1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh

135 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Kiểu Bài Ôn Tập Văn Học Trong Chương Trình Ngữ Văn Trung Học Phổ Thông Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Của Học Sinh
Tác giả Trương Văn Hoàng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Thể loại luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯƠNG VĂN HOÀNG DẠY HỌC KIỂU BÀI ÔN TẬP VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỆ

Trang 1

TRƯƠNG VĂN HOÀNG

DẠY HỌC KIỂU BÀI ÔN TẬP VĂN HỌC

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

TRƯƠNG VĂN HOÀNG

DẠY HỌC KIỂU BÀI ÔN TẬP VĂN HỌC

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành:Lý luận và phương pháp dạy học môn Ngữ văn

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép và chưa từng công bố trong một công trình nào khác

Bình Dương, tháng 07 năm 2016

Tác giả Trương Văn Hoàng

Trang 4

Quang, người đã định hướng cho tôi trong việc lựa chọn đề tài, đồng thời đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin được chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô trong Tổ Phương pháp giảng dạy đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành được luận văn này

Tôi xin cám ơn tất cả đồng nghiệp, các em học sinh các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã quan tâm, hỗ trợ, khích lệ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Bình Dương, tháng 07 năm 2016

Tác giả

Trương Văn Hoàng

Trang 5

VÀ CÁCH CHÚ THÍCH TRÍCH DẪN

GV : Giáo viên

HS : Học sinh Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông PPDH : Phương pháp dạy học

TN : Thực nghiệm

ĐC : Đối chứng

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Số thứ tự tài liệu trước, số trang đứng

sau Ví dụ: [25; 40] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo

là 25, nhận định trích dẫn nằm ở trang 40 của tài liệu này

Trang 6

Bảng 1.1 Thống kê số lượng bài ôn tập trong chương trình Ngữ văn THPT 19 Bảng 1.2 Bảng so sánh Phân phối chương trình/ SGK môn Ngữ văn THPT

giữa hệ Cơ bản và Nâng cao phần ôn tập văn bản văn học 21 Bảng 2.1 Hướng dẫn ôn tập trong chương trình / SGK Cơ bản môn Ngữ

văn THPT 48 Bảng 2.2 Hướng dẫn ôn tập trong chương trình/ SGK Nâng cao môn Ngữ

văn THPT 50

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phạm vi tài liệu khảo sát 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Phương pháp dạy học tích cực – một số giới thuyết khái lược 11

1.1.1 Khái niệm “Phương pháp dạy học tích cực” 11

1.1.2 Bản chất phương pháp dạy học tích cực 12

1.2 Tổng quan về chương trình Ngữ văn và kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay 16

1.2.1 Tổng quan về chương trình Ngữ văn ở trường THPT 16

1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT 18

1.2.3 Đặc điểm kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT 19 1.3 Những khó khăn trong việc dạy học kiểu bài ôn tập văn học và ý nghĩa của việc dạy kiểu bài ôn tập theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh (tư liệu khảo sát trên địa bàn tỉnh Bình Dương) 26

1.3.1 Thực trạng dạy – học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT 26

1.3.1.1 Những khó khăn xét từ đặc trưng của kiểu bài ôn tập văn học 26

1.3.1.2 Những khó khăn xét từ môi trường và điều kiện xã hội 30

1.3.1.3 Những khó khăn về phía giáo viên 32

Trang 8

hóa hoạt động của học sinh 34

Chương 2 BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN TẬP VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA 36

2.1 Những định hướng dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS 36

2.1.1 Xây dựng tâm thế học tập tích cực cho học sinh khi tiến hành ôn tập văn học 36

2.1.2 Xác định chính xác, cụ thể mục tiêu cần đạt của bài ôn tập văn học 40

2.1.3 Kết hợp chặt chẽ hoạt động ôn tập ở nhà và ở lớp 42

2.1.4 Linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp và hình thức ôn tập 46

2.2 Những biện pháp hướng dẫn học sinh ôn tập văn học 47

2.2.1 Hướng dẫn học sinh viết đề cương tóm tắt, hệ thống hóa nội dung ôn tập 52

2.2.2 Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, bản đồ tư duy mô tả các nội dung ôn tập 55

2.2.3 Hướng dẫn học sinh đọc SGK, sách tham khảo 60

2.2.4 Hướng dẫn học sinh thực hiện luyện tập 63

2.2.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả ôn tập 66

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 68

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 68

3.2 Kế hoạch thực nghiệm 68

3.2.1 Thời gian thực nghiệm 68

Trang 9

3.2.4 Đối tượng thực nghiệm 69

3.3 Thiết kế giáo án bài học thực nghiệm 70

3.3.1 Giáo án 1: Ôn tập văn học lớp 10 (phần văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc) 70

3.3.2 Giáo án 2: Ôn tập văn học lớp 11 (phần văn học trung đại Việt Nam và văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX – 1945) 70

3.3.3 Giáo án 3: Ôn tập văn học lớp 12 (phần văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX) 70

3.4 Tổ chức thực nghiệm 104

3.4.1 Nội dung thực nghiệm 104

3.4.2 Cách thức thực nghiệm 105

3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 105

3.5.1 Tiêu chí đánh giá 105

3.5.1.1 Về định tính 105

3.5.1.2 Về định lượng 105

3.5.2 Hình thức kiểm tra, đánh giá 106

3.5.2.1 Về phía giáo viên 106

3.5.2.2 Về phía học sinh 106

3.5.3 Kết quả kiểm tra, đánh giá 106

3.5.4 Kết luận thực nghiệm 109

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn hiện nay

Chương II, Điều 28 của Luật Giáo dục qui định rất đầy đủ, cụ thể, về

“Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông”, trong đó có qui định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [25; 40] Như vậy, mục tiêu quan trọng hàng đầu của giáo dục hiện nay là đào tạo thế hệ trẻ thành những người năng động, tích cực, tư duy sáng tạo, có kiến thức và tự tin áp dụng kiến thức

đã học vào đời sống Để thực hiện mục tiêu trên, trong những năm gần đây, ngành giáo dục không ngừng đổi mới bằng các giải pháp: Cải cách chương trình, sách giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá và đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học

Giảng dạy Ngữ văn đã có những bước chuyển mình để phù hợp với yêu cầu đổi mới Cụ thể, các văn bản được chọn đưa vào chương trình giảng dạy hướng đến bồi dưỡng và nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh, từ

đó góp phần rèn luyện nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn người học Tuy nhiên, thực trạng học Ngữ văn hiện nay thật đáng lo ngại, hiện tượng học sinh lạnh nhạt, mất dần hứng thú học văn ngày càng phổ biến Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng có lẽ một trong những nguyên nhân chủ yếu là phương pháp dạy học chưa phù hợp, chưa tạo hứng thú cho người học

Như vậy, có thể khẳng định phương pháp giảng dạy tác động rất lớn,

Trang 11

quyết định thành công hay thất bại của giờ lên lớp Đổi mới phương pháp dạy văn là yêu cầu cấp thiết hiện nay

1.2 Xuất phát từ những khó khăn khi dạy tiết ôn tập văn học trong nhà trường phổ thông hiện nay

Dạy văn đã khó, dạy kiểu bài ôn tập càng khó hơn

Thứ nhất, nội dung ôn tập thường rất phong phú, là kiến thức cả học kì, liên quan nhiều lĩnh vực như về văn học sử, về các tác gia, các tác phẩm văn học cụ thể… nhưng thời gian quá ngắn, thường chỉ trong một đến hai tiết, khó

để có thể truyền tải hết nội dung trên

Thứ hai, không ít người đánh giá kiểu bài ôn tập là rất khô khan và nội dung kiến thức quá dài, nặng Bởi vậy nên nhiều giáo viên chọn phương pháp thuyết giảng để đảm bảo thời gian, dẫn đến thực trạng học sinh không làm việc mà tiếp thu một cách thụ động chán nản, uể oải

Thứ ba, một nội dung quan trọng trong bài ôn tập là văn học sử, đây là kiến thức gắn liền với các sự kiện lịch sử, đòi hỏi khả năng vận dụng kiến thức liên môn để nắm vững bài học Nhưng thực tế thì đa phần học sinh chưa nhận ra mối liên quan chặt chẽ giữa các môn học (cụ thể là mối liên quan giữa môn lịch sử và văn học), các em cũng chưa biết tích hợp nên hiệu quả không cao

Thứ tư, như đã nói ở trên, bài ôn cuối kì nên nội dung kiến thức rộng khiến học sinh lúng túng khi liên hệ, hệ thống hóa kiến thức Cụ thể là học sinh rất lúng túng khi phát biểu ý kiến, trình bày suy nghĩ, nhất là khi cần dẫn chứng chứng minh một vấn đề nào đó

Làm thế nào để khắc phục những khó khăn trên, để học sinh học văn, học kiểu bài Ôn tập văn tốt hơn, hiệu quả hơn, đó là vấn đề cấp thiết mà những người quan tâm đến giáo dục, quan tâm đến giảng dạy Ngữ văn mong muốn giải quyết

Trang 12

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh” để làm đề tài nghiên cứu cho mình Qua đây, người viết mong đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm những phương pháp tốt nhất trong giảng dạy ngữ văn nói chung và giảng dạy kiểu bài ôn tập văn học nói riêng

Trước hết, cần nhắc tới các công trình nghiên cứu về giáo học pháp của nhà giáo, nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận, người có nhiều đóng góp lớn cho chuyên ngành phương pháp dạy học bộ môn văn Nhiều công trình nghiên cứu của ông đã giúp cho các thế hệ giáo viên văn tìm được con đường dạy học đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đạt được mục tiêu giáo dục và đào tạo Năm 1987, cùng với Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế

Phiệt, ông đã cho ra đời cuốn Phương pháp dạy học văn đã đề cập đến

Trang 13

phương pháp dạy học cho tất cả các phân môn Như vậy, dù là kiểu bài nào, tác phẩm, tác gia, văn học sử hay là bài ôn tập thì vẫn có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong chương trình môn Ngữ văn bậc THPT Trên cơ sở đó, họ đã

đề xuất một số phương pháp dạy học văn học như sau: “Dạy bài tác gia cũng như bài về tác phẩm, về giai đoạn hay bài tổng kết văn học đều phải vận dụng

phối hợp phương pháp lịch đại và phương pháp đồng đại” [35, 268] Đây là

một công trình có ý nghĩa quan trọng, không chỉ trong nghiên cứu mà còn cả trong giảng dạy Công trình vừa là giáo trình giảng dạy chính thức của nhiều trường Đại học Sư phạm; vừa định hướng, mở đường cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn sau này Tuy nhiên do sách ra đời đã lâu, trong khi Giáo dục thì không ngừng đổi mới Chương trình THPT – chương trình SGK môn Ngữ văn đã qua nhiều đợt cải cách, chỉnh lí Vì lẽ đó

mà nhiều vấn đề đã ít nhiều giảm tính thời sự, cập nhật

Như để khắc phục những hạn chế đã nêu, chuyên luận Văn học nhà

trường - Nhận diện-Tiếp cận-Đổi mới (2007) của Phan Trọng Luận đã kịp

thời ra mắt, đặt ra vấn đề cần phải nhận diện đúng bản chất, đặc thù của văn học nhà trường, cần phải có phương pháp tiếp cận hệ thống đối với một vấn

đề phức tạp và nhạy cảm là dạy học văn trong nhà trường

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, cũng đã công bố nhiều công

trình liên quan đến dạy học văn Trong bài viết, Môn Văn thực trạng và giải

pháp, phần về phương pháp giảng dạy Văn, ông đề nghị: "Cần phải đổi thay

cách dạy hiện hành bằng cách dạy chậm và kỹ Không nhất thiết phải dạy dàn đều mọi bài trong sách giáo khoa Cách dạy hiện thời chưa đào tạo năng lực

sáng tạo và kích thích việc sáng tạo" [59, 104] Trong bài viết Con đường đổi

mới căn bản phương pháp dạy - học văn, Văn nghệ số 10, 7-3-2009, Ông

khẳng định “Nhưng dù giáo viên giỏi mấy cũng không thay thế được vai trò chủ thể của trò Tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm chủ yếu là coi trọng tinh

Trang 14

thần, ý thức chủ thể của trò trong hoạt động học tập Trong giờ học trò phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hỏi … dưới sự chỉ đạo, gợi ý của thầy Chủ thể hoạt động học tập trên lớp phải là học sinh” và ông nói thêm: “Với sự phát triển của khoa học hiện đại, phương pháp đọc hiểu văn bản ngày càng đa dạng và phong phú Mỗi phương pháp đem lại một góc nhìn riêng và không có phương pháp nào là vạn năng, chỉ bám vào một phương pháp nào đó nhiều khi lại là tự trói buộc mình” [60, 22]

Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông Những vấn đề cập nhật, của Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên) và Lê Thị Diệu Hoa do Nxb Đại

học Sư phạm, Hà Nội ấn hành năm 2007 cũng là công trình về đổi mới phương pháp Tác giả cho rằng “người học sinh tiếp thu kiến thức một cách

có ý thức độc lập và sáng tạo, tự chủ và hứng thú rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo để hình thành năng lực cũng như thái độ, quan điểm sống.” [12, 21] Tác giả nói thêm: “Việc khám phá ra cách học và cách vận dụng kiến thức của mình chính là mục đích thật sự của hoạt động học tập Hoạt động tự học giúp học sinh trở thành cá nhân độc lập, chuẩn bị cho họ bước vào một xã hội phức tạp đầy thử thách hơn so với lớp học và những bài kiểm tra định kì” [12, 35] Đó

là yêu cầu đối với người học, còn đối với người dạy, tác giả khẳng định “Mọi giáo viên có năng lực, bằng cách này hay cách khác đều khuyến khích học sinh tự học và nghiên cứu với những khả năng khác nhau một cách hợp lí và

tự giác” [12, 35] Để có thể đạt được những yêu cầu nói trên cần chú ý đặc trưng môn văn Vì “Đây là một trong những thế mạnh lớn lao của môn Ngữ

văn”, “Vì nó tạo ra những “duyên cớ để suy nghĩ và nung nấu” (E Căng)

Điều đó có nghĩa là môn Ngữ văn phải tạo ra một niềm tin được dấn thân và nếm trải trong một giấc mơ sáng tạo tự do với những đam mê của con người

để tạo nên sự “hài hòa kín đáo” giữa cái chung của học sinh với những biểu

hiện thẩm mĩ của tính nghệ thuật” Giá trị cập nhật của công trình thể hiện rất

Trang 15

rõ trong phần II: Những vấn đề bổ sung về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ

văn ở THPT Đặc biệt là phần Tri thức đọc hiểu truyện ngắn hiện đại với ba

kiểu bài mang tính khái quát:

Phương pháp dạy học bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay (trang 132)

Phương pháp dạy học bài Tổng kết đọc hiểu (trang 136)

Phương pháp dạy bài Kiểm tra tổng hợp cuối năm (trang 145)

Có thể nói, đây là một trong những công trình đầu tiên đề cập, nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học về vấn đề phương pháp dạy học kiểu bài Khái quát, Tổng kết Do đó, đóng góp của công trình về mặt phương pháp dạy học bộ môn là rất có ý nghĩa

Cùng với những công trình có tính khái quát về phương pháp dạy – học văn nêu trên còn có những tài liệu, những nghiên cứu về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh Sau đây là một số nhận định, ý kiến về dạy học tích cực

Trong bài Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống

mới cho giáo dục ở thời đại mới (tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 1/1995), tác

giả Trần Hồng Quân đã viết: “Muốn đào tạo được con người khi vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong học tập và lao động trong nhà trường” Từ đó ông nhấn mạnh vai trò của người thầy “người thầy đảm nhiệm một trách nhiệm nặng nề là chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình huống phong phú chứ không phải nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu học sinh Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý” [53, 23]

Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Kỳ với Phương pháp giáo dục lấy

Trang 16

học sinh làm trung tâm (năm 1995) có đoạn: “Quá trình học tập của trò là quá

trình tự học, tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự dẫn dắt, tổ chức, trọng tài của thầy Phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm là sự tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục trò – lớp – thầy trong quá trình hoạt động giáo dục theo quan điểm người học làm trung tâm” [33, 14]

SGK và SGV môn Ngữ văn cũng là bộ tài liệu rất quan trọng Cả hai bộ SGK Ngữ văn THPT chương trình chuẩn do tác giả Phan Trọng Luận tổng chủ biên và bộ Ngữ văn THPT chương trình nâng cao do tác giả Trần Đình

Sử tổng chủ biên đều có những thay đổi so với chương trình trong bộ SGK được chỉnh lí hợp nhất năm 2000 Những đổi mới tích cực có thể kể đến là hai

bộ SGK có những định hướng cho giáo viên và học sinh tìm hiểu bài bằng việc xác định yêu cầu cần đạt ngay từ đầu bài và ghi nhớ ở cuối bài, cùng hệ thống câu hỏi cụ thể, hợp lí đáp ứng được yêu cần đạt và ghi nhớ của bài học

đó Riêng ở bài ôn tập văn học, SGK còn gợi ý những hình thức ôn tập rất cụ thể như học sinh tự làm bài tập, thảo luận, thuyết trình và hệ thống câu hỏi gợi

ý để học sinh lập đề cương ôn tập (đối với chương trình cơ bản); soạn đề cương, thảo luận (đối với chương trình nâng cao) Đây là phương pháp tích cực trong dạy học kiểu bài ôn tập theo hướng tính cực hóa học động học sinh Đối với SGV chương trình Ngữ văn nâng cao, chương trình Cơ bản (bộ

mới), phần II Phương pháp và tiến trình tổ chức dạy học của bài ôn tập,

ngoài những phương pháp chung có tính định hướng cho dạy học kiểu bài ôn tập còn có những biện pháp cụ thể để giáo viên làm tốt vai trò người hướng dẫn, để học sinh chủ động tích cực ôn tập

Một số sách tham khảo, hướng dẫn dạy học văn như Thiết kế bài giảng

Ngữ văn 10, 11, 12 của Nguyễn Văn Đường; Để học tốt; Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn của Nguyễn

Trang 17

Kim Phong; Nguyễn Thị Thanh Hương với Dạy học văn ở trường phổ thông, Thái Duy Tuyên với “Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của người

học”… Tuy nhiên, những công trình này đều tập trung nghiên cứu phương

pháp phân tích tác phẩm cụ thể chứ chưa đưa ra phương pháp chung trong việc dạy học kiểu bài ôn tập văn

Từ những ý kiến nêu trên, có thể khẳng định rằng đổi mới phương pháp – dạy học văn theo hướng phát huy tính tích cực hóa hoạt động của học sinh

là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm, đồng thuận của những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu cũng như của tập thể những người làm công tác giáo dục Tuy nhiên, dạy học kiểu bài ôn tập văn theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn

2.2 Phương pháp dạy kiểu bài Ôn tập văn học ở THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

Trên đây là một số nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm cho thấy đổi mới phương pháp dạy học văn – dạy học Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh đã và đang được quan tâm nghiên cứu Nhưng dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào Hiện nay, các tài liệu, những nghiên cứu về dạy kiểu bài Ôn tập văn học bậc THPT vẫn còn rất hiếm, thậm chí không có

Như vậy, nghiên cứu đề tài “Dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh” ít nhiều cũng có ý nghĩa thực tiễn Với công trình này, chúng tôi mong muốn hướng đến những vấn đề:

- Thay đổi hệ thống hoạt động của giáo viên và học sinh theo nguyên tắc tích cực, chủ động

- Đề ra những phương pháp tiếp cận khi dạy kiểu bài ôn tập văn học

Trang 18

- Đưa ra những biện pháp cụ thể khi tổ chức hoạt động ôn tập theo hướng tích cực

- Đề xuất phương pháp ôn tập tích cực

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh hiện nay của giáo viên

- Đề xuất những định hướng có tính khả thi về việc dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

- Thiết kế giáo án thử nghiệm và thực nghiệm sư phạm trên một số đơn

vị trường THPT ở tỉnh Bình Dương

4 Phạm vi tài liệu khảo sát

Phạm vi tài liệu khảo sát của luận văn là toàn bộ các bài về ôn tập văn học sử trong SGK Ngữ văn THPT, cụ thể là trong SGK lớp 10, 11 và 12 chương trình Cơ bản Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và đối chiếu cả với chương trình trong SGK Ngữ văn Nâng cao THPT và SGK Ngữ văn THCS

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận văn được tiến hành với các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 19

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp so sánh – đối chiếu

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra – phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Biện pháp dạy học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình

Ngữ văn THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Phương pháp dạy học tích cực – một số giới thuyết khái lược

1.1.1 Khái niệm “Phương pháp dạy học tích cực”

Phương pháp dạy học tích cực là thuật ngữ dùng để chỉ chung các

phương pháp được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm phát huy cao nhất tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập của người học dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên Trong tiếng Việt, thuật ngữ này dùng để chỉ “những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học” [9] Trong tiếng Anh, người ta không dùng thuật ngữ phương pháp dạy học tích cực (active teaching methods) mà chỉ dùng thuật ngữ “dạy và học tích cực” (active teaching and learning) hay “học tập tích cực” (active learning) Từ “dạy” và “học” ở đây hàm nghĩa là các hoạt động hay các quá trình thực hiện bởi người dạy hay người học

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng từ “tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động Cũng cần nói thêm, tích cực trong dạy học tích cực không thuộc phạm trù tích cực – tiêu cực và không trái nghĩa với tiêu cực Như vậy, phương pháp dạy học tích cực không chỉ xem trọng vai trò người học mà còn xem trọng vai trò người dạy, hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học đồng thời tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Không thể nói phương pháp dạy học tích cực khi chỉ có dạy tích cực mà không có học tích cực và ngược lại Đổi mới phương pháp phải được tiến hành đồng thời từ cả hai phía, đổi mới phương pháp dạy của thầy với đổi mới hoạt động học của trò, làm được như thế thì quá trình đổi mới sẽ có kết quả và mới thành công Nói chung, thuật ngữ

“Dạy học tích cực” được dùng hiện nay chính là để phân biệt với “Dạy học

Trang 21

thụ động” Và thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực”, bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học

Nói tóm lại, phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, khái niệm này dùng để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

1.1.2 Bản chất phương pháp dạy học tích cực

Bản chất của phương pháp dạy học tích cực là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quá trình truyền thụ kiến thức của thầy thành quá trình tự học của học sinh Giáo viên tạo nên những tình huống có vấn đề để học sinh chấp nhận các tình huống đó là cần thiết đối với họ, học sinh tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động hợp tác với sự tổ chức, điều khiển, cố vấn của thầy

để tìm ra kiến thức mới

Để nhận diện phương pháp dạy học tích cực, ta có thể dựa trên những dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây

Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh

Trong phương pháp tích cực, người học - đối tượng của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận và làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức

mà còn hướng dẫn hành động, chương trình hành động phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

Trang 22

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc cao càng phải được chú trọng Trong các phương pháp thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen,

ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động, sang học tập chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận

sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo yêu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, học tập, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay

Trang 23

bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo

Trong nhà trường hiện đại, phương pháp dạy học tích cực sử dụng phổ biến, liên tục làm tăng hiệu quả học tập, nhất là giải quyết được vấn đề gay cấn, nó xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh

- Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò

Trong dạy học việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận thức thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy học của thầy Trước đây, giáo viên giữ vai trò độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng

tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Trong hướng phát triển các phương pháp dạy học tích cực để đào tạo những con người tích cực, năng động, thích nghi nhanh với đời sống xã hội,

để làm được điều này thì việc kiểm tra đánh giá không dừng lại ở các yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc tư duy, sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Trang 24

Từ việc dạy học thụ động sang dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà lúc này giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập theo nhóm nhỏ để bản thân học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung tri thức, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, định hướng, điều khiển Tuy nhiên trước đó, giáo viên cần đầu tư công sức, thời gian rất nhiều

so với kiểu dạy thụ động thì mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, súc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Bản thân giáo viên phải có trình

độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi có diễn biến ngoài tầm

dự kiến của giáo viên

Tóm lại, phương pháp dạy học tích cực là hệ thống phương pháp trong

đó phương pháp tự học là trung tâm chỉ đạo, có tác dụng gắn bó các phương pháp khác thành một hệ thống toàn vẹn Phương pháp dạy học tích cực có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui của sự nhận thức sáng tạo Phương pháp dạy học tích cực có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học

mà trong đó tư duy độc lập sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học Phương pháp dạy học tích cực có yêu cầu cao đối với người dạy và người học Phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhớ lâu, đảm bảo sự cá thể hóa, tập trung vào người học Phương pháp dạy học tích cực có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở những mức độ khác nhau

Trang 25

1.2 Tổng quan về chương trình Ngữ văn và kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay

1.2.1 Tổng quan về chương trình Ngữ văn ở trường THPT

So với chương trình môn Văn và phần văn học sử trong SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000 thì chương trình môn Ngữ văn và phần văn học trong SGK Ngữ văn tích hợp có nhiều đổi mới

Hiện tại, chương trình môn Ngữ văn mới được xây dựng theo hướng tích hợp với hai trục chính: Đọc văn và Làm văn Tất cả các tri thức và kĩ năng của ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn đều được tích hợp trong hai trục này Đọc văn cũng trang bị kiến thức về tiếng Việt, làm văn và các tri thức, kĩ năng khác Với trục Làm văn, các tri thức về tiếng Việt, văn học, văn hoá khác cũng được trang bị như là những tri thức để tạo lập văn bản

Chương trình môn Ngữ văn trong SGK Ngữ văn tích hợp lựa chọn các văn bản theo thể loại và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại Chương trình vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc và thế giới nhưng mỗi giai đoạn, thời kì đưa vào các thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bản mẫu cho việc hướng dẫn HS đọc hiểu

Chương trình môn Ngữ văn trong SGK Ngữ văn tích hợp vẫn dành cho nội dung đọc hiểu vị trí quan trọng nhất, chủ yếu nhất, nhiều thời lượng nhất với nhiều thể loại phong phú, đa dạng Ngoài các thể loại văn học như trong chương trình môn Văn học cũ thì chương trình hiện hành còn đưa vào một số thể loại mới như: sử kí, tựa…và văn nghị luận Những văn bản nghị luận bao gồm cả văn bản nghị luận văn học và nghị luận xã hội, cả nghị luận trung đại

và nghị luận hiện đại, cả nghị luận trong nước và nước ngoài Ngoài ra chương trình còn đưa vào một số văn bản nhật dụng vào cuối lớp 12 nhằm giúp HS quan tâm tới những vấn đề hết sức gần gũi, hết sức bức thiết đang đặt

ra trong cuộc sống của dân tộc và cộng đồng nhân loại

Trang 26

Chương trình môn Ngữ văn trong SGK tích hợp mở rộng giai đoạn văn học sau 1945 đến hết thế kỉ XX Các tác phẩm văn học sau 1980, đại diện cho thành tựu văn học đổi mới, được đưa vào với một mức độ nhất định trong

SGK Ngữ văn 12: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Ai đã đặt tên

cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Đàn ghi ta của Lor ca (Thanh

Thảo), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)…

Môn học Ngữ văn THPT có hai chương trình: chương trình chuẩn (cơ bản) và chương trình nâng cao Tương ứng với hai chương trình là hai bộ SGK do hai nhóm khác nhau biên soạn Chương trình chuẩn dành cho những

HS học ở các ban Khoa học tự nhiên và ban cơ bản Chương trình này nhằm đáp ứng cho HS có nhu cầu nắm vững nội dung môn học để có thể hoàn thành

kì thi tốt nghiệp THPT Chương trình nâng cao ngoài những nội dung có trong chương trình chuẩn còn có thêm một số yêu cầu và nội dung khác biệt nhằm phân hoá và đáp ứng nhu cầu của những HS không chỉ thi tốt nghiệp

mà còn thi đại học vào các ngành Khoa học xã hội và nhân văn Nội dung chương trình chuẩn được xác định là mặt bằng kiến thức, kĩ năng cơ bản Sau một thời gian áp dụng và thực hiện, hiện nay các trường THPT trên cả nước chủ yếu sử dụng chương trình chuẩn

Chương trình môn Ngữ văn trong SGK tích hợp đề cao phần Tiếng Việt bằng cách coi trọng tính ứng dụng, vai trò và tác dụng của tiếng Việt trong việc giúp HS đọc hiểu và tạo lập văn bản Tất cả các tri thức về từ vựng, ngữ pháp, tu từ, văn bản, phong cách…đều được gắn chặt với việc đọc hiểu văn bản, qua đó ôn lại, củng cố hoặc nâng cao Tuy nhiên một số ít vấn đề khái quát về tiếng Việt được học thành bài riêng

Đối với nội dung phần Làm văn, chương trình môn Ngữ văn trong SGK tích hợp vừa bám sát các văn bản văn làm ngữ liệu (và cũng làm sáng tỏ hơn cho việc tiếp nhận văn bản), coi trọng việc hình thành và rèn luyện cho HS kĩ

Trang 27

năng hình thành ý, sinh ý, các thao tác lập luận, phản bác, quy trình và cách thức làm một bài văn…Chú ý cân đối lại tỉ lệ văn nghị luận văn học với nghị luận xã hội; đưa thêm vào loại văn thuyết minh, một loại văn bản có giá trị ứng dụng cao trong đời sống

Như vậy chương trình SGK Ngữ văn tích hợp đã có rất nhiều thay đổi phù hợp hơn với xu thế thời đại, tinh giản hơn, chú trọng hình thành, rèn luyện kĩ năng thực hành, kĩ năng tự học, gắn văn học với thực tiễn đời sống nhưng vẫn còn nặng về kiến thức, khó để HS tự học, vẫn chưa thực sự gắn liền với thực tiễn đời sống, sự tích hợp liên môn, liên ngành, liên văn hóa còn hạn chế… Thế nên, sau năm 2015, lại sẽ có một chương trình SGK mới thay thế chương trình SGK hiện hành

1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT

Trong quá trình học tập, hoạt động ôn tập có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng Hoạt động ôn tập vừa giúp người học củng cố tri thức đồng thời giúp hình thành và rèn luyện cho họ tư duy tổng hợp, khái quát, từ đó, có khả năng nắm bắt vấn đề học tập một cách hệ thống, chắc chắn và bao quát hơn Điều này cũng đúng với việc dạy học Ngữ văn ở THPT hiện nay Trong chương trình Ngữ văn hiện nay, hoạt động ôn tập văn học, được thể hiện qua kiểu bài

ôn tập, nhằm giúp cho học sinh:

- Nắm được một cách có hệ thống các tri thức về đặc trưng, thể loại, giá trị của các tác phẩm văn học trong chương trình đã học;

- Biết vận dụng kiến thức đã học để tìm hiểu các tác phẩm văn học cụ thể

- Rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp khái quát về các tác phẩm, các giai đoạn văn học

- Biết cách vận dụng tri thức văn học vào những bài văn nghị luận văn học

- Hình thành cho học sinh kĩ năng trình bày vấn đề một cách có hệ thống

Trang 28

Bên cạnh đó, hoạt động ôn tập được thực hiện dưới dạng những câu hỏi Việc giải đáp những câu hỏi sẽ bộc lộ mức độ nắm vững kiến thức đã học và

kĩ năng vận dụng kiến thức sáng tạo của học sinh Vì vậy, hoạt động ôn tập có thể giúp người giáo viên đánh giá trình độ và năng lực của học sinh

1.2.3 Đặc điểm kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT

Kiểu bài ôn tập là kiểu bài để hệ thống kiến thức, rèn luyện cho học sinh

kỹ năng khái quát, tổng hợp các tri thức trong một giai đoạn văn học, phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh trong hoạt động học tập Chính vì vậy, kiểu bài này rất quan trọng trong chương trình học của học sinh Qua hoạt động ôn tập, người giáo viên sẽ đánh giá đầy đủ về tri thức, kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức của học sinh để có thể có kế hoạch tiếp theo cho hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của người học sinh

Chương trình Ngữ văn THPT được tích hợp từ ba phân môn: phần Văn bản, phần tiếng Việt và phần Làm văn và cả ba phân môn đều có bài ôn tập Bảng mô tả hệ thống kiểu bài ôn tập phần Làm văn, phần tiếng Việt và kiểu bài ôn tập phần Văn học sau đây sẽ phần nào cho chúng ta thấy những điểm giống và khác nhau giữa ba phân môn này trong nhà trường THPT

Bảng 1.1 Thống kê số lượng bài ôn tập trong chương trình Ngữ văn THPT

(SGK Cơ bản)

STT Phần ôn

tập Lớp Tên bài

Số tiết dạy

Tuần dạy

1 Văn học

10 Ôn tập văn học dân gian Việt

10 Ôn tập tổng quan về văn học 2 34

11 Ôn tập văn học trung đại Việt

Trang 29

11 Ôn tập phần văn học Việt

11 Ôn tập văn học Việt Nam hiện

Về số lượng bài: Số bài, số tiết ôn tập Văn học nhiều hơn số bài ôn tập

về tiếng Việt và Làm văn Cụ thể, ôn tập văn bản SGK/Chương trình Cơ bản

cả hai tập một và tập hai đều có bài ôn tập văn học Lớp 10, tập 1: Tuần 11, tuần 17; lớp 11, tập 1, có hai bài ôn tập vào tuần thứ 8 và tuần 17; lớp 12, tập

1, ôn tập vào tuần thứ 18 Tập 2, lớp 10 ôn tập ở tuần 34; lớp11: Ôn tập vào tuần thứ 33; tập 2 lớp 12, ôn tập vào tuần thứ 34 Số bài ôn tập văn học là 7 bài, số tiết là 15

Tổng số bài ôn tập tiếng Việt và ôn tập Làm văn THPT chương trình cơ bản là 5 bài, phân phối cụ thể như sau:

Về tiếng Việt, SGK lớp 10, tập một, lớp 11, tập 1 và SGK lớp 12 không

có bài ôn tập tiếng Việt SGK tập hai, lớp 10 có 01 tiết ôn tập vào tuần thứ 33;

Trang 30

lớp 11 là 01 tiết ở tuần 34 Như vậy, số bài ôn tập tiếng Việt là 02 bài, số tiết

02 tiết

Về Làm văn SGK/ chương trình Cơ bản tập một lớp 10, lớp 11 và 12 không có bài ôn tập.Tập hai, ôn tập như sau: lớp 10 có 01 tiết ở tuần 35; lớp 11có 02 tiết ở tuần 34; lớp 12 cũng 02 tiết ở tuần 32 Tổng số bài ôn tập làm văn là 03 bài và số tiết là 05 tiết

Về hình thức ôn tập: Ôn tập phần Văn học (bảng hướng dẫn ôn tập Văn

học ở phần sau) có những định hướng, gợi phương pháp khá cụ thể Phần ôn tập tiếng Việt, Làm văn không đưa ra phương pháp ôn tập riêng lẻ, cụ thể mà thường kết hợp với yêu cầu luyện tập, trả lời câu hỏi, viết đoạn văn, bài văn

Về nội dung ôn tập: tùy theo nội dung học tập mà mỗi bài ôn tập có định

hướng nội dung ôn tập khác nhau Các bài ôn tập thường tập trung vào việc hệ thống lại các bộ phận chủ yếu của văn học Việt Nam, các thời kì phát triển, đặc điểm lớn về nội dung, nghệ thuật của văn học, những tác gia, tác phẩm tiêu biểu, những khái niệm cơ bản về văn học…

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày thêm một số số liệu cụ thể qua các bảng

mô tả phần ôn tập văn bản văn học

Bảng 1.2 Bảng so sánh Phân phối chương trình/ SGK môn Ngữ văn THPT giữa hệ Cơ bản và Nâng cao phần ôn tập văn bản văn học

Chương trình Cơ bản Chương trình Nâng cao

dạy

Tổng

số tiết từng lớp

dạy

Tổng

số tiết từng lớp

10

Bài 1: Ôn tập văn

học dân gian Việt

Bài 1: Ôn tập về văn

học (văn học dân gian và văn học trung đại

Trang 31

sử văn học Việt Nam

thời trung đại

11

Bài 1: Ôn tập văn

học trung đại Việt

Nam

11

Bài 1: Ôn tập văn

học trung đại Việt Nam

Bài 2: Ôn tập văn

học Việt Nam: thời

kì văn học trung đại, thời kì văn học từ đầu TK XX đến CM tháng Tám; văn học nước ngoài

Bài 3: Ôn tập phần

văn học Việt Nam

hiện đại từ đầu thế

Bài 3: Ôn tập văn

học hiện đại từ đầu

Trang 32

Bài 2: Ôn tập về văn

học hiện đại Việt Nam giai đoạn trước

1975 và từ 1975 đến hết thế kỉ XX, văn học nước ngoài và

11, lớp 12 ôn tập vào tuần thứ 18 Tập 2 (khối lớp11): Ôn tập vào tuần thứ 33, tập 2 (lớp 10, lớp 12) ôn tập vào tuần thứ 34 Tập 2, ôn tập vào các tuần thứ

33 ở khối 11, tuần 34 ở khối 10, 12

Như vậy, các tiết ôn tập được thực hiện sau khi kết thúc một giai đoạn văn học (văn học dân gian – văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, Văn học giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, Văn học giai đoạn từ

1945 đến hết thế kỉ XX)

+ Khác nhau:

Về nội dung ôn tập:

Ở lớp 10, SGK Ngữ văn tập 1, chương trình Cơ bản có bài ôn tập vào tuần thứ 11, với nội dung ôn tập văn học dân gian Việt Nam; còn chương trình Nâng cao thì bài ôn tập ở tuần 17, nội dung là Ôn tập văn học dân gian

Trang 33

và văn học trung đại giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Chú trọng vào việc làm nổi bật đặc trưng thể loại của tác phẩm nên cấu trúc bài ôn theo đặc trưng thể loại (thơ ca và nghị luận, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, văn bản nhật dụng); các bộ phận văn học (văn học dân gian, văn học viết)

SGK Ngữ văn 10, tập 2, cả hai chương trình Cơ bản và chương trình Nâng cao đều không có bài ôn tập mà thay vào đó là bài Tổng kết văn học ở tuần thứ 34 (chương trình Cơ bản) ; ở tuần 33 (chương trình Nâng cao)

Ở lớp 11, SGK Ngữ văn tập 1, chương trình Cơ bản có bài ôn tập vào tuần thứ 8, với nội dung ôn tập văn học Việt Nam, giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX với hai nội dung yêu nước và nhân đạo; chương trình Nâng cao, bài ôn tập vào tuần 8, nội dung ôn tập văn học trung đại Việt Nam, giai đoạn từ thế kỉ XVIII, đặc biệt là nửa cuối thế kỉ XIX trên hai phương diện tác gia và tác phẩm SGK Ngữ văn 11, tập 2, chương trình Cơ bản có bài ôn tập vào tuần thứ 33, nội dung chủ yếu là văn học Việt Nam hiện đại đã học trên hai phương diện lịch sử và thể loại; chương trình Nâng cao có bài ôn tập ở tuần 33, nội dung là ôn tập văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 gồm chủ yếu là thơ và 3 bài văn xuôi thuộc thể nghị luận

Ở lớp 12, SGK Ngữ văn tập 1, chương trình Cơ bản có bài ôn tập vào tuần thứ 18, với nội dung ôn tập văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám

1945 đến hết thế kỉ XX về hoàn cảnh lịch sử, tác gia và tác phẩm; chương trình Nâng cao, bài ôn tập vào tuần 17, nội dung ôn tập văn học Việt Nam, từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX hoàn cảnh xã hội lịch sử, thành tựu, hạn chế của từng giai đoạn SGK Ngữ văn 12, tập 2, chương trình

Cơ bản có bài ôn tập vào tuần thứ 34, nội dung là văn học Việt Nam hiện đại

đã học từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX thuộc các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch; chương trình Nâng cao, tuần 34 bài ôn tập văn

Trang 34

học, nội dung là ôn tập văn học Việt Nam giai đoạn trước 1975, từ 1975 đến hết thế kỉ XX với hai điểm lưu ý: Văn học thời kì đổi mới và đặc trưng thể loại của truyện ngắn hiện đại

Kiểu bài ôn tập ở chương trình cơ bản thường là kiểu bài ôn tập về thời

kì, giai đoạn văn học, về tác giả, tác phẩm văn học Nội dung ôn tập cụ thể bám sát mục tiêu cần đạt của bài ôn tập, trọng tâm là phần ôn tập văn học sử

và các tác giả, tác phẩm theo thể loại cụ thể được học trong chương trình (lớp

11: Ôn tập phần văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 khái quát

văn học Việt Nam, các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch) và văn học nước ngoài; lớp 12: Ôn tập phần văn học hiện đại Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX (văn học sử và tác giả văn học)

Chương trình nâng cao lớp 11, lớp 12, ngoài ôn tập văn bản văn học, văn học sử, nội dung ôn tập còn có cả phần ôn tập về lí luận văn học Mục tiêu cẩn đạt là học sinh nắm kiến thức về lí luận văn học, biết vận dụng kiến thức

lí luận văn học đã học để đọc – hiểu và phân tích văn bản văn học Và đây là một trong những nội dung trọng tâm của bài ôn tập văn học ở chương trình nâng cao

Về hình thức ôn tập:

Chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn Cơ bản cả 2 khối lớp 11, 12 đều có đưa ra những phương pháp học sinh có thể vận dụng: Làm bài tập tại lớp; thuyết trình, thảo luận ở lớp, viết báo Về hình thức ôn tập trên lớp, chủ yếu là dựa vào kiến thức đã có, học sinh tự rèn luyện, nâng cao bằng cách lập bảng thống kê, trả lời câu hỏi, viết cảm nhận, suy nghĩ…Ngoài việc rút ra nhận xét, đánh giá từng tác phẩm cụ thể, học sinh còn phải biết liên hệ, so sánh với các tác phẩm, tác giả khác hoặc liên hệ thực tế Học sinh còn rèn luyện kĩ năng viết, kĩ năng nói bằng các hình thức viết đoạn văn trình bày suy nghĩ, thuyết trình trước tập thể vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm Riêng

Trang 35

ở khối 10, SGK không gợi ý phương pháp ôn tập như khối 11, 12 mà được thể hiện trong yêu cầu của từng câu hỏi, từng bài tập (ví dụ: Lập bảng tổng hợp theo mẫu, phân tích để làm sáng tỏ, hãy cho biết? )

Chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn Nâng cao, ở 3 khối lớp 10,

11, 12 không gợi ý nhiều phương pháp mà chỉ đưa ra một phương pháp và cũng là yêu cầu, hình thức ôn tập: Học sinh soạn đề cương trả lời câu hỏi, phát biểu trước tổ hoặc trước lớp theo hướng dẫn của giáo viên

Như vậy, điểm khác nhau chủ yếu giữa hai chương trình/SGK môn Ngữ văn THPT Cơ bản và Nâng cao nằm ở nội dung kiến thức và hình thức ôn tập

Và sự khác nhau này là đương nhiên vì hai chương trình có mục tiêu đào tạo

khác nhau (Vấn đề này đã được đề cập ở trang 19, phần Đặc điểm chương

trình Ngữ văn trung học phổ thông)

Nhìn chung, tuy từng bài có những nội dung cụ thể theo từng cấp học nhưng vẫn có sự thống nhất về mục đích và hình thức ôn tập Điều này giúp học sinh ôn tập tốt hơn

1.3 Những khó khăn trong việc dạy học kiểu bài ôn tập văn học và ý nghĩa của việc dạy kiểu bài ôn tập theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh (tư liệu khảo sát trên địa bàn tỉnh Bình Dương)

1.3.1 Thực trạng dạy – học kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT

1.3.1.1 Những khó khăn xét từ đặc trưng của kiểu bài ôn tập văn học

Ôn tập là một trong những nội dung cần thiết, quan trọng trong chương trình Qua các tiết ôn tập, học sinh có cái nhìn tổng quan về văn học Việt Nam trên nhiều phương diện: Các bộ phận văn học, giai đoạn văn học, sự hình thành, phát triển, thành tựu văn học, đặc trưng thể loại, đặc sắc nghệ thuật, tư tưởng chủ đề,… Qua các tiết ôn tập, học sinh rèn luyện những kĩ năng cơ bản như kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng so sánh, liên hệ, kĩ năng phân tích đánh giá Dù

Trang 36

ở các tiết dạy tác phẩm cụ thể, học sinh vẫn được hướng dẫn, rèn luyện tất cả những kĩ năng trên, nhưng ở tiết ôn tập văn thì việc rèn luyện kĩ năng được chú trọng nhiều hơn Do không phải học bài mới nên phần lớn thời gian được dành cho học sinh rèn luyện kĩ năng

Tuy nhiên, thực trạng dạy học ôn tập văn trong trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, thể hiện ở những phương diện sau đây

Về phương pháp ôn tập

Trong cách dạy học văn truyền thống, giáo viên chủ yếu dùng phương pháp thuyết giảng là chính Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên chủ yếu dùng lời nói của mình để tác động tới học sinh Thực tế, phương pháp này cũng đem lại những hiệu quả đáng kể Cụ thể là giáo viên có thể giúp học sinh nắm bắt được nội dung, kiến thức một cách nhanh chóng và chính xác, tránh được những suy diễn chủ quan, tùy tiện ở học sinh Phương pháp này tỏ ra hữu hiệu nhất là trong giờ ôn tập Bởi lẽ, nội dung bài nhiều và thời gian ôn thường chỉ có 2 tiết Nếu để học sinh tự làm việc có thể không kịp thời gian Những câu hỏi, bài tập không giải quyết trên lớp có thể học sinh sẽ không làm khi ở nhà Vì vậy, giáo viên thường chọn phương pháp thuyết trình để giải quyết những khó khăn trên Tuy nhiên, nếu soi rọi dưới ánh sáng của phương pháp dạy học hiện đại thì phương pháp ôn tập này cũng có nhiều hạn chế Theo lý thuyết tiếp nhận, tác phẩm văn học luôn là hệ thống mở, nó đa thanh, đa nghĩa Điều đó có nghĩa là cùng một tác phẩm văn học nhưng mỗi người đọc khi tiếp nhận sẽ có những cảm nhận khác nhau tùy theo trình độ và nhận thức, tùy theo hoàn cảnh và tâm trạng của họ Nói như vậy để lí giải rằng học sinh cũng là một bạn đọc: Do vậy, các em cũng có những cảm nhận của riêng mình đối với tác phẩm được học Nếu giáo viên cảm nhận thay hay

gò ép các em theo cảm nhận chủ quan của mình thì đã triệt tiêu mất khả năng sáng tạo, khả năng tưởng tượng vô cùng phong phú ở các em Và hậu quả

Trang 37

càng lớn hơn nếu đó là kiểu bài ôn tập Bởi kiểu bài này đòi hỏi phải hệ thống hóa kiến thức, phải so sánh, đối chiếu, liên hệ với những tác phẩm cùng chủ

đề, cùng thể loại, với các sáng tác cùng giai đoạn lịch sử Đó là việc người học phải làm, phải tự phân tích, so sánh, tự liên hệ, cảm nhận tác phẩm Việc giáo viên làm thay học sinh lâu dần sẽ sinh ra tâm lý thụ động, ỉ lại

Một nhược điểm nữa cũng dễ nhận thấy trong phương pháp truyền thống

là tương tác giữa giáo viên và học sinh là tương tác một chiều Trong giờ học, giáo viên dành hết thời gian để nói, để truyền tải nội dung kiến thức còn học sinh chỉ ngồi nghe và ghi chép lại, các em ít có cơ hội được cùng tham gia đối thoại cùng với giáo viên với bạn học về những tác giả, tác phẩm, nhất là trong

so sánh hay trình bày quan điểm của mình về kiến thức và những vấn đề có liên quan Giáo viên không quen nghe học sinh phát biểu ý kiến trái với mình

sẽ tỏ thái độ hoặc bằng lời nói phủ nhận hay bác bỏ ý kiến học sinh (đôi khi ý kiến học sinh nêu ra không phải là không có lý), Chính vì thế, giờ học rất nhàm chán, đơn điệu, chưa tạo được sự tập trung, hứng thú của học sinh, chưa

kể lâu dần học sinh ngại nói vì nói thế nào cũng không được công nhận Những năm gần đây, giáo viên có nhiều điều kiện để làm quen và ứng dụng phương pháp mới, phương pháp hiện đại, phương pháp tích cực Tuy nhiên, qua khảo sát tại một số trường, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số giáo viên lúng túng khi áp dụng các phương pháp này do giáo viên chưa thực

sự hiểu đúng bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học Cho nên, việc thực hiện phương pháp mới còn mang tính chất hình thức; đôi khi cứng nhắc, rập khuôn, thiếu linh hoạt, thiếu tự nhiên Nhiều nơi, nhiều trường do chưa có

đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại nên đôi khi phương pháp

cũ trở thành lựa chọn của giáo viên Cũng có trường hợp, giáo viên cố gắng tạo nên sự đổi mới trong lớp học bằng cách áp dụng kĩ thuật dạy học trong phương pháp dạy học tích cực : tạo không khí sôi nổi trong lớp học bằng

Trang 38

những câu hỏi nêu vấn đề để học sinh thảo luận nhóm nhưng việc ấy cũng chưa đạt kết quả khả quan bởi câu hỏi nhiều khi chưa đúng trọng tâm, hoặc quá khó, hoặc quá dễ chưa phù hợp với tầm nhận thức của các em; hơn thế nữa, giáo viên đôi khi cũng chưa chuẩn bị tâm lí với những tình huống đi chệch với suy nghĩ của mình Do vậy, lớp học có “ồn ào, náo nhiệt” hơn trước nhưng “tính tích cực, chủ động, sáng tạo” của học sinh lại chưa đạt được là bao Chưa kể tình trạng thảo luận nhóm mà chỉ có một hoặc hai học sinh làm việc, còn số đông khác thì ngồi cho có, hoặc nói chuyện riêng dẫn đến suy nghĩ lệch lạc cho rằng phương pháp mới không hiệu quả, không có gì là tích cực Vậy là, thay vì đổi mới phương pháp dạy học trên thực tế giảng dạy thì người giáo viên chỉ đổi mới nửa chừng, nghĩa là chỉ đổi mới trên giấy tờ, trên hình thức

Qua thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy về mặt phương pháp cũng như ứng dụng phương pháp vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, cho nên, việc tìm ra một phương pháp mới là một việc làm cấp thiết

Nội dung ôn tập văn 10 là hai bộ phận chính của nền văn học Việt Nam,

đó là văn học dân gian và văn học viết Trong đó, văn học dân gian là bộ phận

có nhiều đặc điểm đặc trưng cần phải nắm chắc Để hiểu đúng các sáng tác dân gian phải bắt đầu từ các đặc trưng cơ bản Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng đa nghĩa, giàu hình ảnh và màu sắc

Trang 39

biểu đạt, tồn tại và phát triển nhờ truyền miệng bằng các hình thức: nói, kể, hát; Văn học dân gian là sản phẩm của tập thể, không có tên tác giả và có nhiều dị bản khác nhau gắn bó sâu sắc với đời sống Các thể loại văn học dân gian cũng là nội dung mà học sinh cần phải nắm chắc Vì mỗi thể loại, cụ thể như sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười… đều có đặc trưng riêng Nội dung ôn tập Ngữ văn 11 tập trung vào những tác phẩm văn học trung đại với những đặc trưng của văn học cổ Chữ viết, bút pháp nghệ thuật,… Về bút pháp nghệ thuật: văn học trung đại sử dụng bút pháp tượng trưng, ước lệ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để miêu tả người, để diễn đạt tình cảm, cảm xúc,… Bút pháp này khá xa lạ với các em và cũng là trở ngại lớn khi học sinh tìm hiểu, cảm nhận tác phẩm trung đại Cũng như bút pháp nghệ thuật, cách diễn đạt của văn học cổ khác nhiều nếu so với văn học hiện đại Nhiều điển tích, điển cố, hình thức văn biền ngẫu, làm cho văn bản giàu tính cổ trang, trang trọng và vì vậy mà xa lạ với các em… Nội dung ôn tập Ngữ văn 12 là văn học hiện đại giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ

XX với nhiều thể loại thơ, văn chính luận, hồi kí, tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, văn nhật dụng,… Trong đó, ngoài những tác phẩm văn học cụ thể, còn hai bài có tính chất khái quát về tác giả văn học và bài khái quát về giai đoạn văn học Rõ ràng nội dung kiến thức cần đạt khá rộng Đây là trở ngại lớn cho học sinh khi ôn tập

1.3.1.2 Những khó khăn xét từ môi trường và điều kiện xã hội

Những năm gần đây, Bình Dương là một trong những địa phương có tốc

độ tăng trưởng nhanh, năng động trong cả nước, trở thành một trong những tỉnh, thành có sự phát triển nhanh chóng đặc biệt là về lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ Đó là điều đáng tự hào Trong định hướng phát triển, Bình Dương lấy công nghiệp làm nền tảng phát triển cùng với phát triển dịch vụ, kết cấu

hạ tầng các khu công nghiệp gắn với đô thị hóa và công nghiệp hóa nông

Trang 40

nghiệp nông thôn làm đòn bẩy phát triển Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp không ngừng mọc lên trên vùng đất lành Bình Dương, để rồi trổ hoa thơm, trái đẹp cho quê hương, góp phần làm làm đẹp giàu quê hương Bình Dương Cùng với sự phát triển kinh tế, giáo dục Bình Dương đã và đang phát

triển Nhiều công trình xây dựng trường lớp được đầu tư Số trường mới tăng

lên hằng năm về cả lượng và chất, quy mô trường lớp cũng tăng lên không ngừng Hệ thống trường công, trường tư, trường dân lập phát triển đồng bộ

Cơ sở vất chất được đầu tư, trang thiết bị hiện đại, khoa học công nghệ được chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội

Thực tế đó, đem đến cho công tác giảng dạy Bình Dương nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, nhất là trong dạy học văn

Như đã trình bày, tỉnh Bình Dương là địa bàn kinh tế phát triển, nhiều cụm công nghiệp, khu công nghiệp trở thành điểm thu hút lao động từ nhiều tỉnh thành trong cả nước đến làm việc và sinh sống Từ đó, số học sinh là con em của các đối tượng này cũng vì thế mà tăng lên Điều này tác động rất lớn đến hoạt động dạy học của các trường THPT trong tỉnh Quy mô trường lớp dù tăng nhanh nhưng vẫn không bắt kịp tốc độ tăng cơ học trong học sinh Số học sinh trong lớp đông, học sinh là con em lao động nhập cư, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chuyển đổi môi trường học tập… tất cả đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình giáo dục ở địa phương

Một mặt chịu tác động của phát triển kinh tế; mặt khác ảnh hưởng xu thế của xã hội hiện đại hướng đến phát triển khoa học công nghệ (nhất là ở một địa bàn phát triển như tỉnh Bình Dương) dẫn đến quan niệm của đa số phụ huynh và học sinh xem trọng các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, tiếng Anh và tập trung học các môn đó; ngược lại, với các môn xã hội như

Sử, Địa, Văn… thì không xem trọng nên thường cho qua Điều này cũng dễ hiểu vì mục tiêu của học sinh ở bậc THPT là vào trường đại học và khoa học

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bắc (chủ biên), Phạm Thị Thu Hương (2007), Bài tập trắc nghiệm và tự luận Ngữ văn 11, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm và tự luận Ngữ văn 11
Tác giả: Lê Huy Bắc (chủ biên), Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Quách Duy Bình (2007), “Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản văn học”, Dạy và học ngày nay (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản văn học"”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: Quách Duy Bình
Năm: 2007
3. Trần Thanh Bình (2007), “Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp 10 chương trình Chuẩn”, Dạy và học ngày nay (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp 10 chương trình Chuẩn”, Dạy và học ngày nay
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2007
4. Hoàng Hữu Bội, Nguyễn Huy Quát (Tuyển chọn và giới thiệu) (2003), Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và giới thiệu") (2003), "Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường
Tác giả: Hoàng Hữu Bội, Nguyễn Huy Quát (Tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
5. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thuỷ (2011), Dạy tốt - học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tốt - học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thuỷ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
6. Nguyễn Viết Chữ (2001) “Phương pháp dạy học tác phẩn văn chương (theo loại thể)”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩn văn chương (theo loại thể")
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Khóa XI (2005), Luật Giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Khóa XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
8. Hồ Ngọc Đại, Lê Khanh (1979), Phương pháp mới trong giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp mới trong giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại, Lê Khanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1979
9. Trần Thanh Đạm, Đàm Gia Cẩn, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai. “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” (1971) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
10. Nguyễn Văn Đường (2007), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
12. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
13. Trần Bá Hoành (2007), “Những vấn đề cơ bản về dạy học tích cực”, Thế giới trong ta (4), 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về dạy học tích cực”, Thế giới trong ta
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2007
14. Nguyễn Thanh Hùng chủ biên, Lê Thị Diệu Hoa (2007), Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông Những vấn đề cập nhật, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông Những vấn đề cập nhật
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng chủ biên, Lê Thị Diệu Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
15. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc hiểu Văn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc hiểu Văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
17. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp II
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Nguyễn Thanh Hùng (viết chung, 2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn THCS, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê số lượng bài ôn tập trong chương trình Ngữ văn THPT  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng 1.1. Thống kê số lượng bài ôn tập trong chương trình Ngữ văn THPT (Trang 28)
Nhìn vào bảng so sánh có thể nhận ra sự khác biệt đáng kể về kiểu bài ôn tập của phần tiếng Việt, Làm văn với phần Văn học - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
h ìn vào bảng so sánh có thể nhận ra sự khác biệt đáng kể về kiểu bài ôn tập của phần tiếng Việt, Làm văn với phần Văn học (Trang 29)
Về hình thức ôn tập: Ôn tập phần Văn học (bảng hướng dẫn ôn tập Văn - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
h ình thức ôn tập: Ôn tập phần Văn học (bảng hướng dẫn ôn tập Văn (Trang 30)
Từ bảng so sánh có thể thấy chương trình/SGK môn Ngữ văn THPT giữa Cơ bản và Nâng cao có những điểm giống và khác nhau sau đây:  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
b ảng so sánh có thể thấy chương trình/SGK môn Ngữ văn THPT giữa Cơ bản và Nâng cao có những điểm giống và khác nhau sau đây: (Trang 32)
Bảng 2.1. Hướng dẫn ôn tập trong chương trình/SGK Cơ bản môn Ngữ văn THPT   - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng 2.1. Hướng dẫn ôn tập trong chương trình/SGK Cơ bản môn Ngữ văn THPT (Trang 57)
Bảng 2.2. Hướng dẫn ôn tập trong chương trình/SGK Nâng cao môn Ngữ văn THPT   - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng 2.2. Hướng dẫn ôn tập trong chương trình/SGK Nâng cao môn Ngữ văn THPT (Trang 59)
+ Gọi từng nhóm lên bảng điền thông tin theo yêu cầu lần lượt từng tác phẩm, các nhóm khác có nhiệm vụ giám sát và bổ sung - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
i từng nhóm lên bảng điền thông tin theo yêu cầu lần lượt từng tác phẩm, các nhóm khác có nhiệm vụ giám sát và bổ sung (Trang 73)
+ Kẻ bảng mẫu lên bảng + Chia nhóm (4 nhóm)   - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
b ảng mẫu lên bảng + Chia nhóm (4 nhóm) (Trang 73)
Ví dụ: Giao các tổ thực hiện phần Các hình thức hoạt động ngoài giờ học trong bài Ôn tập văn học dân gian (trang 103, Ngữ văn 10)  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
d ụ: Giao các tổ thực hiện phần Các hình thức hoạt động ngoài giờ học trong bài Ôn tập văn học dân gian (trang 103, Ngữ văn 10) (Trang 74)
+ Sự chuyển biến trong hình tượng của Tấm: từ  yếu  đuối,  thụ  động  đến  kiên  quyết  đấu  tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho bản  thân mình - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
chuy ển biến trong hình tượng của Tấm: từ yếu đuối, thụ động đến kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho bản thân mình (Trang 85)
Bảng biểu văn học trungđại  bao gồm: tên tác  giả, tên tác  phẩm, thể  loại…  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng bi ểu văn học trungđại bao gồm: tên tác giả, tên tác phẩm, thể loại… (Trang 94)
Bảng biểu văn học hiện đại bao  gồm: Tên tác  phẩm, tên tác  giả, nội dung  chính  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng bi ểu văn học hiện đại bao gồm: Tên tác phẩm, tên tác giả, nội dung chính (Trang 95)
- Do sự phức tạp của tình hình xã hội, chính trị, tư tưởng… - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
o sự phức tạp của tình hình xã hội, chính trị, tư tưởng… (Trang 99)
- Bút pháp hiện thực, lãng mạn, từ ngữ giàu chất tạo hình, nhiều biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
t pháp hiện thực, lãng mạn, từ ngữ giàu chất tạo hình, nhiều biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả (Trang 107)
- Cảm nhận mới mẻ, độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
m nhận mới mẻ, độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước (Trang 108)
Hình tượng - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Hình t ượng (Trang 109)
- Hình tượng nghệ thuật.  - Sự tương đồng,  hòa hợp giữa hai  hình ảnh.  - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Hình t ượng nghệ thuật. - Sự tương đồng, hòa hợp giữa hai hình ảnh. (Trang 111)
Dựa vào bảng điểm, có thể nhận thấy có sự khác biệt về điểm số giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
a vào bảng điểm, có thể nhận thấy có sự khác biệt về điểm số giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 117)
Bảng 1. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình dạy học tiết ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng 1. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình dạy học tiết ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT (Trang 131)
Bảng 2. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình dạy học tiết ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
Bảng 2. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình dạy học tiết ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn THPT (Trang 132)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG GIỜ ÔN TẬP VĂN HỌC - Dạy học theo kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt đông của học sinh
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG GIỜ ÔN TẬP VĂN HỌC (Trang 133)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w