1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Ứng dụng mạng xã hội trong mở rộng liên kết với khách hàng: Bài học kinh nghiệm và giải pháp cho các ngân hàng Việt Nam trong thời kì cách mạng 4.0

17 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 435,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết bàn về việc xây dựng một mạng lưới các trang mạng truyền thông bền vững và lành mạnh, để giúp ích không chỉ cho ngân hàng mà còn để bảo vệ cho quyền lợi của các khách hàng là một vấn đề quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng cũng như các nhà hoạch định chính sách cần lưu tâm. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG MỞ RỘNG LIÊN KẾT VỚI KHáCH HÀNG:

BÀI HỌC KINH NGHIệM VÀ GIẢI PHáP CHO CáC NGÂN HÀNG VIệT NAM TRONG THỜI KÌ CáCH MẠNG 4.0

Th.S Phan Thu Trang 1

Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Trong kỉ nguyên công nghệ hiện đại, các trang mạng xã hội đang dần thay thế các hình thức giao tiếp và kết nối truyền thống Việc ứng dụng mạng xã hội trong phát triển mạng lưới khách hàng là một giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở rất nhiều các quốc gia trên thế giới Hiện nay, các ngân hàng tại Việt Nam đã và đang triển khai áp dụng mạng xã hội và đạt được nhiều kết quả đáng ngạc nhiên Tuy nhiên, việc ứng dụng này cũng còn tồn tại một số hạn chế nhất định, ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh của ngân hàng Vì thế, việc xây dựng một mạng lưới các trang mạng truyền thông bền vững và lành mạnh, để giúp ích không chỉ cho ngân hàng mà còn để bảo vệ cho quyền lợi của các khách hàng là một vấn đề quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng cũng như các nhà hoạch định chính sách cần lưu tâm

Từ khoá: Mạng xã hội; Cách mạng 4.0

1 đẶT vấn đề

Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với vô số ứng dụng quan trọng về công nghệ thông tin đang ngày càng thâm nhập vào nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội và đời sống Hành vi và thói quen của con người đã và đang thay đổi để bắt kịp với sự phát triển này Đồng thời, các tiện ích về công nghệ và sự ra đời của nhiều trang mạng xã hội như Facebook; Twitter; LinkedIn; Youtube đã và đang đóng góp một vai trò to lớn trong việc thay đổi hành vi tiêu dùng của con người Nhu cầu của khách hàng ở hầu hết các lĩnh vực nói chung, đặc biệt đối với việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói riêng đang dần có xu hướng gia tăng Điều này đã khiến cho việc ứng dụng phương thức quản lý và tiếp cận khách hàng truyền thống trong quản trị ngân hàng trở nên lạc hậu Ứng dụng mạng xã

1 Email của tác giả: trangpt912@gmail.com

Trang 2

hội trong kết nối khách hàng nhằm gia tăng uy tín và lợi nhuận được coi là một giải pháp hữu hiệu đối với phát triển ngân hàng trong thời đại này

Tại Việt Nam, theo thống kê của Statista (2018), tính đến hết năm 2017, số người dùng Internet là 36,75 triệu người, ước tính đến năm 2022, con số này có thể lên tới 44,06 triệu So với các quốc gia tại châu Á, tốc độ tăng trưởng trong sử dụng Internet và các trang mạng truyền thông tại Việt Nam lên tới hơn 50% và người Việt Nam sử dụng hơn 5 giờ một ngày trên các trang mạng xã hội (We Are Social, 2015) Một khảo sát khác được thực hiện bởi Q&Me (2015) cho biết có tới 63% khách hàng có độ tuổi trên 35 có khuynh hướng sử dụng dịch vụ trực tuyến của các ngân hàng một cách thường xuyên Cùng với xu thế phát triển của cách mạng 4.0, sự phát triển của công nghệ và các trang mạng xã hội đã trở thành một biện pháp hiệu quả cho sự phát triển của các ngân hàng nói riêng và toàn bộ các doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực kinh doanh khác nhau nói chung tìm kiếm lợi nhuận, đổi mới hình ảnh, tiếp cận khách hàng và cả những nhu cầu như tuyển dụng hay mở rộng đào tạo

Chính vì vậy, bài viết nghiên cứu vai trò, chức năng, điểm mạnh và điểm yếu của việc ứng dụng mạng xã hội trong việc gắn kết khách hàng và thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng trong thời đại mới Tác giả cũng đưa ra một số kinh nghiệm trong việc áp dụng mạng xã hội tại ngành ngân hàng ở một số quốc gia và đề xuất một số giải pháp chính sách cho Việt Nam

2 sự pháT Triển Của mạng Xã hội và Cơ hội - TháCh ThứC Khi ứng dụng mạng Xã hội vào hoạT động Của CáC ngân hàng Thương mại Trong Thời đại mới

2.1 Sự ra đời và phát triển của các trang mạng xã hội

Sự phát triển của mạng xã hội là một chủ đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các học giả trên thế giới trong kỉ nguyên số hoá Nhìn chung, theo nghiên cứu của Antheunis và cộng sự (2010) cùng nghiên cứu của Boyd và Ellison (2007), mạng xã hội hoạt động theo nguyên tắc xây dựng một trang web mà trên đó cho phép người dùng tự tạo lập một trang thông tin riêng và từ đó tự tìm kiếm cũng như liên kết với những người dùng khác, nhằm thúc đẩy quá trình duy trì cũng như gắn kết các cá nhân trong xã hội mà tốn kém ít chi phí hơn so với các phương thức liên lạc truyền thống Bên cạnh đó, từ

“danh sách bạn bè” có sẵn, trang mạng còn sử dụng hệ thống công nghệ để chọn lọc và đưa ra những gợi ý kết nối mới, giúp người dùng mở rộng và tạo lập, cũng như kiểm soát những liên kết ưa thích hoặc không ưa thích

Trang 3

SixDegrees.com được coi là trang mạng xã hội đầu tiên với các chức năng cơ bản như tạo lập hồ sơ cá nhân, tìm và hiển thị danh sách bạn bè Đây là một điểm khá thú vị và đột phá của mạng xã hội vào thời điểm đó (Haythornthwaite, 2005) Sau SixDegrees com, một loạt các trang web với chức năng tương tự và có sự cải biến mới hơn chính là những cái tên như LiveJournal, BlackPlanet, AsianAvenue (năm 1999), Migente (năm 2000) hay AIM, ICQ buddy và Classmate.com Từ năm 2001, các trang mạng xã hội tiếp tục được cải tiến giúp người dùng kiểm soát mạng lưới kết nối của mình tốt hơn, cụ thể như Ryze, Cyworld (năm 2001); Friendster, Fotolog (2002), Tribe.net, Open BC/Xing, MySpace hay Hi5 (năm 2003) Kể từ năm 2003, sự ra đời của các trang mạng xã hội mới ngày càng dày đặc, dựa trên nguyên tắc tập trung vào hồ sơ cá nhân Năm 2004, mạng xã hội Flickr, Mixi ra đời Cũng vào năm này, mạng xã hội không chỉ giới hạn với con người mà thậm chí có cả các trang xã hội liên quan đến vật nuôi như Dogster hay Catster Ngoài ra, các mạng xã hội ra đời sau này còn chú trọng đến những nhóm đối tượng được phân chia theo lĩnh vực khác nhau, cụ thể như LinkedIn hay Visual Path (được thiết kế chuyên về mảng tìm kiếm và chia sẻ kinh nghiệm việc làm); Flicker hay Youtube (được thiết kế chuyên về mảng giải trí, hình ảnh và âm thanh) Sự ra đời của Facebook (năm 2004) ban đầu giới hạn trong các sinh viên trường đại học Havard đã mở ra một làn sóng mới trong việc sử dụng mạng xã hội Sau khi Facebook mở rộng hoạt động với tất cả mọi người trên các quốc gia, tính đến quý 1 năm 2018, trang mạng này đã thu hút tới 2.19 tỷ người dùng đang hoạt động hằng tháng (Statista, 2018) Có thể nói, ngày nay, các trang mạng xã hội không chỉ đơn thuần là một xu thế mới, mà nó đã trở thành một hiện tượng có tầm ảnh hưởng đến hầu hết các cá nhân ở các quốc gia trên toàn thế giới Bảng 1 so sánh số lượng người dùng của các trang mạng xã hội lớn nhất trên thế giới hiện nay theo một nghiên cứu của Statista thực hiện vào cuối tháng 04/2018 Trong nghiên cứu này, Facebook đang là mạng xã hội lớn nhất, tiếp theo sau là Youtube, WhatsApp, Facebook Messenger và WeChat Nghiên cứu còn chỉ ra lứa tuổi sử dụng mạng xã hội nhiều nhất là từ 18 - 34 tuổi, trong đó nam giới có tỷ lệ sử dụng mạng xã hội nhiều hơn nữ giới vào khoảng 10% Tại Mỹ, Facebook cũng là trang mạng phổ biến nhất với con số khoảng 62% người trưởng thành sử dụng (theo Pew Research Centre, 2015) Con số này lần lượt là 28%, 26% và 22%, 20% với Instagram, Pinterest, LinkedIn và Twitter - bốn mạng xã hội lớn tại Mỹ, tính tới năm 2015

Trang 4

Bảng 1: Số người sử dụng đang hoạt động hằng tháng của một số trang mạng xã hội lớn trên toàn cầu

Đơn vị: triệu người

Nguồn: Statista, 2018

2.2 Ứng dụng mạng xã hội vào phát triển hoạt động ngân hàng trong thời đại mới

Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng các trang mạng xã hội có một vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa ngân hàng và khách hàng Thực tế cho thấy, hình thức

sử dụng chiến lược truyền thông thông qua mạng xã hội có thể tác động đáng kể không chỉ đối với việc tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng mà còn giúp họ quản lý rủi ro trong quan hệ tín dụng với khách hàng tốt hơn, thiết kế được nhiều sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu khách hàng hơn, hay dự báo kinh doanh, định hướng khách hàng tốt hơn Nhìn chung, có thể liệt kê một số tác dụng và ứng dụng mạng xã hội vào việc phát triển hoạt động ngân hàng như sau:

(1) Sử dụng mạng xã hội nhằm gia tăng mức độ tương tác và kết nối với khách hàng

Theo nghiên cứu của Harazika và Nag (2014), mức độ tương tác của người tiêu dùng trong nước với thương hiệu đã sử dụng mạng xã hội còn tăng nhanh hơn gấp 9 lần

so với mức gia tăng trong số lượng của các trang mạng xã hội nói chung Ngoài việc có

Trang 5

địa chỉ liên lạc trực tuyến và kết nối thông qua mạng xã hội, khách hàng ngày nay còn mong đợi được lắng nghe, được trả lời và cung cấp dịch vụ thông qua các phương tiện truyền thông Cụ thể, người tiêu dùng gia tăng mức kỳ vọng rằng các ngân hàng có thể sẽ cung cấp dịch vụ khách hàng nhanh và hiệu quả hơn; tư vấn tài chính kịp thời; chia sẻ các tài liệu quan trọng trong việc quản trị ngân hàng, các quy định và sự thay đổi trong cơ chế quản lý ngân hàng hay các sự kiện, sản phẩm mới của ngân hàng Tuy nhiên, thông thường, ở hầu hết các quốc gia, thời gian trả lời trung bình cho các yêu cầu của khách hàng về truyền thông xã hội từ ngân hàng và nhà cung cấp dịch vụ tài chính là 10 giờ và hơn hai trong số ba yêu cầu của khách hàng không được trả lời

(2) Sử dụng mạng xã hội để định hình và phân khúc khách hàng, hướng tới nhóm khách hàng mục tiêu và tăng lợi nhuận

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hành vi, phương thức sử dụng hay mức độ tương tác của các thế hệ đối với hình thức ngân hàng trực tuyến và mạng xã hội của các ngân hàng trong thời kì hiện đại Nhìn chung, có thể chia đối tượng người sử dụng các dịch vụ này

ra thành ba nhóm: nhóm thế hệ Baby Boomers (sinh trong giai đoạn từ năm 1946 tới năm 1964); nhóm thế hệ X (gen X - sinh trong giai đoạn từ năm 1965 - 1980); nhóm thế hệ Y (gen Y - sinh trong giai đoạn từ 1980 tới 2000) Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ

ra đối tượng chủ yếu sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến thường rơi vào các cá nhân trong thế hệ X và thế hệ Y Theo Heaney (2007), khi nghiên cứu tại thị trường Úc - một trong số những quốc gia có mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến cao nhất trên thế giới - đã cho thấy số lượng người thuộc thế hệ X tham gia khảo sát sử dụng dịch vụ ngân hàng qua Internet và các trang mạng xã hội lớn hơn so với thế hệ Y, nhưng người dùng ở thế hệ Y lại sử dụng ngân hàng qua Internet thường xuyên hơn, sử dụng nhiều sản phẩm ảo hơn và trong thời gian dài hơn Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra khách hàng tin rằng các ngân hàng có cung cấp kịp thời thông tin và các dịch vụ trực tuyến cũng như tương tác thông qua các hình thức mạng xã hội có chất lượng cao hơn so với các ngân hàng không cung cấp những dịch vụ này Nghiên cứu sau này thực hiện tại thị trường Úc của Linchstein và Williamson (2007) đề xuất rằng các ngân hàng vẫn cần cung cấp cả phương tiện ngân hàng trên Internet và nên giải quyết những lo ngại về an ninh mạng để có thể nâng cao vị thế và độ tin tưởng của khách hàng

Nghiên cứu của EFMA và Oracle (2011) có đưa ra nhận định rằng, ngân hàng không thể bỏ qua đối tượng khách hàng ở thế hệ Y (GenY) GenY có thể trở thành giàu có nhất

từ trước tới nay với mức thu nhập tích luỹ có thể tăng thêm tới 85% trong vòng 10 năm tới và khả năng vượt qua những thế hệ trước về tổng thu nhập (Deloitte, 2008) Một số khảo sát thực hiện bởi EFMA và Oracle (2011) trên các ngân hàng đã cho thấy sự chuyển

Trang 6

hướng trong ưu tiên đối với phân khúc khách hàng nói trên 42% trong số các ngân hàng tham gia khảo sát đã xây dựng các chiến lược riêng để tiếp cận đối tượng khách hàng thuộc thế hệ Y, con số này tăng hơn 11% so với con số thu được khi thực hiện một khảo sát tương tự năm 2010 Điều đáng nói, các cá thể thuộc thế hệ Y chính là những đối tượng đầu tiên tiếp cận công nghệ hiện đại và các mạng xã hội Ngày nay, các phương thức tiếp cận và marketing trực tiếp như chào mời bán sản phẩm trực tiếp; giới thiệu sản phẩm thông qua tiếp cận mặt đối mặt hay các thiết bị di động với khách hàng tỏ ra kém hiệu quả hơn, đặc biệt là khi áp dụng với thế hệ Y Hơn nữa, sự thịnh hành của các trang mạng xã hội như Facebook; Twitter; Instagram; LinkedIn đã mở ra một hướng đi mới Như vậy, việc thiết lập một mạng lưới liên kết thông qua phát triển mạng xã hội nhằm gắn kết khách hàng là một gợi mở tiềm năng đối với sự phát triển hệ thống ngân hàng

(3) Ngân hàng có thể thu thập các thông tin của khách hàng, từ đó mở rộng và phát triển các sản phẩm mới để phù hợp với nhu cầu của khách hàng

Việc phát triển mạng lưới các trang mạng xã hội giúp ngân hàng thu thập được một khối lượng dữ liệu thông tin lớn để giúp ngân hàng nâng cao chất lượng sản phẩm và dễ dàng hướng tới các đối tượng khách hàng tiềm năng, từ đó nâng cao lòng tin, sự trung thành của khách hàng Sử dụng mạng xã hội trong phát triển hệ thống ngân hàng sẽ gíup các ngân hàng có thêm cơ hội để đầu tư vào các công cụ mới và thiết lập các chỉ số mới Cụ thể, các ngân hàng sẽ phân tích các thông số về khách hàng tiềm năng, xác định dịch vụ và sản phẩm tiềm năng hoặc tìm cách cải tiến hệ thống các sản phẩm và dịch vụ sẵn có Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh cho bản thân ngân hàng và khách hàng, khi áp dụng mạng truyền thông vào làm hình thức tiếp cận, các ngân hàng sẽ có cơ hội được thiết lập lại hạ tầng hệ thống công nghệ thông tin, mang lại cho khách hàng những trải nghiệm an tâm và độc đáo hơn so với các đối thủ cạnh tranh (Harazika và Nag, 2014) Khi hệ thống công nghệ thông tin hoạt động hiệu quả, các ngân hàng sẽ có thể gia tăng giao tiếp hai chiều với khách hàng, và từ đó có thể tập trung nguồn lực tối đa với các sản phẩm và hoạt động chiến lược Điều này đồng thời sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu các chi phí không cần thiết với các dịch vụ mang lại ít giá trị và lợi nhuận cho ngân hàng Bên cạnh những thuận lợi khi áp dụng mạng xã hội vào nâng cấp hệ thống ngân hàng trong thời kì cách mạng 4.0, các trang mạng truyền thông cũng tiềm ẩn nhiều hạn chế khi đưa vào hoạt động thực tiễn

Dưới góc độ những nhà quản lý ngân hàng, không phải khi nào mạng xã hội cũng là

nơi giải quyết được toàn bộ phản hồi và báo cáo của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ của họ Khi khách hàng sử dụng những sản phẩm truyền thông để chia sẻ ý kiến

Trang 7

về sản phẩm và dịch vụ, các ngân hàng buộc phải kịp thời lắng nghe và học hỏi, chỉnh sửa cho phù hợp Vì thế, thay vì chính sách quản trị như trong những giai đoạn trước, khi ngân hàng hoàn toàn nắm vai trò chủ động trong việc định hướng khách hàng, thì giờ ngân hàng luôn phải thay đổi và nâng cao việc giao tiếp hai chiều để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng Như vậy, để tăng cường khả năng tương tác, các ngân hàng buộc phải xây dựng một bộ phận công nghệ thông tin với khả năng tổng hợp và phân tích về nhu cầu, mong muốn và hành vi của khách hàng để có hướng phát triển tối ưu Điều này có thể dẫn tới việc gia tăng chi phí cho các ngân hàng Hơn nữa, bất kỳ một thông tin bất lợi nào đến từ phản hồi của một khách hàng sẽ ngay lập tức được lan truyền với tốc độ nhanh và ảnh hưởng đến hình ảnh của ngân hàng trên mạng xã hội cho dù thông tin đó là đúng hay sai Thêm vào đó, mạng xã hội là nơi để người sử dụng có thể dễ dàng đưa các thông tin dưới rất nhiều dạng khác nhau, dễ dẫn tới gây nhiễu thông tin tương tác giữa ngân hàng và khách hàng Ngoài ra, chỉ cần có những bình luận trái chiều hoặc tiêu cực về sản phẩm hay dịch vụ cũng có sức ảnh hưởng to lớn tới lợi nhuận và uy tín của ngân hàng (Kumar & Mittal, 2011)

Dưới góc độ khách hàng, sử dụng mạng công nghệ cũng là một con dao hai lưỡi

Thông thường, việc sử dụng và quyền kiểm soát dữ liệu công nghệ không chỉ giới hạn trong ngân hàng, khách hàng mà còn có một bên thứ ba hỗ trợ cho việc phát triển công nghệ này Theo đó, các kẽ hở của bên thứ ba cung cấp dịch vụ có thể vô hình chung làm nâng cao khả năng xâm nhập để đánh cắp thông tin khách hàng, gây tổn thất cho khách hàng và làm hạ thấp uy tín của ngân hàng liên quan Để hạn chế được điểm yếu này, nhu cầu bức thiết cho các ngân hàng chính là quy định cụ thể về việc công khai thông tin,

từ đó giúp bảo vệ cho dữ liệu của các cá nhân khách hàng tới mức cao nhất (Suvarra và Banerjee, 2014) Sự ra đời của các trang mạng xã hội và mức mở của các trang mạng này giúp cho không chỉ một mà còn là cả hệ thống tham gia vào quá trình kết nối với khách hàng Vì thế, sự xuất hiện của nhiều đối thủ với các hình thức mới, phương thức quảng cáo và dịch vụ, sản phẩm mới mang tính chất trực tuyến về lâu dài sẽ làm ảnh hưởng tới việc lựa chọn của khách hàng, gây khó khăn cho việc lựa chọn của khách hàng và đẩy các ngân hàng đến việc cạnh tranh cao hơn Bên cạnh đó, việc mở rộng các giao dịch và tư vấn khách hàng trực tuyến sẽ làm co hẹp các dịch vụ ngân hàng truyền thống

3 ứng dụng mạng Xã hội Trong hoạT động ngân hàng hiện đại và bài họC Kinh nghiệm Tại mộT số quốC gia

Theo một nghiên cứu của Lee và cộng sự năm 2013, các ngân hàng nhìn chung có xu hướng thực hiện ba bước chính trong quản lý và kết nối khách hàng thông qua các trang

Trang 8

mạng xã hội, cụ thể là: (1) tạo môi trường kinh doanh mang tính chiến lược; (2) hợp nhất các khối tương tác với khách hàng cũng như khối hỗ trợ để tạo nên một mô hình thống nhất, đặc biệt là khi tư vấn cho khách hàng; (3) thử nghiệm, áp dụng, mở rộng các kênh mạng xã hội và liên tục đánh giá hiệu quả của việc áp dụng

Sau khi xây dựng một môi trường ứng dụng mạng xã hội vào hoạt động, các ngân hàng cũng cần thiết lập các chỉ số chính về hoạt động nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng đó Harazika và Nag (2014) đưa ra ba chỉ tiêu chính:

(1) Chỉ tiêu quan sát: trả lời các câu hỏi về chất lượng và hiệu quả của các biện pháp truyền thông; khối lượng và mức chia sẻ thông tin truyền thông trên các kênh; các nhận xét tiêu cực/tích cực;

(2) Chỉ tiêu tham gia: con số người tham gia theo dõi; số lượng phản hồi và phản ứng đối với các thông tin ngân hàng công bố; tốc độ phản ứng đối với thông tin ngân hàng công bố;

(3) Chỉ tiêu hợp nhất: doanh số bán hàng và dịch vụ gia tăng hay sụt giảm; chất lượng giao tiếp hai chiều trong tương quan với mong muốn của khách hàng

Có thể nói, việc ứng dụng thông qua tạo lập môi trường thử nghiệm mạng xã hội và việc đánh giá các chỉ tiêu thực hiện là một khâu quan trọng trong gắn kết các phương tiện truyền thông đó với khách hàng tiềm năng của ngân hàng Hầu hết các ngân hàng đã hiện diện trên các trang mạng truyền thông khác nhau Các ngân hàng lớn như ngân hàng Barclays, Citigroup Inc., HSBC, NatWest và các ngân hàng lớn khác đều đã tham gia vào mạng xã hội Theo khảo sát của Havard Business Review (2010), có 50% trong số tổ chức tài chính tham gia khảo sát đã tham gia vào hệ thống các trang mạng xã hội, 25% dự định sử dụng các trang mạng xã hội và gần 22% không có dự định tham gia sử dụng các trang mạng xã hội tính tới cuối năm 2010 Điều này cho thấy, việc thiếu liên kết trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có thể khiến cho các tổ chức tài chính tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh Sau đây, tác giả đưa ra một số bài học kinh nghiệm khi áp dụng mạng xã hội vào hoạt động ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới

Ứng dụng mạng xã hội tại các ngân hàng ở Mỹ

Theo khảo sát Power 100 của The Financial Branch nghiên cứu về mức độ được

ưa thích của các ngân hàng trên các trang mạng xã hội nói chung, tính tới quý 1 năm

2018, các ngân hàng tại Mỹ với thứ hạng cao bao gồm Wells Fargo (với 1.056.074 người

ưa thích trên Facebook; 278.678 người theo dõi trên Twitter và 178.183.826 lượt xem

Trang 9

trên YouTube); Citi (với 1.191.023 người ưa thích trên Facebook; 924.429 người theo dõi trên Twitter và 24.712.394 lượt xem YouTube); Chase (với 4.021.389 người ưa thích trên Facebook; 357.821 người theo dõi trên Twitter và 8.491.375 lượt xem YouTube); Capital One (với 4.282.502 người ưa thích trên Facebook; 167.931 người theo dõi trên Twitter và 7.609.660 lượt xem YouTube) Hiệp hội Ngân hàng Hoa Kỳ (American Bankers Association) thực hiện một khảo sát trên 800 ngân hàng tại Mỹ năm 2017, và đã đưa ra một số kết luận quan trọng, cụ thể là có tới 76% trong số các ngân hàng tham gia khảo sát đồng tình rằng mạng xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngân hàng thời đại mới và 54% trong số đó có liên kết với bên thứ ba để tăng cường kết nối với khách hàng Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra, các ngân hàng nên có một mục tiêu cũng như kế hoạch cụ thể để kết nối với các khách hàng mà ngân hàng hướng tới hay mức độ tích cực trong hoạt động và tần suất đăng tải bài viết trên các trang mạng xã hội

Ứng dụng mạng xã hội tại các ngân hàng tại Anh

Cũng theo khảo sát của The Financial Branch (2018), các ngân hàng tại Anh lại không nhận được mức độ ưa thích cao như các ngân hàng Ấn Độ hay Mỹ Cụ thể, HSBC đứng thứ 24 trong danh sách Power 100, trong khi UBS; Santander; Barclays; Natwest; Standard Chartered Co-Operative Bank; Lloyds; RBS; Virgin Money lần lượt xếp thứ 25,

32, 36, 38, 48, 64, 67, 89 và 93 trong danh sách đó Vào thời kì đầu tham gia mạng xã hội, các ngân hàng lớn này tỏ ra khá hạn chế trong việc sử dụng mạng xã hội để liên kết khách hàng HSBC khi mới tham gia chỉ duy trì được 2000 lượt theo dõi trên Twitter; Barclays chỉ với 79 bài viết và hoạt động của Barclays lúc đó chỉ đơn thuần là duy trì trạng thái trực tuyến nhưng không sử dụng bất cứ một tính năng nào của các mạng xã hội Tuy nhiên, dưới áp lực cải tiến trên toàn cầu, cũng như như cầu bức thiết về việc kết nối trên mạng xã hội, các ngân hàng ở Anh đã không ngừng cải tiến và thay đổi mạnh mẽ trong chiến lược truyền thông Hiện nay, HSBC đứng đầu trong các ngân hàng tại Anh trong việc ứng dụng các trang mạng xã hội trong liên kết khách hàng, với 2.243.853 lượt thích trên Facebook; 170.000 người theo dõi trên Twitter và 7.857.197 lượt xem trên Youtube tính tới quý I/2018

Ứng dụng mạng xã hội tại các ngân hàng ở Philippines và Malaysia

Các ngân hàng Philippines (BDO; Security và Bank of Philippines Islands) và Malaysia (CMIB; Maybank; Hong Leong; OCBC) là một số ngân hàng hiếm hoi ở Đông Nam Á có tên trong 100 ngân hàng có mức độ liên kết trên mạng xã hội tốt nhất trên thế giới Tính tới cuối năm 2012, số lượng tài khoản Facebook ở Malaysia lên tới 13.589.520 tài khoản, đứng thứ tám ở châu Á và thứ 21 trên thế giới (Internet World Stats, 2013) Cụ

Trang 10

thể, 34,5% là những người trong độ tuổi 18 - 24, 29,5% là những người trong độ tuổi 25

- 34 và 16,3% là những người trong độ tuổi 13 - 17 (Talip, 2013) Với những con số này, cũng không có gì ngạc nhiên khi các ngân hàng tại Malaysia liên tục sử dụng Facebook như một công cụ quan trọng để nâng cao việc phát triển sản phẩm mới, liên kết với khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ Nghiên cứu của Panjamorthy năm 2013 về mức độ hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ trên các mạng xã hội cho thấy 61% trong tổng số người tham gia có xu hướng tiếp tục trung thành với ngân hàng mà họ sử dụng dịch vụ vì các mạng truyền thông và xã hội của các ngân hàng có chất lượng tương đối ổn định; 69% trong số đó nêu rõ họ bị ảnh hưởng bởi các nhận định tiêu cực liên quan tới các bình luận về ngân hàng trên mạng xã hội Đối với nền kinh tế tại những quốc gia Đông Nam Á, việc xây dựng và phát triển một mạng lưới truyền thông thân thiện với người dùng, dễ sử dụng và có tính cập nhật cao chính là một giải pháp để nâng cao tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng tại các nước này (Goi, 2014)

Ứng dụng mạng truyền thông tại châu Phi

Tại các quốc gia ở châu Phi, việc phát triển mạng xã hội có thể giúp giải quyết những khó khăn trong việc truyền tải thông tin trên diện rộng và giúp ngân hàng có thể tiếp cận nhanh chóng với những phản hồi của khách hàng Chính vì thế, các ngân hàng ở châu Phi đã có xu hướng tiếp cận các phương thức truyền thông này, và cho tới quý 1 năm 2018, GTBank, Zenith Bank; United Bank for Africa; Access; First Bank; Diamond; Fidelity; Stanbic IBTC; First City Monument; Sterling; Skye Bank là những cái tên xuất hiện trong Power 100 dựa trên mức độ phổ biến trên mạng xã hội (The Financial Branch, 2018) Rõ ràng, với những quốc gia đang phát triển và các thị trường mới nổi với khối lượng khách hàng tiềm năng đông đảo, các trang mạng truyền thông chính là biện pháp hiệu quả cho sự phát triển của các ngân hàng

4 ứng dụng mạng Xã hội Trong hệ Thống CáC ngân hàng Thương mại việT nam

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đều đã có các trang web riêng với những nội dung chính liên quan đến các lịch sử hình thành phát triển của ngân hàng, thông tin đầu tư, dịch vụ thanh toán, các cơ hội việc làm và những thông tin tài chính quan trọng khác Tuy nhiên, bên cạnh website chính, một số ngân hàng lớn đã sử dụng các trang mạng xã hội lớn như Facebook, Twitter, LinkedIn, Youtube để mở rộng thị phần Số liệu trong bảng 2 cập nhật về mức độ được ưa thích của các ngân hàng Việt Nam trên các trang mạng xã hội

Ngày đăng: 04/09/2021, 18:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w