao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt.
2.1 Điều 10 Công ước ICESCR tương thích với Luật hôn nhân gia đình 2014
Tương thích với Khoản 1 của Điều 10 Công ước ICESCR thì Điều 2 Luậthôn nhân gia đình 2014 đã quy định rõ về những nguyên tắc cơ bản của chế độhôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình quy định những nguyên tắc cơbản của chế độ hôn nhân và gia đình, đó là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợmột chồng, vợ chồng bình đẳng Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc cácdân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữangười có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Namvới người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Xây dựng giađình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng,quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con Nhànước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi,người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà
mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa giađình Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc ViệtNam về hôn nhân và gia đình Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật hônnhân và gia đình cũng quy định ngăn cấm đối với các hành vi như kết hôn giảtạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác hoặc chưa có vợ,…
Thực tế, vẫn còn việc kết hôn trước độ tuổi cho phép, hôn nhân cận huyếtcùng với việc không được trang bị kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng tránhthai gây khó khăn cho việc kiểm soát dân số và kế hoạch hóa gia đình, nhữnggia đình có điều kiện kinh tế khó khăn càng trở nên khó khăn hơn Hơn nữa, trẻ
em sinh ra bị suy dinh dưỡng, và mắc các bệnh hiểm nghèo nếu không có điềukiện chữa trị dẫn tới nguy cơ tử vong rất cao, ảnh hưởng tới nguồn lực lao động
Trang 11của xã hội Những điều đó kìm hãm hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế vàgiao lưu văn hóa, làm phức tạp hơn Thực trạng hôn nhân ở Việt Nam hiện nay.
Có thể thấy, hiện tượng tảo hôn và hôn nhân cận huyết không còn xa lạ, đặc biệt
là ở những vùng sâu vùng xa, vùng có dân tộc thiểu số sinh sống Nguyên nhâncủa hiện tượng này cũng rất da dạng, có thể kể đến như phong tục tập quán vàlối sống khép kín, trình độ nhận thức chưa cao của đồng bào dân tộc Những hủtục đã ăn sâu vào đời sống và truyền từ đời này qua đời khác Nhà nước cần phổbiến tuyên truyền và đưa ra thêm những chính sách hợp lý để có thể cải thiệnđược tình trạng này
2.2 Khoản 2 Điều 10 Công ước ICESCR tương thích với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, thì trong thời kỳ mang thai, laođộng nữ được nghỉ việc đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày, trong trường hợp
ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thườngthì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai, không bao gồm ngày nghỉ lễ Tết,nghỉ hàng tuần Chế độ bảo hiểm xã hội cho lao động nữ nghỉ việc đi khám thailà: Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ nghỉ đi khám thai tính theongày bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày Trong đó,mức hưởng chế độ thai sản được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương,tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.Nếu đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản làmức bình quân tiền lương, tiền công của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội
Để đảm bảo sức khỏe và chuẩn bị tốt cho việc sinh con, nuôi connhỏ, pháp luật cho phép lao động nữ mang thai có quyền nghỉ thai sảntrước sinh Theo đó, lao động nữ sẽ được nghỉ trước và sau sinh con là 06tháng Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng Như vậy,lao động nữ mang thai có quyền nghỉ trước 02 tháng trước khi sinh, thờigian này được khấu trừ vào thời gian nghỉ thai sản (Điều 157 Bộ luật Laođộng năm 2012)
Trang 12Thực tế, vẫn còn hạn chế như khi doanh nghiệp sử dụng lao động
nữ, lao động nữ mang thai, họ phải chịu nhiều bất lợi hơn so với sử dụnglao động là nam giới Bởi lẽ, lao động nữ không thể khỏe mạnh, năngđộng được bằng nam giới Nhưng, quy định của pháp luật chưa quan tâmnhiều tới quyền lợi của người sử dụng lao động nữ Theo quy định tạiNghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy địnhchi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động
nữ thì doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ “được giảm thuế thunhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanhnghiệp; các khoản chi tăng thêm cho lao động nữ được tính vào chi phíđược trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quyđịnh” Tuy nhiên, lợi ích mà họ được hưởng từ Nhà nước không bù lạiđược số tiền họ chịu thiệt khi sử dụng lao động nữ Đặc biệt, Nhà nướcchưa xây dựng cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp có sử dụng lao động nữmang thai Điều đó làm cho các doanh nghiệp không có động lực sử dụnglao động nữ, đặc biệt là những lao động nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ,chưa sinh con.3
Do vậy, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụnglao động nữ mang thai, đảm bảo cơ chế hỗ trợ phải bù đắp được nhữngbất lợi mà họ phải chịu khi sử dụng lao động nữ mang thai Ngoài ra, thủtục để doanh nghiệp được nhận hỗ trợ khi sử dụng lao động nữ mang thaicần đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả Quy định theo hướng như vậy tạođộng lực cho những doanh nghiệp sử dụng lao động nữ, lao động nữmang thai và cũng hạn chế được trường hợp doanh nghiệp từ chối sửdụng những lao động là nữ ở độ tuổi, thời điểm sinh đẻ
3 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ mang thai, Lưu Trần Phương Thảo – Nguyễn Thanh Hiền, Tạp chí Tòa án Nhân dân điện tử, 2019.
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa(ICESCR, 1966), Trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân,Nhà xuất bản Hồng Đức, 2012
2, Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ mang thai, Lưu Trần PhươngThảo – Nguyễn Thanh Hiền, Tạp chí Tòa án Nhân dân điện tử, 2019
3, Công ước ICESCR 1966
4, Luật Hôn nhân và gia đình 2014
5, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trang 14I TỔNG QUAN VỀ QUYỀN VỀ GIA ĐÌNH, HÔN NHÂN TỰ DO, CHĂM SÓC BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRONG CÔNG ƯỚC ICESCR
Quyền về gia đình, hôn nhân tự do chăm sóc bà mẹ và trẻ em là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa, cụ thể ở Điều 10:
“Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận rằng:
1 Cần dành sự giúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa có thể được cho gia đình
- tế bào cơ bản và tự nhiên của xã hội - nhất là đối với việc tạo lập gia đình và trong khi gia đình chịu trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em đang sống lệ thuộc Việc kết hôn phải được cặp vợ chồng tương lai chấp thuận tự do.
2 Cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước và sau khi sinh con Trong khoảng thời gian đó, các bà
mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi an sinh xã hội.
3 Cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối với mọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì các lý
do xuất thân hoặc các điều kiện khác Trẻ em và thanh thiếu niên cần được bảo
vệ để không bị bóc lột về kinh tế và xã hội Việc thuê trẻ em và thanh thiếu niên làm các công việc có hại cho tinh thần, sức khoẻ hoặc nguy hiểm tới tính mạng, hay có hại tới sự phát triển bình thường của các em phải bị trừng trị theo pháp luật Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà việc thuê lao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt”
Cho tới nay ICESER chưa có bình luận chung cụ thể nào cho Điều 10, tuy nhiên, tại Hướng dẫn báo cáo thực thi Công ước, Ủy ban đưa ra 7 vẫn đề yêu cầu phải báo cáo như sau:
● Các dịch vụ xã hội nhằm hỗ trợ gia đình, cũng như các điều khoản pháp
lý đã có để đảm bảo cơ hội bình đẳng cho tất cả các gia đình, đặc biệt là các gia đình nghèo, các gia đình dân tộc thiểu số, và các gia đình (cha hoặc mẹ) đơn thân, liên quan đến: (a) Chăm sóc trẻ; và (b) Các dịch vụ xã hội giúp cho người già và người khuyết tật.
Trang 15● Cơ chế bảo vệ bà mẹ tại quốc gia thành viên, bao gồm các điều kiện làm việc và việc cấm sa thải khi mang thai, đặc biệt là: (a) Với những phụ nữ không được hưởng các phúc lợi liên quan đến công việc khi sinh con; (b) Thời gian được nghỉ phép sinh con có hưởng lương, trước sau khi sinh, và các khoản hỗ trợ tiền mặt, y tế
và các biện pháp hỗ trợ khác trong khi mang thai, sinh con và sau sinh; và (c) Liệu nam giới có được nghỉ sinh con, và có nghỉ phép cho cha mẹ với cả nam giới và phụ nữ.
● Các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ được thực hiện nhân danh trẻ em và thanh niên, bao gồm: (a) Giới hạn tuổi với lao động trẻ em có trả lương trong các khu vực nghề nghiệp khác nhau bị cấm theo luật của quốc gia thành viên và việc áp dụng các điều khoản hình sự đã có với việc thuê lao động trẻ em dưới tuổi cho phép và việc
sử dụng lao động trẻ em cưỡng bức; (b) Giám sát tình trạng lao động trẻ em và kế hoạch hành động quốc gia nhằm giải quyết tình trạng lao động trẻ em; và (c) Tác động của các biện pháp đã được thực hiện nhằm bảo vệ trẻ em khỏi việc phải làm việc trong những điều kiện độc hại nguy hiểm làm ảnh hưởng đến sức khỏe và chống lại nhiều hình thức bạo lực và bóc lột.
● Các văn bản pháp lý và các cơ chế đã có nhằm bảo vệ các quyền kinh,
xã hội và văn hóa của người già ở quốc gia thành viên, đặc biệt là những việc thực hiện các luật và các chương trình lạm dụng, bỏ rơi, làm ngơ, đối xử tàn tệ đối với người già
● (a) Việc hình sự hóa các hành vi bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực chống lại phụ nữ và trẻ em, bao gồm cưỡng bức trong hôn nhân và lạm dụng tình dục với phụ nữ và trẻ em và con số các trường hợp công bố, cũng như các hình phạt áp dụng lên những người vi phạm; (b) Kế hoạch hành động quốc gia nhằm giải quyết tình trạng bạo lực gia đình, các biện pháp đã có nhằm hỗ trợ và phục hồi cho các nạn nhân,
và (c) Các biện pháp nâng cao nhận thức công chúng và đào tạo các nhân viên hành pháp và những nhân viên có liên quan về bản chất tội phạm của các hành vi bạo lực gia đình
● Các văn bản pháp lý cụ thể hình sự hóa việc buôn bán người và các cơ chế nhằm giám sát việc thực thi nghiêm khắc những quy định này Con số các trường hợp buôn người được ghi nhận từ đến và qua quốc gia thành viên, cũng như hình phạt
Trang 16với những người vi phạm; (b) Chương trình hành động quốc gia nhằm giải quyết tình trạng buôn người và các biện pháp đã được thực hiện nhằm hỗ trợ nạn nhân, bao gồm
hỗ trợ y tế.
Các tiêu chí này sẽ được tác giả sử dụng nhằm so sánh quy định quyền về gia đình, tự do hôn nhân, chăm sóc bà mẹ và trẻ em trong pháp luật Việt Nam với những quy định của ICESCR
II QUYỀN VỀ GIA ĐÌNH, TỰ DO HÔN NHÂN, CHĂM SÓC BÀ MẸ
VÀ TRẺ EM TẠI PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ SỰ TƯƠNG THÍCH VỚI QUY ĐỊNH ICESER
2.1 Quyền về gia đình, tự do hôn nhân, chăm sóc bà mẹ và trẻ em tại pháp luật Việt Nam
a Hiến pháp
Tại Hiến pháp 2013, các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa được ghi nhận tại Khoản 1 Điêu 14, khoản 2 Điều 16, … Trong phạm vi nghiên cứu thì quyền về gia đình, tự do hôn nhân, chăm sóc bà mẹ và trẻ em được quy định tại
Điều 36, 38, theo đó: “Nam, nữ có có quyền kết hôn theo nguyên tắc tự nguyện,
tiến bộ”, “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”
Những nguyên tắc hiến định trên, tiếp tục được thể chế hóa trong các ngành luật Dân sự, Hình sự, Hành chính và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan.
b Luật Hình sự
Tại BLHS 2015 sdbs 2017, quyền về gia đình, tự do hôn nhân, chăm sóc
bà mẹ và trẻ em, được quy định cụ thể tại Chương XVII về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 181 đến Điều 187)
Bên cạnh đó, BLHS 2015 sdbs 2017 cũng quy định những tội phạm khác
có khả năng gây ảnh hưởng đến quyền về gia đình, tự do hôn nhân, chăm sóc
bà mẹ và trẻ em như Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội mua bán người (Điều 150)
Trang 17Ngoài ra, áp dụng tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên tại Điều 52 Đặc biệt, BLHS còn quy định không áp dụng hình phạt
tử hình đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, người đang nuôi con dưới
36 tháng tuổi hoặc người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
c Luật Hành chính
Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, theo đó áp dụng với các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn; vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn
và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, ….
d Luật Dân sự
Pháp luật dân sự Việt Nam sớm quy định các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa Cụ thể, tại Điều 39 BLDS 2015 quy định “Cá nhân có quyền kết hôn, ly
hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình; Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan”
e Luật người cao tuổi
Luật người cao tuổi 2009 quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; Hội người cao tuổi Việt Nam.