Với tinh thần "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" đối với những người có công với đất nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Nghệ An nói chung, huyện Anh Sơn nói riêng đã tích cực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ -o0o -
PHẠM THỊ ĐĂNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Vinh - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ -o0o -
PHẠM THỊ ĐĂNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI LỚP: 49B1 – CÔNG TÁC XÃ HỘI KHÓA HỌC: 2008 – 2012
Giáo viên hướng dẫn: Phùng Văn Nam
Vinh - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công
tác xã hội với đề tài: "Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trên địa
bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Thực trạng và giải pháp" tôi đã nhận được
sự động viên giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà trường cùng các thầy cô giáo trong Tổ Công tác xã hội, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh đã trang bị tri thức khoa học cho tôi trong suốt thời gian qua Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Phùng Văn Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Qua đây tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bác, các cô, các chú, các anh, chị là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Anh Sơn cùng các gia đình Người có công trên địa bàn huyện đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu thông tin và đã đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành bài khóa luận này
Vì thời gian và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên chắc chắn bài khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn đọc quan tâm tới đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 05 tháng 05 năm 2012
Sinh viên Phạm Thị Đăng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 9
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12
3.1 Ý nghĩa khoa học 12
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
4 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu 12
4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Khách thể nghiên cứu 13
4.3 Mục đích nghiên cứu 13
4.4 Phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
5.1 Phương pháp luận 14
5.2 Phương pháp nghiên cứu chuyên biệt ngành 14
6 Giả thuyết nghiên cứu 16
7 Bố cục đề tài 16
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1 Các khái niệm liên quan 17
1.2 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu 20
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN 25
Trang 52.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan 25
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi Người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 28
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ưu đãi NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 67
2.4 Nguyên nhân tồn tại trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi Người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 69
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 72
3.1 Đổi mới bộ máy tổ chức và cán bộ quản lý, thực hiện chính sách Người có công 72
3.2 Tăng cường công tác vận động, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân 75
3.3 Đổi mới nội dung, quy trình xét duyệt Người có công với cách mạng 77
3.4 Hỗ trợ về nhà ở và tìm kiếm việc làm cho các đối tượng Người có công 79
3.5 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 83
2.1 Khuyến nghị đối với Sở LĐ-TB&XH tỉnh Nghệ An 83
2.2 Khuyến nghị đối với UBND huyện Anh Sơn 84
2.3 Khuyến nghị với phòng LĐ-TB&XH huyện Anh Sơn 84
2.4 Khuyến nghị về chính sách ưu đãi xã hội đối với Người có công với cách mạng 85
2.5 Khuyến nghị đối với cộng đồng, xã hội 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
MỘT SỐ HÌNH ẢNH 98
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Số lượng và phân loại NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn 28Bảng 2: Bảng tổng hợp kinh phí mua BHYT đối tượng ưu đãi người có công với cách mạng 37Bảng 3: Số liệu về các loại hình lao động cho con em gia đình chính sách 40Bảng 4: Bảng số liệu về các đối tượng người có công trên địa bàn huyện 42Bảng 5: Bảng tổng hợp thanh toán kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng cho người có công với cách mạng 43Bảng 6: Bảng số liệu về việc xây mới và sửa chữa nhà tình nghĩa 48Bảng 7: Tình hình sử dụng nguồn kinh phí xây dựng nhà tình nghĩa qua
các năm 49Bảng 8: Bảng số liệu về việc tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa 54Bảng 9: Bảng tổng hợp kinh phí chi trả cho các đối tượng NCC từ ngân sách nhà nước 64
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AHLĐ Anh hùng lao động
2 AHLLVTND Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
3 BB Bệnh binh
4 BHYT Bảo hiểm y tế
5 BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hùng
14 UBND Ủy ban nhân dân
15 UBMTTQ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
16 TB Thương binh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm để dựng nước và giữ nước Trong các cuộc đấu tranh cách mạng ấy có biết bao người con đã anh dũng chiến đấu, hy sinh một phần xương máu và thậm chí là
cả cuộc đời mình để bảo vệ nền độc lập dân tộc "Máu đào của các liệt sỹ đã nhuộm lá cờ của cách mạng càng thêm đỏ chói Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do" Họ đã hóa thân mình
cho hình hài đất nước, là những người được nhân dân ta ghi nhớ, biết ơn
Sau những bước thăng trầm của lịch sử, đất nước ta đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ Các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã thu được những thắng lợi vẻ vang, nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất, nhân dân được sống trong hòa bình và tự do Toàn Đảng, toàn dân
ta đã, đang và sẽ tiến những bước dài trên chặng đường xây dựng và phát triển đất nước Chiến tranh đã đi qua gần một phần ba thế kỷ, đất nước Việt nam sau hơn ba mươi năm đổi mới đã có những bước chuyển mình đáng kinh ngạc về tất cả mọi mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội từng bước vươn lên khẳng định vị thế với bè bạn năm châu Thế nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng cho tới ngày nay và đến tận cả mai sau
Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có biết bao người Việt Nam yêu nước đã hiến dâng tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ và tuổi trẻ của mình cho đất nước Các cuộc chiến tranh đó đã cướp đi của nhân dân ta hàng triệu người con ưu tú, để lại gần 60 vạn thương binh, bệnh binh và nhiều vấn đề xã hội bức xúc Đó là nỗi đau mất mát của những gia đình đã mất đi những người con ra chiến trường mà không bao giờ
Trang 9trở lại Đó là những người bị nhiễm chất độc hóa học đã ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân và để lại di chứng cho cả thế hệ tương lai Đó là những người
bị tàn tật do hậu quả của chiến tranh vì phải chịu những cực hình tra tấn trong lao tù của kẻ thù Nỗi đau mất mát về thể chất và tinh thần ấy không chỉ là nỗi đau của mỗi cá nhân hay mỗi gia đình mà là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội
và cần có biện pháp để khắc phục
Hôm nay, các cuộc chiến đã lùi xa nhưng hậu quả và di chứng nặng nề của bom đạn kẻ thù vẫn còn để lại những ảnh hưởng sâu sắc, những đau thương mất mát cho hàng triệu gia đình Nó không những gây ra nhiều bệnh tật đau đớn kéo dài mà nó còn lấy đi một số bộ phận trên cơ thể của biết bao nhiêu người tham gia chiến trận để giờ đây mỗi khi trái gió trở trời những vết thương đó lại âm ỉ cháy, cứa sâu vào thân xác họ và hành hạ họ phải vật lộn với những đêm dài đau đớn
Những người đi trước đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Họ là những người có công lao to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Và bản thân họ là những người trực tiếp phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi về vật chất cũng như tinh thần Do bị thương tật, bệnh tật trong chiến tranh lúc còn trẻ nay tuổi về già họ không còn khả năng lao động hoặc suy giảm phần lớn khả năng lao động, mặt khác trong thời gian chiến tranh họ không có điều kiện hoạt động kinh tế để tích lũy cho tuổi già, vốn liếng không có nên đời sống của họ gặp muôn vàn khó khăn và
đã không ít người rơi vào hoàn cảnh “yếu thế” trong xã hội Vì vậy, họ cần có những chính sách ưu đãi đặc biệt của Nhà nước Và cũng bởi vậy, mà bổn phận của chúng ta là phải có trách nhiệm “đền ơn đáp nghĩa” đối với những đối tượng này Họ xứng đáng được toàn xã hội tôn vinh, xứng đáng được hưởng mọi sự ưu tiên, ưu đãi về vật chất lẫn tinh thần
Trang 10Hơn nửa thế kỷ qua, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thực hiện và
làm phong phú thêm truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp
nghĩa”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Chúng ta đã biến truyền thống, đạo lý đó
thành những hành động cụ thể và thiết thực Các hoạt động chăm sóc, giúp đỡ người có công với cách mạng trong đó có các đối tượng là thương binh, bệnh binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng,…đã ngày càng có hiệu quả, chất lượng, thực
sự thấm nhuần và đi vào chiều sâu cuộc sống cộng đồng
“Uống nước nhớ nguồn” là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam, được hình thành từ lâu và truyền từ đời này sang đời khác, đến nay nó
đã phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành một chương trình chăm sóc người có công với cách mạng Đây cũng là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với những người con ưu tú của nhân dân
Nó không chỉ góp phần vào việc ổn định và phát triển xã hội mà còn là nguồn động viên, cổ vũ, định hướng cho toàn xã hội đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay Đây chính là đạo lý, truyền thống tốt đẹp, một hoạt động có ý nghĩa xã hội mang tính nhân văn của dân tộc ta
Với tinh thần "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" đối với
những người có công với đất nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Nghệ
An nói chung, huyện Anh Sơn nói riêng đã tích cực triển khai thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, góp phần từng bước ổn định và nâng cao đời sống cho các đối tượng chính sách Tạo điều kiện cho họ có cơ hội thuận lợi để học tập và tham gia sản xuất Tuy nhiên, Anh Sơn là một huyện miền núi, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là những thương bệnh binh không còn khả năng lao động để kiếm sống Bởi vậy họ rất cần nhận được sự quan tâm, giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của cả cộng đồng và toàn xã hội
Trang 11Nhận thức được những điều đó tôi đã đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu và
chọn đề tài "Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trên địa bàn
huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Thực trạng và giải pháp" để làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Lịch sử dân tộc ta gắn liền với nhiều cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ Trong các cuộc chiến tranh này, nhiều người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh, cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Họ là những người có công lao to lớn mà Đảng, Nhà nước và toàn
thể nhân dân đời đời ghi nhớ Công tác “đền ơn đáp nghĩa” đã được Đảng và
Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ lớn trong công cuộc bảo vệ
và xây dựng đất nước
Đất nước ta đã được sống trong những kỷ nguyên độc lập, hiện nay, dân tộc Việt Nam đang vươn lên để sánh vai với các cường quốc năm châu và khẳng định vị thế của mình trên bản đồ thế giới Để có được sự tự do như ngày hôm nay chúng ta đã phải đánh đổi rất nhiều người con ưu tú của dân tộc, rất nhiều đau thương mất mát của những người còn sống và sẽ theo họ cho đến hết cuộc đời này bởi những vết thương đó sẽ không bao giờ có thể lành lại được Bởi vậy, để đền ơn những người đã có công lao to lớn với đất nước thì trong suốt những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã cho ra đời một
hệ thống các chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sỹ, người có công với cách mạng luôn luôn gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Đảng và nhà nước ta luôn coi ưu đãi xã hội,
bảo đảm cho gia đình chính sách có cuộc sống “ổn định về vật chất, vui vẻ về
tinh thần” là trách nhiệm đối với lịch sử, phát huy đạo lý, truyền thống, bản
sắc văn hóa Việt Nam, là động lực phát triển xã hội
Trang 12Vấn đề về việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Trong văn kiện Đại hội lần
thứ XI của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội
Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và gia đình có công với nước”… “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức
từng bước và từng chính sách phát triển Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho những người
và gia đình có công với cách mạng” Đảng ta khẳng định việc chăm sóc
những người và gia đình có công với cách mạng là lĩnh vực rất quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân tộc Đó không chỉ là vấn đề đạo lý truyền thống mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng, tình cảm, vấn đề xã hội và nhân văn cao quý có ý nghĩa lâu dài.Hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trong nhiều năm qua đã được xây dựng, ban hành và từng bước hoàn thiện như lời nguyên
Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “Chúng ta phải có những giải pháp hợp
lý và hiệu quả hơn nữa để thực hiện thật tốt đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và mong muốn của nhân dân chăm lo ngày càng tốt hơn cuộc sống của thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng”
Cho tới nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về người có công, đặc biệt là đối với những người bị nhiễm chất độc hóa học Vào năm 1993, trong Hội thảo quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên, nhóm nghiên cứu gồm: Vũ Triệu An, Phan Thị Thu
Anh, Nguyễn Ngọc Lanh đã trình bày đề tài nghiên cứu "Góp phần thay đổi
chỉ tiêu miễn dịch ở người có thể bị nhiễm chất độc dioxin tại chiến trường miền nam Việt Nam Chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên"
Trang 13Cũng trong hội thảo này, nhóm nghiên cứu Bùi Đại, Lê Cao Đài, Bích
Thủy (1993), cũng đã trình bày nghiên cứu về "Tình hình bệnh tật của những
quân nhân hoạt động ở vùng rải chất độc hóa học và tai biến sinh sản của gia đình họ so với những quân nhân không tiếp xúc với chất độc hóa học"
Hội thảo khoa học của Bộ Y tế, Hà Nội 12/1998 có đề tài nghiên cứu của
Nguyễn Quốc Ân "Nghiên cứu xây dựng một số chỉ thị sinh học về tác động
của chất độc da cam đối với sức khỏe con người, về tác hại của chất độc hóa học sử dụng trong chiến tranh đối với sức khỏe người Việt Nam".
Đặc biệt, bên cạnh những đề tài nghiên cứu đó về những người bị nhiễm
chất độc hóa học thì Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành "Pháp lệnh ưu
đãi đối với Người có công với cách mạng" nhằm mục đích giúp cho những
người có công được hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước, đảm bảo cho hơn 8 triệu người có công trên đất nước Việt Nam có mức sống ngang bằng hoặc cao hơn mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú
Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu lớn và chủ yếu là nghiên cứu về những đối tượng bị nhiễm chất độc hóa học Còn xét ở cấp độ nghiên cứu tại một địa bàn nhỏ, có phạm vi nghiên cứu hẹp và nghiên cứu về việc thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công thì hiện nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào được công bố Có thể nói đề tài mà tôi nghiên cứu là một đề tài nhỏ, phạm vi chỉ trong một huyện, chính vì vậy, đây có thể xem như là một bước đi mới trong việc nghiên cứu về các chính sách ưu đãi cho người có công, góp phần nhỏ trong việc tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 143 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu vận dụng những kiến thức trong lĩnh vực An sinh xã hội, Chính sách xã hội, các lý thuyết và kỹ năng chuyên nghiệp của ngành Công tác xã hội với các kiến thức xã hội học đại cương, xã hội học chuyên ngành nhằm tìm hiểu, phân tích những vấn đề mà người có công đang gặp phải, những chính sách ưu đãi người có công trong hệ thống các chính sách xã hội Trên cơ sở đó, góp phần bổ sung và hoàn thiện nghiên cứu lý luận về mảng đề tài này trở nên phong phú hơn, đáp ứng đúng và đủ nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cho những nghiên cứu trong giai đoạn tới Đồng thời bổ sung về
lý luận cho việc thực hiện các chính sách ưu đãi này trong thực tế
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công, nghiên cứu này nhằm đóng góp một số giải pháp và khuyến nghị đối với hệ thống chính sách hiện hành giúp cho nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách hỗ trợ có hiệu quả, góp phần vào việc hoạch định, sửa đổi, bổ sung các chính sách nói chung và chính sách
hỗ trợ cho người có công nói riêng được hoàn thiện và đầy đủ hơn Từ đó góp phần vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có công phù
hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
4 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Trang 15Tìm hiểu về thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng và một số giải pháp
4.2 Khách thể nghiên cứu
Người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ A Các gia đình có người có công trên địa bàn bao gồm những người chăm sóc và nuôi dưỡng
4.3 Mục đích nghiên cứu
- Mục đích tổng quát:
Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng và tìm hiểu về thực trạng đời sống của họ qua đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa đời sống cho người có công trên địa bàn huyện
Anh Sơn nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
- Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu và tìm hiểu thực tế cuộc sống của người có công ở huyện Anh Sơn nhằm:
+ Đánh giá và phân loại nhu cầu của người có công
+ Phân tích những hiệu quả của các chính sách ưu đãi đối với NCC trên địa bàn nghiên cứu, từ đó đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu cho NCC từ hệ thống các chính sách ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Anh Sơn hiện nay + Đề ra các giải pháp phù hợp để đáp ứng cho nhu cầu của Người có công( TB, BB, BMVNAH,…)
4.4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: Địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2012
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Đó là việc đặt các sự vật, hiện tượng có sự tác động qua lại lẫn nhau và
có mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác Cụ thể là các giải pháp, chính sách cũng như các chương trình hành động nhằm tạo ra một hệ thống chính sách ưu đãi xã hội có hiệu quả thiết thực nhất đối với người có công đặt trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống, văn hóa, xã hội, các tổ chức đoàn thể để NCC có điều kiện sống tốt hơn
5.1.2 Phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp này nhằm đặt sự vật, hiện tượng trong trạnh thái luôn vận động và biến đổi do sự tác đọng của yếu tố khách quan qua từng thời kỳ phát triển của điều kiện kinh tế xã hội Cụ thể là nghiên cứu về hệ thống CSƯĐ cho NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn dưới sự tác động của các yếu tố tự nhiên - văn hóa - kinh tế - xã hội…qua các năm, các thời kỳ phát triển của huyện Anh Sơn
5.2 Phương pháp nghiên cứu chuyên biệt ngành
5.2.1 Phương pháp thu thập, nghiên cứu và phân tích tài liệu
Phương pháp này nhằm tập hợp các tài liệu có liên quan từ các phòng ban của các cấp chính quyền như: Phòng LĐ-TB&XH huyện, Ban chính sách xã, Qua các tài liệu thứ cấp thu được sẽ tiến hành xử lý các số liệu từ dạng thô sang dạng tinh, phân thành từng mảng chủ đề rồi tập hợp thống nhất các thông tin theo một trình tự logic
Việc nghiên cứu tài liệu được vận dụng một cách khoa học và liên tục trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Trang 17Nghiên cứu, phân tích các tài liệu thu thập được từ nhà trường, địa phương và từ mạng Internet Nghiên cứu các báo cáo của các ban ngành đoàn thể về việc thực hiện CSƯĐ đối với NCC của Phòng LĐ-TB&XH huyện, của
Ủy ban nhân dân huyện và của Hội đồng nhân dân huyện; các quy định và CSƯĐ của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công Ngoài ra còn nghiên cứu thêm các tài liệu, tạp chí, báo cáo trước đó về các vấn đề liên quan đến người có công
5.2.2 Phương pháp thống kê số liệu
Việc sử dụng phương pháp thống kê trong quá trình thực hiện nghiên cứu sẽ đưa ra những thông tin mang tính thuyết phục, những số liệu chính xác
về nhiều khía cạnh liên quan đến đề tài
5.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin bằng cách quan sát và ghi chép lại mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phù hợp với đề tài và mục đích nghiên cứu
Quan sát được thực hiện trong quá trình tiếp xúc với các đối tượng TB,
BB, BMVNAH…trên địa bàn huyện Anh Sơn để thấy rõ được những biểu hiện, thái độ và những khiếm khuyết của họ Đồng thời cũng quan sát hoàn cảnh kinh tế và gia đình của đối tượng để biết được họ có những nhu cầu và mong muốn gì, từ đó có thể đưa ra biện pháp giúp đỡ phù hợp
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp thông qua trao đổi hoặc giao tiếp bằng lời nói hoặc cử chỉ giữa người hỏi và người trả lời Phỏng vấn sâu được thực hiện với đối tượng là những NCC, cán bộ làm công tác chính sách và người dân trên địa bàn huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An
Trang 185.2.5 Công tác xã hội với cá nhân
Nghiên cứu dựa trên việc áp dụng một số lý thuyết như thuyết phân tâm học về cấu trúc nhân cách, thuyết hiện sinh,… và một số phương pháp như phương pháp giải quyết vấn đề,… hay các kỹ năng như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát,… để phân tích, tìm hiểu vấn đề và làm phương pháp nghiên cứu từng cá nhân trong nhóm đối tượng NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn và những người trực tiếp liên quan để lấy thông tin
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Người có công ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Tình trạng sức khỏe bệnh tật ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của bản thân cũng như gia đình họ
- Hệ thống các chính sách ưu đãi xã hội mặc dù đã được thực hiện nhưng thực sự vẫn chưa đáp ứng đủ và đúng nhu cầu cần thiết của những TB, BB,…hiện đang sống trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
- Những hoạt động chăm sóc Người có công và các chế độ ưu đãi cần phải được nâng cao hơn nữa nhằm mang lại ý nghĩa thiết thực cho bản thân các TB, BB và gia đình của họ
7 Bố cục đề tài
Ngoài lời cảm ơn, mục lục, kết luận và phụ lục thì bài khóa luận được chia làm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện các chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã hội, chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung, của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần
của nhân dân (Nguồn: Bùi Đình Thanh, Giáo trình Xã hội học và chính sách
xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr 290)
Như vậy, Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành hệ thống chính sách chung của chính quyền nhà nước, là sự cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của một nhà nước Chính sách xã hội có những đặc trưng cơ bản như: là công
cụ điều tiết hành vi, hoạt động của con người, lấy con người, các nhóm người làm đối tượng tác động, có mục tiêu vì sự tiến bộ xã hội, thay đổi linh hoạt phù hợp với thực tế xã hội, phù hợp với bản chất của nhà nước, của chế độ chính trị Chính sách xã hội là công cụ giúp nhà nước điều hòa các quan hệ
xã hội, ổn định và phát triển xã hội và làm nên hệ thống an sinh xã hôi của
một quốc gia (Nguồn: Bùi Đình Thanh, Giáo trình Xã hội học và chính sách
xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr 290)
Trang 201.2.2 Khái niệm Người có công
Mặc dù Pháp lệnh ưu đãi người có công được thực hiện từ lâu nhưng cho tới nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm người có công Tuy nhiên căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công mà Nhà nước ta đã quy định thì có thể nêu khái niệm người có công theo hai nghĩa sau:
- Theo nghĩa rộng: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc Họ là người có thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục
vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
theo quy định của pháp luật (Nguồn: Đề tài "Hoàn thiện công tác quản lý
Người có công huyện Thiệu Hóa - tỉnh Thanh Hóa", 6/2011)
- Theo nghĩa hẹp: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan tổ chức có
thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật (Nguồn: Đề tài: "Hoàn
thiện công tác quản lý Người có công huyện Thiệu Hóa - tỉnh Thanh Hóa",
6/2011)
Theo điều 2, Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng thì đối tượng người có công gồm có:
- Người HĐCM trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người HĐCM từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945;
Trang 21- Liệt sỹ;
- Bà Mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Người có công giúp đỡ cách mạng
1.2.3 Khái niệm Chính sách ưu đãi người có công
Theo Thuật ngữ ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thì: Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là những quy định chung của nhà nước, bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải pháp về việc ghi nhận công lao,
sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công, tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với người có công Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách đối với người
có công Một mặt, Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng hoạch định các chính sách ưu đãi, mặt khác bằng bộ máy của mình triển khai thực hiện chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Ngoài ra, Nhà nước còn định hướng, động viên, khuyến khích, ủng hộ và tham gia phát động các phong trào, tạo ra sức mạnh tổng hợp về nguồn lực, nhân lực ở cộng đồng dân cư trong việc
thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công (Nguồn: Thuật ngữ Lao
động - Thương binh và Xã hội, NXB Lao động - Xã hội, 1999, tr 30)
Trang 221.2 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abaraham Maslow
Abraham Maslow (1908- 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, ông là nhà
tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology) Ông được thế giới biết đến bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) Lý thuyết của ông được ứng dụng rất nhiều trong các
- Nhu cầu được tôn trọng: được chấp nhận, có vị trí trong nhóm, xã hội
- Nhu cầu hoàn thiện: được hoàn thiện bản thân, mong muốn sáng tạo, phát triển trí tuệ, thể hiện khả năng và tiềm lực của mình
Hệ thống thang bậc nhu cầu của Maslow có thể được thể hiện dưới dạng
mô hình hóa bằng kim tự tháp như sau:
Trang 23Tháp thang bậc nhu cầu của A.Maslow
Như vậy, nhìn vào sơ đồ thang bậc nhu cầu trên đây chúng ta thấy rằng nhu cầu cơ bản nhất của con người nằm ở bậc thang thấp nhất, nhu cầu càng cao thì càng được xếp ở thang bậc cao hơn Các nhu cầu của con người luôn tồn tại đan xen, phụ thuộc và có quan hệ với nhau Vì thế mà tùy từng hoàn cảnh, từng đối tượng cụ thể mà vận dụng lý thuyết này một cách hợp lý Mỗi đối tượng có những nhu cầu quan trọng khác nhau cần phải được đáp ứng, song mức độ quan trọng và cần được giải quyết lại hoàn toàn khác nhau Bởi vậy mà ai thiếu hụt nhu cầu nào thì bổ sung và giúp đỡ tương ứng
Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow được áp dụng vào đề tài nhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của người có công và xem nhu cầu nào là quan trọng và cần được ưu tiên, đồng thời xem họ đang ở bậc thang
ho
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu tình cảm xã hội
Nhu cầu an toàn:
Được gắn bó, được bảo vệ…
Nhu cầu thể chất, sinh lý Nhu cầu hoàn thiện
Trang 24nhu cầu nào để từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời, phù hợp và mang lại hiệu quả cao
1.2.2 Thuyết lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh
tế học và nhân học thế kỷ XVIII - XIX Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền
đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhắm đạt được kết quả tối
ưu với chi phí tối thiểu
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện nào hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì mang nặng yếu tố lợi ích vật chất Nhưng sau này các nhà xã hội học
mở rộng phạm vi của mục tiêu này bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần
Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ
Thuyết này nhấn mạnh yếu tố mong đợi hợp lý và các chiến lược hợp lý giải quyết vấn đề mà các bên tham gia phải phân tích, lựa chọn và ra quyết định hành động Về nguyên tắc, thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý và lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất
Dựa vào đó, người ta xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế xã hội trên cấp độ vĩ mô Nó được dùng làm phương pháp tiếp cận hành động của mỗi cá nhân, của nhóm và chức năng của cả hệ thống
Trang 25cũng như là các mối liên hệ chức năng của hệ thống xã hội và mối tương tác giữa cá nhân, nhóm, thiết chế và hệ thống xã hội Chính sự lựa chọn duy lý,
sự trao đổi xã hội có khả năng tạo dựng và duy trì sự ổn định, trật tự xã hội
Sự lựa chọn hợp lý các nguồn lực , các điều kiện cũng như cách thức hỗ trợ nào là phù hợp, hợp lý và mang lại hiệu quả nhất là rất cần thiết
Với ý nghĩa đó, vận dụng lý thuyết lựa chọn duy lý để xem xét và lựa chọn các biện pháp trợ giúp phù hợp nhất, có ý nghĩa nhất và mang lại hiệu quả cao nhất để giải quyết vấn đề cho đối tượng Các biện pháp trợ giúp cần
có sự lựa chọn và cân nhắc một cách kỹ lưỡng, đảm bảo quyền lợi và lợi ích cho đối tượng
1.2.3 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được ứng dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ những hệ thống trợ giúp
nào mà bản thân họ có thể tiếp cận và tham gia
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này là Bertalanffy, Hanson, Manconske, Siporin, Germain, Hearn Thuyết hệ thống được áp dụng cho các hệ thống xã hội như các nhóm, các gia đình, các tổ chức xã hội cũng như các hệ thống
sinh học
Lý thuyết hệ thống chỉ ra những hệ thống đa dạng có thể giúp đỡ thân chủ như hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội Chúng ta có thể phân loại thành các hệ thống như sau:
- Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè
- Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, chính sách
xã hội
- Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn
Trang 26Công tác xã hội cố gắng tìm ra những chỗ mà thân chủ và môi trường của họ đang có vấn đề, khó khăn trong tương tác, từ đó giúp họ thực hiện các công việc trong cuộc sống Vấn đề của thân chủ nảy sinh khi họ không tiếp cận được những hệ thống đó hoặc tiếp cận không có hiệu quả
Khi áp dụng vào đề tài này, lý thuyết hệ thống cung cấp cho nhân viên công tác xã hội một cách nhìn toàn diện đối với vấn đề của những người có công đang gặp phải, từ đó có kế hoạch giúp đỡ hiệu quả nhất Khi sử dụng lý thuyết này, chúng ta sẽ biết được đối tượng có quan hệ chặt chẽ với hệ thống nào, chưa chặt chẽ với hệ thống nào Nhờ đó mà việc đánh giá các chính sách
ưu đãi cho người có công trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay được khách quan và toàn diện Vì thế, trong quá trình can thiệp với đối tượng, nhân viên công tác xã hội có thể giúp đối tượng phát huy được các nguồn lực sẵn có, tiếp cận một cách hiệu quả với những chính sách cần thiết
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN
2.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan
2.1.1 Vị trí địa lý
Anh Sơn là một huyện miền núi, nằm phía Tây tỉnh Nghệ An, cách trung tâm của tỉnh 100 km, có toạ độ địa lí từ 105,150
đến 105,500 kinh độ đông, từ
18046 đến 19010 vĩ độ bắc, có 7km đường biên giới nước bạn Lào
Diện tích tự nhiên 60.328,50 ha, trong đó đất nông nghiệp: 49.312,18 ha chiếm 15,5%; đất lâm nghiệp 35.549,20 ha chiếm hơn 38%, đất sản xuất 25.632,00 ha, đất rừng phòng hộ: 7672,50 ha, đất rừng đặc dụng: 2244,70 ha, đất nuôi trồng thủy hải sản: 278,56 ha, đất phi nông nghiệp: 5686,59 ha, đất chưa sử dụng: 5329,73 ha
Địa hình huyện Anh Sơn có đặc điểm thấp dần về phía đông có độ cao trung bình so với mực nước biển 100 - 200m, hệ thống sông ngòi dày đặc, là
một huyện có khí hậu diễn biến phức tạp mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm
Còn dân cư và nguồn lao động: Tính đến tháng 12/2011 dân số huyện Anh Sơn có trên 25.145 hộ, phân bố đồng đều trên 21 xã/thị trấn với 111.735 nhân khẩu, có 244 thôn bản trong đó có 18 bản dân tộc thiểu số, có 1529 hộ,
7675 nhân khẩu, về tín đồ tôn giáo có 150 hộ với 8142 nhân khẩu
Tổng số lao động toàn huyện là 53.990 người, trong đó lao động nông nghiệp là 45.400người, chiếm 84,09%; lao động phi nông nghiệp là 8.570
người, chiếm 15,91%
2.1.2 Điều kiện kinh tế
Trong năm 2011 với nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, tổng giá trị sản xuất (Giá CĐ94): 1.008,927 Tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Trang 2813,86 % Tổng sản lượng lương thực đạt 54.090 tấn đạt 106% kế hoạch năm
Cơ cấu tỷ trọng chuyển dịch tốt: Nông lâm thuỷ sản: 40,92% kế hoạch 41,51
% so cùng kỳ giảm 1,56% Công nghiệp dịch vụ: 29,48% kế hoạch 30,08% so cùng kỳ tăng 1,09% Thương mại dịch vụ: 29,60% kế hoạch 28,41 % Thu nhập bình quân đầu người 7,48 triệu đồng tăng 1,08 % so với cùng kỳ Thu ngân sách tại địa bàn 18.240 triệu đồng đạt 145,9% kế hoạch tỉnh giao Tổng chi ngân sách 86.960 triệu đồng (Trong đó chi cho đầu tư phát triển từ nguồn của huyện là 12.906 triệu đồng đạt 323% kế hoạch) Để đáp ứng nhu cầu giao thông đi lại, buôn bán, phục vụ xây dựng nhiều công trình mới, cơ sở hạ tầng
của huyện đang từng bước được hoàn thiện
2.1.3 Đặc điểm văn hoá – xã hội
Đi đôi với việc phát triển kinh tế văn hoá cũng ngày càng phát triển, xây
dựng tổ chức thực hiện 7 đề án: Huyện văn hoá, phát triển giáo dục, kế hoạch hoá trường học cao tầng, Trường chuẩn Quốc gia, xã Y tế, truyền thanh cơ sở,
bổ sung đề án công tác dân số gia đình trẻ em
2.1.3.1 Giáo dục
Hoàn thành quy hoạch mạng lưới trường lớp năm 2008-2012, tổ chức thi giáo viên giỏi và học sinh giỏi đạt chất lượng, kết quả cao Cơ sở vật chất trường học ngày càng được đầu tư tăng cường Xây dựng kiên cố hoá 11 trường học cao tầng theo cơ chế của tỉnh và huyện hỗ trợ 50 % trong năm
2010 và 2011
Các cấp học, trường học hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2010 -
2011 Xây dựng thành công 4 trường đạt chuẩn Quốc gia (trong đó 1 trường mức 2) đưa số trường đạt chuẩn Quốc gia lên 14 trường Tổ chức tốt các kỳ thi, tốt nghiệp trung học phổ thông, thi chuyển cấp cho các em từ lớp 9 lên lớp 10 an toàn, nghiêm túc, công bằng Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ
Trang 29thông đạt 96 % Xét tuyển cho học sinh Trung học cơ sở: 3.425 em đăng ký
dự xét tuyển được công nhận tốt nghiệp đạt 99,5 % Xét tuyển cho học sinh tiểu học: 2.625 được công nhận tốt nghiệp đạt 100 % Công tác xã hội hoá
giáo dục đã phát huy được hiệu quả
2.1.3.2 Y tế
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, thực hiện tốt 12 điều y đức Tỷ lệ bác sỹ về xã
được 55% số xã Mạng lưới y tế được tăng cường Công trình nâng cấp Bệnh
viện Đa Khoa huyện đang dần hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2011 Thành lập mới phòng y tế huyện, chuyển chức năng quản lý nhà nước các trạm y tế xã thị về phòng y tế huyện từ 1/4/2006
2.1.3.3 Văn hoá
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, đặc biệt là tổ chức tốt Lễ hội Uống nước nhớ nguồn 27/7 cấp Tỉnh tại huyện
Tổ chức thành công đại hội thể dục thể thao từ cơ sở đến huyện
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng Đến nay đã có 100% số xã, thị trấn xây dựng đề án thiết chế văn hoá thông tin-thể thao đồng bộ 177 đơn vị làng bản đạt chuẩn văn hoá tăng 23% so cùng kỳ Xây dựng trạm truyền thanh cơ sở 9 đơn vị,
đưa số xã năm 2010 có: 21/21 xã có trạm truyền thanh cơ sở
2.1.3.4 Dân số và kế hoạch hoá gia đình
Công tác dân số đã triển khai thực hiện cam kết các xã thị trấn và cơ quan đơn vị không sinh con thứ 3 Tổ chức cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đăng ký đạt tỷ lệ 95 % Chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác truyền thông dân số thực hiện chính sách dân số và trẻ em Tỷ lệ sinh ước đạt
Trang 3010,79% so cùng kỳ giảm 0,35 % Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 6,49 % Số xóm không sinh con thứ 3 đạt 185/239 xóm Phối hợp trung tâm chỉnh hình
của tỉnh khám cho 68 cháu
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi Người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
2.2.1 Quy mô cơ cấu đối tượng
2.2.1.1 Số lượng và phân loại
Anh Sơn là một huyện miền núi có số lượng người có công tương đối đông, trong đó phần lớn là đối tượng Thương binh mà đặc biệt là TB mất sức lao động từ 80% trở xuống Cụ thể, theo số liệu Phòng LĐ-TB&XH huyện Anh Sơn đang quản lý:
Bảng 1: Số lượng và phân loại NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn
5
Trang 319 Nguời HĐKC bị nhiễm CĐHH hưởng trợ cấp mức 1 4
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp đối tượng người có công 12/2011 của Phòng
LĐ-TB &XH huyện Anh Sơn)
- Sự phân bố đối tượng NCC tương đối đồng đều và nằm ở tất cả 21 xã, thị trong toàn huyện
- Về cơ cấu đối tượng NCC: Nam 9.876 người, chiếm 69,2 %, Nữ 3.607 người, chiếm 30,8 %
Trang 32- Độ tuổi của các đối tượng NCC trên địa bàn huyện chủ yếu là từ 50 tuổi trở lên Có một số người đã lên tuổi 70-80 và nay vẫn là những tấm
gương mẫu mực cho con cháu về tác phong công việc và lối sống
2.2.1.2 Về sức khỏe
Người có công đã hy sinh tính mạng, sức khỏe của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc để đất nước ta có được ngày hôm nay Sức khỏe của họ đã giảm sút hay ốm đau do vết thương cũ tái phát, chất độc hóa học phát tác hay những mảnh đạn còn nằm trong người họ Thậm chí nhiều người còn cụt tay, chân, mũi, mắt… và nhiều người mất hết khả năng lao động Theo số liệu điều tra tháng 9/2009 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, toàn huyện có 13 người thương bệnh binh bị suy giảm >81% khả năng lao động có vết thương đặc biệt
Bộ phận những người có công khác mặc dù thương tật, bệnh tật nhẹ hơn nhưng sức khỏe của họ cũng bị giảm sút do tuổi cao, sức đã yếu lại còn tình trạng thương tật, bệnh tật do hậu quả chiến tranh để lại Do họ thường xuyên phải chịu nhưng cơn đau mỗi khi trái gió trở trời Bởi vậy để chăm sóc tốt hơn đời sống cho người có công huyện Anh Sơn đã chú ý đến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám chữa bệnh thường xuyên, định kỳ cho người có công trên địa bàn huyện để họ ổn định sức khỏe trong cuộc sống Như vậy thực trạng về sức khoẻ người có công của huyện Anh Sơn trong những năm qua đã
có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Các hộ gia đình chính sách đã
có cuộc sống ổn định và có mức sống trung bình, trên trung bình so với mức sống của dân cư địa phương nơi cư trú Bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận gia đình chính sách, kinh tế còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề đặt ra là phải
có sự quan tâm hơn nữa của các cấp chính quyền của đoàn thể cộng đồng dân
Trang 33cư đến đời sống của các gia đình chính sách nhằm thực hiện tốt chính sách
“đền ơn đáp nghĩa” pháp lệnh ưu đãi người có công
2.2.1.3 Hoàn cảnh sống
- Thu nhập là tiêu chí cơ bản để đánh giá mức sống của con người Hiện nay đa số đối tượng người có công đều dựa vào nguồn thu nhập chính từ chính sách ưu đãi trợ cấp, phụ cấp của Nhà nước chiếm 67% trên tổng số và 30% có thu nhập thêm do làm kinh tế
Lực lượng lao động là người có công việc trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp việc sản xuất nông nghiệp đảm bảo về thu nhập cho gia đình nhưng do khí hậu khắc nghiệt nên nguồn thu nhập không thực sự ổn định Một số hộ gia đình chính sách ở các xã như Tường Sơn, Hùng Sơn, Đỉnh Sơn…đã đầu tư vào chăn nuôi gia súc, gia cầm và đã đem lại hiệu quả kinh tế Nhưng phần lớn các họ gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và sức lao động hạn chế nên mức sống của gia đình còn ở mức trung bình Hàng năm Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội,
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phải chi trợ cấp thường xuyên với mức tiền khá lớn
- Về hoàn cảnh sống: Hầu hết các đối tượng người có công đều có gia đình và sống cùng với gia đình chỉ có một số ít sống cô đơn, bà mẹ Việt Nam anh hùng Hiện nay, trong toàn huyện có 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống, công tác chăm sóc đối tượng này thì vai trò của cộng đồng là rất lớn Đó
là các hoạt động thăm hỏi động viên tặng quà vào các ngày lễ tết, ốm đau nhằm củng cố một phần tinh thần những mất mát hy sinh mà họ phải gánh chịu
- Về nhà ở: Đa số người có công trên địa bàn huyện Anh Sơn đã có nhà xây, mái ngói, mái bằng kiên cố, một số nhà 2 tầng, 3 tầng Tuy nhiên một số
Trang 34bộ phận gia đình chính sách thuộc diện nghèo thì các đồ dùng sinh hoạt cũng hạn chế và chất lượng dưới mức trung bình Có 8 hộ gia đình chính sách còn gặp rất nhiều khó khăn
- Bên cạnh đó mức sống của các gia đình chính sách được biểu hiện như sau: Theo số liệu thống kê, điều tra hiện có 8.2% gia đình NCC có mức sống giàu; 38.2% có mức sống khá; 51.5% gia đình NCC có mức sống trung bình; 2.1% gia đình có mức sống thấp
2.2.2 Việc tổ chức triển khai công tác chăm sóc NCC trên địa bàn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách Ưu đãi xã hội đối với người có công đồng thời nhận thức rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc người có công, Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội huyện Anh Sơn đã tích cực triển khai nhanh chóng, kịp thời và chính xác những chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định của Nhà nước
Khi Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ra đời, căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền, UBND huyện
đã phối hợp chặt chẽ với UBMTTQ huyện và các tổ chức đoàn thể xã hội, tham mưu ban tổ chức thường vụ huyện uỷ thành lập ban chỉ đạo cấp uỷ ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện, tổ chức các hội nghị quán triệt, tổ chức tuyên truyền vận động sâu rộng trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở và trong mọi tầng lớp nhân dân để mỗi cán bộ chiến sĩ và người dân nhận thức và hiểu rõ chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với những người có nhiều cống hiến hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế cao cả
Trang 35Việc mở Hội nghị tuyên truyền sâu rộng trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở và mọi tầng lớp nhân dân giúp mỗi cấn bộ, người dân biết và hiểu rõ những điều kiện, tiêu chuẩn để xét duyệt người có công, các chế độ đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ Hơn nữa qua lớp tập huấn này các cấp chính quyền, cán bộ có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức, các nhân có liên quan ý thức được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của
họ Sâu sắc hơn nữa, việc tổ chức chỉ đạo các cơ quan tổ chức, cá nhân trong phong trào chăm sóc người có công chính là hoạt động Đền ơn đáp nghĩa thể
hiện đạo lí "Uống nước nhớ nguồn" đã có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam
2.2.3 Quy trình tiếp nhận, xác nhận, xét duyệt, giải quyết chế độ và quản lý hồ sơ đối tượng
2.2.3.1 Về công tác xét duyệt hồ sơ
Công tác xác nhận, xét duyệt và quản lý hồ sơ thương bệnh binh gia đình liệt sỹ và NCC với cách mạng là một trong những nội dung công việc thực hiện chế độ chính sách do nhà nước quy định Nó có ý nghĩa rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đối tượng hưởng ưu đãi đến sự công bằng, khách quan trong việc thực hiện chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Xét duyệt và quản lý hồ sơ của các đối tượng chính sách tốt và nghiêm túc là cơ sở pháp lý để thực hiện các chế độ chính sách ưu đãi
Hồ sơ là văn bản pháp lý để giải quyết các thắc mắc khướu nại của đối tượng Hồ sơ được đưa từ thôn lên, xã lên, được cán bộ chuyên môn thẩm định, xét duyệt, trình tổng hợp hồ sơ đối tượng định kỳ để Chủ tịch UBND huyện kí trước khi gửi lên Sở LĐ-TB&XH tỉnh Nghệ An
Trong 02 năm trở lại đây, toàn huyện đã xác nhận mới và giải quyết chế
độ cho hơn 824 đối tượng, trong đó TB và người hưởng chính sách như TB là
Trang 36hơn 56 người, 54 trường hợp là liệt sỹ, cán bộ hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa và bị bắt tù đày là 65 trường hợp, và hơn 600 trường hợp bị nhiễm chất độc màu da cam
2.2.3.2 Về công tác quản lý hồ sơ
Do đối tượng người có công trên địa bàn toàn huyện Anh Sơn chiếm tỷ
lệ khá lớn nên hồ sơ quản lý của các đối tượng mà cơ quan quản lý rất nhiều
và cũng gặp không ít khó khăn Phòng đã tổ chức quản lý, lưu trữ hồ sơ chặt chẽ đủ các giấy tờ biên bản theo quy định đúng các kiểu mẫu, theo cách quy định
Phòng quản lý hồ sơ của tất cả các đối tượng, gồm cả hồ sơ gốc lưu tại Phòng và lưu thông tin tổng hợp theo đơn vị hành chính xã/thị trấn trong máy
vi tính
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số loại giấy tờ trong hồ sơ do thời gian lâu nên hiện nay một số đã bị rách nát, cũ, mờ, thông tin khó đọc và việc sắp xếp hồ sơ của các đối tượng chính sách còn nhiều bất hợp lý, chưa đúng với quy định nên công việc rút hồ sơ của các đối tượng còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại
2.2.4 Những vướng mắc tồn đọng trong quá trình xét duyệt, công nhận các đối tượng chính sách
Một số đối tượng hoạt động trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thiếu hồ
sơ gốc mang tính pháp lý đối với người hoạt động không phải là đảng viên.Đối với người hoạt động ở cơ sở thì những người làm chứng còn thiếu sót.Một số liệt sỹ di chuyển hài cốt nhưng Bộ LĐTB & XH chưa có thông báo cho địa phương biết nơi an nghỉ của liệt sỹ, từ đó gây khó khăn cho thân nhân của liệt sỹ trong quá trình viếng thăm
Trang 37Một số liệt sỹkhông ghi tên vợ trong giấy báo tử nên giải quyết tuất cho
vợ liệt sỹ khi đến tuổi là rất khó khăn.
Một số đối tượng bệnh binh được xác nhận mất sức 61% trở lên xác nhận từ năm 1995 được giám định lại sức khỏe, mất sức lao động dưới 61% Nhà nước chưa có công văn thu lại thẻ cho những đối tượng này gây khó khăn cho công tác quản lý Bởi vì chỉ căn cứ vào thẻ mà xác nhận thì không đúng đối tượng quản lý, từ đó sẽ giải quyết sai hàng loạt chế độ ưu đãi học sinh - sinh viên, ưu tiên vay vốn, chế độ miễn giảm thuế
Nguyên nhân chính đó là do đối tượng chưa có đầy đủ giấy tờ theo quy định như:
- Giấy xác nhận của ban liên lạc nhà tù chưa đúng, chưa rõ ràng, có đối tượng bản khai bị địch bắt tù đày chưa khớp với giấy xác nhận của ban liên lạc nhà tù
- Một số đối tượng TB - BB làm mất giấy xác nhận hay giấy xuất ngũ
- Hồ sơ hoạt động kháng chiến, giải phóng dân tộc còn tồn đọng nhiều
hồ sơ không đúng, duyệt đối tượng hưởng chế độ hoạt động kháng chiến không đúng quy trình, đảng viên không duyệt qua Đảng ủy mà lại duyệt qua thi đua khen thưởng dẫn đến tình trạng khai man tuổi và thời gian công tác tham gia hoạt động kháng chiến
2.2.5 Tình hình thực hiện chính sách với đối tượng
2.2.5.1 Tình hình thực hiện chính sách, chế độ theo quy định của Nhà nước
- Tình hình thực hiện chế độ trợ cấp, phụ cấp cho người có công theo Nghị định 52/2011/NĐ - CP ngày 01/05/2011 của Chính phủ
Thực hiện theo Nghị định 52/2011/NĐ - CP ngày 01/05/2011 của Chính phủ về việc thực hiện chế độ trợ cấp, phụ cấp cho Người có công, thì trên địa
Trang 38bàn huyện Anh Sơn những đối tượng là NCC đã được hưởng các chế độ một cách đầy đủ và đúng với những đóng góp, cống hiến của mình Cụ thể:
- Đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 đến tổng khởi nghĩa tháng 8/1945( Cán bộ lão thành cách mạng và cán bộ tiền khởi nghĩa):
23 người đang được hưởng mức trợ cấp hàng tháng
- Có 673 người là thân nhân liệt sỹ cũng đang hưởng trợ cấp tiền tuất và trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng Trong đó có 22 thân nhân liệt sỹ hưởng mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân 2 liệt sỹ, 52 thân nhân liệt sỹ hưởng mức trợ cấp tuất nuôi dưỡng với số tiền hàng tháng là 1.565.000 đồng; còn
599 thân nhân liệt sỹ hưởng mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân 1 liệt sỹ với số tiền là 876.000 đồng/ tháng
- Có 3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng tiền trợ cấp hàng tháng với số tiền là 1.565.000 đồng/ tháng, 1 đối tượng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cũng đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng với số tiền là 735.000 đồng/ tháng
- Có 2 người tham gia kháng chiến bị địch bắt tù đày, trong đó 1 người bị địch bắt tù đày 3 năm hưởng mức trợ cấp 1.500.000 đồng, 1 người bị địch bắt
tù 5 năm với mức trợ cấp hàng tháng là 2.000.000 đồng
- Có 1.683 đối tượng là thương binh và người hưởng chính sách như thương binh cũng đang hưởng mức trợ cấp hàng tháng từ 590.000 đồng đến 2.810.000 đồng tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của họ
- Ngoài ra còn 587 đối tượng khác là bệnh binh, 23 đối tượng là thương binh loại B, cũng đang hưởng mức trợ cấp, phụ cấp hàng tháng theo Nghị định 52/2011/ NĐ - CP của Chính phủ
Trang 39Nhìn chung huyện Anh Sơn đã thực hiện chính sách ưu đãi đối với người
có công theo nghị định 52/2011/NĐ - CP của Chính phủ một cách nhanh chóng, kịp thời, tương đối tốt và phù hợp với đặc điểm cũng như nhu cầu của các đối tượng Cho đến nay, về cơ bản các đối tượng đã được hưởng các chế
độ ưu đãi một cách đầy đủ và cuộc sống đã ngày càng được nâng lên về mặt vật chất cũng như tinh thần nên sức khỏe của họ cũng được bảo đảm hơn
Bảng 2: Bảng tổng hợp kinh phí mua BHYT đối tượng ưu đãi người
Trang 409 Người hưởng trợ cấp phục vụ TB, BB bị mất sức lao
(Nguồn: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Anh Sơn)
Tính đến nay toàn huyện đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% đối tượng hưởng chính sách Cấp phát những dụng cụ thông thường và phương tiện chuyên dùng cho các đối tượng có nhu cầu như xe lăn, xe lắc và phục hồi chức cho đối tượng tại trung tâm phục hồi chức năng và chỉnh hình Vinh Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho các đối tượng TB, cán bộ các phòng y
tế đã đến tận xã, thị trấn khám chữa bệnh cho các đối tượng 2 – 3 lần/năm Bên cạnh đó thì UBND huyện cũng đã tổ chức chỉ đạo chăm sóc sức khỏe cho người có công thông qua các phong trào quần chúng với nhiều hình thức như khám sức khỏe, cấp thuốc định kỳ, lập số y tế chăm sóc tại nhà, tổ chức điều dưỡng tại gia và điều dưỡng tập trung…Tạo điều kiện thuận lợi cho khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng là người có công một cách tốt nhất
+ Thực hiện CSƯĐ về giáo dục - đào tạo
Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo phòng giáo dục thực hiện chính sách ưu đãi với con thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng, giúp đỡ và tạo điều kiện
để con em chính sách được học tập tốt hơn Điều này được thể hiện rõ trong xét tuyển tốt nghiệp, học sinh - sinh viên thuộc diện chính sách ưu đãi đang học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dự bị đại học,