1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên lý về sự phát triển và việc vận dụng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực ở huyện hương trà, thừa thiên huế hiện nay

106 3K 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên lý về sự phát triển và việc vận dụng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế hiện nay
Tác giả Trần Quang Quốc
Trường học Trường Đại Học Khoa Học, Đại học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học triết học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 548 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề ra một số định hướng điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp với yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa.Ngoài ra, liên quan đến một số vấn đề trong đề tài có các công trình, bài viết khác của

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 9

Chương 1 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 9

1.1 Khái niệm phát triển 9

1.2 Nguồn gốc của sự phát triển 20

1.3 Tính chất của sự phát triển 24

1.3.1 Tính khách quan của sự phát triển 24

1.3.2 Tính phổ biến của sự phát triển 28

1.3.3 Tính kế thừa của sự phát triển 32

1.3.4 Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển 35

1.4 Quán triệt quan điểm phát triển trong công tác đào tạo nguồn nhân lực 38

1.4.1 Sự cần thiết của việc quán triệt quan điểm phát triển 38

1.4.2 Mối tương quan giữa nguyên lý về sự phát triển với công tác đào tạo nguồn nhân lực 43

Chương 2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VÀO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở HƯƠNG TRÀ 58 2.1 Những vấn đề về nguồn nhân lực ở Hương Trà 58

2.1.1 Vài nét về địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội của Hương Trà 58

2.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực và công tác đào tạo nguồn nhân lực ở Hương Trà 60

2.2 Chính sách “đón đầu” trong công tác đào tạo nguồn nhân lực ở Hương Trà 72

2.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực cho nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa .73

2.2.2 Đào tạo nguồn nhân lực trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội 76

2.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 79

Trang 3

2.3.2 Một số kiến nghị 94

KẾT LUẬN 97

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển sự vật, hiện tượng thực hiện theo phương thức chuyển hóa từnhững thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại trên cơ sở việcgiải quyết mâu thuẫn, vận động theo xu hướng ngày một cao hơn Quá trình pháttriển nảy sinh chính từ nội tại sự vật, là quá trình vận động không ngừng, có khinhanh, khi chậm; khi thì tuần tự, lúc thì nảy sinh hiện tượng nhảy vọt, đôi khi lại cónhững bước thụt lùi với những bước đi quanh co, phức tạp Nếu nhìn nhận sự vật,hiện tượng trong cả một chặng đường thì đó chính là quá trình phát triển của nó

Khi con người nhận thức được nguyên lý về sự phát triển thì chúng ta mớithấy việc cần thiết của quan điểm phát triển Quán triệt quan điểm phát triển có ýnghĩa quan trọng trong quá trình nhận thức và trong hoạt động thực tiễn Quan điểmphát triển trở thành nguyên tắc chỉ đạo hành động của mỗi người, trong đó có chiếnlược xây dựng nguồn lực con người

Đảng ta khẳng định: “Con người là trung tâm chiến lược phát triển, đồng

thời là chủ thể phát triển” [11, tr.76], nguồn lực con người là nội dung cốt lõi cho sựphát triển của xã hội Đảng nhất quán trong một mục đích, chăm lo hạnh phúc conngười là mục tiêu phấn đấu cao nhất, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và pháthuy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi côngcuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàndiện cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo và tính tíchcực chính trị - xã hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm chính là mục tiêu, là độnglực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong đó, sự nghiệp đào tạo nguồnnhân lực và phát triển nhân tài là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, là tạo dựngrường cột cho tương lai đang ở phía trước Tinh thần đó được thể hiện trong Nghịquyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI với một trong những nhiệm vụtrọng tâm: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc

Trang 5

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước” [11, tr.342].Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là mộttrong ba khâu đột phá chiến lược, có vai trò là động lực thúc đẩy các nguồn lựckhác phát triển, là cú hích tạo sự thay đổi mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế -

xã hội

Đất nước sau mấy mươi năm đổi mới với nhiều nổ lực, về chính sách pháttriển nguồn nhân lực đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể Trình độ dân trí, trình độchuyên môn, kỹ thuật, thể lực, sức khỏe của nguồn nhân lực của nước ta đã tăng lên.Tuy nhiên, những thay đổi đó là chưa đủ so với những yêu cầu của sự nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ hội nhập toàndiện vào xu thế toàn cầu hóa với nhiều triển vọng, cơ hội và cũng đầy thách thức.Vượt qua những thách thức thì nguồn nhân lực phải thể hiện những thay đổi mạnh mẽ

để kịp thích ứng Khi nền kinh tế tri thức hình thành mà khoa học công nghệ là yếu tốcốt lõi ứng dụng trong quá trình sản xuất đòi hỏi con người đáp ứng đầy đủ về chuyênmôn để vận hành Và ngày nay, xã hội càng tiến bộ thì người ta càng quan tâm đếnhiệu quả của sức sản xuất, kết quả của quá trình sản xuất đó ra sao, trí tuệ con người

sẽ quyết định đến các quá trình đó Nhưng, với thực trạng nguồn nhân lực hiện nay ởnước ta như vậy khó có thể tận dụng tốt nhất cơ hội trước mắt của quốc gia mà toàncầu hóa đem lại Và nếu không mau chóng khắc phục được yếu kém về chất lượngnguồn nhân lực, chúng ta có nguy cơ khó vượt qua những khó khăn, thách thức, đốimặt với nhiều hệ quả không như mong muốn

Chất lượng nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho những hoạch định chính sách kinh

tế - xã hội khi mà nền giáo dục, đào tạo phát triển đáp ứng đúng nhu cầu Giáo dục vàđào tạo được nhà nước ta chú trọng trở thành một vấn đề quốc sách hàng đầu và làmối quan tâm lớn của toàn xã hội Mặc dù vậy, bên cạnh những khởi sắc, nền giáodục và đào tạo vẫn còn phải cần quyết tâm và nổ lực đổi mới nhiều hơn nữa khi còntồn tại nhiều bất cập, nguồn nhân lực được đào tạo vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọngcủa những bước phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, chúng ta phải có chính sách đổi

Trang 6

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo mới nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcđáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện địa hóa và hội nhập quốc tế.

Hương Trà, vùng đất nằm ở cửa ngõ phía bắc thành phố Huế, được bao bọcbởi hai con sông nổi tiếng xứ thần kinh, sông Bồ và sông Hương Nơi đây là mộtvùng đất có bề dày lịch sử hào hùng trong kháng chiến, vững mạnh trong thời kỳ đổimới, hội nhập Trong định hướng đến năm 2015, Thừa Thiên Huế phấn đấu trở thànhthành phố trực thuộc trung ương, ngày 15/11/2011, Chính phủ đã ra nghị quyết thànhlập thị xã Hương Trà Những thành công bước đầu về những thành tựu kinh tế - xãhội có được là nhờ sự nổ lực của nhân dân địa phương Điều này vừa đem đến niềm

tự hào nhưng cũng là nhiệm vụ lớn lao phải đề ra những chính sách kinh tế như thếnào để Hương Trà vươn lên xứng đáng là một thị xã phát triển, một trong nhữngtrung tâm kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế Vì lẽ đó, cùng chung sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để phát triển kinh tế, trongnhững năm qua chương trình này được đưa vào thành một trong các chương trìnhtrọng điểm của Thị xã Tuy nhiên, việc huy động, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

ở thị xã Hương Trà chưa tận dụng hết mọi lợi thế và tiềm năng về con người để thúcđẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển hơn nữa Thị xã đã có những chính sách

để phát triển nguồn nhân lực, tuy thế vẫn chưa có những kế hoạch cụ thể và lâu dài,nguồn nhân lực trẻ chưa được quan tâm, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếunhiều và năng lực còn yếu

Xuất phát từ những yêu cầu có tính cấp thiết trên đây, tôi nhận thấy từ cácnguyên tắc của phép biện chứng duy vật để bước đầu nhận thức và đánh giá vấn đề

xã hội trong đó xem xét công tác đào tạo nguồn nhân lực là việc cần làm Việc phântích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực, tìm ra những định hướng chính sách của địaphương trong giai đoạn hiện nay nhìn từ quan điểm phát triển là một điều cần thiết,

có thể góp phần nhỏ bé vào công tác đào tạo nguồn nhân lực ở Thừa Thiên Huế nói

chung và Hương Trà nói riêng Vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Nguyên lý về sự

Trang 7

phát triển và việc vận dụng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế hiện nay” làm đề tài luận văn cho mình.

Trong quá trình thực hiện đề tài, do việc quyết định thành lập thị xã Hương Trà từ huyện Hương Trà nên trong nội dung trình bày, tác giả dùng cấp hành chính là

“thị xã” thay thế cho “huyện” mà tên đề tài đã viết để phù hợp với thực tế mà khônglàm thay đổi phạm vi và nội dung vấn đề

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nội dung nguyên lý về sự phát triển đã được nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu là một vấn đề lớn của triết học được nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã cónhiều cuốn sách, nhiều công trình, bài viết, nhiều cuộc hội thảo bàn về nội dungnguyên lý về sự phát triển Chẳng hạn:

Lịch sử phép biện chứng (1998), 6 tập do các nhà khoa học bao gồm GS.TS.

Nguyễn Trọng Chuẩn, GS.TS Lê Hữu Tầng, GS TS Đỗ Minh Hợp biên dịch đãphân tích một cách có hệ thống, làm rõ bản chất của phép duy vật mácxít có ý nghĩa

to lớn về cả giá trị lý luận và thực tiễn Qua việc trên, vạch ra vai trò và ý nghĩa của

nó trong điều kiện lịch sử Việt Nam Sự phân tích quá trình hình thành và phát triểncủa phép biện chứng trong lịch sử triết học, các tác giả đã rút ra những nguyên tắc cótính phương pháp luận nhằm chỉ đạo việc xây dựng lý thuyết khoa học, cải tạo hiệnthực

Cuốn sách An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực (2005) của Mạc Văn

Tiến, tập hợp các bài viết của tác giả về các vấn đề an sinh xã hội và phát triển nguồnnhân lực Trong phần III, tác giả đã nêu lên một số vấn đề thực trạng nguồn nhân lực

ở nước ta, đưa ra các chính sách về đào tạo, vấn đề lao động và việc làm trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa; yêu cầu nhân lực trong nền kinh tế tri thức Ngoài ratác giả còn quan tâm đến phát triển lao động kỹ thuật, đến đào tạo nghề, xã hội hóagiáo dục…

Cuốn sách Giáo dục đào tạo - Quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc (2008) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tập hợp các bài nói, bài viết chọn lọc.

Trang 8

“Theo cố Thủ tướng, giáo dục và đào tạo là nhân tố có tầm quan trọng bậc nhất, góp

phần không chỉ làm nên sự nghiệp của một con người mà còn là động lực làm nên

lịch sử của cả một dân tộc Những trăn trở, suy tư của cố Thủ tướng trong giáo dục là

làm sao để trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra

học cũng chính là những điều mà mỗi chúng ta cần quan tâm để tạo ra những con

người có ích cho xã hội” (Lời nhà xuất bản)

Trong cuốn Những vấn đề kinh tế xã hội trong Cương lĩnh của Giáo sư - Tiến

sĩ Trương Long Giang và Trần Hoàng Ngân (đồng chủ biên) bao gồm các bài thamluận, bài viết về các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng được nêu trong Cương lĩnhđược bổ sung và phát triển năm 2011 Nội dung được các tác giả tập trung phân tíchnhư tổng quan về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, về cáchình thức sở hữu và các thành phần kinh tế, các vấn đề kinh tế cụ thể Và đặc biệt, cáctác giả còn quan tâm làm rõ nội dung giáo dục và đào tạo ở nước ta được nêu lêntrong Cương lĩnh

Bài viết Tư duy phát triển và sự phát triển của đất nước (2011) đăng ở Tạp chí

Triết học, Phó giáo sư - Tiến sĩ khoa học Lương Đình Hải đã đề cao tư duy phát triển

và mỗi thời đại khác nhau phải có một tư duy phù hợp với thời đại đó Tác giả chorằng, một trong những yếu tố quyết định tốc độ phát triển của quốc gia là chất lượng

nguồn nhân lực ở khía cạnh: “tài năng, trung thực, tâm huyết” cùng với đó là vai trò

của thiết chế xã hội Trên cơ sở đó, trong bối cảnh quốc gia hiện nay cần tạo lập một

tư duy mới về sự phát triển để huy động tối đa các tiềm năng và sức mạnh tổng hợpcủa cả dân tộc Để làm được điều đó, cần thực hiện các vần đề như: dân chủ hóa, khắc

phục tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực, khơi dậy tinh thần dân tộc, ngăn chặn

tham nhũng, thiếu minh bạch…

PGS.TS Nguyễn Cúc với bài viết đăng ở Tạp chí Cộng sản về nội dung Phát

triển nguồn nhân lực: Cần gắn kết trong chiến lược quy hoạch và chính sách, tác giả

đã nêu lên vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và những bất cập trong chính sách đào tạo nguồn nhân lực nước ta Cuối bài, tác giả

Trang 9

đề ra một số định hướng điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp với yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa.

Ngoài ra, liên quan đến một số vấn đề trong đề tài có các công trình, bài viết

khác của các tác giả như: Nguyễn Thanh Tân: Lôgic vận động của khái niệm trong tư

duy lý luận (2007), Doãn Chính - Đinh Ngọc Thạch (đồng chủ biên): Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - Ph.Ănghen - V.I.Lênin (2008), Hội đồng Trung ương

(chỉ đạo biên soạn): Giáo trình triết học Mác - Lênin (2008), Nguyễn Thị Mỹ Lang:

Nguyên lý về sự phát triển với việc nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường đại học, cao đẳng tỉnh Quảng Nam - Luận văn thạc sĩ (2008),

Nguyễn Thị Hoài Thu: Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Komtum hiện nay - Luận

văn thạc sĩ (2010)

Về công trình nghiên cứu và bài viết về nguồn nhân lực nói chung của các tác giả: Lương Đình Hải: Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (2009), Nguyễn Văn Hòa: Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay (2009), Vũ Văn

Phúc: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - khâu đột phá để đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực duyên hải miền Trung (2011), Ngô Doãn Vịnh (chủ

biên): Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam

trong giai đoạn 2011-2020 (2011), Ngô Đình Xây: Phát triển nhanh và bền vững trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam (2011).

Những công trình, bài viết trên đề cập đến nhiều phương diện khác nhau của

đề tài, là tư liệu đáng quý cho tác giả tham khảo

Về tài liệu về địa phương

Liên quan đến đề tài luận văn của tác giả có một số tài liệu về Hương Trà vàThừa Thiên Huế trong đó có đề cập đến Hương Trà là những tư liệu có ý nghĩa cho

quá trình thực hiện luận văn của tác giả như: Lịch sử Đảng bộ huyện Hương Trà (giai

đoạn 1935 - 1975), Lịch sử Đảng bộ huyện Hương Trà (1975 - 2005) của Huyện ủy

Hương Trà, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ huyện Hương Trà (khóa

Trang 10

XI) trình đại hội đại biểu đảng bộ lần thứ XII (2010) của Huyện ủy Hương Trà; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Hương Trà lần thứ XII (2010), Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2020 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế trên bước đường trở thành thành phố trực thuộc trung ương của Hồ

Xuân Mãn và Nguyễn Ngọc Thiện (đồng chủ biên)

Vấn đề nghiên cứu triết học vận dụng vào thực tiễn ở thị xã Hương Trà chưa

có một công trình, đề tài nào đề cập trực tiếp Tác giả chọn địa phương này là sự khởiđầu khó khăn cho luận văn, nhưng cũng là cái mới và là vấn đề cốt lõi trong việc xâydựng và phát triển ở địa phương nên cần được quan tâm

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài

Trên cơ sở nguyên lý phát triền của phép biện chứng duy vật làm rõ thựctrạng, chính sách và đưa ra những biện pháp trong thời gian tới về công tác đào tạonguồn nhân lực ở Hương Trà

Nhiệm vụ của đề tài

- Phân tích khái niệm phát triển và các đặc trưng của quá trình phát triển, phântích các tính chất nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý nghĩa phương pháp luận làm

cơ sở vận dụng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực

- Trên cơ sở các nguồn số liệu, phân tích thực trạng, đưa ra các chính sách

“đón đầu” trong việc đào tạo nguồn nhân lực Hương Trà Qua đó, đưa ra các giảipháp, kiến nghị nhằm góp phần việc phát triển nguồn nhân lực ở Hương Trà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Là một trong hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về sự pháttriển có nội dung hết sức phong phú và đa dạng, có thể vận dụng vào bất cứ lĩnh vựcnào Việc phân tích nguyên lý về sự phát triển chủ yếu chú trọng đến mặt lý luận, đưa

ra các dẫn chứng, ví dụ của các nhà kinh điển, của tác giả Vận dụng quan điểm pháttriển từ sự tìm hiểu nguyên lý trở thành nguyên tắc chỉ đạo cho việc nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và thị xã Hương Trà nói riêng

Trang 11

Với tính chất là một luận văn nên phạm vi nghiên cứu đề tài giới hạn đào tạonguồn nhân lực ở thị xã Hương Trà.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật

lịch sử

Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là các nguyên tắc của phép biện

chứng Để vận dụng các nguyên lý này vào việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài,tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp lô gíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, trừutượng hóa và khái quát hóa,thống kê, so sánh, đối chiếu…

6 Đóng góp của luận văn

Với luận văn này, tác giả cố gắng làm rõ nội dung nguyên lý về sự phát triểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, cố gắng làm rõ thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ở địaphương Hương Trà và đã mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm đào tạo và sử dụnghợp lý nguồn nhân lực

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên nghiên chuyên đề Chủnghĩa duy vật biện chứng và những ai quan tâm đến nguồn nhân lực ở Hương Tràhiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 2chương bao gồm 7 tiết

Trang 12

Chương 1 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

1.1 Khái niệm phát triển

Trong lịch sử triết học chứng kiến nhiều quan niệm về phát triển khác nhau,tuy nhiên đến những quan niệm của các nhà duy vật mác xít thì mới thật sự có ýnghĩa và khoa học

Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, tính vật chất gắn liền với tính không ngừng vận động và chính sự tự vận động để dẫn đến sự thay đổi về lượng và

về chất Vật chất gắn liền với vận động, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào hễ có vậtchất là có vận động Vận động mang tính phổ biến, đa dạng nhiều hình thức, nhiềutính cách thích hợp với tất cả sự vật, hiện tượng trong thế giới Theo Ph.Ănghen,

vận động là mọi biến đổi nói chung, “bao gồm mọi sự thay đổi và quá trình diễn ra

trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi đơn giản cho đến tư duy”- là sự chuyển hóa thườngxuyên của vật chất từ trạng thái này sang trạng thái khác, quá trình biến đổi về chấttrong các sự vật, hiện tượng Đây là quan niệm của Ph.Ănghen về vận động của thếgiới sự vật, hiện tượng

Trên cơ sở quan niệm về vận động của mình mà Ph.Ănghen đã thấy đượcnhững hạn chế trong cách nhìn về thế giới của các nhà triết học trước đây Thời kỳtriết học Cận đại, khi tư duy không còn hướng đến những đối tượng được gợi mởtrong Kinh thánh, thay vào đó là sự hướng đến với giới tự nhiên, khi đó phươngpháp siêu hình ra đời trên tinh thần duy vật Ph.Ănghen đã đánh giá rằng, phươngpháp mà Hêghen gọi là phương pháp siêu hình áp dụng chủ yếu vào việc nghiêncứu những sự vật được coi như là những cái gì đã hoàn thành và bất biến Khi “cuộccách mạng vĩ đại nhất trái đất chưa từng thấy” ở phương Tây thời kỳ Cận đại diễn

ra, đã tạo ra một lượng máy móc khổng lồ, khi đó tư duy máy móc khiến cho người

ta chú ý hơn hình thức bề ngoài của đối tượng Phần lớn những nhà triết học thời kỳnày, họ hiểu một cách giản đơn một đối tượng nào đó chỉ là từ những bộ phận riêng

Trang 13

biệt được lắp ghép nên như những cái máy Những thuộc tính bên trong của đốitượng cũng được tư duy siêu hình chia ra thành những thuộc tính bề ngoài rồi gộpnhững bộ phận đó lại.

Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ănghen dẫn ra quan niệm về

sự phát triển của giới tự nhiên ở các nhà duy vật thế kỷ XVIII: “Năm châu hiện naylúc nào cũng vẫn tồn tại; bao giờ chúng cũng vẫn có những núi non ấy, cũng nhữngthung lũng ấy, những sông ngòi ấy, khí hậu ấy, cây cỏ ấy, động vật, trừ phi bị bàntay con người làm biến đổi đi hoặc xê dịch đi thì không kể Họ cho rằng, giới tựnhiên sinh ra như thế nào thì cứ vĩnh viễn như thế không thay đổi…Ngược với lịch

sử của nhân loại là cái diễn ra trong thời gian, người ta cho rằng lịch sử của giới tự

nhiên chỉ diễn ra trong không gian mà thôi” [39, tr.469] Với quan điểm siêu hình

của mình, các nhà triết học thời kỳ này xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lậptách rời với các sự vật khác, nằm cạnh nhau mà như không nhìn thấy nhau, sự tồntại hay tiêu vong cũng không liên quan đến gì nhau Họ xem xét sự vật trong trạngthái nằm yên bất động, không vận động biến đổi Những người siêu hình cho rằng,

sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng, một sự trưởng thành đơn giản, không thấy được sự thay đổi về mặt chất và nếu có sự thay đổi về chất thì quá trình đó cũng diễn ra theo một vào khép kín chứ không phải là sự chuyển hóa từ sự vật, hiện tượng này thành sự vật, hiện tượng khác theo xu hướng xuất hiện cái mới tiến bộ Và đây là cái cớ mà những nhà tư tưởng tư sản và bọn cơ

hội lợi dụng để đấu tranh chống lại phép biện chứng duy vật, tuyên truyền cho sựtồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản

Việc các nhà siêu hình thừa nhận hay không thừa nhận về sự phát triển thìcũng chưa thể công nhận họ là nhà biện chứng hay không Điều quan trọng nhất là

họ hiểu sự phát triển diễn ra như thế nào, nguồn gốc, động lực và phương thức của

nó ra sao V.Lênin đã đánh giá: “ở thế kỷ XX (và ngay hồi thế kỷ XIX) mọingười đều đồng ý với “nguyên tắc phát triển”, nhưng sự “đồng ý nông cạn,

Trang 14

thiếu suy nghĩ, ngẫu nhiên, phixilanh ấy là một loại đồng ý mà người ta dùng

để bóp nghẹt và tầm thường hóa chân lý” [37, tr.270]

Khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển” đã được Lênin phân tích rõràng trong các định nghĩa về phép biện chứng Theo Lênin học thuyết về phép biệnchứng là học thuyết toàn diện nhất, phong phú nhất, sâu sắc nhất về sự phát triển

Trong Bút ký triết học, V.Lênin đã khẳng định có nhiều quan niệm về sự phát triển

và chính Người đã chỉ ra:

Hai quan niệm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triềncoi như giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sựthống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thànhnhững mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặtđối lập ấy)”

Với quan niệm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động, động lực của

nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối (hay là người ta đem nguồn gốc ấyđặt ra bên ngoài - Thượng đế, chủ thể ect Với quan niệm thứ hai, sự lưu ýchủ yếu lại hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc của tự vận động Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệmthứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của

sự tư vận động của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho tachìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệmtiến”, của sự chuyển hóa thành mặt đối lập, của sự tiêu diệt cái cũ và nảysinh ra cái mới

Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của cácmặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranhcủa các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển,

sự vận động là tuyệt đối [30, tr.379]

Quan điểm siêu hình về sự phát triển sẽ đi ngược với hiện thực và trái vớikhoa học, chỉ có quan điểm biện chứng mới phản ánh đầy đủ và đúng đắn thế giới

Trang 15

khách quan “Phép biện chứng coi tự nhiên không phải là một trạng thái tĩnh và bấtđộng, một trạng thái ngừng trệ và bất biến, mà là một trạng thái không ngừng vậnđộng và biến đổi, luôn luôn đổi mới và phát triển, trong ấy bao giờ cũng có một cái

gì đó phát sinh và phát triển, một cái gì đó đang bị phá hủy và suy vong rồi” [50,tr.8] Vượt qua những hạn chế của quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứngkhông những chỉ thấy sự vật là những cá biệt mà còn thấy được mối liên hệ qua lạigiữ chúng; không chỉ thấy sự tồn tại mà còn thấy cả sự hình thành, phát triển, diệtvong; không những chỉ thấy được trạng thái tĩnh mà còn trạng thái vận động, biếnđổi của sự vật, hiện tượng

Nhận thấy rằng, tư tưởng biện chứng ở phương Tây đã xuất hiện những mầmmống đầu tiên từ thời Hy Lạp Cổ đại khi mà triết học còn bước đi những chậpchững Với “cái thế giới quan ban đầu ngây thơ” nhưng quan niệm về thế giới củacác nhà triết học này rất tiến bộ, tiêu biểu là Hêraclit đã cho rằng: “mọi vật đều tồntại và cũng không tồn tại, vì mọi vật đang trôi qua, mọi vật đều không ngừng biếnhóa, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong” [39, tr.34-35] Tư tưởng biệnchứng Hy Lạp cổ đại tạo tiền đề cho sự phát triển của tư duy biện chứng ở phươngTây sau này, đặc biệt trong thời kỳ triết học Cận đại và cổ điển Đức Sang thời kỳTây âu Trung cổ, triết học bị trói chặt bởi thần học và nhà thờ đã đẩy sự xem xét thếgiới bởi những quan niệm cứng nhắc, không có sự vận động, thế giới đó hoàn toàn

bị chi phối bởi lực lượng siêu nhiên bên ngoài Khi thoát ra được cái vòng vây đó,các nhà duy vật Cận đại đã có những nhìn nhận thay đổi: “tất cả những cái gì cứngnhắc đều bị tan ra, tất cả gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gìđặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cữu thì trở thành nhất thời, và người ta đãchứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và tuần hoànvĩnh cửu” [39, tr.477] Thực ra, một cái gì đó trông bề ngoài vẻ như vững chắc vớicách nhìn siêu hình nhưng nhìn nhận bằng quan điểm biện chứng nó bắt đầu tanchảy, bởi vì sự vật, hiện tượng đang không ngừng phát sinh, phát triển

Trang 16

Với quan điểm biện chứng, sự vật và hiện tượng trong sự phát triển không chỉđơn thuần tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà trong chúng luôn luôn biến đổi,chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác; cái mới, cái tiến bộ thay thế cho cáicũ lạc hậu; giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước làm cho sự vật, hiện tượng tiến lênmãi mãi Thế giới thống nhất ở tính vật chất, ở trong sự ràng buộc liên hệ với nhau, thếgiới tự vận động, tự phát triển Sự phong phú của sự vật, hiện tượng, không gì khác lànhờ nội lực thúc đẩy trong chính bản thân nó Điều này được V.Lênin làm rõ trong khinói về “Những bài giảng về lịch sử triết học” của Hêghen Điều quan trọng phải kếthợp “nguyên tắc về sự phát triển” và nguyên tắc về sự thống nhất (nguyên tắc về mốiliên hệ phổ biến) giới tự nhiên, của vận động, của vật chất và trong trường hợp cụ thể.Làm được điều đó để thấy thế giới luôn ở trong sự vận động không ngừng, các sự vật,hiện tượng luôn ở trong những mối liên hệ ràng buộc nhau và tự vận động là bản chấtcủa thế giới Điều này V.Lênin chỉ ra rằng:

Sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đườngthẳng, sự phát triển bằng nhảy vọt, bằng sự đột biến, bằng những cuộccách mạng; những bước gián đoạn của sự sự tiệm tiến dần dần; sự biếnđổi thành chất, những kích thích nội tại theo hướng phát triển, nhữngkích thích gây ra bởi sự mâu thuẫn, bởi sự xung đột giữa những lựclượng và những xu thế khác nhau đang tác động vào một vật thể xácđịnh, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết,…quy định quá trình vận động có tính chất thế giới, thống nhất và có quy

có quy luật đó là một số điểm về phép biện chứng, tức là học thuyết về

sự phát triển [29, tr.65]

Sự phát triển từ những sự biến đổi khó nhìn thấy bởi diễn ra trong nội tại sựvật đến những thay đổi rõ ràng, căn bản; từ những tích lũy về lượng thúc đẩy thayđổi về chất Những biến đổi ấy không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu củanhững biến đổi nhỏ tạo thành chuyển biến lớn Kèm theo đó, quá trình phát triểnkhông phải là một chuyển động vòng tròn khép kín, không phải “đi lại con đường

Trang 17

đã đi qua”, mà là sự đi lên theo hướng tiến bộ, từ cái cũ cho đến cái mới như là một

sự phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Nhận thức về sự phát triển của thế giới được V.Lênin làm rõ bằng 16 yếu tốcủa phép biện chứng trong “Bút ký triết học”, trong đó chỉ ra mối liên hệ, vạch racon đường, cách thức, động lực, nguồn gốc của sự phát triển tuân theo những quyluật của nó Sự phát triển của sự vật chính là đời sống của sự vật, là thể hiện sựvận động bao hàm bên trong nó sự triển khai, sự thống nhất và đấu tranh dẫnđến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập Quá trình này là vô hạn làmcho sự vật không ngừng vận động và phát triển hiển hiện ra một thế giới muônmàu muôn vẻ Các yếu tố cơ bản của phép biện chứng theo cách phân loại củaV.Lênin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc các nhà nghiên cứu triết học sau nàyhoàn thiện hơn phép biện chứng duy vật

Hai khái niệm “vận động” và “phát triển” được các nhà triết học tranh luận sôinổi và có nhiều quan điểm khác nhau, tuy thế vẫn chưa có những kết luận cuối cùngnhưng tập trung vào hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phát triển chỉ làmột trường hợp đặc biệt của vận động biến đổi nói chung, vì thế không được đồngnhất giữa vận động và phát triển Những người theo quan điểm thứ hai thì lại khác,

họ coi vận động là sự biến đổi nói chung; phát triển bao hàm trong đó dấu hiệu vậnđộng và còn có dấu hiệu đặc thù bổ sung, đó là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp Chung quy lại, nếu xem xét ở khía cạnh trừu tượng, tức là sửdụng tư duy lôgic hình thức thì phạm trù vận động có vẻ rộng hơn Nhưng với tưduy biện chứng, khi nhìn ở bình diện sâu sắc có thể thấy được phạm trù phát triển

“là chung hơn, rộng hơn, bao quát hơn” cho nên “phong phú hơn, có nội dung hơn,

cụ thể hơn bao hàm những cái tiêu biểu cho sự vận động - chuyển dịch thôngthường, cả tính không thể quay trở lại, định hướng tiến lên, xoắn ốc, chu kỳ, mâuthuẫn nội tại, sự chuyển hóa lẫn nhau về chất của nó.v.v…” [58, tr.398]

Trên cơ sở các quan niệm khác nhau mối quan hệ giữa vận động và phát triển,một số nhà triết học cho rằng: “Thứ nhất, phát triển là một sự biến đổi không thuận

Trang 18

nghịch Thứ hai, quá trình phát triển nói chung được đặc trưng bằng khuynh hướngtiến bộ, nói cách khác, tiến bộ là tiêu chuẩn của phát triển Thứ ba, sự phát triển cóđặc tính là sự chuyển biến từ thấp đến cao” Ngoài ra còn bổ sung thêm tiêu chuẩnlà: sự phát triển “từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [13, tr.32-33].

Theo những tiêu chí như trên thì giữa phát triển và tiến bộ có quan hệ chặtchẽ với nhau Khái niệm “phát triển” bao quát phạm vi rộng hơn, có nội hàm rộnghơn so với phạm trù “tiến bộ” Việc xác định khái niệm “phát triển” được thông quamối liên hệ giữa tiến bộ và thoái bộ Khái niệm “tiến bộ” thể hiện sự phát triển ởtrình độ cao, tiến bộ là tiêu chuẩn nói lên sự phát triển

Hiện thực phát triển rất đa dạng và phong phú, nhưng để khái quát sự pháttriển, nó thể hiện theo các đặc tính cơ bản từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Tương ứng với các đặc tính là các “chiềuhướng” cơ bản: phát triển về trình độ, về cấu trúc và chức năng và về bản chất.Trình độ của sự vật, hiện tượng đi từ trình độ thấp lên trình độ cao, cấu trúc pháttriển từ đơn giản đến phức tạp, tuy nhiên những biến đổi từ chiều hướng này khôngphải mọi trường hợp đều là sự phát triển Mặc dù vậy, hai chiều hướng này tác độngthúc đẩy sự phát triển của bản chất từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như thế,

sự phát triển về bản chất là đầy đủ nhất

Trên cơ sở khái quát những biến đổi các sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện

thực, trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm: Phát triển là một

phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động đi lên theo khuynh hướng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, trong đó có sự xuất hiện cái mới - tiến bộ Sự xuất hiện cái mới - tiến bộ là tiêu chuẩn nói lên sự phát triển.

Phân tích sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, trên quan

điểm duy vật biện chứng ta thấy rằng sự phát triển có những đặc trưng:

Thứ nhất, sự phát triển là quá trình diễn ra “quanh co, phức tạp”

Sự phát triển như quan niệm của các nhà duy tâm về sự sáng tạo của Thượng

đế, của lực lượng siêu nhiên chỉ dẫn một lần là xong làm xuất hiện thế giới hiện

Trang 19

tượng Không phải phụ thuộc vào các lực lượng này, người ta hiểu, sự phát triển làmột quá trình lâu dài diễn ra trong nội tại sự vật, hiện tượng bao gồm nhiều bướcquanh co, phức tạp, cả những vận động tiến lên lẫn những bước thụt lùi Khi phântích nguồn gốc của phát triển, chúng ta thấy rằng, nó không nằm ở đâu khác màchính ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng Tự bản thân nó sinh ra “những kíchthích nội tại theo hướng phát triển, những kích thích gây ra bởi sự mâu thuẫn, bởi sựxung đột giữa những lực lượng và những xu thế khác nhau đang tác động vào mộtvật thể nhất định, trong phạm vi hiện tượng nhất định, hoặc trong nội bộ một xã hộinhất định” [29, tr.112].

Trong sự vật, hiện tượng chứa đựng những yếu tố, những quan hệ, thuộc tínhtrái ngược nhau, chúng vừa thống nhất vừa đấu tranh lẫn nhau làm xuất hiện vậnđộng Các mặt đối lập trong mâu thuẫn tương tác với nhau, ban đầu ở thể cân bằng,dần dần mâu thuẫn tăng lên đến mức gay gắt dẫn đến các mặt đối lập chuyển hóalẫn nhau Đến đó, mâu thuẫn được giải quyết, một bước nhảy vọt về chất được hoànthành Sự vật, hiện tượng mới xuất hiện lại chứa đựng trong mình những mâu thuânmới, tiếp tục tiến trình các mặt đối lập lại tiếp tục đấu tranh tạo ra sự thay đổ về mặtchất Sự phát triển đó được thực hiện trong quá trình khắc phục mâu thuẫn, mỗimâu thuẫn được đặc trưng bằng sự phối hợp và tương tác riêng của các mặt đối lập,bằng cách thức riêng xâm nhập lẫn nhau và cách giải quyết riêng Vì thế quá trìnhthiết lập và giải quyết mâu thuẫn ở sự vật, hiện tượng với những đặc điểm rất phứctạp vì còn tùy thuộc vào những điều kiện tác tác động cụ thể Trong mâu thuẫn biệnchứng, quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là không thể táchrời nhau Mối quan hệ đó quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật

Như vậy, sự phát triển không diễn ra theo cách đơn thuần là sự tăng haygiảm về số lượng mà diễn ra hết sức quanh co, phức tạp Tính quanh co, phức tạpthể hiện ở mâu thuẫn vừa có tính phổ biến vừa có tính riêng biệt Tính phổ biến củamâu thuẫn thể hiện sự có mặt của mâu thuẫn ở trong tất cả các sự vật, hiện tượng.Nhưng những mâu thuẫn đó có trong mỗi sự vật với những đặc điểm, những quá

Trang 20

trình tồn tại và phát triển của nó khác nhau Trong sự tồn tại của mình, mâu thuẫnchịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động, sinh ra phương thức giải quyết mâuthuẫn của sư vật diễn ra khác nhau, thể hiện ở tính riêng biệt của mâu thuẫn.

Thứ hai, sự phát triển là quá trình diễn ra “không đồng đều”

Khi phân tích sự phát triển của sự vật, chúng ta thấy rằng: “Sự phát triển bằngnhững bước nhảy vọt, bằng những sự đột biến, bằng những cuộc cách mạng, “nhữngbước gián đoạn của sự tiến triển dần dần, sự biến đổi lượng thành chất” [29, tr.112].Phương thức phát triển của sự vật là quan hệ hữu cơ giữa mặt chất và mặt lượng.Hai mặt này tác động qua lại lẫn nhau và quy định lẫn nhau Sự tác động qua lại gây

ra những thay đổi cả lượng và chất Sự thay đổi về lượng ảnh hưởng sự thay đổi vềchất và sự thay đổi về chất cũng dẫn đến sự thay đổi về lượng của nó Với quá trìnhtiệm tiến, tuần tự, sự thay đổi về lượng không dẫn tới ngay tức khắc sự thay đổi vềchất mà trong giới hạn nào đó, nó vẫn thể hiện tính ổn định của sự vật Khi vượt quágiới hạn gọi là “độ”, chất cũ mất đi, chất mới ra đời thay thế chất cũ, tức là thể hiện

sự gián đoạn trong tính liên tục để thực hiện bước nhảy vọt về chất Có thể nói,trong quá trình phát triển, tính liên tục và tính gián đoạn ràng buộc lẫn nhau, tínhgián đoạn là tiền đề cho tính liên tục và tính liên tục là điều kiện cho hàng loạt tínhgián đoạn diễn ra Cứ mỗi bước gián đoạn đưa sự vật, hiện tượng tiến lên một trình

độ mới, thang bậc mới tạo điều kiện mới cho sự liên tục tiếp diễn Sự thay đổi vềchất mở ra “vòng khâu” mới cho sự thay đổi về lượng Chất mới tác động làm thayđổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.Chẳng hạn như, khi sinh viên nhận bằng tốt nghiệp, tức là thực hiện bước nhảy vọttạo ra chất mới sẽ tạo tiền đề cho họ này thay đổi quy mô, trình độ nhận thức, giúp

họ tiến lên một nấc thang cao hơn về trình độ nhưng trước đó trong một thời giandài họ phải cố gắng tích lũy về kiến thức

“Sự vận động là sự thống nhất của tính liên tục và của tính gián đoạn” [30, tr.373].Khi tính liên tục trong vận động diễn ra, biểu hiện ở sự vât, hiện tượng những thayđổi về tuần tự về lượng nhưng trong sự ổn định về mặt chất Nhưng khi vận động

Trang 21

thể hiện tính gián đoạn lại diễn ra bước nhảy vọt, làm thay đổi căn bản về chất của

sự vật Quá trình này, ở mỗi sự vật khác nhau sẽ diễn ra theo cách khác nhau theoquy định của tính đa dạng, phong phú về sự phát triển Ngoài ra, quá trình trên cònphụ thuộc vào nhiều điều kiện về không gian, thời gian và các tác động khác làmcho quá trình đó diễn ra nhanh hay chậm, sự tích lũy về lượng diễn ra nhanh hơn thìchất mới cũng ra đời sớm hơn Các cuộc cách mạng do giai cấp bị áp bức tiến hành

là một hiện tượng hết sức tự nhiên, không thể tránh khỏi Sự chuyển biến từ chủnghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội và sự giải phóng giai cấp công nhân khỏi ách tưbản không thể thực hiện sự thay đổi tuần tự, bằng phương pháp cải lương mà phảithực hiện bằng bước nhảy vọt, một cuộc cách mạng Như vậy, quá trình phát triểntuần tự và thực hiện những bước nhảy vọt xen kẽ lẫn nhau Sự phát triển tuần tự khi

đã tích lũy đầy đủ về lượng phải thực hiện bước nhảy vọt về chất, tạo nên sự đứtđoạn tạm thời trong quá trình phát triển của sự vật Ví dụ, các cuộc cách mạng tronglịch sử được thực hiện khi tất cả các điều kiện cùng hội tụ tại một thời điểm nào đó

và khi thời cơ đến thì cách mạng bùng nổ

Như vậy, sự phát triển diễn ra hết sức quanh co, phức tạp nên không phảitheo một trình tự cố định nào và cũng không phải với một tốc độ duy trì ổn định Sựphát triển chịu sự tác động của các yếu tố trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng

đó làm cho sự phát triển diễn ra “lúc nhanh, lúc chậm, có lúc tiệm tiến, tuần tự, cólúc nhảy vọt, đứt đoạn, lúc tích lũy dần dần về lượng, lúc thay đổi về chất” Sự xen

kẽ của những tính chất này làm cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng diễn rakhông đồng đều

Thứ ba, sự phát triển là quá trình đi lên“không theo đường thẳng”

Cái mới xuất hiện là đặc trưng của sự phát triển Đặc trưng này nói lên rằngcon đường sự vật phát triển không theo đường thẳng Trong sự phát triển, cái mớisinh ra không thể là bản sao nguyên vẹn của cái cũ mà bản chất của nó đã đổi khácrồi Quá trình này được diễn tả: Cái mới được nảy sinh từ cái cũ, nó tồn tại trong cáicũ với hình thức mầm mống, khi gặp được điều kiện thuận lợi, cái mới với xung lực

Trang 22

mạnh mẽ của nó mà chiến thắng được cái cũ Quá trình đó, cái mới không đánh mấttất cả mà giữ lại những gì có giá trị ở trong cái cũ dưới hình thức “lột bỏ” Cái mới

ra đời từ việc thực hiện bước nhảy vọt, lại mang trong mình những mâu thuẫn mớilại tiếp tục chứa đựng mầm mống phát triển sau này Từ hiện thực phát triển có thểthấy cái mới không có khả năng chiến thắng cái cũ, cái lỗi thời, cái đáng bị tiêuvong nếu không kế thừa và sử dụng những điểm cần thiết, những khía cạnh còn có ýnghĩa trong sự phát triển của nó Bên cạnh đó, cái mới chưa phải là cái ưu tú, cáimới thực sự mà phải là cái mới với những hình thức tiến bộ hơn - cái mới tiến bộ

Sự tiến bộ được tính đến khi trong cái mới thể hiện sự khéo léo về mức độ sử dụngcái cũ như thế nào, tức là phủ định nhưng không phải phủ định “sạch trơn” mànhững thành quả của giai đoạn trước phải được giữ lại trong quá trình phát triển của

sự vật, hiện tượng Như vậy, vượt qua quá trình phủ định của phủ định, sự vật, hiệntượng không ở trạng thái như ban đầu mà đã có sự đổi mới mang tính tiến bộ hơn.Cái mới đã khác về bản chất so với cái cũ, nhưng trong cái mới vẫn lưu giữ nhữngđặc điểm được coi là tiến bộ để tiếp tục hoàn thiện bản chất

Phép biện chứng là sự thống nhất, liên hệ hữu cơ giữa các quy luật cơ bản.Quá trình mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn liên tục sự vận động, phát triển sự vậtdiễn ra quanh co, phức tạp, cùng với đó sự chuyển biến, thay đổi về mặt lượng vàmặt chất cũng diễn ra không đồng đều “Sự phát triển hình như diễn lại những giaiđoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (phủ định củaphủ định), sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đườngthẳng” [29, tr.112] Vì thế, hình thức phát triển được hiển hiện như những đường

“xoáy ốc” chứ không thể theo một đường thẳng tắp Bởi vì, sự phát triển thể hiện sự

kế thừa trong quá trình của nó Sự kế thừa đó với hình thức “diễn lại những giaiđoạn đã qua” tức là dựa trên tiền đề đã có sẵn, vận dụng, cải biến những yếu tố tíchcực, tiến bộ của cái cũ để xây dựng trong cái mới hoàn chỉnh hơn

Như vậy, quá trình vận động như một đường thẳng sẽ không có sự kế thừa,nên cũng không thấy sự xuất hiện cái mới có tính chất tiến bộ hơn Bởi ta hình dung

Trang 23

đường thẳng thì những điểm bất kỳ trên đường thẳng đó chúng ta không thấy có sựthay đổi Vì thế, để diễn tả sự phát triển, V.Lênin phải dùng hình ảnh là đường

“xoáy ốc” để biểu thị cho khuynh hướng của sự phát triển Hình ảnh này sẽ hìnhdung được sự phát triển sẽ xuất hiện cái mới - tiến bộ trên cơ sở kế thừa những mặttích cực của cái cũ ở một trình độ cao hơn

Tóm lại, khái niệm phát triển cho ta cái nhìn xuyên suốt về sự vận động đilên của sự vât, hiện tượng Sự vận động đó trải qua những bước quanh co, phức tạpvới những biến đổi không đồng đều và không đi theo đường thẳng Bởi vì sự pháttriển luôn luôn đa dạng và phong phú hiện diện ở khắp mọi nơi và tự vạch ra quyluật phát triển khách quan cho nó

1.2 Nguồn gốc của sự phát triển

Từ những sai lầm trong quan niệm về sự phát triển tất yếu phải dẫn đến sailầm về nguồn gốc, động lực của sự phát triển Với các nhà siêu hình, họ chỉ thấyđược sự vận động bên ngoài của sự vật, sự vận động cơ học, họ cũng chưa thấyđược mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động Họ không thấy được những mốimâu thuẫn nội tại của sự vật Lối tư duy này theo Hêghen là những đặc điểm cứng

đờ của tư duy Theo cách xem xét này, những nhà triết học siêu hình coi nhữngthuộc tính, đặc trưng bên trong của đối tượng được xem xét như là những đặc điểm

bề ngoài Những thay đổi về chất được xem như là những biến đổi về lượng Vì thế

có sự phổ biến về “tính chất cộng của tư duy”, trong đó thuộc tính của cái tổng thểđược coi như là tổng số thuộc tính của các bộ phận hợp thành Thực ra với phươngpháp siêu hình - phương pháp “thịnh hành” trong các nhà duy vật thế kỷ XII -XVIII, họ vẫn nhìn thấy sự tự vận động của thế giới, tuy thế, sự giải thích vận độngcủa các nhà triết học này quá đơn giản, mô tả vận động chủ yếu từ phía kết quả bênngoài Sự vận động theo cách của họ chỉ là những biến đổi cơ học, là sự dịchchuyển trong không gian ở bề ngoài chứ không thấy những xung đột bên trong của

sự vật hiện tượng Vận động không trở thành nền tảng của những biến đổi, pháttriển của giới tự nhiên, không trở thành phổ biến và tất yếu Ph.Ănghen nhận xét

Trang 24

rằng: “Người ta cũng biết rằng giới tự nhiên ở vào một trạng thái vận động vĩnhviễn Song theo quan niệm hồi ấy, sự vận động đó cũng đi theo một vòng tròn vĩnhcữu và như thế là không bao giờ tiến lên được, sự vận động đó bao giờ cũng dẫn tớinhững kết quả như nhau” [34, tr.410].

Như thế, triết học trước Mác đã có những quan niệm không đúng đắn vềnguồn gốc và động lực của sự phát triển Như Platon, thế giới vật chất chỉ là “cáibóng” của ý niệm thần bí không phát triển trong không gian và thời gian ĐếnHêghen, nhà triết học vĩ đại người Đức đã nắm được nguồn gốc động lực của sựphát triển đó là quá trình tích lũy về lượng để chuyển hóa thành chất, là quá trìnhnảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn không ngừng Nhưng với Hêghen,những biến đổi nói trên chỉ diễn ra trong quá trình “tha hóa” của ý niệm tuyệt đối,diễn ra trong khái niệm trừu tượng thuần túy, chứ không phải diễn ra trong các sựvật của thế giới hiện thực Cây triết học duy tâm nói trên được Lênin so sánh với cáicây không bao giờ kết trái Nhà duy vật nhân bản Phơ bách đã phê phán triết họcduy tâm và tôn giáo là hoang đường, là nhảm nhí với khát vọng đưa chủ nghĩa duyvật trở lại ngôi vua nhưng ông phá bỏ tôn giáo hoang đường này đồng thời xâydựng một tôn giáo khác: Tôn giáo Tình yêu! Với Phơ Bách, Tình yêu là động lựcthúc đẩy con người vượt qua khác biệt về dân tộc, về đẳng cấp

Từ đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã phê phánnhững quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của sựphát triển, kế thừa có bổ sung “hạt nhân hợp lý” về sự phát triển và khẳng định

rằng: nguồn gốc, động lực của sự phát triển ở ngay trong bản thân sự vật, hiện

tượng bao gồm quá trình thiết lập mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Trong sự tồn

tại và phát triển của mình, sự vật, hiện tượng luôn luôn có những biến đối lúc thì thếnày lúc thì thế khác đó là do mâu thuẫn bên trong quy định C.Mác nói “sự vật làthể thống nhất những mâu thuẫn”, bao gồm những đặc điểm, những thuộc tính,những tính quy định có xu hướng biến đổi trái ngược nhau và tác động qua lại lẫn

Trang 25

nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Quá trình tương tác qua lại giữa các mặt đốilập này làm cho sự vât, hiện tượng phát triển

Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, một lần nữa khẳng định rằng,

không có một bàn tay vô hình nào có thể đụng chạm tới sự phát triển của hiện thực.

Theo quy luật, giới tự nhiên tự khởi động, tự vận hành và chính xác hơn là sự tự vậnđộng trong chính nó và “mâu thuẫn là cuội nguồn của mọi sức sống” “Nguồn gốccủa tất cả mọi vận động và tất cả mọi sức sống; chỉ trong chừng mực một vật chứađựng trong bản thân nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực vàhoạt động” [30, tr.148] Sự đấu tranh giữa những mặt đối lập làm cho sự vật hiệntượng luôn ở trong tư thế biến đổi, chuyển hóa Theo những diễn giải của V.Lêninnếu không có sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật tức là không có

sự xuất hiện mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó thì cũng có nghĩa sẽkhông có sự vận động, phát triển của sự vật Những mâu thuẫn trong sự vật sẽ đượcgiải quyết thông qua con đường phủ định biện chứng theo phương thức sự thay đổi

về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại, dẫn đến cái mới ra đời thay thếcho cái cũ không còn phù hợp Bản chất của cái mới sẽ tiến bộ hơn và hoàn thiệnhơn cái cũ

Biểu hiện mâu thuẫn nội tại của sự vật chính là sự tự vận động Hêghen chỉ ra,nguyên tắc của mọi sự tự vận động là “cái phủ định trong sự quy định bản chất củanó” Vận động không đơn giản chỉ là sự dịch chuyển từ chỗ này sang chỗ kia màvận động với ý nghĩa là sự vật cùng lúc vừa ở chỗ này vừa lại ở chỗ khác Vận độngkhông làm sự vật “tiêu tan” đi mà chính vận động làm cho sự vật tồn tại Tiếp nhậnquan điểm của Hêghen, V.Lênin xem sự tự vận động của sự vật được triển khai nhưsau: “Mối liên hệ tất yếu, mối liên hệ khách quan của tất cả các mặt, các lực lượng,các xu hướng của một lĩnh vực nhất định của hiện tượng Nguồn gốc nội tại củanhững sự vật khác nhau - đó là lôgíc bên trong khách quan của sự tiến hóa và của sựđấu tranh của những sự khác nhau, của các cực” [30, tr.106] Sự tự vận động và sựliên hệ với nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới thúc đẩy thế giới không

Trang 26

ngừng phát triển Sự phát triển được thực hiện ngay bên trong sự vật theo nhữngquy luật của nó, vì thế mà Ph.Ănghen đã lưu ý rằng: “Lịch sử loài người không cònthể hiện ra như là một mờ hỗn độn kinh khủng gồm những hành vi bạo lực vô nghĩa

và dáng kết tội như nhau trước tòa án của lý tính triết học ngày nay đã trưởng thành,

và tốt hơn cả là người ta nên quên đi nó cho thật nhanh, mà là một quá trình pháttriển của bản thân loài người, và nhiệm vụ của tư duy hiện hiện nay là phải theo dõibước tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cả những bước lầm lạc của nó và chứngminh tính quy luật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài” [39,tr.39] Nhiệm vụ đó, ông cùng với các nhà duy vật chủ nghĩa Mác đã thực hiện mộtcách xuất sắc

Hêghen là người đưa ra quan niệm tự vận động, theo khái niệm này ta cũng cóthể hiểu được sự phát triển của sự vật là do tự vận động mà thành Tuy thế, tự vậnđộng theo quan niệm của ông rất tiếc chỉ dành cho ý niệm Nghiên cứu triết học củaHêghen, C.Mác thấy rằng tự vận động phải thuộc về hiện thực, là bản chất của thếgiới sự vật, hiện tượng Sự tự vận động trở thành thuộc tính cố hữu trong các mốiquan hệ, các sự vật “vừa tồn tại tự nó, đồng thời lại là sự không có nó, là cái phủđịnh bản thân nó” [30,147] Sự “đồng nhất” chưa thể hiện được sức sống, sự pháttriển Trong lòng sự thống nhất với những sự quy định tất yếu, nội tại, gắn kết vớinhau gây ra tình trạng mâu thuẫn biện chứng Vì sự phủ định bản thân nó cũng làcái khẳng định của nó, sự xung đột bản chất trong chỉnh thể gây ra vận động, biếnđổi của sự vật Trong bản tóm tắt “Khoa học lôgic”, V.Lênin trên cơ sở những luậnđiểm của Hêghen, Người chỉ ra rằng sự vận động của tư duy, của khái niệm cũngchính là sự tự thân vận động “Chân lý là sự tự nhận thức thuần túy đang pháttriển”,“tư duy khách quan”, “bản thân khái niệm là cái tồn tại tự nó và vì nó” [30,tr.106] Khái niệm hay chân lý không phải là những khuôn mẫu đã định sẵn mà là

sự phản hiện thực khách quan cũng bằng tư duy khách quan, hiện thực thế nào thì tưduy phản ánh thế đó

Trang 27

Mâu thuẫn là nguồn gốc sự phát triển, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa

các mặt đối lập có vai trò chi phối cách thức và khuynh hướng phát triển của sự vật,hiện tượng Trong “Chống Đuyrinh”, Ph.Ănghen đã khẳng định: “Quy luật phủ địnhcủa phủ định, được thực hiện một cách không có ý thức trong tự nhiên và trong lịch

sử, và trước khi còn được nhận thức, nó cũng diễn ra một cách không tự giác cảtrong đầu óc chúng ta nữa” [39, tr.203] Như vậy, các quy luật hiện diện ở khắp nơi

mà không bị tác động bởi những yếu tố nào Ph.Ănghen đánh giá cao công lao củaHêghen trong việc xây dựng phép biện chứng, dù là phép biện chứng tự biện.Hêghen đã xuất phát từ những quy định của tư duy để “khách quan hóa” vào tựnhiên và xã hội Nhận thức này của Hêghen không thể giải thích hết khi đối diện vớicác biến cố của lịch sử Vì vậy, điều này phải làm ngược lại, từ hiện thực kháchquan phản ánh vào trong tư duy những quy luật khách quan của sự vật, hiện tượng,phải thấy sự phát triển từ bản thân nó

Như vậy, có thể nói những quan điểm biện chứng sâu sắc về thế giới cónguồn gốc từ Hêghen được V.Lênin giải thích và nhấn mạnh trong các tácphẩm của mình, trên cơ sở phê phán để tìm ra những “hạt nhân hợp lý” của nó.Hêghen đã chỉ ra, khi nghiên cứu thế giới các sự vật hiện tượng phải đặt chúngtrong quá trình phát triển, trong những mối liên hệ qua lại chứ không nên máymóc đưa nó vào trong trạng thái biệt lập, tĩnh lặng như các nhà siêu hình đãlàm Sự vật hiện tượng nằm trong sự phát triển và sự phát triển đó có nguồngốc, động lực trong bản thân nó, bởi vì vận động là tự thân

1.3 Tính chất của sự phát triển

1.3.1 Tính khách quan của sự phát triển

Thế giới vật chất là vô cùng vô tận, nhưng để tạo ra thế giới đó là bởi các sựvât, hiện tượng mang tính hữu hạn Trong dòng chảy vô tận đó, các sự vật hiệntượng vừa có tính độc lập tương đối vừa mang trong mình mối liên hệ với các sựvật, hiện tượng khác Sự vật cũng vừa có tính ổn định nhưng luôn “khao khát” biếnđổi và hoàn thiện không ngừng Ta cứ tưởng vũ trụ tưởng chừng như một “mớ hỗn

Trang 28

độn” nhưng vũ trụ tự tìm cho mình phương hướng cho sự phát triển tuân theonhững quy luật khách quan và nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra những quy luậtkhách quan của sự vận động, phát triển ấy.

Thế giới mang tính khách quan “nghĩa là một cái gì đó đối lập với khái niệmđộc lập, nhưng cũng có ý nghĩa là cái gì đó tồn tại tự nó và vì nó” [30, tr.196] Cáimang tính khách quan là toàn bộ các quan hệ độc lập đối với con người và “trênthực tế, đó là cái được mọi người thừa nhận, đó là cái làm đối tượng cho kinhnghiệm phổ biến, cho sự đồng ý phổ biến” [30, tr.619-620] Cũng như nguyên lý về

sự phát triển được rút ra từ hiện thực và từ những quy luật ấy ta lại vận dụng vàocác hiện tượng tự nhiên và xã hội để tìm ra cơ sở khách quan của sự vận động Quátrình mang tính khách quan ấy, độc lập với ý thức con người, độc lập với lực lượngsiêu nhiên, không mơ hồ, không thần bí và dù con nguời có muốn hay không thì sựphát triển của thế giới vẫn cứ diễn ra theo các quy luật vận động của tự nhiên, xãhội và của con người Sự vận động đó là vốn có trong sự vật làm cho chính bản thân

sự vật luôn luôn biến đổi, chuyển hóa không ngừng trong tư thế chuyển mình lênmột trình độ cao hơn

Thế giới là khách quan nên sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới

ấy bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, nguồn gốc vận động của sự vật nằmngay trong chính bản thân sự vật, là quá trình liên tục nảy sinh và giải quyết mâuthuẫn trong sự tồn tại và vận động của sự vật Trong sự vật luôn ẩn dấu những thuộctính, những đặc điểm, những quá trình, những quy định biến đổi trái ngược nhau tạothành những mâu thuẫn biện chứng Các mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cáchkhách quan trong các sự vật, liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau Các học giả chốnglại quan điểm của Hêghen nói rằng: “mâu thuẫn = vô nghĩa”, nhưng không vô nghĩachút nào khi được Ph.Ănghen cho rằng, mọi sự vật đều hàm chứa mâu thuẫn bêntrong và là nguyên nhân của vận động Ph.Ănghen nói: “bản thân sự vật và các quátrình, có một mâu thuẫn tồn tại khách quan, hơn nữa mâu thuẫn đó lại là một lựclượng có thực” [39, tr.173] Và dù các nhà siêu hình có công nhận hay không thì

Trang 29

mâu thuẫn vẫn tồn tại bên trong các sự vật với tính cách là nguồn gốc và động lựcphát triển của nó mà Ph.Ănghen đã chứng minh bằng các luận điểm của mình.

Mâu thuẫn biện chứng được biểu hiện các mặt đối lập vừa thống nhất vừađấu tranh lẫn nhau Sự thống nhất là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhaucủa các mặt đối lập Sự tồn tại của mặt này, thuộc tính này lấy mặt kia, thuộc tínhkia làm tiền đề cho tồn tại của mình Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm cả

sự “đồng nhất” của các mặt đó và trong sự triển khai của mình mà các mặt đối lậptrong mâu thuẫn có thể chuyển hóa lẫn nhau Không chỉ thống nhất mà các mặt đốilập còn đấu tranh lẫn nhau theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau “Sự thống nhấtcủa các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranhcủa các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối” [30, tr.379-380] Sự đấu tranhtrong các mặt đối lập được quy định một cách tất yếu làm cho mâu thuẫn ngày càngmột phát triển Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ khác nhau căn bản, dần dần cácmặt đối lập tương tác gây ra xung đột một cách gay gắt, lên đến đỉnh điểm chúng sẽchuyển hóa lẫn nhau, khi đó mâu thuẫn được giải quyết Con đường như thế cứ tiếptục diễn ra, sau sự đấu tranh thì một thể thống nhất mới được thiết lập, sự vật mới rađời thay thế sự vật cũ Quá trình đó diễn ra một cách liên tục và vô hạn, làm cho sựvật không ngừng vận động Quá trình đó là tự thân Sự vật, hiện tượng là “nguyênnhân chính nó”

Khi nghiên cứu về xã hội, C.Mác cho rằng xã hội tư bản đó là một hệ thốngđang phát triển C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [36, tr.21] Sự vận động xã hội là một quá trình

tự nhiên của những hiện tượng lịch sử, quá trình ấy phải tuân theo những quy luật.Quy luật này chẳng những độc lập với ý thức và mục đích của con người mà còn cóvai trò quyết định, bởi quy luật là những liên hệ bên trong, căn bản và tất yếu quyếtđịnh đến sự phát triển của hiện tượng xã hội Sự vận động xã hội là một “bước tiếncủa tự nhiên và lịch sử của nó”, cái chuyển biến theo quy luật từ một giai đoạn pháttriển này sang một giai đoạn phát triển khác đều theo quy luật vận động chi phối

Trang 30

Quy luật tự nhiên đã phức tạp nhưng quy luật xã hội rõ ràng phức tạp hơn vì ngoàicác quy luật khách quan của giới tự nhiên còn có những tác động có ý thức của conngười để phù hợp với mục đích của mình Tuy con người làm nên lịch sử nhưng conngười không thể tùy tiện làm trái với các quy luật tự nhiên mà phải căn cứ vào cácđiều kiện khách quan và chịu sự quy định của tính tất yếu khách quan ấy Chúng tathấy rằng, lịch sử loài người là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, nhưng đókhông phải là một sự vận động tự phát mà gắn với con người hoạt động có ý thức.Lịch sử loài người cũng không phải là một quá trình đơn giản, một chiều mà phứctạp đôi lúc có sự gián đoạn, thoái bộ song sự phát triển của xã hội con người cũngđầy đủ tính chất là một quá trình lịch sử - tự nhiên bởi những tác động vào nhữngquy luật xã hội Chẳng hạn, phương thức sản xuất quyết định đến nhiều mặt của mộtchế độ xã hội, kể cả ý thức xã hội Như chế độ cộng sản nguyên thủy không phải làmột sự lựa chọn có ý thức mà là kết quả tất yếu của mối liên hệ bên trong và nhấtđịnh Bởi hiện thực trình độ của lực lượng sản xuất, bởi các quy luật riêng biệt của

xã hội nguyên thủy xuất hiện với quan hệ sản xuất phù hợp với nó Một xã hộinguyên thủy chất phát ra đời chứ không thể là một xã hội nào khác

Sự phủ định biện chứng dẫn đến ra đời cái mới thay thế cho cái cũ, là quá trìnhchuyển hóa của sự vật, hiện tượng từ hình thái thấp sang hình thái cao hơn Quá trìnhtrên diễn ra một cách tự nhiên mang tính quy luật vốn có của nó Sự phủ định với cáchthức giữ lại những gì tốt đẹp nhất, tích cực nhất ở giai đoạn cũ để xây dựng cho một giaiđoạn mới có hình thức cao hơn hình thức cũ Sự phủ định là tự phủ định bản thân, làmkết thúc một trạng thái, một kết cấu vật chất bởi những lực lượng bên trong của sự vật.Chẳng hạn, trong mỗi chế độ xã hội có một hình thức sở hữu đặc trưng Nhưng trong tiếntrình phát triển, hình thức sở hữu đặc trăng này dần không còn phù hợp, gây ra những trởngại cho sản xuất, buộc nó phải thay thế một hình thức cao hơn, hợp lý hơn Chế độ cônghữu của thời đại nguyên thủy được thay thế chế độ tư hữu sau đó, nhưng khi chế độ tưhữu cũng không còn hợp lý nữa, nó cũng được thay thế trở lại chế độ công hữu Tuy

Trang 31

nhiên, chế độ công hữu không như ở thời nguyên thủy mà ở yêu cầu cao hơn là do điềukiện khách quan của lịch sử, sự phát triển đó tuân theo các quy luật của xã hội.

1.3.2 Tính phổ biến của sự phát triển

Hêghen nói rằng: “Cả thời đại lẫn triết học của nó đều mang trong mình

cùng một sự vận động”, chúng ta hiểu sự vận động, phát triển là khuynh hướng

chung của sự vật, hiện tượng và chúng mang tính phổ biến Sự phát triển không chỉdiễn ra trong tự nhiên mà cả trong xã hội lẫn tư duy

- Trong tự nhiên

Biểu hiện của quá trình phát triển trong tự nhiên là những biến đổi của cơ thểsinh vật để ngày càng tăng cường sự thích nghi trước những thay đổi của môitrường, nâng cao khả năng tự sản sinh để thích ứng và hoàn thiện hơn quá trình traođổi chất giữa cơ thể với môi trường

Sự phát triển trong tự nhiên được Ph.Ănghen chứng minh bằng các luận điểm

ở các tác phẩm của mình Trong “Biện chứng của tự nhiên”, khi phân tích vấn đề sựsống, Ph.Ănghen cho rằng, sự sống là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dàicủa giới tự nhiên, với những điều kiện thuận lợi tích tụ trong quá trình các chấtnguyên sinh sống ban đầu đã hình thành Sự sống xuất hiện cũng là lúc lịch sử của nóbắt đầu và trải qua một thời kỳ tiến hóa Mầm mống của sự sống đầu tiên là các thểanbumin chưa có kết cấu tế bào, qua nhiều lần phân hóa hàng tỷ năm đã hình thànhnên các tế bào đầu tiên nhờ “một cái nhân và một cái màng bọc bên ngoài Nhưng vớicái tế bào đầu tiên ấy thì cơ sở cho sự cấu thành hình thức của thế giới hữu cơ cũng

đã có” [39, tr 480] Quá trình vận động trong những đơn bào làm cho quá trình phânhóa cứ thế tiếp tục diễn ra phát triển thành những sinh vật đa bào Từ đó, các sinh vật

đa bào hình thành nên các loài thực vật đầu tiên, một số bộ phận khác tạo nên cácđộng vật ban đầu và tiếp tục phân hóa thành lớp, bộ, họ, giống Sự phát triển của sựsống từ kết cấu đơn giản cho đến phức tạp, từ bậc thấp lên bậc cao, từ động vật khôngxương sống đến động vật có xương sống Và thành quả vĩ đại nhất của tự nhiên là sựtiến hóa từ động vật có vú với đến việc xuất hiện loài người sở hữu trong mình kỳ

Trang 32

diệu nhất là bộ não, đã mở ra những trang sử đầu tiên về loài người Giới tự nhiên cóquá trình phân hóa vô cùng vô tận, mọi thứ vẫn cứ thế biến chuyển, vẫn phải tiếp tụcnằm trong “guồng quay” của giới tự nhiên đó để hình thành nên những sản phẩmkhác hơn, những sản phẩm tiến bộ theo tiến trình lịch sử.

“Tất cả những gì sinh ra đều đáng bị phải diệt vong”, mọi sự vật đều có tínhhữu hạn của nó, có sinh ắc có diệt và tất cả phải đặt trong quá trình “tuần hoàn vĩnhcửu và phát triển vô hạn” Giới tự nhiên vận động không ngừng Xét về mặt lượng,vận động của vật chất không thể tự nhiên mà có, cũng không thể tự nhiên mất đi; vềmặt chất, vật chất có khả năng chuyển từ một hình thức vận động này sang một hìnhthức vận động khác, khả năng đó tồn tại mãi mãi, không bao giờ mất đi Từ đó cóthể thấy, quá trình phát triển của giới tự nhiên là quá trình không có điểm kết thúc,các hình thức tồn tại của vật chất là hữu hạn, “ tổng thể vật chất và các quy luật vậnđộng của nó mới vĩnh hằng” [31, tr.876]

- Trong xã hội

Khát vọng của con người luôn luôn hướng tới chinh phục tự nhiên và cải tạo

xã hội hiện có để phục vụ cho những mục đích cao cả Sự phát triển của trong xãhội thể hiện con người ngày càng làm chủ tự nhiên, xã hội để tiến lên thang bậc caohơn trong sự nghiệp giải phóng con người

Trong khi nghiên cứu sâu về sự phát triển của chủ nghĩa duy vật triết học,C.Mác đã mở rộng học thuyết của mình từ chỗ nhận thức giới tự nhiên tiến lên nhậnthức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác sáng lập đã đạt nhữngthành tựu hết sức vĩ đại, xóa bỏ mọi “sự lộn xộn và sự tùy tiện” ngự trị trong cácthời đại trước C.Mác

Tiếp nhận có chọn lọc, C.Mác đề cao phương pháp của Hêghen, nhưngC.Mác nhận ra trong tính hệ thống Hêghen đã sai lầm khi không thấy sự vận độngcủa hiện thực trong bản thân giới tự nhiên, trong xã hội Phép biện chứng là một quátrình khách quan, không chỉ rút ra trong việc tìm hiểu tự nhiên mà cả trong xã hội.Việc C.Mác phân tích các vấn đề xã hội để rút ra các nguyên lý, phạm trù của phép

Trang 33

biện chứng có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành lý luận nhận thức, hoàn thiệnhơn phép biện chứng duy vật.

Trong “Tư bản”, C.Mác đã phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩavới tính cách là một cơ thể đầy đủ, trọn vẹn đang vận động, phát sinh, phát triển vàtiêu vong Sự phân tích của C.Mác “phát hiện trong các hiện tượng đơn giản ấy (trongcái “tế bào” ấy của xã hội tư sản) tất cả những mâu thuẫn của xã hội hiện đại Sự trìnhbày tiếp theo vạch cho chúng ta thấy sự phát triển của các mâu thuẫn ấy và cái xã hộiấy” [30, tr.380] Sự phân tích của C.Mác cho thấy, xã hội tư bản không phải là một

“vật kết tinh cứng đờ” mà có khả năng tiến triển và chuyển hóa thường xuyên với sựđầy đủ tất cả các quy luật nội tại của nó bằng cơ sở, cách thức, con đường đi đến sựphát triển hình thành một chất mới, “cơ thể” mới, một phương thức sản xuất mới.Cũng phải khẳng định rằng, sự tiến lên từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội

“không phải là một giấc mơ, không phải là sự ước mong thành kính mà là kết quả tấtyếu không thể tránh khỏi sự phát triển của phương thức tư bản chủ nghĩa”

- Trong tư duy

Sự phát triển trong tư duy chính biểu hiện ở quá trình nhận thức ngày càngsâu sắc, đầy đủ và đúng đắn về sự vât, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội.Quá trình đó đem lại cho con người tri thức về thế giới đưa con người ngày càngtiếp cận gần hơn với chân lý

V.Lênin nói rằng: “Nếu tất cả đều phát triển, thì cái đó có áp dụng cho nhữngkhái niệm và những phạm trù chung nhất của tư duy không? Nếu không tức là tưduy không có liên hệ gì với tồn tại cả Nếu có, thì tức là có phép biện chứng củanhận thức, phép biện chứng này có một ý nghĩa khách quan” [30, 270-271] Rõràng, tư duy và tồn tại là có liên hệ, sự phát triển của hiện thực kéo theo sự thay đổi

và phát triển của tư duy bởi tư duy có tính linh hoạt, mềm dẻo luôn luôn theo sát vàthay đổi cùng với hiện thực Không chỉ trong tự nhiên, trong xã hội mà cả ở trong tưduy, sự vận động, phát triển cũng diễn ra, chỉ trên cơ sở đó mọi hình thức của tư

Trang 34

duy nhất là các khái niệm và phạm trù mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luônluôn vận động và phát triển.

Con đường vận động của khái niệm được V.Lênin cho rằng, sự con đườngphát triển của các khái niệm cũng được triển khai từ việc nhận thức của các mặt đốilập từ mâu thuẫn Quá trình phát triển khái niệm với phương thức tích lũy về lượngdẫn đến thay đổi về chất, tức là có sự chuyển biến về nội hàm sâu sắc thêm và ngoạidiên được mở rộng hơn, hoặc tương tác với nhau để sinh ra các khái niệm mới Từđây, con đường vận động của khái niệm được khái quát: “Một là, các khái niệm cũđược bổ sung một nội dung mới cụ thể, phản ánh các quá trình sinh động; hai là, cáckhái niệm được xem xét trong sự phát triển, trong sự phối hợp và sự tòng thuộc; ba

là, các khái niệm trong điều kiện mới chuyển thành mặt đối lập của mình và bốn là,

cơ sở của sự chuyển hóa các khái niệm là đấu tranh của các xu hướng mâu thuẫnnhau” [58, tr.280] Nhận thấy rằng, quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bảnchất, cho nên khái niệm không phải thiết lập một lần là đã hoàn thành mà khái niệmluôn biến đổi và không xác định Vì thế, khái niệm luôn được bổ sung và làm mới

Sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, nhưng điều đó không có nghĩatrong bản thân nó không có sự ngưng động tạm thời, sự ổn định tương đối Từ đó,bằng những dấu hiệu đặc trưng cơ bản mà khái niệm phản ánh bản chất của sự vật,nhưng khái niệm không bao giờ phản ánh một cách “đứng im” Vận động của sự vậtkéo theo sự vận động của những hình thức khái niệm, làm cho khái niệm luôn phải

“làm mới” mình

Những bước phát triển của khoa học gắn liền sự phát triển của khái niệm,quá trình đó làm cho khái niệm phản ánh ngày càng đầy đủ, sâu sắc về đối tượng.Qua một quá trình sẽ thay đổi, bổ sung, chỉnh hóa một số dấu hiệu cơ bản trong nộihàm của khái niệm để khái niệm có thể nói được hết thực chất đối tượng mà nóphản ánh Ví dụ như, khái niệm giai cấp công nhân hiện nay không còn như trước,khi hiểu giai cấp công nhân là những người làm việc tập trung trong các nhà máy, xínghiệp Khái niệm giai cấp công nhân hiện nay được hiểu rộng hơn nhiều, trong đó

Trang 35

bao hàm cả đội ngũ trí thức, cán bộ, các nhà nghiên cứu…Hay như trong toán học

sơ cấp, quá trình vận động của số theo chiều hướng từ đơn giản đến phức tạp củakhái niệm số gồm những thang bật chính: số tự nhiên, số nguyên, số hữu tỉ, số thực,

số phức [51, tr.172] Sự vận động của khái niệm “số” làm cho nội hàm sâu sắc,ngoại diên được phát triển Ngoại diên của khái niệm số được nới rộng bởi hệ thống

số ngày càng lớn hơn, còn sự phát triển về nội hàm là do bởi những thành tựu của

khoa học đã phát hiện ra những dấu hiệu tổng quát với nội dung sâu sắc hơn, làm

cho hệ thống số thống nhất ở một bật thang cao hơn

1.3.3 Tính kế thừa của sự phát triển

Tính kế thừa của sự phát triển ở sự vật, hiện tượng là đặc trưng cơ bản nhất củaphủ định biện chứng, trở thành mắc xích quan trọng nhất trong xu hướng phát triển của

sự vật Nhờ có kế thừa trong sự phát triển mà những đặc điểm tích cực sẽ được giữ lạitrong cái mới Và như thế làm cho sự vật càng ngày càng trở nên hoàn thiện hơn

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển không chỉ là sự ra đời cái mới màcòn phải kế thừa nền tảng từ trước của nó Sự phát triển là tự thân nên phủ định biệnchứng không thể thủ tiêu, phá bỏ hoàn toàn cái cũ Cái mới ra đời trên nền tảng củacái cũ, là sự tiếp tục phát triển cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lạc hậuđồng thời giữ lại, cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực và tiếp tục

bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực

Như vậy, sẽ không có bất cứ cái mới nào ra đời và tồn tại, phát triển màkhông dựa trên một phần nào đó, những yếu tố tích cực của cái cũ Sự vật hiệntượng mới ra đời không phải là ngẫu nhiên, tự dưng mà có, nó hình thành và pháttriển trên cơ sở tiếp thu, chọn lọc, cải tạo của cái cũ Chẳng hạn như, tư tưởng HồChí Minh, một trong những nguồn gốc sinh ra là sự phát triển có kế thừa tinh hoavăn hóa của nhân loại Trong tư tưởng của mình, Người tiếp thu những yếu tố tíchcực của văn hóa phương Đông chủ yếu của Nho giáo và Phật giáo như lòng vị tha,

tư tưởng từ bi bác ái, triết lý hành đạo giúp đời, tu thân dưỡng tính; của phương Tâynhư tư tưởng tự do, bình dẳng, bác ái, dân chủ, nhân quyền Nhưng đồng thời,

Trang 36

những tư tưởng đó phải có sự gạn lọc cho phù hợp với đạo đức, truyền thống, nhâncách của con người Việt Nam.

V.Lênin nói rằng: “Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưngdưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (phủ định của phủ định)” [29, tr.112].Quá trình phủ định biện chứng đi từ trình tự cái “khẳng định đến phủ định và từ phủđịnh đến phủ định của phủ định” Ban đầu với “cái khẳng định” với tư cách là cái

“duy trì sự tồn tại của đối tượng”, xuất hiện dần trong nó những mặt đối lập và tácđộng lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng chuyển hóa thành cái khác - hình thức

“cái phủ định” Với cái phủ định cũng là một cái gì đó xác định, một nội dung nhấtđịnh Đến khi sự thống nhất giữa cái khẳng định và cái phủ định nắm được các yếu

tố và liên hệ bản chất diễn ra ở “vòng khâu phủ định của phủ định”, sự vật, hiệntượng khắc phục được những hạn chế của giai đoạn trước, tiếp thu những thành quả

để tái lập cái khẳng định mới ở cơ sở cao hơn

Sự ra đời của cái mới không phải là điều gì ngẫu nhiên, cũng không phảihình thành trên một mảnh đất trống rỗng nào, mà trái lại, nó được hình thành vàphát triển trên sự kế thừa có chọn lọc Vì thế, cái mới hình thành có trình độ caohơn, có cấu tạo phức tạp hơn và bản chất cũng trở nên hoàn thiện hơn Trong cácmặt, các yếu tố của sự vật cũ hay trong chế độ xã hội cũ, một đặc trưng, một phẩmchất đạo đức nào đó của tự nhiên hay của con người bao giờ cũng chứa đựng nhữngmảng, những yếu tố hợp lý Sự phát triển của sự vật, hiện tượng như là lặp lại cái cũnhưng trên một trình độ cao hơn

Tính kế thừa của sự phát triển gắn liền với quá trình phủ định cái cũ, cái khôngthích hợp với những tàn tích của kết cấu cũ mà còn phải bổ sung thêm những đặc điểmmới Quá trình tiêu diệt cái cũ diễn ra càng nhanh, càng triệt để thì sự phát triển diễn racàng nhanh và vững chắc hơn Khi sự phát triển có tính kế thừa, tạo ra sự vật mới cóhình thức cao hơn, nội dung phong phú hơn và cũng sẽ có sức sống mãnh liệt hơn Vấn

đề này biểu hiện rõ khi Việt Nam chúng ta bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xãhội Lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội mà các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác nói đến

Trang 37

cũng không phải để các nhà lãnh đạo của các nước vận dụng một cách rập khuôn Bởivấn đề còn lưu ý, khi mỗi nước có những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, truyền thốngvăn hóa của từng dân tộc khác nhau nên chủ nghĩa xã hội ở từng nước sẽ xây dựngcũng có những đặc thù không thể nước nào cũng giống nước nào được Trở lại, khichúng ta lấy mô hình kinh tế tập trung, bao cấp mà Liên Xô áp dụng vào Việt Nam,chúng ta không nhận thức được rằng, những đặc trưng riêng biệt bên cạnh tính phổbiến của mô hình nên không thể dễ dàng áp dụng cho bất cứ nước nào, thời điểm nào.Trong khi áp dụng, chúng ta đã dần dần nhận ra có những biểu hiện không phù hợp,ngày càng có những “khuyết tật” bởi sai lầm về cơ chế, chính sách Bởi vì với nước ta

ở vào thời điểm đó, tầm vóc kinh tế - xã hội còn quá “nhỏ bé” không đủ sức để gánhvác hết những cơ chế của mô hình kinh tế đó Rút ra bài học từ những vấp phải, Đảng

và nhân dân ta đã lựa chọn con đường đi riêng phù hợp với điều kiện khách quan vớimục tiêu ở từng thời kỳ, từng chặn đường, từng giai đoạn cụ thể để có thể tiến nhữngbước vững chắc trên con đường “chinh phục” chủ nghĩa xã hội với những đặc trưngriêng của Việt Nam Kế thừa những thành tựu rực rỡ về kinh tế của nhân loại, sẽ mangđến cho đất nước những cơ sở vững chắc cho việc “tiến nhanh, tiến mạnh”, rút ngắnthời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Ngày nay, “sức sống” chủ nghĩa xã hội ở nước

ta mỗi ngày càng mãnh liệt hơn

Biểu trưng cho quá trình quá trình phủ định biện chứng theo cách gọi củaV.Lênin là đường “xoáy trôn ốc” Khi nói về sự phát triển là những đường xoáy ốc,

nó không chỉ giả thiết sự phát triển theo hướng tiến bộ nói chung mà trong đó còn có

sự vận động thụt lùi tạm thời Đường xoáy ốc này cũng không phải một đường thẳng

mà quanh co trong đó có sự kết hợp giữa tiến bộ và thoái bộ Sự thoái bộ trong sựphát triển chỉ là một bước lùi tạm thời trong cái chỉnh thể đang vận động, phát triển.Một bộ phận nào đó có hiện tượng thoái bộ là do sự tiến bộ của loài khác, mặt kháctrong chỉnh thể đó gây nên Nhưng tất cả những điều đó không làm mất tính tiệm tiếncủa sự phát triển Từ thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong các tácphẩm của mình, V.Lênin chỉ ra rằng, không loại bỏ tất cả mà cần phải học hỏi ở chủ

Trang 38

nghĩa tư bản trong lĩnh vực tổ chức quản lý, các thành tựu khoa học công nghệ khixây dựng chủ nghĩa xã hội Không những vậy, vấn đề kế thừa cũng được đặt ra trong

sự phát triển của bản thân xã hội xã hội chủ nghĩa ở trong các hình thức kinh tế, chínhtrị, văn hóa… Cả hai mặt kế thừa trên đều đảm bảo cho tính phát triển của hiện thực,chủ nghĩa xã hội kế thừa chủ nghĩa tư bản những nhân tố hợp lý, nó tương ứng cho sựđứt đoạn của tính tuần tự lịch sử, tích lũy về lượng để thực hiện “bước nhảy vọt” vềchất từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Cái khác nữa, phải đảm bảo cho chủnghĩa xã hội có quá trình biến đổi dần dần về lượng trong bản thân nó Sự “đan chéođộc đáo” của hai kiểu tính kế thừa bộc lộ rõ nét tính chất quá độ của thời đại Rõràng, đối với việc làm này chỉ có lợi cho chủ nghĩa xã hội mà không bao giờ có hại,

vì những thành công đạt được chỉ có thể đo được bằng sự khéo léo mức độ cải tạo, sửdụng “cái cũ” ở trong cái mới Vì lợi ích của tiến bộ của loài người, vì tính nhân đạo,chủ nghĩa xã hội có thể kế thừa tất cả những gì tốt đẹp mà lịch sử loài người đã tạo ratrước đây, qua đó thể hiện tính ưu việt của chế độ này

1.3.4 Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển

Như đã trình bày, phát triển là khuynh hướng chung, là phổ biến của sự vật,hiện tượng Tuy nhiên, quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở không gian

và thời gian khác nhau sự vật hiện tượng sẽ có những bước phát triển khác nhau vàngay trong bản thân sự vật, hiện tượng cũng có sự khác nhau Chẳng hạn, quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội có sự khác nhau ở từng quốc gia Đối với một nước cónền kinh tế ở xuất phát điểm thấp như nước ta, quá trình đó trải qua thời kỳ quá độlâu dài, nhiều chặng đường, nhiều giai đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắcnhở, “tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều” và Người nhận thứcrằng: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch

sử địa lý khác” Vì vậy, với cách làm riêng mình, “ta có thể đi con đường khác đểtiến lên chủ nghĩa xã hội” [ Theo 41, tr.227]

Không những thế, trong quá trình phát triển của mình, sự vật hiện tượng cònchịu sự tác động bởi rất nhiều yếu tố, điều kiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy, có thể

Trang 39

kìm hãm sự phát triển của các sự vật, đôi khi còn làm thay đổi cả chiều hướng pháttriển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật còn có những bước thụt lùi Ta cũng thấyrằng, lịch sử triết học là sự kế tiếp nhau của thời đại triết học, triết học Tây âu Trung cổ

là một nấc thang trong chuỗi quá trình phát triển của lịch sử triết học phương Tây Xéttrên bình diện lịch sử, thời Trung cổ được xem là thời kỳ thần quyền gắn với thế quyền,

tổ chức giáo hội chiếm vị trí ưu thế và tác động đến trong mọi sinh hoạt văn hóa, tinhthần của xã hội đương thời Triết học kinh viện chiếm ưu thế so với triết học truyềnthống, vì thế, về mặt triết học ở thời kỳ này đã có những bước lùi so với thời Cổ đại.Tuy nhiên, không nên coi thời kỳ Trung cổ không phải sự đứt đoạn lịch sử về mặt triếthọc mà thời kỳ này nằm trong sự liên tục quá trình hình thành những mầm mống về lýluận khoa học cho một “tương lai châu Âu” về sau này

Thế giới hiện thực luôn hiện ra một hiện trạng muôn hình muôn vẻ nên sự vậtkhông có sự đồng nhất về kết cấu và tổ chức Mỗi sự vật, hiện tượng được xem như

là một thế giới, không có cái nào lại giống cái nào Và cũng do khác nhau về lực tácdụng, sự chi phối nên sự vật xuất hiện ở hoàn cảnh, ở những vị thế cũng khác nhau

Vì thế, về động lực, phương thức và con đường giải quyết mâu thuẫn của sự pháttriển cũng có là nét riêng biệt của mỗi sự vật Ví dụ như, công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở các nước ở từng thời điểm khác nhau sẽ tạo ra những bước phát triển khácnhau Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào đầu thế kỷ XX đã tác động vàotrình độ tổ chức và quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho các nước lạchậu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình công nghiệp hóa lầnđầu tiên ở Anh phải mất hơn 100 năm, đối với các nước châu Á sau này như NhậtBản, Hàn Quốc, Xingapo…trung bình mất chỉ khoảng 30 năm Sỡ dĩ có thể rút ngắnđược như vậy là do chủ nghĩa tư bản đã tạo ra các tiền đề về kinh tế, về khoa học kỹthuật mà các nước đi sau đã tận dụng được nó Ở nước ta cũng đang diễn ra quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nếu tận dụng được những thời cơ để vượt qua nhữngthách thức, chắc chắn chúng ta sẽ giảm rút ngắn được quá trình này Hay mới đây cácnhà khoa học đã ghi nhận những thành tựu rực rỡ của cuộc cách mạng khoa học công

Trang 40

nghệ trên hành trình tìm đường giải phóng cho con người, trong hơn ba thập kỷ từcuối thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI, những tri thức mà con người có được cònnhiều hơn tri thức của loài người tích lũy từ khi con người xuất hiện trên trái đất.

Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển cũng có ngay trong mâu thuẫn của

sự vật Khi phân tích mâu thuẫn, ta thấy rằng, mâu thuẫn của cuộc sống rất sinhđộng, nó tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng và trong tất cả các giai đoạn pháttriển của chúng Mâu thuẫn cũng tồn tại đa dạng và phong phú bởi sự tác động qualại của các mặt đối lập, bởi trình độ tổ chức của hệ thống, của chỉnh thể

Tính đa dạng, phong phú còn thể hiện sự khác nhau ở sự vật hiện tượng vềnhịp độ, quy mô của bước nhảy vọt Có những bước nhảy vọt thực hiện một sự thayđổi về chất diễn ra một cách nhanh chóng, đột biến mang tính cách mạng và cũng

có những sự thay đổi diễn ra một cách dần dần, mang tính tiến hóa Ví dụ như, sựphát triển từ loài vượn trở thành loài người thể hiện sự tiến hóa lâu dài chứ khôngthể thực hiện một bước nhảy vọt mang tính đột biến Từ loài vượn qua quá trình lâudài tiến lên vượn người, từ vượn người qua thời gian tiến hóa thành người vượn.Người vượn dưới tác động của tự nhiên về mặt sinh học, qua cả quá trình lao độngmới thành con người hiện đại

Ở khía cạnh khác, tính đa dạng, phong phú của sự phát triển còn thể hiện ởtính lặp lại của thế giới sự vật Mỗi sự vật đều tồn tại trong sự vận động, vì vậnđộng là phương thức sống của sự vật Và như vậy, trong sự vận động, sự vật luônthể hiện mình ở dạng tồn tại “khác nó”, nhưng cái không phải nó lại là nó, nghĩa làluôn luôn có sự chuyển mình, biến đổi thường xuyên của sự vật Sự phát triển trong

sự liên tục xen kẽ với những bước gián đoạn và những biểu hiện đặc thù tạo cho thếgiới tạo cho thế giới luôn luôn đa dạng, phong phú

Phát triển không chỉ xảy ra trong tự nhiên mà còn trong xã hội, tư duy Ở trong

xã hội, tư duy thì sự phát triển càng tạo ra tính đa dạng và phức tạp hơn với nhữngquan hệ chức năng - hệ thống Mỗi đối tượng là một chỉnh thể toàn vẹn, thể hiện ởcác mặt, các tính chất, các mảnh đoạn khác nhau là các chất khác nhau Sự vật là tổng

Ngày đăng: 30/12/2013, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Hội đồng Trung ương (chỉ đạo) (2008), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương (chỉ đạo)
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2008
21. Huyện ủy Hương Trà (2010), Lịch sử Đảng bộ Hương Trà (giai đoạn 1935 - 2075), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Hương Trà (giai đoạn 1935 -2075)
Tác giả: Huyện ủy Hương Trà
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2010
22. Huyện ủy Hương Trà (2010), Lịch sử Đảng bộ Hương Trà (giai đoạn 1975 - 2005), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Hương Trà (giai đoạn 1975 -2005)
Tác giả: Huyện ủy Hương Trà
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2010
23. Huyện ủy Hương Trà (2010), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ huyện Hương Trà (khóa XI) trình đại hội đại biểu đảng bộ lần thứ XII, Hương Trà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hànhđảng bộ huyện Hương Trà (khóa XI) trình đại hội đại biểu đảng bộ lần thứ XII
Tác giả: Huyện ủy Hương Trà
Năm: 2010
24. Nguyễn Thị Mỹ Lang (2008), Nguyên lý về sự phát triển với việc nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ giảng dạy các trường đại học, cao đẳng tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ triết học, Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý về sự phát triển với việc nâng caonhận thức chính trị cho cán bộ giảng dạy các trường đại học, cao đẳng tỉnhQuảng Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lang
Năm: 2008
25. V.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 26. V.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 18, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội26. V.Lênin (2005), "Toàn tập
Tác giả: V.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 26. V.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
27. V.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
28. V.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 24, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
29. V.Lênin (2006), Toàn tập, Tập 26, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 30. V.Lênin (1981), Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", Tập 26, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội30. V.Lênin (1981), "Toàn tập
Tác giả: V.Lênin (2006), Toàn tập, Tập 26, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 30. V.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1981
31. V.Lênin (2006), Toàn tập, Tập 29, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
32. Trang Phúc Linh (chủ biên) (2004), Lịch sử Chủ nghĩa Mác, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Chủ nghĩa Mác
Tác giả: Trang Phúc Linh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chínhtrị Quốc gia
Năm: 2004
33. Phạm Văn Linh - Nguyễn Tiến Hoàng (2011), Về những đổi mới trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những đổi mới trong Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,phát triển năm 2011)
Tác giả: Phạm Văn Linh - Nguyễn Tiến Hoàng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật
Năm: 2011
34. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập,Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
35. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
36. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
37. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
38. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
39. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 43, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
40. C.Mác và Ph.Ăngghen (1983), Tuyển tập, Tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1983
41. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w