1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích Công ty cổ phần Acecook Danh sách những nơi làm việc tốt nhất Việt Nam năm 2018 do mạng cộng đồng nghề nghiệp Anphabe và công ty nghiên cứu thị trường Intage vừa công bố

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 378,32 KB
File đính kèm Acecook.zip (24 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây để phân tích rõ các tiêu chí đánh giá này, ta sẽ phân tích Công ty cổ phần Acecook. Công ty cổ phần Acecook được thành lập vào ngày 15121993 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 1995, sau nhiều năm hoạt động, Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam đã không ngừng phát triển lớn mạnh trở thành công ty thực phẩm tổng hợp hàng đầu tại Việt Nam với vị trí vững chắc trên thị trường, chuyên cung cấp các sản phẩm ăn liền có chất lượng và dinh dưỡng cao. Acecook Việt Nam cũng được liệt kê vào trong top 25 những công ty đáng làm việc nhất tại Việt Nam để đạt được điều đó Acecook cũng đã đạt được những tiêu chí nhất định mà các nhà tuyển dụng đề ra cũng như được người lao động đánh giá. Dưới đây là 6 yếu tố cơ bản nhất: 1) Lương và phúc lợi công ty CP Acecook Việt Nam  Các chế độ phúc lợi • Có bếp ăn riêng chăm lo bữa ăn cho CBCNV, khẩu phần ăn bồi dưỡng, khẩu phần tăng ca. Đảm bảo dinh dưỡng và VS ATTP. • Hỗ trợ xe đưa đón, đặt vé máy bay, chi phí khách sạn, công tác phí khi đi công tác. • Chế độ Bảo hiểm Y tế, Bảo hiểm Xã hội, BH Thất nghiệp. Bên cạnh đó Công ty còn đăng ký bảo loại hình bảo hiểm tai nạn 2424 nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro về mặt tài chính trong trường hợp Công nhân viên bị bệnh hoặc tai nạn.

Trang 1

I TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH

1 Cơ cấu kinh tế theo ngành

Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại về mặt số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau Là bộ phận quan trọng nhất trong phân tích cơ cấu kinh tế vì nó phản ánh sự phát triển của phân công lao động

xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất

2 Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu ngành

Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu CNH – HĐH đất nước, phấn đấu từ năm 2010 cơ bản trở thành 1 nước công nghiệp thì điều này lại càng có ý nghĩa Chính vì vậy, việc đầu tư vào chuyển dịch cơ cấu ngành, tạo sức bật cho nền kinh tế đóng 1 vai trò hết sức quan trọng Vai trò này của đầu tư được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ 1: Đầu tư tác động làm thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của các ngành

Đây là 1 hệ quả tất yếu của đầu tư Đầu tư vào ngành nào càng nhiều thì ngành đó càng có khả năng đóng góp lớn hơn vào GDP

Thông qua các chính sách và chiến lược, nhà nước có thể tăng cường khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư đối với các ngành sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển Sự tăng đầu tư vào một ngành sẽ kéo theo sự tăng trưởng kinh tế của ngành đó và đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các ngành, các khu vực có liên quan => Điều này sẽ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội cho

cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 lên tới gần 10.600.000 tỷ đồng, bằng khoảng 32-34% GDP Phải huy động được nguồn vốn này, Việt Nam mới có thể đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5-7% và thực hiện đột phá về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Thứ 2: Đầu tư tạo ra sự phân hóa cơ cấu sản xuất trong các ngành đồng thời là tiền đề vật chất

để phát triển các ngành mới

Như đã nói ở trên đầu tư đã làm thay đổi tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế, việc thay đổi

tỷ trọng GDP sẽ kéo theo sự phân hoá cơ cấu sản xuất trong mỗi ngành kinh tế Sự phân hoá này là một tất yếu để phù hợp với sự phát triển của ngành Trong từng ngành, đầu tư sẽ ưu tiên tập trung hướng vào các ngành có điều kiện thuận lợi để phát triển, và phát huy được lợi thế của ngành đó Thông qua đó làm điểm tựa, bàn đạp cho các ngành khác cùng phát triển Tạo

ra những giá trị tích lũy vật chất để phát triển thêm các ngành mới

Số liệu của Ban Kinh tế Trung ương đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc tế cho thấy, trong 10 năm qua (2006-2015), tỷ trọng GDP công nghiệp cũng duy trì ổn định khoảng 31-32%/tổng GDP của cả nước.Trong nhiều năm, lĩnh vực công nghiệp có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân Cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chuyển dịch tích cực, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo, chiếm

tỷ trọng chủ yếu và tăng liên tục (năm 2007 chiếm 78%, năm 2015 tăng lên chiếm 97,3%) Ngoài ra, riêng năm 2016, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,5% so với năm 2015 Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm mới, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, như: Dầu khí, điện tử, thép, xi

Trang 2

măng… làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân nhờ có cơ cấu kinh tế tiến bộ hơn

Cơ cấu xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chuyển dịch tích cực

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo tang 19,3% (2007-2015)

(năm 2007 chiếm 78%, năm 2015 tăng lên chiếm 97,3%)

Vốn FDI tạo ra thêm 50% giá trị sản xuất công nghiệp

Góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như: Dầu khí, điện tử, thép, xi măng

Thứ 3: Nhờ có đầu tư mà quy mô, năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các ngành trọng điểm được tăng cường

Mọi việc như mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm, mua sắm máy móc Suy cho cùng đều cần đến vốn, một ngành muốn tiêu thụ rộng rãi sản phẩm của mình thì phải luôn đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, kiểu dáng, nghiên cứu chế tạo thêm các công dụng mới cho sản phẩm Việc đầu tư yếu tố khoa học công nghệ vào các ngành sẽ giúp sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, từ đó nâng cao vai trò đóng góp của ngành trong nền kinh

tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tích cực Do đó việc đầu tư để nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm là một điều kiện không thể thiếu được nếu muốn nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường

Tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng nhiều mô hình, dự án thử nghiệm thành công; đáng chú ý, ngành tôm đang tiên phong trong quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường ra nhiều nước trên thế giới Tỉnh đã thu hút được một số dự án quy mô lớn về nuôi thủy sản như: đề án Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà, vốn đầu tư 829 tỷ đồng Dự án Khu phức hợp sản xuất giống và nuôi tôm công nghệ cao siêu thâm canh tại xã Tân Lập được khởi công xây dựng vào năm 2017 với tổng diện tích ban đầu hơn 300 ha, vốn đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng, được xác định là điểm nhấn cho phát triển ngành sản xuất tôm công nghệ cao của Quảng Ninh

Hiện nay, các mô hình nuôi tôm theo tiêu chuẩn VietGAP; nuôi trong nhà kính, nuôi công nghệ Biofloc, đang được áp dụng rộng rãi; điển hình là những mô hình công nghiệp nuôi tôm thẻ chân trắng, cho năng suất nuôi trung bình đạt từ 8 đến 10 tấn/ha/vụ Nhờ đó tạo điều kiện thúc đẩy phát triển ngành thủy sản nói chung, đồng thời đẩy mạnh phát triển cơ cấu ngành kinh doanh thủy sản của tỉnh QN, xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm chất lượng cao, giúp thương hiệu tôm Quảng Ninh cạnh tranh trên thị trường thế giới

Năm 2020, tổng diện tích nuôi tôm của tỉnh Quảng Ninh đạt 9.400 ha

Diện tích nuôi tôm thâm canh đạt 4.000 ha

Tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 40 triệu USD

tổng sản lượng tôm giống sản xuất đạt hơn 10 tỷ con giống.

3 Liên hệ Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam (xét từ năm 2010-2020)

3.1 Phân tích tỷ trọng GDP của các ngành kinh tế từ 2010-2020

+Trong 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010 xuống 14,85% năm 2020;

Trang 3

-Tỷ trọng GDP của các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm trừ trợ cấp) tăng tương ứng từ 81,1% lên 85,2%, vượt mục tiêu đề ra

-Cơ cấu nội ngành chuyển dịch tích cực; trong khu vực công nghiệp, xây dựng, tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo tăng từ 13% năm 2010 đến 19,6% năm 2020; tỷ trọng ngành khai khoáng giảm từ 9,5% xuống còn 5,2% Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ có xu hướng tăng lên

Trang 5

-Trong đầu tư, yếu tố vốn giữ một vai trò quan trọng, tác động lớn đến quá trình chuyển dịch CCKT:

+Xét về tổng số vốn đầu tư:

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 9 tháng năm 2019, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt mức tăng khá 10,3% so với cùng kỳ năm 2018 (quý III ước tính đạt 556,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5%).Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2010 theo giá thực tế ước tính đạt 146,8 nghìn tỷ đồng Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2011 - 2020 đạt gần 15 triệu tỷ đồng (tương đương 682 tỷ USD), tăng bình quân 10,6%/năm

+Chỉ số sử dụng vốn hiệu quả ICOR: (giai đoạn 2010-2017)

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta thường xét đến tỷ lệ gia tăng vốn – sản lượng, hệ số ICOR (Incremental Capital – Output Ratio) Hệ số (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

ICOR của Việt Nam từ năm 2010 đến nay cho thấy, hiệu quả đầu tư đã có bước cải thiện, ICOR từ 2014 đã giảm xuống dưới 6.Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội cho cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 lên tới gần 10.600.000

tỷ đồng,bằng khoảng 32-34% GDP

Bình quân giai đoạn 2016-2019, hệ số ICOR đạt 6,13, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015 Riêng năm 2020, do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế bị đình trệ, các dự án công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chưa phát huy được năng lực nên ICOR năm 2020 đạt 14,28; bình quân giai đoạn 2016-2020 hệ số ICOR đạt 7,04 (cái này t ko tìm đc hình hay bảng thì mình tự thêm số minh họa vào slide là đc) +Thực trạng vấn đề sử dụng vốn đầu tư đối với các ngành:

-Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế chưa khai thác hết tiềm năng phát triển của ngành Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp khoảng 20% cho GDP và tương đối ổn định trong giai đoạn 2010-2020, nhưng tỷ trọng trong đầu tư cho khu vực này trong tổng vốn đầu tư nhà nước

Trang 6

đã giảm mạnh từ mức 8,6% giai đoạn 2010-2015 xuống còn 6,1% giai đoạn 2016-2019, cho thấy đầu tư cho nông, lâm nghiệp và thủy sản chưa được chú trọng đúng mực

-Trong lĩnh vực nông nghiệp, với các lợi thế về điều kiện tự nhiên để tăng trưởng không còn nhiều (do giảm diện tích đất, thâm dụng nước để tặng vụ…), sử dụng phân bón và thuốc bảo

vệ với hàm lượng cao trong khu công nghệ canh tác thấp Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm ngành nông nghiệp trong thời gian qua thay đổi chậm, chưa đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững Sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp về chất lượng, giá cả và chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm còn yếu kém Đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thường phải chịu nhiều rủi ro và khó khăn trong khi lợi nhuận thấp, do đó việc thu hút đầu tư tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn, dẫn đến =>thiếu nguồn lực thực hiện, hiệu quả chưa cao (thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp gặp khó khăn => thiếu nguồn lực

thực hiện)

-Đối với ngành công nghiệp: Quyết định số 339/QĐ-TTg và quyết định số 2146/QĐ-TTg6 ngày 01/12/2014 về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành công thương phục vụ CNH, HĐH và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tăng hàm lượng KHCN và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, kết nối tốt giữa khâu sản xuất và tiêu dùng, những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh… để cải thiện và nâng cao phát triển nền kinh tế, giảm dần các lĩnh vực sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản Tuy nhiên việc phân bổ nguồn lực đầu tư nhà nước vào những lĩnh vực này chưa đạt hiệu quả cao, sản xuất công nghiệp vẫn chưa khắc phục được tình trạng phát triển theo chiều rộng, theo hướng gia công lắp ráp; nhiều doanh nghiệp vẫn bị động phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu; tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm của các ngành có định hướng ưu tiên bị hạn chế, khả năng cạnh tranh vẫn còn thấp và giá thành cao Phân bổ nguồn lực đầu tư nhà

nước chưa đạt hiệu quả

-Về cơ cấu khu vực dịch vụ: Giai đoạn 2011 - 2020, tăng trưởng của ngành dịch vụ ước đạt 6,4%/năm, cao hơn tăng trưởng chung của nền kinh tế (5,9%/năm)

Nguồn vốn phân bổ đều cho các ngành Dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao như công nghệ thông tin, logistics,thương mại điện tử Mạng lưới thương mại

và dịch vụ nhờ đó đã phát triển mạnh trên phạm vi cả nước

Trong đó Việt Nam đặc biệt quan tâm đường bộ và đường biển do nhu cầu đầu tư lớn và lợi thế về bờ biển Trong giai đoạn 2016 - 2020, nhu cầu về đầu tư riêng cho giao thông đường bộ khoảng 202,000 tỷ/năm Do đó, áp lực về vốn đầu tư là rất lớn trong thời gian sắp tới nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp

-Ngành du lịch đã có bước phát triển rõ rệt, cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, số lượng khách quốc tế tăng nhanh, từ 5 triệu lượt năm 2010 đến 18 triệu lượt năm 2019, bình quân tăng khoảng 15%/năm Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã tác động rất nghiêm trọng đến ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ như giao thông vận tải, hàng không, khách sạn, ăn uống, giải trí…

số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giảm mạnh

Nguồn vốn đầu tư tập trung phân bổ cho các ngành Dịch vụ có hàm lượng khoa học, công nghệ cao

Áp lực vốn đầu tư vào hệ thống đường bộ và đường biển

=> Tình trạng đầu tư dàn trải chậm tiến độ vẫn còn xảy ra, cần chú trọng hơn Việc phân bổ cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành sao cho đảm bảo phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế đất nước

Ngày đăng: 16/09/2021, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w