1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ qua khảo sát nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an

115 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 904,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cũng đã có không ít bài báo, bài nghiên cứu viết về vấn đề này, mỗi bài viết đều để lại cho chúng ta những suy nghĩ, những trăn trở và những câu hỏi nhất định xung quanh vấn đề bạo lự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ - QUA KHẢO SÁT & NGHIÊN

CỨU TẠI HUYỆN NAM ĐÀN, NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Vinh, 2012

Trang 2

Mục lục

Mục lục 1

Các chú thích các từ viết tắt 3

PHẦN I 4

I.1 Lời cảm ơn 4

I.2 Lý do chọn đề tài 5

I.3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu 6

I.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

I.5 Phương pháp nghiên cứu 8

I.6 Giả thuyết nghiên cứu 9

PHẦN II 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 28

2.1 Những nét chung về bạo lực gia đình hiện nay 28

2.2 Nguyên nhân xảy ra bạo lực gia đình 35

2.3 Hậu quả của bạo lực gia đình 46

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ NHIỆM VỤ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ 52

3.1 Vai trò nhiệm vụ của của nhân viên Công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ 52

3.2 Trường hợp điển cứu 62

PHẦN III 79

III.1 Lời kết 79

III.2 Kiến nghị 80

Tài liệu tham khảo 82

Phụ lục 83

Phụ lục số 1 83

Phụ lục số 2 Các biên bản phúc trình 88

Phúc trình số 1: 88

Trang 4

PHẦN I

MỞ ĐẦU

I.1 Lời cảm ơn

Trong thời gian qua, để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành

Công tác xã hội với đề tài: “Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên Công tác Xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ - qua khảo sát

và nghiên cứu tại huyện Nam Đàn - Nghệ An” Tôi đã nhận được sự quan tâm,

động viên khuyến khích và giúp đỡ của gia đình, Thầy cô, bạn bè cũng như các

Cô chú trong hội Phụ nữ huyện Nam Đàn

Để hoàn thành bài khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo trong tổ Công tác Xã hội, Ban chủ nhiệm khoa Lịch Sử trường Đại Học Vinh,

đặc biệt là giảng viên Phan Thị Thúy Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ,

chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân, trực tiếp là các Cô, các Chị trong hội Phụ nữ huyện Nam Đàn, đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi tìm kiếm và phân tích tài liệu cũng như hướng dẫn và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành bài khóa luận này

Mặc dù tôi đã rất cố gắng và không ngừng học hỏi nhưng do thời gian cũng như năng lực bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận sẽ không tránh khỏi những sai sót cũng như những hạn chế Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, sửa chữa và những nhận xét của các Thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm tới đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trang 5

I.2 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng những ước mơ tươi đẹp của tuổi thơ, là tổ ấm hạnh phúc của tất cả mọi người, gia đình cũng là một trong những môi trường xã hội hóa quan trọng nhất của nhân cách trẻ em và ổn định nhân cách người lớn Những vấn đề của gia đình như : Nghèo đói, bình đẳng giới trong gia đình, sinh con quá quy định hay bạo lực gia đình…đều là những vẫn đề chung của toàn xã hội Những vấn đề ấy tồn tại khách quan với sự phát triển không ngừng của kinh tế, chính trị và nhận thức văn hóa, nó rất gần với đời sống của mỗi người và rất cần được chúng ta quan tâm, giải quyết

Thời gian gần đây, BLGĐ đang có sự chuyển biến mạnh về cách thức cũng như mức độ, và có lẽ đối tượng chịu nhiều bạo lực nhất vẫn là phụ nữ, những con người chân yếu tay mềm và có phần hạn chế trong việc tự bảo vệ bản thân BLGĐ đang trở thành một vấn nạn của xã hội khi mà ở đâu người ta cũng thấy cảnh chồng đánh đập vợ, anh chị em đâm chém lẫn nhau, cháu con ngược đãi với chính những người

đã sinh ra mình Tuy nhiên, dù với cách thức bạo lực và đối tượng của bạo lực có khác nhau thì cái cuối cùng mà mỗi gia đình nhận được chính là sự mất hết niềm tin, tình yêu thương, sự tôn trọng lẫn nhau và đã không ít vụ bạo lực gia đình gây ra những cái chết thương tâm, để lại nỗi ám ảnh vô cùng to lớn và nghiêm trọng cho những người ở lại

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều cuốn sách, nhiều bài viết về gia đình nói chung và vấn đề bạo lực gia đình nói riêng được xuất bản và nhận được sự quan tâm

của độc giả, chúng ta có thể biết đến như: Cuốn “Gia đình học” của PGS.TS Đặng Cảnh Khanh, nhà xuất bản Chính Trị - Hành Chính; hay cuốn “Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị” của TS Lê Thị Qúy và Đặng Vũ Cảnh Linh, nhà xuất bản

Khoa học xã hội Và cũng đã có không ít bài báo, bài nghiên cứu viết về vấn đề này, mỗi bài viết đều để lại cho chúng ta những suy nghĩ, những trăn trở và những câu hỏi nhất định xung quanh vấn đề bạo lực gia đình, nếu ghép những bài viết và những cuốn sách ấy lại với nhau, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát và sâu sắc về các vấn đề nan giải của gia đình, trong đó nổi cộm lên là vấn đề bạo lực đối với người phụ nữ

Trang 6

CTXH là một nghành khoa học, một nghề chuyên môn mang tính ứng dụng cao, nó đã và đang bước đầu tạo dựng những nền tảng và khẳng định vị thế trong giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay Một trong những học phần quan trọng của ngành CTXH là học phần CTXH với gia đình, hợp phần này hướng tới giúp chúng ta có thể có được sự hiểu biết tổng quát về nguồn gốc hình thành, vai trò vị trí của gia đình cũng như những yếu tố góp phần làm nên một gia đình mạnh khỏe Không chỉ dừng lại ở đó, nó cũng chỉ ra cho chúng ta thấy những vấn đề của gia đình và là thách thức của nhân viên Công tác xã hội, trong đó

có vấn đề bạo lực gia đình đối với người phụ nữ- một vấn đề đang xảy ra hàng ngày, xung quanh chúng ta

Từ những lý do trên, đã giúp chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên Công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ- qua khảo sát và nghiên cứu tại huyện Nam Đàn Tỉnh Nghệ An”

Với hy vọng ứng dụng phương pháp CTXH, vận dụng các kỹ năng thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp cùng với các kiến thức, kỹ năng chuyên môn sẽ giúp nhóm phụ nữ nói chung và phụ nữ đã bị bạo lực tự giải quyết vấn đề của mình và

nâng cao năng lực của mỗi người (sự tự tin và kỹ năng sống), hướng đến giúp họ có

được cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc trong chính ngôi nhà của mình

I.3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu

I.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò, của Nhân viên Công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ

I.3.2 Khách thể nghiên cứu

Nhóm phụ nữ đã, đang bị bạo lực gia đình tại huyện Nam Đàn

I.3.3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua phân tích tâm lý cũng như các số liệu thực tế nhằm tìm ra những nguyên nhân chính nhất dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình lên người phụ nữ, qua

Trang 7

đó đưa ra biện pháp tối ưu nhất để tăng năng lực cho phụ nữ khi họ đối diện với hiện tượng xã hội này

Nghiên cứu đề tài một lần nữa khẳng định vai trò vị trí của những nhân viên CTXH cũng như những phương pháp CTXH trong quá trình giải quyết các vấn đề chung của chúng ta (trực tiếp là vấn đề bạo lực gia đình)

I.3.4 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khảo sát

nghiên cứu tại Huyện Nam Đàn

b Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02 đến tháng 04

năm 2011

c Phạm vi nội dung: Với đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vai

trò của nhân viên CTXH trong việc nâng cao nhận thức cho chị em phụ nữ đã và đang bị chồng bạo hành

Thông qua đó tôi cũng đi tìm hiểu những khía cạnh chung nhất của BLGĐ ( nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp ) nhằm giúp cho mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này

I.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

I.4.1 Ý nghĩa khoa học

Khi thực hiện để tài này tôi đã vận dụng cũng như đưa một số lý thuyết (như

lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý thuyết nhận thức hành vi, lý thuyết vai trò, lý thuyết nữ quyền Phương Tây, vv…) vào suốt quá trình nghiên cứu của mình Thông

qua đó, một lần nữa chúng ta thấy được giá trị, những đóng góp của các thuyết trong khía cạnh phân tích tâm sinh lý của con người

Không những thế, trong khóa luận của mình, tôi còn ứng dụng những kỹ năng đã được học trên ghế nhà trường vào làm cơ sở lý luận cũng như thực tiễn nhằm khám phá cũng như tiếp cận các đối tượng Thông qua đây, tôi hi vọng sẽ đưa đến cho các bạn một cái nhìn khách quan nhất về một vấn đề đang diễn ra trong xã hội- Bạo lực lên người phụ nữ trong gia đình và tìm kiếm cho chúng ta những biện pháp nhằm tăng năng lực cho nhóm đối tượng này

Trang 8

I.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu và giải thích một cách cụ thể khách quan về vấn đề BLGĐ, nhìn vấn

đề theo phương pháp CTXH, qua đó:

a) Tăng năng lực (sự tự tin, ý thức bảo vệ quyền lợi cá nhân, vv…) của phụ

đó lên tiếng đói những quyền lợi chính đáng trong cuộc sống

I.5 Phương pháp nghiên cứu

I.5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là thế giới khách quan và lý luận chung của các khoa học Các lý thuyết chung của CTXH cũng như phối hợp với các ngành khác như xã hội học, tâm lý học làm phương pháp nghiên cứu

I.5.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này nhằm thu thập các tài liệu văn bản, giúp chúng ta xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu là các bài viết, cuộc nghiên cứu liên quan đến hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng hoặc tài liệu mà cơ quan cung cấp về nhóm đối tượng để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất

b Phương pháp phỏng vấn sâu

Đối tượng phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ là lãnh đạo của cơ quan (bao gồm phó chủ tịch Huyện, trưởng - phó Hội phụ nữ Huyện); phỏng vấn những người phụ nữ đã và đang bị bạo lực gia đình Nhằm thu thập những thông tin cần thiết về vấn đề cần nghiên cứu Thông qua đó tìm hiểu những mong đợi của các cá nhân

Trang 9

c Phương pháp quan sát

Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát được tôi sử dụng trong suốt quá trình làm việc, phương pháp quan sát sẽ góp phần giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về thái độ, hành vi cũng như tâm trạng của các đối tượng khi được hỏi về bạo lực gia đình Quan sát cũng là phương pháp giúp cho NVCTXH phát hiện ra được những vấn đề liên quan, những yếu tố khách quan trong quá trình nghiên cứu

d Phương pháp Công tác xã hội

Đây là một phương pháp nghiên cứu quan trọng trong đề tài, trong đề tài này, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp CTXH cá nhân với mục đích làm việc với những thân chủ là nạn nhân của BLGĐ hay là người gây ra bạo hành Tuy nhiên, để

có được kết quả cũng như thành công lâu dài của đề tài, tôi cũng đã có những lồng nghép các phương pháp CTXH khác như CTXH gia đình, CTXH nhóm vào trong nghiên cứu của mình

Phương pháp CTXH sẽ cho chúng ta có được cái nhìn đầy đủ hơn, nhân văn hơn về BLGĐ, vì đâu đó vẫn còn có những vụ BLGĐ xảy ra bột phát, tức thời Phương pháp CTXH cũng một lần nữa cho bản thân tôi thực hành được các kỹ năng nghề của mình trong thực tiễn, giúp nâng cao nhận thức của cá nhân và tập thể về vai trò vị trí của những nhân viên CTXH trong việc giải quyết những vấn đề xã hội

I.6 Giả thuyết nghiên cứu

a Phụ nữ ở Huyện Nam Đàn vẫn còn bị BLGĐ từ người chồng và chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sồng, từ đó mất tính tự tin cũng như những khả năng bảo vệ

mình trước những mối nguy hại của xã hội

b Việc ứng dụng phương pháp CTXH cũng như thông qua vai trò nhiệm vụ của NVCTXH sẽ giúp chị em phụ nữ nâng cao năng lực, trang bị những kiến thức về kỹ năng sống, sự tự tin để phát triển, hoàn thiện và bảo vệ bản thân mình Qua đó chúng ta có thể phòng tránh và ngăn chặn nạn bạo lực gia đình

Trang 10

1.1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và từ tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ luôn quan tâm đến

công tác phụ nữ, bình đẳng và tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam Với Bác, giải phóng

phụ nữ luôn gắn chặt với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Và đó chính là con đường xóa bỏ áp bức, bóc lột, nghèo nàn, bất bình đẳng

Bác Hồ luôn khẳng định vị trí vai trò quan trọng của phụ nữ Phát biểu tại lễ

kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ ” Bác cũng khẳng định “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến

sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông

và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Thế là dưới chế

độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ Nhà nước”, hay “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “Đội quân tóc dài”

Trong dịp gặp gỡ với cán bộ tỉnh Hà Tây vào ngày 10-2-1967, Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”

Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng phụ nữ trong công cuộc xây dựng và

Trang 11

chịu khó, luôn sống một đời vì gia đình, chồng con Ngày nay, phụ nữ nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình,

đó cũng là mong muốn và hi vọng của Bác về Phụ nữ Việt Nam Bên cạnh đó, Bác chúng ta luôn kêu gọi sự quan tâm ủng hộ đặc biệt của xã hội dành cho phụ nữ

1.1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ

Trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới

Trong quá trình xây dựng phát triển đất nước, Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ nói chung và phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như phụ nữ bị bạo lực gia đình Pháp luật Nhà Nước luôn là công cụ và phương tiện đứng ra bảo vệ những quyền lợi chính đáng cho phụ nữ, Đảng ta luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và quyền cơ bản của PN, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại PN, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh để PN Việt Nam có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, và phát triển toàn diện

về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

Tuy nhiên công tác này không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà nó đòi hỏi mọi cấp ngành, mọi cá nhân cùng nhau nỗ lực chung tay vào Và BLGĐ là một vấn đề xã hội nên chúng ta xác định không thể giải quyết nó trong một sớm một chiều mà là cả một quá trình lâu dài, phức tạp, rất cần sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và cả chính những người phụ nữ trong xã hội

Để những thành viên trong gia đình, nhất là những người phụ nữ có được hành lang pháp lý về quyền lợi cho riêng mình, tháng 11- 2007, Đảng và Nhà nước ta đã phê chuẩn và đưa luật Phòng chống bạo lực gia đình vào đời sống Luật phòng chống bạo lực gia đình ra đời là một bước ngoặt trong việc định tội danh cho những hành vi mang tính

Trang 12

bạo lực trong gia đình Nó đã góp phần lớn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của những thành viên trong gia đình, luật cũng thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà Nước ta trong công cuộc xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc

1.1.2 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

1.1.2.1 Thuyết nữ quyền phương Tây

Đây là cách tiếp cận lấy phụ nữ làm trung tâm nhằm mô tả, phân tích đời sống gia đình cũng như xã hội theo quan điểm của phụ nữ

Thuyết nữ quyền Phương Tây ra đời và phát triển theo nhận thức của những người phụ nữ hiện đại, họ là những người tiến bộ và có cái nhìn cởi mở đối với những người cùng giới

Để tiếp cận theo thuyết này chúng ta đi tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi :

1) Thế còn phụ nữ thì sao?

2) Tại sao tất cả những chuyện này lại như vậy?

3) Chúng ta có thể thay đổi và có thể tạo ra sự công bằng nhiều hơn cho phụ

nữ và cho những người khác?

Thuyết nữ quyền phương Tây là một trong những lý thuyết đấu tranh để đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ Nhận thấy trong mọi xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn là những người chịu nhiều nhất những đâu khổ bất hạnh và bất công Họ tồn tại trong gia đình như những người hầu chồng, con và không có bất kỳ một quyền lợi nào

Khi xã hội càng phát triển, các mối quan hệ xã hội cũng có những thay đổi theo, tuy nhiên nhìn chung có một vấn đề ít bị biến đổi nhất là vị trí chỗ đứng của những người phụ nữ trong gia đình Họ vẫn thường xuyên chịu nhiều những ngậm ngùi, bất bình đẳng giới trong gia đình xảy ra rõ rệt và có những biểu hiện cụ thể

Thuyết nữ quyền phương Tây ra đời vào những năm 60 của thể kỷ 19, thời gian này nam giới đang là người có quyền lực, và họ cho quyền lực của bản thân là một điều tất yếu, rất tự nhiên Họ có những quyền nhất định lên người phụ nữ Họ cho người phụ nữ trong gia đình là thuộc quyền sở hữu của mình nên muốn làm gì,

Trang 13

Thuyết nữ quyền phương Tây nói như thế và tại thuyết này họ cũng nói, nam giới tự cho mình cái quyền như thế chứ tất cả không phải là tự nhiên mà có

Từ những nhận định và nội dung tư tưởng ấy của lý thuyết, thuyết nữ quyền phương Tây đã làm lay chuyển các mối quan hệ, vị trí ban đầu của nam giới trong

xã hội

Ngoài những nội dung chính cụ thể như trên, thuyết nữ quyền phương Tây còn đề cập đến những chủ đề như phân công lao động trong gia đình, quan hệ quyền lực trong gia đình, hoạt động chăm sóc các thành viên trong gia đình Những nội dung này ít nhiều đều lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ trong mọi xã hội

Áp dụng thuyết nữ quyền phương Tây vào trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi mong muốn nó như là một chỗ dưa tinh thần để cho các chị em phụ nữ đa và đang bị bạo lực gia đình Thông qua thuyết này họ sẽ nhìn nhận thấy rằng, mọi quyền lực của những thành viên trong gia đình là ngang nhau, như nhau Không ai hơn ai cả, tất cả mọi thành viên đều có sự bình đẳng và cần lắm sự cảm thông, thấu hiểu cũng như tôn trọng nhau chứ không phải là sự thống trị lẫn nhau trong gia đình

1.1.2.2 Lý Thuyết vai trò

Thuyết vai trò cho rằng, vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội

áp đặt cho mỗi vị trí của cá nhân trong xã hội đó Ví dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc…Dựa trên cách thức biểu hiện và tính chất, người ta chia

ta hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọingười đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết, thí dụ trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hoà nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai người trung gian hoà giải mà chính nó và cha mẹ không biết

Mỗi chúng ta ai cũng có những vai trò nhất định và khi chúng ta thực hiện tốt vai trò của mình thì xã hội sẽ ổn định và hạn chế được sự mâu thuẫn trong xã hội

Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không thực hiện được, hay nói đúng hơn là có sự xung đột vai trò vì một con người không phải chỉ thực hiện một vai trò duy nhất

Trang 14

trong xã hội mà chúng ta thường phải “chịu” nhiều vai trò cùng một lúc, và đôi khi những “Chuẩn mực” của vai trò này lại chồng chéo và có khi mâu thuẫn với những

“chuẩn mực” của vai trò khác Hiện tượng này đã làm cho con người chúng ta đôi khi chịu áp lực trước các vai trò đã được xác định

Thuyết vai trò theo góc nhìn xã hội học là một lý thuyết có ảnh hưởng sâu rộng tới hệ thống toàn xã hội, thông qua thuyết vai trò chúng ta nhận biết được đâu

là quyền hạn và nhiệm vụ của chúng ta Chúng ta có trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước khi quan tâm tới vai trò của người khác

Song song với các lý thuyết khác, lý thuyết vai trò đã góp phần củng cố hệ thống lý thuyết cho ngành khoa học nghiên cứu xã hội học, thuyết này có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều chuyên ngành khoa học khác và nó đang được dần hoàn thiện để cho phù hợp với khoa học và các lý thuyết hiện đại

Ứng dụng thuyết vai trò vào đề tài nghiên cứu này, tôi mong muốn nó sẽ giúp cho trước hết là NVCTXH nhận thức được vai trò vị trí của mình về việc giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong xã hội Thuyết vai trò cũng nói đến việc, nếu con người chúng ta ai ai cũng có ý thức hoàn thành tốt phần việc của mình thì mọi việc

sẽ ổn định và sẽ hạn chế được những mâu thuẫn, vì vậy tôi hi vọng thông qua thuyết vai trò sẽ giúp cho đối tượng là những thân chủ của mình luôn nhận thức được những việc mình phải làm, cụ thể đây là những người chồng, người vợ trong gia đình để họ có cuộc sống thoải mái hạnh phúc hơn, có cơ hội thể hiện sự quan tâm của mình đến những người xung quanh hơn

1.1.2.3 Lý thuyết nhận thức hành vi

Khoa học phân tích hành vi ra đời vào năm 1849 bắt đầu với thí nghiệm của Ivan Paplov sau đó có một số nhà khoa học cũng nghiên cứu và phát triển lý thuyết này của ông Điển hình là nhà khoa học Jonh B.watson (1878- 1958)

Theo Paplow hành vi có tính phản xạ, khi có một tác nhân kích thích sẽ dẫn đến hành vi, theo Waatson thì hành vi có tính hành động nghĩa là từ hành vi tạo nên kết quả Đồng thời hai ông cũng nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của môi trường đến hành vi con người, thừa nhận sự tồn tại của hoạt động tâm lý nhưng hai ông cũng

Trang 15

Công tác xã hội có mục tiêu hỗ trợ con người thực hiện các chức năng của mình một cách bình thường, do vậy để tiến hành giải quyết các vấn đề trong công tác xã hội cá nhân, nhân viên xã hội phải đánh giá được quá trình hình thành hành

vi của cá nhân, đồng thời phải nắm được các tác động của các yếu tố môi trường làm phát sinh hành vi đó

Hành vi con người được hiểu là cử chỉ, động tác đáp lại của con người khi có một kích thích từ bên ngoài hoặc là một động lực thúc đẩy từ bên trong để giải toat

sự mất cân bằng, ngoài ra nhân viên xã hội cũng cần hiểu hành vi ứng phó của thân chủ, các hành vi ứng phó được xác định như là các hành vi hướng trực tiếp đến môi trường

Theo thuyết hành vi có 3 loại hành vi đối phó:

- Hành vi ứng phó để tồn tại: Như ăn, mặc, ở, chăm lo sức khỏe…

- Hành vi ứng phó để hội nhập: như tham gia các nhóm, câu lạc bộ phát triển và duy trì mối quan hệ cá nhân

- Hành vi ứng phó để tăng trưởng và thành đạt: như khả năng theo đuổi các hoạt động trí thức và xã hội có lợi cho mình và cho người khác

Thuyết hành vi là một lý thuyết được nhiều ngành khoa học và lĩnh vực nghiên cứu, nói tóm tắt lại thì thuyết hành vi có nội dung, hành vi của con người chúng ta bị “ chi phối” bởi nhận thức, khi nhận thức đúng thì hành vi được xã hội chấp nhận và khi nhận thức sai thì kéo theio có những hành vi sai trái, nhận thức thay đổi thì hành vi của con người cũng thay đổi theo

Khi những người đàn ông trong gia đình nghĩ rằng họ có quyền dạy vợ “ bằng vũ lực”, cái quyền ấy được cụ thể hóa bởi những đòn roi, những cái tát, những câu chửi bới xúc phạm…và bạo lực gia đình lên người phụ nữ cứ xảy ra thường xuyên như thế Một khi người đàn ông chưa nhận thức được những hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật thì họ sẽ còn đối xử theo kiểu vũ lực với vợ mình khi có điều gì đó không vừa lòng

Áp dụng thuyết nhận thức hành vi vào nghiên cứu này tôi hi vọng thông qua những việc làm cụ thể của NVCTXH sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức của

Trang 16

những người đàn ông trong gia đình và từ thay đổi nhận thức, họ sẽ có những sự điều chỉnh về hành vi của mình trong cuộc sống, đặc biệt là với người vợ của mình

1.1.2.4 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Thuyết cấu trúc chức năng của Brown nhấn mạnh đến cấu trúc xã hội, thuyết này như một mô hình phân tích gần giống với thuyết hệ thống Những hệ thống tâm

lý xã hội và văn hóa theo ông có thể được phân tích như những cấp độ tổ chức rõ ràng, với một logic thống nhất Theo đó xã hội là một tổng thể có nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có một chức năng riêng, và khi chúng ta xem xét một vấn đề, một sự việc hay một hiện tượng gì thì phải đặt nó trong một tổng thể nhất định

Gia đình là một bộ phận của xã hội, là một kết cấu hay nói đúng hơn, chúng

ta có thể xem gia đình là một tiểu hệ thống của xã hội Tiếp cận thuyết cấu trúc chức năng dưới góc nhìn gia đình học thì nó là sự phân tích gia đình dựa trên 3 câu hỏi:

1) Chức năng của gia đình là gi?

2) Gia đính giữ chức năng gì cho mỗi thành viên?

3) Gia đình giức chức năng gì cho xã hội?

Murdock và Parson là 2 nhà xã hội học có những nghiên cứu cụ thể để trả lời cho những câu hỏi trên, và qua một cuộc nghiên cứu trong 250 xã hội thì Murdock

đã đưa ra nhận xét rằng : Gia đình có 4 chức năng quan trọng và cơ bản trong xã hội

đó là tái sản xuất, tính dục, kinh tế và giáo dục ( bao gồm cả xã hội hóa)

Ông còn nói rằng, nếu không có chức năng tính dục, tái sản xuất thì sẽ không

có con người để tồn tại, nếu không có chức năng giáo dục thì xã hội sẽ loạn Khác với Murdock, Barson thì cho rằng, cùng với sự thay đổi của xã hội thì gia đình cũng

có những thay đổi theo Xã hội đang tiến dần đến sự chuyên biệt hóa về cấu trúc”, chính sự chuyên biệt này đã làm cho các bộ phận đảm nhận ít vai trò nhiệm vụ hơn nhưng lại đòi hỏi sự chuyên sâu hơn Gia đình cũng vậy, một vài chức năng của nó

được chuyển giao cho xã hội hay những bộ phận khác Theo như Passon thì “Gia đình sẽ dần dần mất đi nhiều chức năng và sẽ gần như là không còn chức năng nữa”

Trang 17

Tuy nhiên, trong quá trình biến đổi ấy, thoe ông thì gia đình không bao giừ mất đi hai chức năng là xã hội hóa sơ cấp trẻ em và ổn định nhân cách người lớn

Xã hội hóa sơ cấp trẻ em là quá trình trẻ em tiếp thu những giá trị chuẩn mực và cấu trúc hóa thành nhân cách Và khi nó được hinh thành thì phải có thời kỳ ổn định cũng như phát triển Gia đình đảm nhận chức năng này Passon còn cho rằng trong gia đình, người phụ nữ đóng vai trò tình cảm, còn người đàn ông đóng vai trò công

cụ và hai người này phải thực hiện đúng, đủ nhiệm vụ ấy thì gia đình mới có hạnh phúc và đảm đương những chức năng cơ bản của mình

Khi áp dụng thuyết cấu trúc chức năng vào đề tài nghiên cứu của mình, tôi mong muốn xã hội nói chung và mỗi người nói riêng hiểu được vai trò vị trí cũng như những chức năng của gia đình Vì khi hiểu được những chức năng ấy bản thân chúng ta mới thấy gia đình thật sự là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc xã hội NVCTXH phải là những người hiểu cơ bản nhất những chắc năng này để trong quá trình làm việc, đặc biệt là có những ca CTXH với gia đình để có cơ sở phân tích cũng như tìm ra căn nguyên của những thiếu hụt hay mâu thuẫn, rất có thể nó bắt nguồn từ sự không hoàn thành vai trò của mỗi người trong gia đình

1.1.3 Thao tác hóa các khái niệm

1.1.3.1 Khái niệm Vai trò

Vai trò hiểu theo xã hội học là thì nó là cái mà xã hội mong đợi ở mỗi con người ngay tại vị trí ấy

Theo Robertsons (Nhà xã hội học người Mỹ) thì cho rằng vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Trong đề tài của này, tôi mong muốn xác định vai trò và những nhiệm vụ cụ thể nhất của NVCTXH trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực cho người phụ nữ nói chung đặc biệt là những người phụ nữ đã và đang là đối tượng của nạn bạo lực gia đình bởi chính người chồng của mình

1.1.3.2 Khái niệm Công tác xã hội

Trang 18

Ngành CTXH tại Việt Nam là ngành mới tuy nhiên nó lại rất được quan tâm,

vì thế mà hiện nay trong nước đang có rất nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu khái niệm này

Có rất nhiều khái niệm về CTXH, tiêu biểu như khái niệm của Hiệp hội quốc

gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”

Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng

7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền

và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"

Qua 4 năm học về CTXH và những chuyên ngành liên quan, tôi nhận thấy “ CTXH là một ngành khoa học đồng thời nó mang bản chất là một nghề nghiệp xã hội NVCTXH sử dụng những kiến thức lý thuyết cũng như những kỹ năng cơ bản của ngành nhằm trợ giúp những cá nhân, nhóm hay cả một cộng đồng đang gặp những khó khăn về tâm lý, tình cảm và các vấn đề liên quan đến những căn bệnh xã hội”

CTXH là một nghành khoa học mang tính thực dụng cao trong xã hội hiện đại

1.1.3.3 Khái niệm nhân viên Công tác xã hội

Hiện nay chưa có khái niệm nào cụ thể về nhân viên công tác xã hooik (NVCTXH), theo cá nhân tôi, chúng ta có thể hiểu NVCTXH là những cá nhân hay tập thể người làm những công việc mang tính chất giúp đỡ, tăng năng lực cho

những người hay nhóm người yếu thế trong xã hội

Trang 19

Trong phạm vi đề tài của mình, NVCTXH mà tôi muốn nói đến đây là tập thể những chị em trong các chi hội phụ nữ tại cơ sở phường, xã và những NVCTXH

được đào tạo bài bản về nghề CTXH tại các trường cao đẳng đại học

1.1.3.4 Khái niệm Bạo lực

Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát (WHO)

Trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi di tìm hiểu những hành vi của người chồng lên người vợ, những hành vi ấy làm cho người phụ nữ bị tổn thương nghiêm trọng đến tinh thần và thể chất và nó cũng ảnh hưởng đến khả năng thực hiện những chức năng xã hội của những người phụ nữ

1.1.3.5 Khái niệm gia đình

Theo xã hội học thì “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như

để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người”

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “ Gia đình là một cộng đồng người sống chung

và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục”

1.1.3.6 Khái niệm bạo lực gia đình

Theo định nghĩa của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì “ Bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư”

Trang 20

Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”

Hiện nay, trong gia đình có rất nhiều dạng bạo lực và đối tượng bạo lực, nạn nhân của BLGĐ là tất cả các thành viên trong gia đình, từ con cái, anh chị em, vợ chồng đến cha mẹ già…

Hiện tại có rất nhiều cách chia các loại hình bạo lực Dựa trên các cách thức tiến hành bạo lực, ta có các loại:

+ Bạo Lực thể xác: Là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của

một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm , sức khỏe, tâm thần tính mạng của một hay nhiều thành viên khác BLGĐ diễn ra giữa những người có quan hệ đặc biệt như vopju chồng, con dâu, con rể hoặc ruột thịt có thể trong cùng một mái nhà

+ Bạo lực tinh thần ( tâm lý): Là những lời nói, thái độ hành vi ngược đãi

hoặc sỉ nhục cuat một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một hay nhiều thành viên khác BL tinh thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích thị hiếu riêng của mỗi người

+ Bạo lực tình dục: Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng BL để thỏa mãn

tình dục của một người hoặc một nhóm người đối với một người hay một nhóm người khác Hành vi này có thể diễn ra một lần hay lặp đi lặp lại nhiều lần trong quan hệ vợ chồng BL tình dục còn bao hàm cả việc ép vợ đẻ nhiều lần hay đẻ con trai BL tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệ giới của gia đình, nó vừa diễn

ra kín đáo âm thầm vừa diễn ra công khai nhưng nhìn chung cả pháp luật lẫn đạo đức đều khó có thể can thiệp

+ Bạo lực lao động hoặc kinh tế: là việc dùng sức mạnh để đe dọa, áp đặt

hoặc lừa mị nhằm bóc lột lao động, chiếm giữ hoặc kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người khác trong gia đình Dạng BL này đưa đến sự phân công lao

Trang 21

+ Bạo lực xã hội: Là hành động dùng sức mạnh của một cá nhân hay nhóm

người này lên cá nhân hay nhóm người khác trong gia đình với mục đích nghiêm cấm các thành viên trong gia đình không được tham gia hay hoạt động vào trong bất

kỳ một tổ chức xã hội nào của cơ sở, địa phương Dạng BL này làm cho cá nhân trong gia đình bị cô lập với thế giới bên ngoài xã hội, làm ức chế tâm lý, tinh thần của thành viên trong gia đình và dễ gây ra chứng bệnh trầm cảm cho người bị BL

Dựa trên đối tượng gây ra bạo lực, ta có các loại:

- Bạo lực của vợ đối với chồng

- Chồng đối với vợ

- Cha mẹ với con cái

- Con cái với cha mẹ

- Ông bà đối với cháu

- Cháu với ông bà

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Xã hội ngày càng phát triển, nhiều vấn đề xã hội nổi lên đòi hỏi những kiến giải có cơ sở khoa học, những tìm tòi lý luận với tầm tư duy mới BLGĐ là hiện tượng xảy ra khi gia đình mới hình thành và tồn tại đến tận ngày nay Phụ nữ và trẻ

em là những nạn nhân chính của các vụ bạo lực này BLGĐ chống lại phụ nữ đã và đang xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, từ nước giầu tới nước nghèo với nhiều dạng thức tinh vi, không phân biệt dân tộc, mầu da, tầng lớp, lứa tuổi, trình độ văn hóa hay địa vị xã hội Nó làm tổn thương về thể xác, tinh thần của người phụ nữ và liên quan chặt chẽ đến thân phận cũng như vị trí vai trò của họ trong hoạt động chính trị, kinh tế và văn hóa Do khuôn khổ thời gian cũng như phạm vi nghiên cứu nên tôi chỉ xin đề cập đến một số tác phẩm mà tôi đã đọc được về vấn đề này

Hiện nay, các tác phẩm viết về BLGĐ chống lại phụ nữ của các tác giả nước ngoài có rất nhiều nhưng có rất ít tác phẩm được dịch ra tiếng Việt Trong các tác

phẩm viết tiếng Anh có thể kể đến tác phẩm “ Freedom from Violence- Woment’s Strangegies from Aruond the World” (tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của

Trang 22

phụ nữ) của nhiều tác giả do Margaret Schuler chủ biên Tác phẩm này đã phản ánh tình trạng bạo lực chống lại người phụ nữ từ nước Mỹ Latinh Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa, nguyên nhân, các hình thức bạo lực diễn ra ở cả nơi làm việc, đường phố, gia đình mà các tác giả phản ánh đã nói lên tính đa dạng của các dạng bạo lực chống phụ nữ trong đó có BLGĐ Các bài viết đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược nhằm hạn chế, chấm dứt tinh trạng này nhờ vào tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành động chống BLGĐ

Tác phẩm “ Loving to Survive – Sexual Terror Men’s Violence and Women’s Live” ( Tình yêu và sự sống sót- Sự khủng bố tình dục cảu đàn ông và cuộc sống

của phụ nữ) của tác giả Dee L R Graham và đồng nghiệp là Edna I Rawlings và Roberta K Rigby đã trình bày ảnh hưởng của bạo lực của nam giới đối với phụ nữ

và tâm lý của họ Tác phẩm này đi sâu vào các vấn đề lý thuyết nưa quyền, phê phán quan điểm của Preud trong lý thuyết về tâm lý của ông Các tác giả cho rằng, chỉ có thuyết Nứ quyền cấp tiến là thừa nhận bạo lực của nam giới đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người phụ nữ

Ở Việt Nam từ năm 1994, T.S Lê Thị Qúy một trong những chuyên gia

nghiên cứu về giới, gia đình đã in bài viết đầu tiên về “ Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ, tronh đó xác định nguyên nhân chính của

bạo lực trong gia đình là nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa- xã hội, nguyên nhân sức khỏe và nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ

Năm 1996, trong tác phẩm “ Nỗi đau thời đại” tác giả đã đi sâu phân tích vấn

đề BLGĐ dưới hai dạng không nhìn thấy được và nhìn thấy được Với tư cách là một sai lệch chuẩn mực xã hội trong gia đình hiện đại, hai dạng bạo lực này thể hiện trong mối quan hệ khăng khít ở nơi này nhưng có khi ở nơi khác nó lại thể hiện sự độc lập, tách biệt lẫn nhau

Dự án can thiệp “ Các biện pháp ngăn ngừa bạo lực gai đình tại 2 xã Hương Xuân, Hương Vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” do tổ chức CIDSE Việt Nam ( một bộ phận nay là CSEED) phối hợp cùng UBND Huyện Hương Trà Tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Dự án được tiến hành tại 2 xã Hương Xuân, Hương Vân, là 2 nơi xảy ra nhiều vụ bạo lực gia đình, đối tượng chính của dự án là

Trang 23

cả những người gây ra bạo lực và họ cũng là thành viên của các gia đình có bạo lực hay các thành viên khác trong cộng đồng

Đối tác trực tiếp của Dự án là Ủy ban nhân dân huyện, tổ chức trực tiếp thực hiện là Trung tâm y tế huyện, Hội phụ nữ huyện và phòng Tư pháp Thời gian triển khai dự án là 18 tháng, từ tháng 7/2004 đến 12/2005 Mục đích chung của nghiên cứu là đánh giá mức độ hiệu quả của các mô hình hoạt động can thiệp tại địa phương Tác động thực tế của dự án tới các nhóm đối tượng, tính phù hợp của thiết

kế mô hình, điểm mạnh điểm yếu trong hoạt động quản lý của CIDES và các đối tác địa phương, cơ sở Đánh giá các bài học kinh nghiệm và các giải pháp xây dựng và

mở rộng mô hình trong tương lai

Đây là dự án được đầu tư công phu và thông qua dự án này chúng ta thấy được sự thay đổi nhận thức của chính quyền xã, huyện cũng như những giải pháp nhằm hỗ trợ nạn nhân và chấm dút bạo lực gia đình với phụ nữ Dự án cũng đã đề xuất cũng như nêu lên được những kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế rồi dẫn đến chấm dứt tình trạng bạo lực gia đình với người phụ nữ trong 2 xã Hương Xuân Hương Vân Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Cũng nghiên cứu vấn đề BLGĐ còn có dự án “ Các biện pháp ngăn ngừa bạo lực gia đình tại 3 xã Quảng Vinh, Quảng Phước, Quảng An huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế” do tổ chức Nordic Assistant to Vietnam ( NAV) tại thành phố Huế phối hợp cùng UBND huyện Quảng Điền thực hiện

Dự án được tiến hành trên 3 địa phương xảy ra nhiều vụ bạo lực gia đình nhất, trong đó có những vụ rất nghiêm trọng nhưng chưa được giải quyết Đây cũng

là dự án hướng đến đối tượng người bị bạo lực là người vợ trong gia đình và chính người chồng là người gây những hành vi đáng lên án ấy

Nhóm nghiên cứu của dự án đã thông qua những mô hình như mô hình truyền thông, đào tạo tư vấn hay mô hình hòa giải để tăng cường tính cấu kết trong gia đình cũng như tăng năng lực cho những người phụ nữ đã và đang

Ở đề tài này, tôi học hỏi những giá trị đã được thử nghiệm qua các dự án, tác phẩm trên, đồng thời đưa vai trò của những NVCTXH vào trong quá trình ngăn ngừa BLGĐ, ngoài ra tôi nhận thức được một trong những nguyên nhân sâu xa cảu

Trang 24

vấn nạn này là do nhận thức của chính nạn nhân BLGĐ, bởi thế nên tôi lồng nghép cũng như đưa vai trò, nhiệm vụ của NVCTXH vào trong quá trình nâng cao nhận thức của những người phụ nữ về vấn đề này

1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.2.1 Một vài nét về lịch sử hình thành Huyện Nam Đàn; Tỉnh Nghệ An

Trong thời kỳ giặc Pháp mới đến xâm lược nước ta, Tỉnh Nghễ Tĩnh ( trong

đó có huyện Nam Đàn ngày nay) đã được bọn chúng chọn làm nơi “ trị dân” ghê gớm nhất vì nơi đây có tinh thần cũng như các phong trào đấu tranh diễn ra hết sức sôi nổi rầm rộ

Năm 1930- 1931 nhân dân huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên cùng nhân dân các huyện lân cận và thành Vinh, Bến Thủy… dưới dự lãnh đạo của chi bộ Đảng Trung Kỳ đã làm nên một Xô Viết Nghệ Tĩnh hào hùng

Huyện Nam Đàn cũng như các huyện khác của Tỉnh, gánh gồng đôi vai mình, đấu tranh với thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đến ngày toàn thể dân tộc giành được thắng lợi, non sông thu về một mối

Nam Đàn là một trong những cái rốn của nghìn năm khoa cử nơi xứ Nghệ,

đã góp cho đất nước 38 vị đại khoa cốt cách thanh cao, trí tuệ uyên thâm, được người đời trọng phục mà ta có thể dễ dàng kể tên như Trạng nguyên Trương Xán đời Trần, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn…

Trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, huyện Nam Đàn cũng đã cống hiến cho đất nước những người con ưu tú như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, “Ông già bến Ngự” Phan Bội Châu, chiến sỹ cách mạng Phan Châu Trinh, Nguyễn Thị Minh Khai… , tất cả những người con ưu tú ấy đã hi sinh tuổi trẻ, cuộc đời mình cho cách mạng giải phóng dân tộc

Sau khi đất nước dành độc lập, nhân dân huyện Nam Đàn dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy chính quyền đã không ngừng nỗ lực phấn đấu làm việc, sản xuất để bảo vệ và xây dựng quê hương, xứng danh với quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh

1.2.2.2 Sơ lược về đặc điểm chung huyện Nam Đàn

Trang 25

+ Vị trí địa lý:

Huyện Nam Đàn hiện nay là một trong mười chín huyện, thành của tỉnh

Nghệ An, nằm ở hạ lưu sông Lam, phần lớn ở bên trái sông và một phần nhỏ ở bên

phải sông Diện tích khoảng 293,90 km2, kéo dài từ 180 34’ đến 180 47’ vĩ Bắc và

trải rộng từ 105o 24’ đến 105o 37’ kinh Đông

- Đông giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc

- Tây giáp huyện Thanh Chương

- Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh

- Bắc giáp huyện Đô Lương

Huyện lỵ của Nam Đàn đóng ở thị trấn Nam Đàn, trên đường quốc lộ 46 Vinh – Đô Lương, cách thành phố Vinh 21 km về phía đông

+ Đặc điểm tự nhiên:

Huyện Nam Đàn có diện tích đất nông nghiệp chiếm 48%, còn nữa là đất lâm nghiệp và đồi núi, ao hồ Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn khá là khắc nghiệt Hằng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng,

có lúc kéo dài trong một thời gian dài

Núi sông Nam Đàn phần lớn đi theo hướng Tây Bắc, Đông Nam Sông có nguồn nước dồi dào, sông Lam là con sông lớn chạy qua nhiều xã của huyện, núi có nhiều núi nhỏ, nhiều đồi và chủ yếu được nhân dân tận dụng trồng các loại cây lấy

gỗ

Khoảng sản của huyện không dồi dào, chủ yếu là đá vôi và có một lượng đất

có thể khai thác để làm ngói, làm gạch granit tại xã Nam Thái, Nam Kim

+ Đặc điểm dân cư:

Dân số hiện tại của huyện Nam Đàn là 159.433 người

Trang 26

Hippolyte Le Breton - nguyên Hiệu trưởng Quốc học Vinh đầu thế kỷ XX -

đã viết về xứ Nghệ trong đó có Nam Đàn: "Nghệ Tĩnh trong tất cả mọi thời đại, từ

cổ đại cho đến ngày nay là một cái lò phản kháng và là một cái lò trí thức về truyền thống văn hoá" (Le Nghe Tinh fut de tous temps – de l’antiquité à nos jours – un foyer de rebellion et un foyer intellectuel en ce qui concerne la tradition culturelle) Nam Đàn là tinh hoa của cái lò trí thức truyền thống văn hoá ấy

Đúng như lời nhận xét trên, nhân dân Nam Đàn mang trong máu của mình tính chất của con người xứ Nghệ là cương cường, quả cảm, tiết tháo, trung thực, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa Chăm chỉ, chịu khó, gan góc trong lao động cũng là một

ưu điểm của nhân dân nơi đây Trong gian khổ, họ luôn có những sáng kiến thể hiện

sự thông minh, nhanh nhạy của để bản thân chinh phục được thiên nhiên khắc nghiệt

Trên địa bàn huyện xuất hiện nhiều làng nghề nổi tiếng như làng mộc nề Nam Hoa, làng rèn Quy Chính, làng tương Tự Trì, làng nón Đông Liệt, các làng dệt Xuân Hồ - Xuân Liễu - Tầm Tang; làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức; làng gạch ngói Hữu Biệt; làng dầu bông, dầu lạc Đan Nhiệm v.v

+ Đặc điểm văn hóa:

Nam Đàn là một trong những huyện còn lưu giữ lại được những nét đẹp văn hóa từ cổ xưa, nổi lên như hát Ví Dặm, hát Xoan, hát Đối đáp và những câu hát ru, trao duyên

Hiện Nam Đàn cũng đang bảo lưu được rất nhiều khu di tích, đền chùa, được phong tặng là khu di tích lịch sử Quốc Gia như khu di tích Kim Liên, Hoàng Trù

Trang 27

(xã Kim Liên), đền Hoành Sơn ( xã Khánh Sơn), đình Trung Cần ( xã Nam Trung)…

Nam Đàn là vùng đất có bản sắc văn hóa riêng, không pha tạp với bất kỳ một địa phương nào khác trong Tỉnh, giọng nói Nam Đàn mang âm hưởng của sông nước, nằng nặng, dáng người nơi đây thường mảnh khảnh, gầy guộc có cái gì đó khó nhọc, vất vả hằn lên Thế nhưng chính những điều này đã làm cho mỗi người con của Nam Đàn dù đi đâu cũng không thể nào quên được quê hương của mình

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Những nét chung về bạo lực gia đình hiện nay

2.1.1 Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có được những nghiên cứu đầy đủ và nghiêm túc về BLGĐ, chưa lý giải được một cách thấu đáo nguyên nhân của sự xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng BLGĐ Chúng ta cũng chưa tổng kết một cách đầy đủ về hiện trạng, phương thức biểu hiện cũng như hệ quả xã hội của BLGĐ Những nhận thức chưa đầy đủ về BLGĐ cũng dẫn đến những thiếu hụt trong cách thức giải quyết vấn đề này trên thực tế Chúng ta không chỉ thiếu những chính sách sát thực có hiệu quả mà còn thiếu cả những chuẩn mực pháp lý cần thiết

đủ mạnh trong việc củng cố các quan hệ gia đình, ngăn chặn BLGĐ Nghiên cứu BLGĐ trở thành một nhu cầu thực tiễn ngày càng cấp bách

Trong thời gian qua tình trạng BLGĐ ở Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều

ở mọi nơi mọi lúc và phổ biến ở mọi tầng lớp xã hội với nhiều loại đối tượng khác nhau Bạo lực gia đình được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau: bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về kinh tế, bạo lực về tình dục Theo số liệu khảo sát của các cơ quan chức năng cho thấy có 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần;

có khoảng 15% vợ bị chồng đánh, gần 80% bị chồng chửi, 70% bị chồng bỏ mặc trong cuộc sống gia đình; 30% cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục gọi là "bạo lực tình dục" hoặc việc buộc phải đẻ con trong khi sức khoẻ của người phụ nữ không đảm bảo, hoặc buộc phải phá thai cũng được xem như một hình thức của bạo lực tình dục

Theo kết quả điều tra của RCGAD về các hiện tượng xung đột và bạo lực gia đình cho thấy( xem bảng dưới)

Trang 29

Hiện tượng Hà Nội Thái Bình Phú Thọ Chung

Cha mẹ đánh đập con cái 42,5 22,3 41,5 35

Bảng 1: Các hiện tượng bạo lực gia đình phổ biến (%)

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển thuộc trường khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu hành động, lập mô hình can thiệp phòng chống bạo lực gia đình, tại 3 tỉnh Hà Nội, Thái Bình và Phú Thọ năm 2003

Bảng trên cho thấy, trong gia đình hiện tượng chồng đánh vợ là phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 44,5 % Phụ nữ vẫn luôn là nạn nhân chính của bạo lực gia đình, tại Thái Bình, hiện tượng này chiếm hơn nửa số vụ BLGĐ đủ cho thấy mức nguy hại và cần thiết như thế nào đối với việc chúng ta phải ngăn chặn nó ngay từ bây giờ Đó là mầm mống của những đổ vớ, rạn nứt và bất hạnh trong gia đình của mỗi chúng ta

Trong cuốn “Gia Đình Học” của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Qúy, nhà xuất bản Chính Trị- Hành Chính, trang 478 có đoạn viết “ Ngày nay, bạo lực gia đình có thể diễn ra bất kỳ nơi nào với bất kỳ nhóm cư dân, xã hội nào, từ những gia đình khả giả, giàu có đến những gia đình nghèo đói, túng quẫn, từ những gia đình trí thức có học vấn cao đến gia đình bình dân, ít được học hành, những người mù chữ Bạo lực gia đình cũng diễn ra ngày càng phũ phàng, thậm chí gắn liền với những

Trang 30

hành vi tàn bạo, giết người hoặc gây thương tích suốt đời cho nạn nhân Bạo lực gia đình cũng có thể diễn ra tinh vi, không phải lúc nào cũng lộ diện ra ngoài cuộc sống thường ngày mà lặng lẽ, âm thầm trong sự chịu đựng và nhẫn nhục của biết bao thế hệ người già, phụ nữ, con trẻ.”

Những nét sơ lược về BLGĐ ở trên cho ta thấy đây đang là vấn đề hết sức nghiêm trọng, nó gây gánh nặng cho xã hội và đè nặng lên đôi vai của chính quyền các cấp Khi nhìn vào nó, chúng ta thấy cận cảnh những nát tan, tận cùng của đau khổ mà người phụ nữ phải chịu Họ không có con đường thoát hay họ chưa nhìn thấy con đường ấy? Hơn bao giờ hết, lúc này thiết nghĩ cộng đồng phải chung sức lại để đẩy lùi nạn BLGĐ trong xã hội văn minh này

2.1.2 Thực trạng về bạo lực gia đình của phụ nữ ở Huyện Nam Đàn

Hiện tại hội viên của Hội Phụ Nữ Huyện Nam Đàn là 58.400, các hội viên tham gia sinh hoạt chung với nhau tại các địa phương Trong các cuộc khảo sát sơ

bộ về gia đình của các hội viên cho thấy rằng, phần lớn gia đình những hội viên tham gia sinh hoạt hội đều đặn có cuộc sống khá yên ấm

Tuy nhiên, theo thống kê của phòng thống kê Huyện Nam Đàn thì hiện nay,

có khoảng hơn 26.467 ( chiếm 33%) gia đình có đời sống kinh tế kém và trong gia đình hay xuất hiện mâu thuẫn, cãi cọ nhau

Năm 2010, trên toàn Huyện có khoảng 98.759 lượt BLGĐ ( kể cả xô xát gây thương tích nhẹ ) xảy ra trên toàn huyện, riêng xã Nam Lộc có hơn 10621 lượt BLGĐ, là xã có số lượt BLGĐ nhiều nhất trên toàn huyện

Theo số liệu thống kê của Tòa án Nhân Dân huyện, trong các vụ người vợ đệ đơn xin ly hôn có tới 212/ 563 vụ có nguyên nhân trực tiếp là do chồng đánh đập và

do chồng ngoại tình Tất cả những vụ án này hòa giải phần lớn đều thất bại

“Anh đánh chị suốt, mỗi lần đánh là đóng cửa không cho chị chạy và chị khóc, kêu Càng khóc càng đánh nhiều em àh Chị em trong hội phụ nữ cũng hòa giải, cũng nói chuyện, cũng can ngăn, rồi anh em ông bà cũng khuyên nhưng không được, càng khuyên càng thấy anh ấy hành chị hơn, nhiều khi nghĩ số mình nó cực vậy, đành chấp nhận chứ kêu trời đất hắn không thấu em àh Mà nhiều khi chị thấy

Trang 31

mình con sướng chán, chứ nhà bên cạnh, chồng đánh nên chị vợ bị gãy chân, giờ

phải ngồi xe lăn đó em tề, li dị rồi…” ( Trích phúc trình số 3)

Theo ý kiến của chủ tịch Hội Phụ Nữ huyện, bà Nguyễn Thị Quynh Hoa cho

biết: “ nhìn chung BLGĐ ở đâu cũng có, nhiều ít khác nhau Trên địa bàn huyện có không ít vụ BLGĐ xảy ra, các con số thống kê chỉ mang tính tương đối chứ không phải là tuyệt đối, bởi vì có rất nhiều gia đình xảy ra BLGĐ, đối tượng trực tiếp là người vợ nhưng chính những người phụ nữ này lại dấu và bao che cho hành vi sai trái của chồng, thậm chí có rất nhiều người không nhận thức được rằng hành vi ấy (như đấm, đá, chửi mắng, giật tóc… ) là biểu hiện của BLGĐ và bị luật pháp nghiêm cấm Trên thực tế, hiện tượng này xảy ra trong huyện là rất nhiều, chồng đánh nên vợ nghĩ chồng đang dạy mình, thế nên thôi không nói cho ai biết

cả ”.(Trích Phúc trình số 1)

“Chú thấy trên địa bàn huyện nhà, BLGĐ xảy ra nói chung chưa có những nét nổi bật, phổ biến hay là thành một vấn nạn, tuy nhiên những trường hợp chồng đánh vợ, chửi mắng vợ và hành hạ vợ vẫn xảy ra Chú không phủ nhận điều đó, hơn nữa tình trạng chồng cấm vợ tham gia các hoạt động xã hội vẫn có, rồi chồng thường xuyên bắt vợ phải lao động vất vả vẫn có, nhưng nhìn chung nếu nói về

BLGĐ thì có lẽ hình thức chồng BL thân thể với vợ vẫn nhiều hơn cả”.( Trích phúc trình số 2)

Cũng như những địa phương khác, Nam Đàn cũng tồn tại những biểu hiện sai lệch giá trị đạo đức, một trong những biểu hiện ấy là BLGĐ ( chủ yếu là của người chồng lên người vợ) đang ngày càng gia tăng làm cho cuộc sống gia đình của họ vô cùng khó khăn, khổ cực và đầy bât hạnh

“ Gì nghĩ BLGĐ là một sự sai trái của đạo đức xã hội Rất đáng bị lên án những kẻ gay ra BLGĐ phải bị trừng trị Nó cũng là một dạng của BL xã hội tuy nhiên những người gây ra các hành vi ấy lại có quan hệ máu mủ, ruột thị với nhau

Và có một thực tế là nếu BL xã hội thì pháp luật và mọi người can thiệp nhưng BLGĐ thì họ cứ phớt lờ đi làm cho nó cứ phát triển và gai tăng mãi Là một người phụ nữ trong gia đình và cũng là một người cán bộ làm việc với phụ nữ, gì thấy thực sự thông cảm cho những người vợ bị chồng hành hạ Ở Nam Đàn, nhìn chung BLGĐ xảy ra chủ yếu trên phương diện kinh tế, thân thể nhưng đâu đó vẫn tồn tạ

Trang 32

những trường hợp chồng bắt vợ đẻ nhiều, đẻ con trai… Và đó cũng là một dạng BL

tình dục, tinh thần…”.( Trích phúc trình Số 1)

Đơn vị tính; %

Hiện tượng Nam Đàn Quỳnh Lưu Quế Phong Chung

Bảng 2: Các hiện tượng xung đột Bạo lực gia đình trên địa phương ( theo Phòng

thống kê Tỉnh Nghệ An, 2010)

Hiện tại Ủy ban nhân dân huyện nói chung và Hội phụ nữ huyện nói riêng đang có nhiều dự án, chương trình nhằm hỗ trợ cho phụ nữ có được những cơ hội

để thể hiện và phát triển bản thân Tuy nhiên, những chương trình về phòng chống BLGĐ lại đang còn hạn chế do nhiều nguyên nhân Đó cũng là thực trạng chung của các Chi hội phụ nữ cấp Huyện, Xã trên cả nước

BLGĐ đang diễn ra ngày càng trầm trọng về mức độ, tinh vi về hành động, chủ đích BL thân thể và kinh tế từ người chồng lên người vợ là một dạng BL đang

có xu hướng phát triển tại huyện Nam Đàn Khi nhận diện được thực trạng chung này chúng ta sẽ có được những giải pháp cụ thể cũng như tìm kiếm được nguyên nhân để kiểm soát được tình trạng ấy trong thời gian ngắn sắp tới

2.1.3 Thực trạng nhận thức về bạo lực gia đình của phụ nữ ở huyện Nam Đàn

Huyện Nam Đàn là một trong những huyện có vị trí địa lý gần Trung tâm tỉnh Nghệ An, nhờ vậy mà có được những thuận lợi trong việc tiếp thu các chủ

Trang 33

trong đó có các bộ luật Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nhân dân địa phương khi được hỏi về Bộ luật phòng chống Bạo lực gia đình thì tỷ lệ người biết cũng như hiểu nó là rất hạn chế

“Người dân những phong trào gì liên quan đến lợi ích kinh tế thì họ tỏ ra rất hào hứng và quan tâm, còn những vấn đề liên quan đến xã hội mà lại đụng chạm đến gia đình, đến văn hóa, đến nhận thức và thay đổi hành vi… thì nhìn chung họ tiếp cận chậm lắm Nguyên nhân chậm là vì chính bản thân họ không muốn tiếp

nhận cháu àh, có nhiều anh đứng trước BLGĐ còn chép miệng, quay lưng đi…”.( Trích phúc trình số 1)

BLGĐ là một vấn đề nhạy cảm và nó tác động không nhỏ đến sự tồn tại hạnh phúc cảu gia đình cũng như tác động đến sự phát triển của xã hội Gia đình mạnh thì

xã hội mới thịnh, kinh tế Nam Đàn hiện còn gặp nhiều khó khăn, chịu ảnh hưởng của không ít thiên tai, bão lũ, có lẽ thế mà người dân nơi đây hàng ngày lo kiếm cái

ăn cái mặc cho con, cho gia đình đã là vất vả rồi, rất nhiều trong số họ không có thời gian nghĩ cho riêng mình và nghĩ đến những vấn đề khác của gia đình Có lẽ vì thế nên khi được hỏi về BLGĐ, nhiều cá nhân trả lời bâng quơ về nó, bản thân họ không hề nhận thấy được những hậu quả lớn của BLGĐ lên chính mình, gia đình mình cũng như lên xã hội

Đơn vị tính %

Vấn đề được hỏi

Mức độ nhận thức vấn đề Rất

hiểu Hiểu

Hiểu vừa

Không hiểu

Rất không hiểu

Trang 34

Bạo lực kinh tế 20 25 30 20 5

Bảng 3: Đành giá nhận thức của phụ nữ Nam Đàn về các loại Bạo lực của người chồng lên người vợ.( Theo số liệu của phòng thống kê huyện Nam Đàn)

Thiết nghĩ, nhận thức đúng đắn về một vấn đề đã khó, để nhận thức đúng và hành động theo nhận thức ấy lại càng khó hơn Ngay cả những người trong cuộc không có được những cái nhìn chính xác về BLGĐ thì những người ngoài cuộc lại càng có ít nhận thức về nó

“Ban đầu chị cũng không nghĩ anh đang có những hành vi phạm pháp Trong xóm mình có ai nói chồng đánh vợ là sai mô em Nghĩ thế nên khi anh đánh chị, chửi chị cùng lắm là chị chạy chứ không phản ứng lại, mà nhiều khi chạy về lại càng bị đánh nhiều hơn nên thôi, chịu đau lần rồi mai mốt lại đâu vào đấy em

àh ”.( Trích phúc trình số 3)

Ủy ban nhân dân huyện cũng như hội phụ nữ Huyện đã có rất nhiều chương trình cấy ghép đưa luật Bạo lực gia đình vào trong đời sống của nhân dân nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về BLGĐ, một trong những chương trình để lại nhiều dấu ấn cho mọi người là cuộc thi tìm hiểu vè luật phòng chống BLGĐ cho các thành viên của các chị hội phụ nữ Qua cuộc thi, nhận xét chung là các thành viên đã hiểu được những vấn đề cơ bản của BLGĐ, tuy nhiên hạn chế lớn của cuộc thi là chỉ giới hạn thành viên tham gia trong chi hội phụ nữ nên nam giới lại là những người ngoài cuộc khi hỏi về vấn đề này Trong khi, BLGĐ tại Huyện Nam Đàn theo như nhận định của đồng chí Hoa- Chủ tịch Hội phụ nữ Huyện và đồng chí

Lê Khánh Hòa, phó Chủ tịch Huyện thì chủ yếu là từ người đàn ông lên người phụ

nữ Chính hạn chế của những cuộc thi mang tầm vi mô như thế này làm cho nhận thức của nhân dân, đặc biệt là của nam giới về BLGĐ tại huyện Nam Đàn còn rất yếu và thiếu

Trong thời gian qua, Ban lãnh đạo Huyện cũng như các tổ chức Đoàn thể trong các xã đã không ngừng đẩy mạnh nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, về

Trang 35

tận xã tuyên truyền và vận động nhân dân trong việc xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng gia đình và làng văn hóa Một trong những nguyên nhân thúc đẩy chính quyền Huyện thực hiện chương trình này do trên địa bàn gần đây hiện tượng trẻ em

vi phạm pháp luật có biểu hiện gia tăng, đã xảy ra một vài vụ việc liên quan đến trẻ trong những gia đình có mâu thuẫn bỏ học hay có hành vi đánh nhau, đi lang thang… Không ít gia đình mời kết hôn đã đệ đơn ly hôn do những xung đột gia đình mà người chồng toàn lấy BL ra để giải quyết Theo như thống kê của Tòa án nhân dân huyện, trong tổng số 789 vụ li hôn năm 2011 của Huyện có tới 369 vụ việc vợ chồng trong độ tuổi từ 25 đến 38, trong các vụ người vợ đệ đơn xin ly hôn

có tới 212/ 789 vụ có nguyên nhân trực tiếp là do chồng đánh đập và do chồng ngoại tình Hầu hết những vụ li hôn này hòa giải không thành công

Nhận thức rõ ràng về hậu quả của BLGĐ nên Ủy ban nhân dân Huyện cũng như lãnh đạo các xã, nhất là các chi hội phụ nữ trực thuộc Huyện đã tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân đọc, tìm hiểu và nâng cao nhận thức về BLGĐ Chính vì vậy nên hi vọng trong thời gian tới nhận thức về BLGĐ của phụ nữ Nam Đàn nói riêng và nhân dân Nam Đàn nói chung sẽ được nâng lên, đây sẽ là tiền đề quan trọng để người dân Nam Đàn đẩy lùi BL trong chính gia đình mình

2.2 Nguyên nhân xảy ra bạo lực gia đình

Để có được những giải pháp thực tế và có hiệu quả nhằm ngăn chặn nạn BLGĐ, chúng ta cần phải tìm hiểu nguồn gốc xã hội của hiện tượng này, tức là phân tích những nguyên nhân nào đã khiến nó tồn tại lâu và dường như không hề suy giảm trong xã hội hiện đại Có lẽ khó khăn lớn nhất đối với việc tìm hiểu những nguyên nhân của BLGĐ là ở chỗ BLGĐ là hệ quả của sự tổng hợp một loạt các yếu

tố, các chiều tác động khác nhau, từ điều kiện kinh tế xã hội khách quan đến nhận thức chủ quan của của con người, từ những nhân tố về văn hóa gia đình đến những nhân tố về đạo đức và định hướng giá trị

2.2.1 Nguyên nhân về kinh tế, đói nghèo, căng thẳng vì kiếm sống

Không thể coi đói nghèo là yếu tố lớn nhất đẻ ra nạn BLGĐ, bởi lẽ có rất nhiều cặp vợ chồng suốt quanh năm nghèo đói nhưng vẫn sống với nhau hòa thuận

và đầm ấm, trong khi đó có không ít gia đình có hoàn cảnh kinh tế khá giả thì xuất

Trang 36

hiện những hiện tượng như chồng vợ ngoại tình, sống ích kỷ chỉ biết mình, không chăm lo cho con cái, kết quả là tình cảm vợ chồng, con cái rạn nứt, BLGĐ xảy ra do mẫu thuẫn trong chi tiêu và cuối cùng là gi đình rơi vào li dị, li hôn do không có sự tôn trọng nhau giữa các thành viên

Trong quan điểm của thuyết Vai trò, trong gia đình người chồng và người vợ

có những vai trò, vị trí nhất định, và họ chỉ ra rằng chính người chồng có vai trò công cụ trong gia đình, tức là họ phải làm ra tiền bạc, làm ra kinh tế để đảm bảo cho gia đình có cuộc sống vật chất đầy đủ; còn người vợ lại có vai trò tình cảm trong gia đình, có nghĩa là làm cho gia đình lúc nào cũng vui vẻ, có tiếng cười, mọi người yêu thương nhau và “ giữ lửa vợ chồng” là trách nhiệm của người vợ Tuy nhiên thuyết này về mặt xã hội chưa nêu hết đầy đủ vai trò của người chồng và người vợ trong gia đình Nó chỉ đúng một phần và nó đúng nhiều hơn ở xã hội phong kiến, xã hội

mà người phụ nữ phải phục tùng chồng con, phải chăm lo cho chồng con từng chút một

Tất nhiên tôi nói thế không có nghĩa là bây giờ người phụ nữ không lo cho chồng con, mà ý tôi muốn nói rằng, trong xã hội hiện đại này, vai trò của người chồng, người chồng ít nhiều có sự thay đổi, và thiết nghĩ sự tahy đổi lớn nhất là trách nhiệm của mỗi người về vấn đề cả “ tình cảm và công cụ” trong gia đình

Khi người chồng làm được kinh tế thì họ có những quyền nhất định trong chi tiêu hàng ngày, và tất nhiên họ cũng có quyền sinh quyền sát hơn vì theo quan điểm của trường phái Duy vật biện chứng, vật chất quyết định tinh thần Như thế, cái quyền dạy vợ trong họ cũng nảy sinh dần dần khi họ suy nghĩ vợ mình đang lệ thuộc và ăn bám vào mình Vì ăn bám, lệ thuộc nên hẳn họ là những người vô tích

sự, ấy vậy là khi hễ những người phụ nữ làm việc gì đó sai trái, họ có quyền “ dạy”

vợ bằng những hành vi thượng cẳng chân hạ cẳng tay, người phụ nữ không hề phản kháng vì quyền hành trong gia đình họ không có, con cái lấy tiền ăn học chính từ những người đang “ dạy” mình đây

Nam Đàn là một trong những huyện chịu nhiều thiên tai lũ lụt nhất của tỉnh Nghệ An, không chỉ có vậy, diện tích đất nông nghiệp thí có nhưng chỉ trồng được những loại cây đặc thù, huyện Nam Đàn hạn chế khoáng sản… Người dân chủ yếu

Trang 37

nghèo và cận nghèo cao, những chương trình dự án kinh tế không đem lại nhiều hiệu quả do thiếu vốn đầu tư Tất cả những yếu tố ấy tạo cho huyện một áp lực về kinh tế Mà kinh tế lại liên quan mật thiết tới BLGĐ, nó là một trong những nguyên nhân làm cho BLGĐ xảy ra và kinh tế cũng là yếu tố tác động mạnh tới sự hạnh phúc, yên ấm trong gia đình

“Nhìn chung kinh tế huyện nhà phát triển chưa đồng đều, có người giàu người nghèo, cháu là người Nam Đàn cháu biết đấy, lũ lụt, bão, hạn hán, gió Lào rồi đông giá… quanh năm Mùa nào người dân cũng lo sợ chống chọi với thiên tai, trong khi động lực phát triển kinh tế không có Mà trong nhà lúc nào cũng căng thẳng chuyện tiền bạc, cơm ăn áo mặc thì làm sao mà không căng thẳng, không lục đục được cháu Nhà giàu cũng đánh nhau huống hồ trong nhà lúc nào cũng đói

khát, cũng nặng nề tiền bạc”.( Trích phúc trình Số 2)

Một khía cạnh nữa liên quan đến vấn đề kinh tế là đói nghèo, căng thẳng vì kiếm sống Cái nghèo ngày xưa không là tội lỗi, nhưng ngày này, nghèo có khi là tội với con cái, với gia đình và với chính mình Trong nhiều trường hợp, chính sự nghèo đói đã cắt bỏ một phần lớn những cơ sở cần thiết cho việc duy trì hạnh phúc gia đình Không có những cơ sở vật chất cần thiết này con người khó có thể giữ được những mối quan hệ tốt đẹp, nhất là giữa chồng vợ với nhau Những khó khăn trắc trở trong việc kiếm tiền, sự vất vả nặng nhọc đè nặng lên cuộc sống hằng ngày,

sự bực dọc thường xuyên vì đói kém và những thua thiệt trong làm ăn đã khiến cho các mối quan hệ gia đình luôn căng thẳng Đó là miếng đất ươm sẵn những mầm mống độc của BLGĐ Không ít trường hợp vì không có tiền và căng thẳng trong làm ăn, buôn bán mà người chồng trút hết những bực dọc ấy lên chính vợ mình bằng những trận đòn giã man từ những nguyên nhân hay cái nguyên cớ tưởng chừng như rất vô lý

“Theo chú, kinh tế là nguyên nhân rất lớn gây ra bạo lực gia đình, nghèo đói, mâu thuẫn, bệnh tật, con cái nheo nhóc không có tiền thuốc thang hàng ngày thì vợ chồng nhìn nhau cũng khó sống, có sai trái tý là anh chồng lại nổi đóa lên cháu àh, đàn ông khi túng thiếu ít người kiềm chế được bản thân vì tự cho mình yếu

kém, nghĩ vợ hay khinh thường mình…”.( Trích phúc trình số 2)

Trang 38

Có một điều đáng nói là, nếu như nghèo đói làm nảy sinh BLGĐ thì ngược lại, chính BLGĐ đến lượt mình lại tăng thêm sự nghèo đói Sự căng thẳng thường xuyên trong gia đình đã gây sức ép nặng nề làm cho nhiều đôi vợ chồng không thể yên tâm sản xuất, hơn nữa nhiều ông chồng vũ phu khi nóng lên thì đập phá đồ đạc làm gia đình lại phải lo mua sắm lại hoặc chẳng còn gì để dùng nữa

“ Trong tổng số các vụ BLGĐ xảy ra, đa phần là ở các gia đình có kinh tế eo hẹo, khó khăn, rơi vào những gia đình hộ nghèo cháu àh Khổ lắm, đã nghèo lại hay đánh đập nhau, rồi thuốc thang, rồi lại túng quẫn, rồi lại nghèo Nó tạo thành

một cái vòng luẩn quẩn”.( Trích phúc trình số 1)

Kinh tế nghèo nàn, hạn chế làm cho cuộc sống gia đình lúc nào cũng rơi vào trạng thái căng thẳng, mối quan hệ vợ chồng nói riêng và những mối quan hệ khác trong gia đình không được tốt đẹp và đây chính là nguyên nhân xảy ra BLGĐ khi có mâu thuẫn hay những vấn đề nhỏ trong gia đình hay khi người vợ có những việc làm không vừa lòng là chồng lại bạo lực với vợ

2.2.2 Nguyên nhân về kỹ năng sống

Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng tạo nên những thành công cho chúng

ta trong công việc cũng như trong cuộc sống Gia đình là một xã hội thu nhỏ, nơi đó tồn tại hầu như gần hết những hiện tượng xảy ra ngời xã hội, để gia đình có được sự

ấm êm, những thành viên trong gia đình phải biết đối xử, yêu thương tôn trọng lẫn nhau

Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân tạo ra BLGĐ hiện nay lại nằm ở chỗ gia đình thiếu kỹ năng sống, các cá nhân trong gia đình không biết thể hiện tình yêu thương cho nhau qua hành động, có những người con, người cha, người chồng, người vợ gặp khó khăn trong việc nói lên lời yêu thương với những người thân của mình Từ đó tình cảm trong gia đình rạn nứt dần và có khi là thiếu đi chút lửa để gia đình có yêu thương

Người phụ nữ Trung Bộ nói chung trong đó có người phụ nữ Nam Đàn thường đôn hậu, chất phác và rất hiền lành Họ không được khôn khéo, tế nhị trong giao tiếp cư xử như người phụ nữ miền Bắc Có lẽ thế mà các chị luôn “ chặt to kho

Trang 39

ra Để rồi khi những lúc “ cơm tắt lửa sôi”, các chị lại hay “ đổ thêm dầu vào lửa”

và làm cho không khí gia đình ngày càng trầm trọng hơn Những ông chồng vũ phu lại lấy sức mạnh để “ trấn áp” những căng thẳng, những mâu thuẫn và những xungn đột ấy và BLGĐ xảy ra như là một điều tất yếu

BLGĐ lên người phụ nữ trong gia đình xảy ra khi mà có không ít ông chồng cho rằng mình là “ người trên” có quyền dạy vợ con ngay cả khi mình đang có những hành vi sai lầm Sự tục tằn của nhiều người chồng đã là phổ biến, song song với việc dùng vũ lực, sức mạnh cơ bắp để dạy vợ, họ đã không tiếc lời mắng mỏ, sỉ nhục vợ ngay trước đám đông và đó là một trong muôn vàn biểu hiện của BLGĐ tinh thần mà chúng ta biết

Cũng cần phải nói đôi điều về kỹ năng sống trong gia đình của người phụ nữ hiện đại Họ có thể là những người thành đạt trong công việc, thành công trong một vai trò xã hội nào đó nhưng có không ít về cách cử xử của họ trong gia đình làm cho chính người chồng của họ có ác cảm, thậm chí là ngứa mắt để rồi sinh ra mâu thuẫn gia đình

“Chị H bên nhà gì đó, làm giám độc công ty gì đó ở dưới Vinh, chồng chỉ là anh giáo viên cấp 2 Về nhà chị ấy vẫn chỉ đạo, vẫn điều khiển chồng, ức chế quá

có lần anh chồng vùng vằng lên đập hết đồ đạc, tát chị H làm cho chị ta hoảng sợ… Người dân xung quanh không hề thương chị ta mà có phần còn thấy đó là cái chị phải trả giá… Khổ lắm cháu àh, cuộc sống gia đình vợ chồng không hiểu nhau, không thông cảm cũng như trân trọng nhau thì tan nát, li hôn chứ đâu phải chuyện

đùa”.(Trích phúc trình số 1)

Có muôn vàn trường hợp để chúng ta nói, ví như khi người phụ nữ thành đạt,

ở công ty họ có quyền hành và về nhà không ít người cũng đem cái quyền hành tối thượng ( như sai vặt, ra lệnh… ) vào trong cuộc sống vợ chồng khiến cho ông chồng thấy mình bị coi thường, từ cảm giác ấy sinh chán nản, thấy mình thua kém

vợ và để thể hiện quyền uy với vọ thì họ dùng vũ lực để đập đánh vợ con và đồ đạc trong nhà, hay trường hợp có những cô vợ tính cách không được thuần, mồm mép lắm lời, nhiều chuyện cũng làm cho những đức lang quân điên tiết lên, không chịu nổi cái ngoa ngoắt ấy để rồi họ phải chịu nhận những trận đòn “ dạy vợ” từ chồng,

có một điều là những người phụ nữ này thường tính nào tật ấy nên không thể sửa

Trang 40

được và vì thế nên BLGĐ vẫn xảy ra liên miên trong tổ ấm của họ Rồi có những phụ nữ trong xã hội hiện đại, đã không nữ công gia chánh lại thiếu hẳn một lô những kiến thức ứng xử giữa với chồng, trong không ít trừng hợp vụ BLGĐ xảy ra nguyên nhân ban đầu chỉ như con kiến, nhưng do vợ không biết lùi, không biết nhịn

mà cứ thể hiện bản ngã quá đà nên con kiến hóa con voi và rồi nó biến tướng thành những hiện tượng khác

Những trường hợp BLGĐ xảy ra theo kiểu nguyên nhân như trên thì hẳn là những người trong cuộc chị em phụ nữ nên nhìn nhận lại bản thân mình, chính chúng ta đôi khi không biết ứng xử khéo nên làm cho gia đình dần dần rạn nứt và đi đến đỗ vỡ

Ông cha ta thường nói “ Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê” cũng ngụ ý khuyên răn chị em nên biết cách cư xử trong gia đình Mình là những người “ giữ lửa” yêu thương trong gia đình nên mình phải biết trung hòa cái tôi cá nhân với lợi ích chung của gia đình Quyết định đến với nhau đã khó nhưng để duy trì một mái ấm gia đình với không bạo lực lại càng khó hơn

2.2.3 Nhóm nguyên nhân về pháp luật

Luật phòng chống BLGĐ của Việt Nam ra đời và đưa vào sử dụng năm

2007 Tuy nhiên ảnh hưởng của luật này lên đời sống gia đình chưa được thể hiện

rõ ràng và nhất quán Một phần vì công tác tuyên truyền luật vào đời sống chưa mang lại hiệu quả, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nơi mà những hủ tục về người phụ nữ còn rất nặng nề

Có lẽ cũng như làng có lệ làng, gia đình cũng có luật riêng của gia đình, mà

đa phần luật riêng này lại do người đàn ông trong đặt ra Và tất nhiên có sự thiên vị cho chính họ trong mọi hoàn cảnh Cũng bởi vì cái ảnh hưởng của luật gia đình quá

gê gớm ( có nhiều gia đình luật ấy là cả một nỗi kinh hoàng của người phụ nữ) nên khi Bộ luật phòng chống BLGĐ được đưa vào sử dụng trong một sớm một chiều không thể có những ảnh hưởng hay tác dụng đến điều phối, định hướng những hành

vi trong gia đình

“Nam Đàn cũng như các huyện khác, luật phòng chống BLGĐ vẫn chưa đến

Ngày đăng: 16/09/2021, 19:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5- Gia Đình Học của Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Qúy, NXB Chính Trị - Hành Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Đình Học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Qúy
Nhà XB: NXB Chính Trị - Hành Chính
7- Giáo trình Công tác xã hội nhóm của Th.S Nguyễn Thị Thái Lan (Chủ biên), Th.S Nguyễn Thị Thanh Hương, T.S Bùi Thị Xuân Mai. Trường Đại Học Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Thái Lan, Th.S Nguyễn Thị Thanh Hương, T.S Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Trường Đại Học Lao Động Xã Hội
10- Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị của Lê Thị Qúy, Đặng Vũ Cảnh Linh - Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn. NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Qúy, Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
11- Phụ Nữ và Giới của Bùi Thị Tỉnh, NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ Nữ và Giới
Tác giả: Bùi Thị Tỉnh
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
1- Báo cáo Hội liên hiệp phụ nữ Huyện Nam Đàn, khóa XXIV tại Đại hội Đại biểu Phụ nữ Huyện lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2011- 2016 Khác
2- Các bài viết về Bạo lực gia đình trên các trang báo mạng điện tử như Báo Dân trí, Báo 24H và địa chỉ Google Khác
3- Công tác xã hội (Social work ), Lê Văn Phú, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
4- Định kiến và phân biệt đối xử theo giới, lý thuyết và thực tiễn của PGS.TS Trần Thị Minh Đức (Chủ biên) và Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
6- Giáo trình Công tác xã hội với cá nhân, trường Đại Học Lao Động Xã Hội Hà Nội Khác
8- Giáo trình Hành vi con người và môi trường xã hội , T.S Nguyễn Thị Hồng Nga, trường Đại Học Lao Động Xã Hội, NXB Lao Động Xã Hội Khác
12- Phương pháp lồng nghép giới trong xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam của T.S Nguyễn Thị Thuận (Chủ biên) và Th.S Ngô Minh Hương. NXB Lao Động – Xã Hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các hiện tượng bạo lực gia đình phổ biến (%) - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
Bảng 1 Các hiện tượng bạo lực gia đình phổ biến (%) (Trang 29)
Bảng 2: Các hiện tượng xung đột Bạo lực gia đình trên địa phương ( theo Phòng thống kê Tỉnh Nghệ An, 2010) - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
Bảng 2 Các hiện tượng xung đột Bạo lực gia đình trên địa phương ( theo Phòng thống kê Tỉnh Nghệ An, 2010) (Trang 32)
Bảng 4: Hậu quả của Bạo lực gia đình ( đơn vị tính %), Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị của Lê Thị Qúy và Đặng Vũ Cảnh Linh,NXB Đại Học Khoa Học Xã  Hội và Nhân Văn, trang 173 - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
Bảng 4 Hậu quả của Bạo lực gia đình ( đơn vị tính %), Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị của Lê Thị Qúy và Đặng Vũ Cảnh Linh,NXB Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, trang 173 (Trang 51)
Hình 1. Mô hình triển khai đưa luật phòng chống BLGĐ vào trong đời sống nhân dân của NVCTXH - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
Hình 1. Mô hình triển khai đưa luật phòng chống BLGĐ vào trong đời sống nhân dân của NVCTXH (Trang 57)
Bảng 3. Các nguồn lực của những người vợ đã và đang bị BLGĐ bởi người chồng. - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
Bảng 3. Các nguồn lực của những người vợ đã và đang bị BLGĐ bởi người chồng (Trang 59)
điển hình ấy, gì nghĩ như thế nào về vấn đề  cần  phải  làm  giảm  nạn  BLGĐ  trên  huyện nhà hiện nay ah?  - Vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình cho phụ nữ   qua khảo sát  nghiên cứu tại huyện nam đàn, nghệ an
i ển hình ấy, gì nghĩ như thế nào về vấn đề cần phải làm giảm nạn BLGĐ trên huyện nhà hiện nay ah? (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w