Tuy nhiên, vấn đề phát huy và bảo vệ các giá trị văn hóa GTVH truyền thống dân tộc hiện nay đòi hỏi cần phải có một đội ngũ cán bộ trẻ, năng động đầy trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quí thầy, cô trường Đại học Vinh và Đại học Sài Gòn, đặc biệt là các thầy cô khoa Sau Đại học và Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ cho tôi được học tập
và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện luận văn, tác giả xin chân thành cảm ơn và gửi lời tri ân đặc biệt đến PGS.TS Nguyễn Lương Bằng, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên để tác giả hoàn thành luận văn của mình
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Đinh Thế Định - Chủ nhiệm Khoa Giáo dục Chính trị, giáo viên chủ nhiệm lớp; quí thầy cô giáo viên, nhân viên trường Đại học Vinh; tập thể các anh chị em lớp Cao học khoá
22 chuyên ngành Chính trị học đã tận tình giúp đỡ quan tâm tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Bình Chánh, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị Huyện đã tạo điều kiện và hỗ trợ chúng tôi về các số liệu trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng vẫn còn những thiếu sót không thể tránh khỏi, tác giả mong nhận được sự góp ý của quí thầy cô giáo, quí thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, 20 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Trương Ngọc Thanh Nhân
Trang 2Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY CÁC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂNTỘC TRONG
1.2 Vai trò của cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý 21 1.3 Vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong việc định hướng
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong cán bộ
1.4 Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng ta về các giá trị văn hóa truyền thống 33
1.5 Nội dung các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc cần
phát huy trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ hiện nay 42
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN
HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRẺ DIỆN HUYỆN UỶ QUẢN LÝ
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
48
2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Bình
Trang 32.2 Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong
đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện
Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua 54
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRẺ DIỆN
HUYỆN UỶ QUẢN LÝ TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH,
3.1 Phương hướng phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống dân tộc trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ
quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 80
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả các
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong đội ngũ cán bộ đảng
viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh 99
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
KHXH Khoa học Xã hội MTTQ Mặt trận Tổ quốc
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng trình độ chuyên môn đội ngũ cán
bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại Huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (tính đến tháng 3/2016)
Trang 55
Bảng 2.2 Thực trạng trình độ lý luận chính trị đã qua đào
tạo đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản
lý tại Huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (tính đến tháng 3/2016)
Trang 55
Bảng 2.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện
Huyện uỷ quản lý tại Huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh (tính đến 31/12/2015)
Trang 56
Bảng 2.4 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại Huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 2011 – 2015)
Trang 57
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam luôn tự hào có một nền văn hiến lâu đời với truyền thống văn hóa hơn bốn nghìn năm lịch sử hào hùng của dân tộc Có được những trang sử hào hùng đó không thể không kể đến những lưu dân người Việt đầu tiên tìm đến Sài Gòn - Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) trong đó có Bình Chánh thuở xưa là những người từ miền Bắc, miền Trung vào Phần lớn họ là những nông dân nghèo, cơ cực bởi cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, một số khác là quan lại, binh lính được nhà nước phong kiến phái đi đồn trú phía Nam
Chính vùng đất mới, hào phóng, bí ẩn, đầy bất trắc, lưu dân Việt không khỏi cảm thấy ngại ngùng Nhưng “Đất lành chim đậu”, Trung Quận (huyện Bình Chánh ngày nay), Sài Gòn – Gia Định là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh
em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hóa riêng góp phần tạo nên một nền văn hóa đa dạng Đặc trưng văn hóa của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hóa phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn nói chung, Trung Quận nói riêng Đó chính là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm
Chính điều kiện tự nhiên và con người Bình Chánh là một cơ sở để chúng
ta tìm hiểu nét văn hóa và truyền thống dân tộc của huyện trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ Huyện ngày một phát triển, giàu đẹp
Tuy nhiên, vấn đề phát huy và bảo vệ các giá trị văn hóa (GTVH) truyền thống dân tộc hiện nay đòi hỏi cần phải có một đội ngũ cán bộ trẻ, năng động đầy trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng để xử lý, giải quyết và đấu tranh với những vấn đề mang tính chính trị, văn hóa – xã hội trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay
Trang 7Bình Chánh đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, tình hình an ninh - chính trị có nhiều diễn biến phức tạp, dân nhập cư từ các tỉnh vào sinh sống, các loại hình văn hóa du nhập trong thời kỳ hội nhập quốc tế gây khó khăn trong công tác quản lý Lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên trên địa bàn huyện còn vướng vào các loại tệ nạn xã hội do ảnh hưởng từ các loại hình văn hóa độc hại Các công trình văn hóa, khu di tích, tưởng niệm chưa được đầu tư, việc học tập nâng cao trình độ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn hạn chế Việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (GTVHTT) cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện chưa đi vào chiều sâu
Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài Phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh là đề tài vừa có ý nghĩa lý luận, vừa
có ý nghĩa thực tiễn
Để tiếp tục phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc (GTVHTTDT) trên cả nước nói chung trong đó có huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã có nhiều tập thể, nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này ở những mức độ khác nhau như:
Tác giả Nguyễn Lương Bằng (1999), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam - Sách văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hóa, đây là công trình nghiên cứu lớn được nhiều
nhà nghiên cứu đánh giá cao, tác phẩm là cơ sở về phương pháp dạy học trong phạm vi nhà trường, cung cấp kiến thức chuyên ngành cho các giáo viên giảng dạy trong lĩnh vực văn hóa v.v
Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), cùng tập thể tác giả đã thực hiện đề tài
khoa học cấp nhà nước KHXH 04-02 (2001), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
Xuất phát từ góc độ tiếp cận văn hoá, những yếu tố cấu thành nó, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hoá hơn nửa thể kỷ qua với Phan
Trang 8Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm (đồng chủ biên) cùng tập thể tác giả đã thực
hiện đề tài khoa học cấp nhà nước KHXH 04 (2002), Về phát triển văn hoá xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội Tác phẩm đã khảo sát thực trạng văn hóa, đạo đức lối sống, đặc biệt là của thanh niên, qua đó đề xuất một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng lối sống trong thời kỳ công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
Phát huy các giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa để xây dựng nền văn hóa ở Việt Nam hiện nay được GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn và
GS.TS Nguyễn Văn Huyên (2002), khai thác trong quyển Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trong quan điểm biện chứng của lịch sử và triết học văn hóa, vấn đề giá trị và giá trị truyền thống được thể hiện trong mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống với sự phát triển do GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, TS Phạm Văn Đức và
PGS.TS Hồ Sĩ Quý (2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc gia Tác phẩm cho
rằng, việc tiến hành CNH, HĐH đất nước sẽ thành công nếu biết khai thác, phát huy giá trị truyền thống
GS.TS Đỗ Huy (2002), trong cuốn Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trên cơ sở
nhìn lại văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX, tác giả đã đề cập việc xây dựng các giá trị văn hoá Việt Nam trong thế kỷ mới Đặc biệt, trong công trình của
GS.TS Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học”, Viện Văn hóa và Văn hóa – Thông tin xuất bản, Hà Nội Tác
giả đã dành một chương để trình bày vấn đề xây dựng lối sống dân tộc – hiện đại trong môi trường văn hóa chung của chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận gắn liền với khảo sát thực tiễn trong nước
và các nước trên thế giới, cuốn sách của GS.TS Huỳnh Khánh Vinh (Chủ biên)
Trang 9Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, biên soạn từ kết quả
nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước KHXH 04-03(2001), Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản Các tác giả đề cập những vần đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, mối quan hệ giữa chúng với phát triển văn hóa và con người Ngoài ra, nhóm tác giả còn phân tích những ảnh hưởng của nhân tố kinh
tế, chính trị, xã hội đến lối sống và việc phát huy nếp sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng, những kinh nghiệm và bài học xây dựng, những phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
Xem xét khái niệm lối sống với tính cách là phạm trù của xã hội học, triết
học, kinh tế học, GS Thanh Lê (2001), Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã phân tích
cơ sở xã hội – kinh tế, chính trị, tinh thần của lối sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời đề ra vấn đề kế hoạch và bảo vệ lối sống xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
Từ bình xét bản sắc văn hóa dân tộc, PGS.TS Lê Như Hoa (2003), Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại,Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa –
Thông tin xuất bản, Hà Nội Tác giả đề cập đến nếp sống, lối sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình ở giai đoạn hiện nay
Từ góc độ tâm lý, tập thể tác giả thuộc Hội Khoa học – Giáo dục Việt Nam, Viện nghiên cứu con người và Viện khoa học xã hội Việt Nam do GS.VS
Phạm Minh Hạc (2004), Tâm lý Người Việt Nam đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hóa Những điều cần khắc phục, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Các tác giả
đề cập những mặt mạnh, mặt yếu, khẳng định những cái hay cần phát huy, những điều dở cần khắc phục trong lao động, học tập và lối sống của người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đề xuất một số kiến nghị về chiến lược và chính sách nhằm phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Trang 10TS Đào Duy Quát (2004), Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính Quốc gia, Hà Nội Ở
góc độ đạo đức ông đã cùng tập thể tác giả là nhà khoa học, nghiên cứu, nhà lý luận nước ta tiếp cận khái niệm lối sống như là một phạm trù đạo đức Từ đó, các tác giả phân tích thực trạng vấn đề đạo đức, lối sống và đề ra giải pháp giáo dục, lối sống của cán bộ đảng viên hiện nay
Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học,
Hà Nội Tác phẩm đã phân tích các giá trị văn hóa Việt trong bối cảnh xã hội mới nhiều biến đổi mà thời đại đặt ra Là chuyên gia đầu ngành nghiên cứu về văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao, tác phẩm này đã đưa ra được nhiều nội dung cơ bản nêu rõ những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc mà hiện nay vẫn được cho là khá đầy đủ nhất về mặt nội hàm Triết lý của sự kết nối cái truyền thống được tìm tòi và suy ngẫm đã làm cho tác phẩm chứa đựng hàm lượng giá trị nghiên cứu cao v.v
Song song đó cũng đã có các công trình nghiên cứu được đánh giá cao, là tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được nhiều luận văn thạc sĩ đưa vào trong công trình nghiên
cứu của họ như: Trần Văn Giàu (1998), Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Trần Quốc Vượng (1981), "Về truyền thống dân
tộc", Tạp chí Cộng sản, (số 3/1981); Đỗ Huy (1986), "Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng con người mới ở nước ta", Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, (số 5/1986); Lương Quỳnh Khuê (1992), "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại", Tạp chí Triết học, (số 4/1992); Đỗ Huy (1998),"Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, (số
5/1998); Hoàng Trung (1998), "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức trong nền kinh tế thị trường", (số 5/1998); Mai Xuân Lợi
(2001), "Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội" của, Tạp
Trang 11chí Triết học, (số 3/2001); Nguyễn Hùng Hậu (2002), "Từ "cái thiện" truyền thống đến "cái thiện" trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay", Tạp chí Triết học, (số 3/2002); Trần Văn Phòng (2003), "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay",Tạp chí Lý luận Chính trị, (số 5/2003) v.v
Nhìn tổng quát các công trình nói trên, ở những phương diện và mức độ khác nhau, đã có những đóng góp nhất định cho việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc và xây dựng đạo đức, lối sống
Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, vấn đề phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam nói chung và của huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là một trong những vấn đề rất phong phú và rất phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục được nghiên cứu, phân tích sâu sắc, hoàn chỉnh, có hệ thống, để từ đó có thể vận dụng một cách có hiệu quả vấn
đề này vào thực tiễn trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ vai trò và phân tích, đánh giá thực trạng của việc phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc ở huyện Bình Chánh thời gian qua, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát huy tốt hơn các giá trị văn hoá truyền thống trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến luận văn như: Các khái niệm và các quan điểm về phát huy các GTVHTTDT của đất nước Việt Nam nói chung và của huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Nghiên cứu đánh giá tình hình phát huy GTVHTTDT trong đội ngũ cán
bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản
lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, đạo đức cách mạng, việc phát huy những giá trị này của đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của vấn đề này, luận văn chỉ tập trung vào vấn đề phát huy các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống dân tộc trong đội ngũ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2004 (sau khi chia tách địa giới hành chính huyện Bình Chánh, quận Bình Tân) đến nay
Trên cơ sở đánh giá thực trạng để làm cơ sở tham khảo đồng thời tìm ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả việc phát huy các giá trị tích cực nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ XI nhiệm
kỳ 2015 - 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên
Ngoài ra, luận văn còn kế thừa, tiếp thu kết quả các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận văn.Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp
Trang 13phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh - hệ thống, phương pháp thống nhất giữa lý luận và thực tiễn v.v, nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề tài đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích và luận giải một cách khoa học việc phát huy các GTVHTTDT là vấn đề mang tính tất yếu khách quan ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở làm rõ các GTVHTTDT, luận văn xác định những giá trị GTVHTTDT cần được phát huy trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ hiện nay, đặc biệt là cán bộ trẻ diện Huyện uỷ quản lý
Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi để phát huy các GTVHTTDT trong cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý; nâng cao nhận thức về vai trò của các GTVHTT trong xây dựng lối sống mới; tạo lập môi trường xã hội lành mạnh; đấu tranh chống nguy cơ xói mòn các GTVHTT; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc 3 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
ĐẢNG VIÊN TRẺ DIỆN HUYỆN UỶ QUẢN LÝ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm giá trị
Trong bài viết: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển có viết như sau: "Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt
chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động
và vươn tới" [8,tr.16]
Trong quyển: Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết định nghĩa: “Giá trị là sự
khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm của toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [29,tr.1462]
Qua khái niệm, các quan điểm về giá trị đi đến khái quát lại như sau:
Thứ nhất, giá trị là tất cả những cái gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với cái
đúng, cái tốt, cái đẹp, được con người thừa nhận và xem nó là nhu cầu hoặc có một vị trí quan trọng trong đời sống của mình, là những thành tựu góp phần vào
sự phát triển của xã hội
Thứ hai, giá trị không phải là một cái gì bất thành bất biến mà nó luôn vận
động biến đổi theo thời gian và không gian sao cho phù hợp trong từng thời điểm nhất định Chính vì vậy, trên thực tế không phải những cái gì đã có giá trị
Trang 15trong quá khứ đều giữ nguyên giá trị đối với hiện tại Điều đó cho thấy giá trị mang tính lịch sử khách quan, sự ra đời tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà do yêu cầu của từng thời đại nhất định trong lịch sử
Thứ ba, giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội,
giá trị giúp con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, giá trị giúp con người định hướng và xác định mục đích cho hành động của mình, là động
cơ thúc đẩy hoạt động của con người
Trên thực tế đã có rất nhiều cách phân loại giá trị Dựa vào tiêu chí mục đích phục vụ cho nhu cầu của con người, người ta chia ra làm hai loại giá trị: Giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Giá trị tinh thần là những phẩm chất đặc biệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí, nó được thể hiện trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán Những phẩm chất đó ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống tinh thần và chúng trở thành các chuẩn mực để con người đánh giá phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp trong đời sống hàng ngày, trong quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội
1.1.2 Khái niệm truyền thống
Trong quyển: “Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh niên Tỉnh Nghệ An”, Đồng tác giả TS Đoàn Minh Duệ, TS
Nguyễn Thái Sơn, TS Nguyễn Lương Bằng, TS Đinh Thế Định đã đưa ra định
nghĩa mang tính phổ thông và được nhiều người chấp nhận nhất đó là: “Truyền thống: thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [13, tr.20]
Trong quyển “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa” có đoạn viết: "Từ đây, cái được gọi là truyền thống chỉ khi nào nó trở
thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó bảo tồn
Trang 16cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta" [11, tr.23]
Truyền thống của một dân tộc bao gồm những đức tính, thói quen, những phong tục tập quán xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau, mang các đặc trưng cộng đồng, bình ổn, lưu truyền “Nói đến truyền thống là nói đến phức hợp những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [11, tr.16-19]
Dưới góc độ khoa học, truyền thống được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ
nhất, truyền thống đó là những giá trị tốt đẹp, được lưu truyền từ đời này qua đời
khác, nó đứng vững được trong thời gian và có thể đương đầu với những biến động của lịch sử Hơn nữa, những giá trị ấy có khả năng tạo ra sức mạnh, sản sinh ra các giá trị mới, đem lại lợi ích cho con người
Tuy nhiên, trong đó cũng có những cái mà chúng ta vẫn gọi là "truyền thống" không đem lại lợi ích cho con người, kìm hãm sự phát triển đây là nghĩa thứ hai, nghĩa tiêu cực của phạm trù này Hiểu theo nghĩa thứ nhất, truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của đời sống con người Nó góp phần duy trì, bảo vệ và phát triển cuộc sống của chúng ta Tóm lại, sự nhận thức truyền thống không tách rời nhận thức các giá trị
1.1.3 Khái niệm văn hóa truyền thống
Bất cứ một dân tộc nào trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển đều mang cho mình một nền văn hóa bản sắc dân tộc riêng và trong quá trình lịch sử đó nó trở thành VHTT Việt Nam chúng ta cũng kinh qua ngay từ khi dựng nước đầu tiên cho đến tận ngày nay, lịch sử lâu đời đó đã hình thành nên một nền VHTT đa dạng và phong phú
Theo GS Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái
gì tốt đều được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác
Trang 17dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động cuả một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống” [25, tr.132]
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hoá đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc Gía trị văn hoá truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước và quá trình đó tạo nên giá trị lịch sử mang tính bản sắc riêng của từ dân tộc
GS.TS Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hoá dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận v.v” [62, tr.133]
Văn hoá, theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người (bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế v.v) để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng
xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm v.v, tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người
Văn hoá là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích luỹ trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hoá là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là
sự hoá thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực của hoạt động con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại Trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc giữ gìn, phát triển nền văn hoá truyền thống Việt Nam là một yêu
Trang 18cầu cấp thiết Thực tế cũng cho thấy rằng, truyền thống văn hoá loài người, cũng như truyền thống văn hoá Việt Nam có cả truyền thống tốt, tiến bộ, có cả truyền thống xấu, lạc hậu Nói đến phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, chúng ta thường nghĩ ngay đến những nét tinh hoa của truyền thống Trong ứng xử và quan hệ xã hội, chúng ta thấy ở bất cứ dân tộc nào, miền nào trên đất nước ta cũng có những tinh hoa đáng giữ gìn như: Truyền thống yêu nước, đánh giặc ngoại xâm, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, truyền thống hiếu khách, yêu quê hương đất nước
Như vậy, các tác giả đã khái quát những đặc điểm cơ bản của văn hoá truyền thống Theo chúng tôi, văn hóa truyền thống là những yếu tố tương đối ổn định và được truyền từ đời này qua đời khác, là hiện thân của trí tuệ được biểu hiện ra
trong lối sống hằng ngày như phong tục tập quán, luật pháp, dư luận v.v
1.1.4 Khái niệm giá trị văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc đều có lịch sự hình thành và phát triển khác nhau Trải qua quá trình đó, các dân tộc sáng tạo ra nền văn hóa của mình, trong đó có các giá trị văn hoá Các giá trị văn hoá này được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử là các GTVHTT Giá trị văn hoá truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt, noi theo Nói đến GTVHTT
là nói đến những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắc lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Cho nên khi nói đến GTVHTT cũng là nói đến những giá trị văn hoá được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”
Giá trị văn hoá truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó do các thế hệ nối tiếp nhau làm nên Các giá trị này vẫn có
sự biến đổi tùy điều kiện tác động đến nó Nhưng nếu GTVHTT biến đổi cơ bản
về bản chất thì nó sẽ không còn là truyền thống Nói đến GTVHTT là nói đến cái lâu dài, trải qua nhiều thời gian thử thách mà bản chất lõi cốt của nó vẫn giữ
Trang 19Nói đến GTVHTT là nói đến những giá trị tương đối ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, nó tạo nên bản sắc dân tộc đó và do đó, mỗi dân tộc cần bảo vệ, duy trì và phát triển, làm điểm tựa để sáng tạo các giá trị văn hóa mới và là cơ sở để giao lưu văn hóa quốc tế Chính vì vậy, GTVHTT luôn có tính bền vững
Có thể nói, GTVHTTDT trở thành những nguyên lý đạo đức lớn mà dân tộc đó phải dựa vào để liên kết vào xã hội, tạo nên sức mạnh nhằm xây dựng và bảo vệ đất nước vì sự tiến bộ của con người xã hội Nó là chỗ dựa đáng tin cậy
và là điểm vững chắc cho dân tộc trong quá trình vận động lịch sử ở hiện tại cũng như tương lai Vì vậy, phát huy các GTVHTTDT có vai trò rất quan trọng trong cán bộ đảng viên, nhất là đảng viên trẻ hiện nay để là những chiến sĩ cách mạng tiên phong gương mẫu để quần chúng nhân dân làm theo Tuy nhiên, đặt vấn đề phát huy GTVHTT không phải để chép lại giản đơn những việc xưa mà bàn về vấn đề tác dụng của nó đối với hiện tại cũng như tương lai của dân tộc
Các GTVHTT của Việt Nam được thử thách qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Các GTVHTTDT Việt Nam được hun đúc trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước của nhân dân ta Vượt qua những diễn biến phức tạp của chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, các GTVHTT đã khẳng định sức sống mãnh liệt của mình và chúng được sử dụng như là vũ khí sắc bén, tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn đóng góp vào lịch sử nhiều nghìn năm dựng nước
và giữ nước Lịch sử cho thấy, quan những lần giao lưu, tiếp biến, hội nhập với các nền văn hóa Nam Á, Hán, Pháp, Nga v.v, qua những cuộc chiến tranh tàn bạo với kẻ thù xâm lược, các GTVHTT Việt Nam không chỉ được bảo tồn mà còn phát triển phong phú hơn Các GTVHTT đã ăn sâu vào máu thịt con người Việt Nam, tạo nên một sức mạnh phi thường, có khả năng “đề kháng” và đấu tranh mạnh mẽ chống lại mọi kẻ thù xâm lược qua nhiều thế kỷ
Các giá trị đó chính là: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, trọng nghĩa tình, hiếu học, cần cù, lạc quan v.v Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, các giá trị này không chỉ có vai trò to lớn đối với
Trang 20sự tồn vong mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai Ngày nay, các GTVHTTDT đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Các GTVHTTDT sẽ tạo nên sức mạnh cho công cuộc phát triển đất nước và giảm bớt, loại trừ hay ít ra làm hạn chế không ít những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường
Phát huy các GTVHTTDT là huy động được sức mạnh của toàn dân tộc qua mấy mươi thế kỷ làm nên lịch sử cho công cuộc xây dựng đất nước ở hiện tại cũng như tương lai
1.2 Vai trò của cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý
1.2.1 Khái niệm cán bộ
Theo sách “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên được Nxb Khoa học và Xã hội phát hành năm 1988 thì “cán bộ” có hai nghĩa:
1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước
2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ [ 53, tr.125-126]
Nội hàm của định nghĩa này với nghĩa thứ nhất: Cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước mà trong cả hệ thống chính trị có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên mới gọi là cán bộ và được hình thành thông qua đào tạo tại trường Số cán bộ có trình độ thấp hơn (trung cấp, sơ cấp) gọi là nhân viên Với nghĩa thứ hai: Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức kể cả cán bộ trong hệ thống chính trị thông qua con đường bầu cử, đề bạt, bổ nhiệm v.v
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [ 45, tr.269] Chính vì vậy công tác cán bộ là công tác vô cùng quan trọng trong việc xây dựng Đảng và chính quyền
Trang 21Điều 4, khoản 1 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán
bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [41, tr.4]
1.2.2 Khái niệm đảng viên
Theo điều 1 điều lệ Đảng Cộng sản việt Nam ghi rõ: “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích,
lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều
lệ đảng , các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng” [22, tr.4]
“Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở Đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xem xét kết nạp vào Đảng” [22, tr.4]
1.2.3 Những quan điểm về cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý
Với tư cách là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Huyện uỷ Bình Chánh lãnh đạo mọi mặt hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị theo nguyên tắc: lãnh đạo tập thể, phân công cá nhân phụ trách Nghĩa là, toàn bộ các hoạt động ở huyện đặt dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, nhưng lãnh đạo bằng việc định ra chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ công tác của hệ thống chính trị; bằng công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác kiểm tra của Đảng
Trang 22Trên cơ sở đó, Huyện uỷ ra quyết định lãnh đạo, phân công cho cá nhân các đồng chí huyện uỷ viên tổ chức thực hiện quyết định lãnh đạo của Huyện uỷ
Trên cơ sở nguyên tắc lãnh đạo này, các đồng chí Huyện uỷ viên được phân công hoặc giới thiệu ứng cử vào các chức vụ chủ chốt, trọng yếu trong các
cơ quan nhà nước, mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở huyện theo luật định Những cán bộ này, trên cương vị Huyện uỷ viên, họ là thành viên ban lãnh đạo của Đảng bộ, thực hiện sự lãnh đạo chính trị ở Huyện Nhưng trên cương vị người quản lý hay phụ trách một cơ quan, đoàn thể quần chúng, họ phải hoạt động tuân theo pháp luật, điều lệ của tổ chức quy định rõ chức trách, nhiệm vụ được giao Khi nói tới cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Huyện uỷ quản lý là nói trước hết tới các đồng chí cán bộ lãnh đạo chủ chốt hoạt động trong hệ thống chính trị ở huyện, xã Những cán bộ này thường là người đứng đầu, hoặc giữ vị trí chủ chốt trong các tổ chức, các cơ quan, có vai trò là người định hướng, chi phối và quyết định sự phát triển của tổ chức, cũng như khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của tổ chức đó
Căn cứ Quyết định 3008-QĐ/TU, ngày 21/7/2014 của Ban Thường vụ Thành uỷ, ban hành Quy định phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, Cán bộ thuộc diện Huyện uỷ Bình Chánh quản lý bao gồm chức danh sau: Ủy viên Ban Thường vụ; Ủy viên BCH đảng bộ huyện; Trưởng ban, Phó trưởng ban Đảng; Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban kiểm tra; Chánh, Phó chánh Văn phòng Huyện ủy; Phó chủ tịch và Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; Chánh, Phó chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện; Trưởng, Phó phòng thuộc Uỷ ban nhân dân huyện và các chức danh tương đương; Chủ tịch, Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; Cấp trưởng, cấp phó các đoàn thể chính trị - xã hội huyện; Giám đốc, Phó giám đốc trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện; Bí thư, Phó bí thư, Ủy viên thường vụ Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, Đảng uỷ viên xã, thị trấn; Bí
Trang 23thư, Phó bí thư chi bộ cơ sở trực thuộc Hiện nay số lượng cán bộ thuộc diện Huyện uỷ Bình Chánh quản lý có 591 đồng chí
Căn cứ Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Căn cứ Kết luận số 24-KL/TW ngày 05 tháng 6 năm 2012 của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo Căn cứ chỉ thị 14-CT/TU ngày 11 tháng 5 năm
2013 của Ban Thường vụ Thành ủy về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo Căn cứ Quy chế làm việc của Ban chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Huyện ủy Bình Chánh lần thứ
X nhiệm kỳ 2010 – 2015 Căn cứ Quyết định số 104 – QĐ/HU ngày 15 tháng 10 năm 2013 về ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý Quan niệm về cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện
uỷ quản lý phải có các phẩm chất cụ thể như sau:
Về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức
Có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, trung thành, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa; chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt Quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc biệt là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo nhận thức sai trái, quan điểm lệch lạc, không thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nói và làm trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng; bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng; quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của Đảng
Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với nhân dân; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao; chấp hành sự điều động, phân
Trang 24công của tổ chức;
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; gương mẫu về đạo đức, lối sống giản dị, lành mạnh, tích cực học tập và nỗ lực làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lên trên lợi ích
cá nhân; không tham nhũng và kiên quyết ngăn ngừa, đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; các biểu hiện suy thoái
về đạo đức, lối sống, nhất là chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội,
vụ lợi, hám danh, sống xa hoa, hưởng lạc, tham gia tệ nạn xã hội v.v.; tự chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đối với những tiêu cực trong phạm vi phụ trách
Trung thực; có tinh thần đấu tranh xây dựng nội bộ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; quy tụ cán bộ, phát huy sức mạnh của bộ máy các cơ quan đơn
vị, cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối phụ trách; giữ gìn đoàn kết nội bộ
Có tinh thần cầu tiến, chịu khó nghiên cứu, học tập để không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực công tác
Gia đình (vợ hoặc chồng, con) chấp hành đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Về kiến thức và năng lực
Nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; am hiểu công tác quản lý kinh tế - văn hóa – xã hội, có kiến thức về quốc phòng an ninh, vận động nhân dân; có năng lực lãnh đạo, truyền đạt nghị quyết, chỉ thị, cụ thể hóa và vận dụng có hiệu quả đường lối, nghị quyết của Đảng vào tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị thuộc lĩnh vực được phân công
Có năng lực dự báo, định hướng, tổng kết, phát hiện vấn đề, đề xuất cách giải quyết hiệu quả những vấn đề mới; có khả năng xây dựng, tham gia xây dựng các nghị quyết, quyết định của Huyện ủy; đề xuất các giải pháp, tổ chức thực hiện trong lĩnh vực công tác phụ trách và thảo luận, quyết định những vấn
đề chung của Huyện ủy
Trang 25Có khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phối hợp, tổ chức thực hiện có hiệu quả chỉ thị, nghị quyết của Đảng; xây dựng tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi phụ trách trong sạch, vững mạnh, tuân thủ kỷ cương, quy định của Đảng, của Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển địa phương; có năng lực phát hiện, giới thiệu, lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ có đức, có tài
Về phong cách lãnh đạo, quản lý
Có phương pháp làm việc tốt với con người, với tập thể; khoa học, năng động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
Chấp hành, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo,
cá nhân phụ trách, thường xuyên lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, thấu hiểu đời sống nhất là những vấn đề bức xúc của nhân dân; không định kiến, hẹp hòi, trù dập người dám nói thẳng, nói thật hoặc có ý kiến khác với mình; không bè phái, cục bộ địa phương Sâu sát cơ sở và gần gũi nhân dân, được cán bộ, công chức nơi công tác và nhân dân nơi cư trú tín nhiệm Sử dụng thành thạo tin học văn phòng
Bên cạnh những tiêu chuẩn nêu trên thì cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện
uỷ quản lý đảm bảo độ tuổi dưới 35 tuổi đối với cán bộ không giữ chức vụ và dưới 40 tuổi đối với cán bộ có chức vụ
1.2.4 Vai trò của cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý hiện nay
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng Các Mác và Ph Ăng ghen đã chỉ ra rằng, để thực hiện một lý tưởng cần phải có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn Trong quá trình hoạt động lý luận và chỉ đạo thực tiễn việc thành lập các chính đảng của giai cấp công nhân, Các Mác và Ph Ăng ghen ý thức rất rõ vai trò các lãnh tụ cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mỗi
Trang 26nước Các ông luôn coi họ là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của phong trào vô sản Họ vừa là người tuyên truyền tư tưởng Cộng sản trong quần chúng, tổ chức các phong trào đấu tranh cách mạng trên thực tiễn
Phát triển sáng tạo những tư tưởng của Các Mác trong hoàn cảnh lịch sử mới, VI Lênin khẳng định: Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào Đặc biệt trong giai đoạn Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội - một sự nghiệp mới mẻ, rộng lớn, toàn diện và sâu sắc chưa có tiền lệ trong lịch
sử - Đảng phải đào tạo ra những cán bộ lãnh đạo chính trị tài giỏi, những nhà chính trị chuyên nghiệp thực sự của mình không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản
Chủ tịch Hồ Chí Minh ví cán bộ như dây chuyền của bộ máy, nếu dây chuyền không tốt, thì động cơ dù tốt, toàn bộ máy cũng bị tê liệt Người khẳng định, vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu và rất cần kíp; cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vai
trò của người cán bộ thể hiện qua bốn mối quan hệ: Một là, cán bộ với đường lối chính sách của Đảng; Hai là, cán bộ với tổ chức; Ba là, cán bộ với công việc; Bốn là, cán bộ với quần chúng Người cán bộ cách mạng không chỉ là cầu nối
giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước, mà cán bộ vừa là người lãnh đạo, người
tổ chức, vừa phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
Nhìn tổng quát, vai trò của đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý gắn liền với vai trò hết sức quan trọng của hệ thống chính trị, thể hiện trên những mặt sau:
Một là, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý giữ vai trò
nòng cốt, năng động, sáng tạo trong việc hiện thực hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố
Trang 27đối với công cuộc phát triển kinh tế, chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện
Là đội ngũ trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo, chỉ đạo hoặc trực tiếp lãnh chỉ đạo và tổ chức quần chúng thực hiện sáng tạo các Nghị quyết của Trung ương và Thành ủy, chủ trương, biện pháp của chính quyền thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý tạo nên những đột phá trên cơ sở thành tựu, những bài học kinh nghiệm có giá trị của các thế hệ đi trước để lại, góp phần rất quan trọng trong sự phát triển toàn diện của huyện nhà và của thành phố Vai trò này không những thể hiện chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống chính trị và chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý được giao, mà trong thực tế cũng cho thấy, mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, của Thành
ủy, các quyết định quản lý của Chính phủ, của UBND thành phố, cuối cùng đều
do đội ngũ cán bộ này cụ thể hóa, tham mưu hay tổ chức thực hiện
Nhiệm vụ chính trị quan trọng của hệ thống chính trị cấp Huyện là: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần, chăm lo xây dựng chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đến mọi người dân và tổ chức thực hiện trên địa bàn huyện, phản ánh và giải đáp tâm tư nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy trí tuệ, nguồn lực nhân dân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ trên địa bàn huyện
Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng các cấp, các quy định của luật pháp, các chính sách và văn bản chỉ đạo của Nhà nước; căn cứ vào tình hình cụ thể và những vấn đề đặt ra trên địa bàn huyện, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý xây dựng các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch, biện pháp công tác cho phù hợp và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết đó
Trang 28Hai là, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý giữ vai trò
then chốt trong việc cùng cả tập thể cán bộ diện Ban thường vụ Huyện uỷ quản
lý xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và phong trào cách mạng của quần chúng trên địa bàn huyện
Thực tiễn cho thấy, sự mạnh yếu của hệ thống chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng gắn liền với vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là cán
bộ lãnh đạo, vai trò của cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý Đối với các
tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị, họ là nòng cốt, là trung tâm đoàn kết, là linh hồn của các tập thể trong việc tổ chức, sắp xếp, tập hợp lực lượng Họ tác động quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, năng lực và hiệu quả quản lý của chính quyền, lực lượng vũ trang, hiệu quả của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương Hệ thống chính trị ở địa phương hoạt động tốt hay không tốt, có hoàn thành nhiệm vụ hay không phụ thuộc vào các thành viên cấu thành hệ thống chính trị đó Các thành viên ấy chính là đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý là nòng cốt Vì vậy, cần phải thường xuyên chăm lo xây dựng, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, cán bộ trẻ diện Huyện uỷ quản lý nói riêng mới có thể tăng cường khả năng lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên địa bàn huyện trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa
xã hội trên đất nước ta nói chung, ở cấp huyện nói riêng là sự nghiệp cách mạng
vĩ đại, vô cùng khó khăn gian khổ, do quần chúng thực hiện dưới sự lãnh đạo cuả Đảng tiên phong Sự nghiệp ấy không thể thực hiện tốt được nếu quần chúng không cảm thấy là sự nghiệp của chính họ, nếu quần chúng không nỗ lực sáng tạo thực hiện nó Nhưng để quần chúng giác ngộ thực hiện, để tổ chức, lôi cuốn quần chúng vào các hoạt động cách mạng ở huyện, không ai khác ngoài đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên trẻ ở huyện, xã
Trang 29Vì vậy, nâng cao chất lượng phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý là mắt xích quan trọng nhất để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng trên địa bàn toàn Huyện hiện nay
Ba là, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý là tấm gương
về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách làm việc để những người dưới quyền, tập thể cơ quan đơn vị và nhân dân noi theo, có ảnh hưởng quan trọng tới uy tín của Đảng bộ huyện
Nhân dân coi Đảng là người lãnh đạo mình, vì vậy nhân dân luôn đòi hỏi người cán bộ của Đảng phải luôn luôn là những người gương mẫu, tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thực tiễn Với vai trò đó, cán bộ càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị càng phải gương mẫu, liêm khiết, chí công vô tư, có trách nhiệm trước nhân dân hơn những cán
bộ dưới quyền Nếu cán bộ lãnh đạo không nêu gương tốt, cán bộ trẻ không chủ động, năng động sáng tạo, tu dưỡng rèn luyện bản thân, chỉ chăm lo thu vén lợi ích cá nhân và cục bộ, thì trên thực tế họ không còn là đại biểu của Đảng trước nhân dân, và vì vậy uy tín của người lãnh đạo, của cán bộ đảng viên trẻ trước dân và uy tín của Đảng trước nhân dân sẽ bị sa sút, gây nguy hại đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ
Với chủ trương bám sát, nắm chắc cơ sở, thực hiện phương châm “cùng
ăn, cùng ở, cùng làm”, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý đang hàng ngày tiếp xúc với nhân dân, tiếp xúc với đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở,
họ là cầu nối giữa huyện với cơ sở, là người chuyển tải những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, triển khai nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến cơ sở, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chính sách đó Vì vậy, đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý nhất thiết phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực công tác, được quần chúng tín nhiệm, có lòng trung thành với đường
Trang 30lối và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng Những cán bộ lãnh đạo được phân công phụ trách công tác chính quyền, là những người thường xuyên và trực tiếp giải quyết những công việc liên quan giữa công dân và Nhà nước, giữa nghĩa vụ và quyền lợi công dân, do đó năng lực lãnh đạo của Đảng ở đây được thể hiện ở năng lực giải quyết các công việc về mặt Nhà nước và xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh Chính điều này quy định cán bộ diện Huyện ủy quản lý phải là người có tính Đảng cao, biết tôn trọng và thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phong cách làm việc dân chủ, khoa học, có tri thức văn hóa, năng lực hoạt động thực tiễn phong phú và là người đầy tớ trung thành của nhân dân, mang trong mình những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc đến với quần chúng nhân dân Quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu bản lĩnh chính trị không vững vàng, sa vào lợi ích cá nhân chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến sự lãnh đạo chung của huyện, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng trong nhân dân
Để phát huy những GTVHTT ấy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý phải thường xuyên tự rèn luyện, tư phấn đấu để hoàn thiện bản thân mình, là biện pháp sắc bén nhất giúp cho từng người cán bộ trưởng thành nhanh chóng và vững chắc nhất Chính vì vai trò to lớn của phát huy các GTVHTT của người cán bộ đang viên mà nhất là đảng viên trẻ trong xây dựng Đảng nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ nói riêng
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc vào năm
1947, Bác viết: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, đó là quan điểm mà cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện ủy quản lý phải tâm niệm
Việc phát huy giá trị văn hoá truyền thống cũng giống như là cội nguồn của dân tộc, giúp cho dân tộc cho nhân dân cho cách mạng bền vững theo đúng bản chất dân tộc Việt Nam ta
Trang 311.3 Vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong việc định hướng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong cán bộ đảng viên trẻ diện Huyện uỷ quản lý
1.3.1 Tổ chức cơ sở Đảng định hướng việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong cán bộ đảng viên trẻ thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục
Thực hiện nhiệm vụ chính trị là yêu cầu trực tiếp của TCCSĐ Giáo dục toàn diện, kết hợp ba mặt giáo dục: lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối quan điểm của Đảng; kiến thức văn hoá, quản lý, kỹ thuật; phẩm chất đạo đức cách mạng
Nhân dân là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Để phát huy được vai trò làm chủ đó thì mọi người dân phải hiểu biết Để người dân hiểu biết thì phải có cán bộ đảng viên là người lãnh đạo phải có hiểu biết sâu sắc hơn để quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng Vì vậy, vai trò then chốt để nhân dân hiểu
rõ và chấp hành thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng luôn cần có một đội ngũ cán bộ đảng viên đủ bản lĩnh chính trị, thấm nhuần các giá trị văn hoá truyền thống để gắn kết tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện các nhiệm vụ của Đảng giao cho
Thông qua các hoạt động phong trào cách mạng, hoạt động về nguồn cũng
là một trong những giải pháp để quán triệt, định hướng việc phát huy các giá trị văn hoá truyền thống cho cán bộ đảng viên trẻ
1.3.2 Tổ chức cơ sở Đảng định hướng việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong cán bộ đảng viên trẻ thông qua việc hiện thực hóa các chủ trương, đường lối mà Đảng và Nhà nước giao phó
Xuất phát từ chính nhiệm vụ của người đảng viên được qui định cụ thể tại điều 2 – điều lệ đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là: tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng v.v.; có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng v.v.; liên hệ chặc chẽ với nhân dân, chăm lo cho đời sống nhân dân v.v
Trang 32Từ chính những nhiệm vụ đó mà trong nhiệm vụ cụ thể của mỗi đảng viên phải phát huy đầy đủ vai trò phẩm chất của mình trong việc làm tròn các nhiệm vụ chính trị mà tổ chức đảng đã phân công
1.4 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
và của Đảng ta về các giá trị văn hóa truyền thống
1.4.1 Quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin về giá trị văn hóa truyền thống
Theo Các Mác, chủ thể sáng tạo văn hóa là con người Con người sử dụng văn hoá đó để phát triển năng lực của mình trong quá trình cải tạo và biến đổi tự nhiên, đồng thời cải tạo chính bản thân mình, con người ngày càng ý thức một cách rõ ràng hơn sức mạnh xã hội của lao động và ý thức đầy đủ hơn khả năng, năng lực sáng tạo mang bản chất người của mình - sáng tạo văn hoá, tái sản xuất
ra giới tự nhiên, xây dựng giới tự nhiên của mình theo quy luật của cái đẹp Bằng hoạt động lao động sáng tạo đó và với chính sự tồn tại, phát triển của mình trong thế giới hiện thực, con người đã xác định cho mình cái ranh giới để phân biệt phương thức hoạt động sống của mình với phương thức hoạt động của loài vật Theo đó, văn hóa là cái thể hiện sự giải phóng và tự giải phóng con người khỏi sự ràng buộc, thống trị khỏi một sức mạnh bí ẩn của thế giới tự nhiên
Không chỉ thế, quan niệm về văn hoá của C.Mác còn cho thấy, văn hoá là cái thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động lao động sản xuất của con người Hoạt động lao động sản xuất tạo ra toàn bộ sự phong phú, đa dạng cho tồn tại của con người, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên xung quanh và quan hệ của con người với con người trong cộng đồng xã hội - chính là cội nguồn của văn hoá
Song song với điều đó, Các Mác quan niệm: Văn hoá là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó, con người tái sản xuất và sản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội Đó là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống giá trị mang tính định hướng cho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội
Trang 33Với hệ thống giá trị định hướng này, mỗi nền văn hoá trở thành một hệ thống biểu tượng bao hàm trong đó các khuôn mẫu ứng xử xã hội của con người
Đó còn là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những thể chế mà qua đó, những giá trị cao đẹp, mạng tính định hướng được giữ gìn, lưu truyền và phổ biến trong cộng đồng xã hội, trở thành tài sản của mỗi người, của tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội ấy và làm nên truyền thống văn hoá cho một cộng đồng xã hội
Trong quan niệm của Các Mác, văn hoá không chỉ đóng vai trò là cơ sở,
là nền tảng tinh thần của xã hội, của lịch sử nhân loại, mà còn là lĩnh vực luôn
có ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đến sự phát triển xã hội
1.4.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc
Trong Nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức UNESCO đã khẳng định rằng: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh truyền thống hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của người là hiện thân của những khát vọng của dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” [23, tr.123]
Trong hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, các tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí đặc biệt Ngay từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành vị Chủ tịch nước đầu tiên của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi văn hoá là mục đích, là phương tiện và nền tảng của cuộc đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước Dù đấu tranh trên mặt trận kinh tế hay chính trị, đối nội hay đối ngoại, Hồ Chí Minh luôn coi quyền con người, vấn đề con người là trung tâm điểm của mọi quan hệ này Sự lựa chọn giải pháp kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc và sự lựa chọn có tính toán
Trang 34đến các GTVH Dân tộc Việt Nam có một nền văn hoá phát triển và chủ nghĩa yêu nước là một giá trị lớn Khi đấu tranh cho quyền dân tộc cơ bản, Hồ Chí Minh đã dựa trên nền tảng một chủ nghĩa nhân văn chân chính và chính từ chủ nghĩa nhân văn này mà các giá trị về quyền dân tộc được phát huy hiệu quả
Tư tưởng văn hoá của Hồ Chí Minh có một phạm vi rất rộng, nó bao chứa một hệ thống quan điểm trên bình diện thế giới quan triết học về tồn tại xã hội
và ý thức xã hội, về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, về cá nhân và cộng đồng, về truyền thống và hiện tại, dân tộc và quốc tế, về bản chất xã hội và các đặc trưng thẩm mỹ của văn hóa; về giải pháp xây dựng một nền văn hoá mới Đó là tư tưởng có nhiều giá trị quý giá cả về lý luận và thực tiễn, đã góp phần rất quan trọng vào quá trình chuyển từ nền văn hoá Việt Nam truyền thống sang một nền văn hoá Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại ở tầm tư duy lý luận
Người chỉ rõ: Văn hoá là toàn bộ những sáng tạo và phát minh về ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, tôn giáo, pháp luật, khoa học, văn học, nghệ thuật, những công cụ về sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn” [52, tr.431]
Người phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và cơ sở hạ tầng, văn hoá với chính trị, xã hội Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: Công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội Văn hoá là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng Quan điểm này được Bác nêu ra sau Cách mạng Tháng Tám Ở đây, Hồ Chí Minh đặt văn hoá ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và các vấn đề này có quan hệ biện chứng với nhau, quan hệ mật thiết nhau
Vì thế, trong công cuộc xây dựng đất nước, cả bốn vấn đề này đều phải được coi trọng như nhau
Trang 35Nhưng đối với Hồ Chí Minh, xây dựng và phát triển đất nước phải coi trọng cả kinh tế, chính trị và văn hoá ngang nhau, chỉ có như vậy xã hội mới phát triển bình thường, nhịp nhàng và lâu bền được Theo Người: kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa Vì vậy: Phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện để xây dựng và phát triển văn hoá Người viết: Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng, nhưng cơ
sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được Người còn viết: “Muốn tiến lên CNXH thì phải phát triển kinh tế và văn hoá Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế Tục ngữ có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước” [1, tr.303]
Như vậy, văn hóa mà Hồ Chí Minh đề cập ở đây là văn hóa theo nghĩa rộng Đó là sự hiểu biết và trí tuệ của con người và do con người tích luỹ được, cùng tâm hồn cao thượng, đạo lý tốt đẹp trong mối quan hệ của con người với đồng loại, với
xã hội và tự nhiên, được xây dựng, bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử; nó là nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người dạy chúng ta phải giữ gìn
và phát huy những truyền thống ấy và bản sắc của dân tộc Người yêu cầu “Phải chăm lo đến đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”, “chú ý phát huy cốt cách dân tộc”, “lột cho hết tinh thần dân tộc”, “miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” những hiện thực vĩ đại của dân tộc, những tình cảm, tính cách và tâm hồn Việt Nam “để cổ vũ đồng bào ta, để giáo dục dân tộc ta” [1, tr.304]
Người nhấn mạnh phải nêu cao lòng yêu nước, đoàn kết, thương dân, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập tự cường, lòng khoan dung, tình nhân ái Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng”, “nhân dân ta rất anh hùng”, “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”, “cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình”, “dân Việt Nam không muốn đổ máu, yêu chuộng hoà bình Nhưng nếu
Trang 36phải cần hy sinh mấy triệu chiến sỹ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến” [1, tr.304-305]
Bản lĩnh anh hùng, gan dạ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, không khoan nhượng với kẻ thù, và con người Việt Nam cũng rất cần cù, thông minh, khéo léo trong lao động sản xuất, trong công cuộc xây dựng cuộc sống, xây dựng đất nước Đặc biệt con người Việt Nam rất khoan dung, giàu lòng nhân ái, Hồ Chí Minh viết: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu đồng tình và bác ái”, “chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình, công lý, nhân đạo”, luôn luôn đoàn kết yêu thương nhau theo tinh thần “nhiễu điều phủ lấy giá gương” Người còn viết thêm “trước lòng nhân ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”, “một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm việc nhỏ nhen, báo thù, báo oán” [1, tr.307]
Hồ Chí Minh viết: “Mình đã ảnh hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng, mình đừng chịu vay mà không trả”, “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại v.v, Tây phương hay Đông phương có cái tốt gì ta học lấy để tạo
ra một nền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ” [1, tr.238]
Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã đề xướng và lãnh đạo xây dựng một nền văn hoá mới - nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, chống lại tất cả những gì
là phản văn hoá, phi văn hoá
Trong đời sống của bản thân, ý thức về những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã ăn sâu vào máu thịt của Người, tạo nên phong cách sống Hồ Chí Minh - lối sống giản dị, cần kiệm, biết phát huy những giá trị cao đẹp và khắc phục những tàn dư lạc hậu, lỗi thời, là bài học lớn mà Bác đã để lại cho chúng ta Ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ở tác
Trang 37phẩm “xây dựng đời sống mới” Bác kêu gọi mọi người nêu cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, ra sức tiến hành cần kiệm liêm chính chí công vô tư v.v, đồng thời phải khắc phục những tập quán lạc hậu Tất cả những quan điểm trên của Người đều toát lên rất rõ cốt cách tâm hồn Việt Nam, con người Việt Nam
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương gắn văn hóa với phát triển, chủ trương đưa các giá trị văn hoá thấm sâu vào kinh tế và chính trị, làm cho văn hoá thực sự là mục tiêu, vừa là động lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
1.4.3 Quan điểm của Đảng ta về giá trị văn hóa truyền thống dân tộc
Nhận thức và nội dung đường lối xây dựng văn hoá thời kỳ trước đổi mới:
Để xây dựng một nền văn hoá mới ở Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định cần thiết phải làm thay đổi sự phát triển ưu trội của hệ giá trị trong văn hoá Sự thể hiện đầu tiên đó là “Đề cương văn hoá Việt Nam” năm 1943 của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa tính khoa học lên hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới Đây là lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, Đảng ta họp bàn và có chủ trương kịp thời về văn hoá văn nghệ Việt Nam trong thời điểm chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền Đề cương xác định lĩnh vực văn hoá là một trong ba mặt trận của cách mạng Việt Nam và đề ra ba nguyên tắc của nền văn hoá mới: Dân tộc, khoa học, đại chúng Nền văn hoá mới Việt Nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung Có thể coi Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời đã mở đường cho văn hoá Việt Nam theo hướng mới, tiến bộ và là bản tuyên ngôn của Đảng về văn hoá mà ảnh hưởng của nó còn có tác động sâu rộng đến mãi sau này
Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày với các Bộ trưởng 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trong đó 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá Thứ nhất là: cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt; Thứ hai là: chế độ thực dân đã
Trang 38hủ hoá dân tộc Việt Nam bằng những thói xấu, lười biếng, gian xảo, tham ô và những thói khác Vì vậy, một nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập [7, tr.141]
Đường lối văn hoá kháng chiến được hình thành dần tại chỉ thị của BCH
TW Đảng về “Kháng chiến kiến quốc” (tháng 11/1945) và ở Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai (tháng 7/1948) với nội dung: Xác định mối quan hệ giữa văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ vũ văn hoá cứu quốc; xây dựng nền văn hoá dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là dân tộc, dân chủ (nghĩa là yêu nước và tiến bộ); Phát triển cái hay trong văn hoá dân tộc; đồng thời bài trừ cái xấu xa hủ bại; Ngăn ngừa sự xâm nhập của văn hoá thực dân, phản động; đồng thời học cái hay, cái tốt của văn hoá thế giới
Đường lối xây dựng phát triển văn hoá trong giai đoạn cách mạng CNXH được hình thành và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội lần thứ III, Lần thứ IV, lần thứ V của Đảng Đại hội Đảng lần thứ III đưa ra luận điểm xây dựng văn hoá với “nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc” Đây là một mô thức văn hoá mở rộng, củng cố và phát triển các thành quả văn hoá đã đạt được ở các thập niên trước đó trong hoàn cảnh mới Với sức sống của mình, nhân dân ta đã kiến tạo nên những GTVHTT, góp phần làm phong phú hơn nền VHTT Việt Nam
Từ Đại hội VI đến Đại hội XI đã hình thành từng bước nhận thức mới về đặc trưng của nền văn hoá mới mà chúng ta cần xây dựng; về vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Cương lĩnh đại hội VII lần đầu tiên đưa ra quan niệm về văn hoá Việt Nam có hai đặc trưng: tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, thay cho quan niệm
về văn hoá Việt Nam có nội dung xã hội chủ nghĩa, có hình thức dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân được nêu ra trước đây Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có
Trang 39nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ, khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời thấp kém; khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá, làm cho thế giới quan Mác - Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH Nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục phát triển và nâng cao các GTVH mà suốt mấy ngàn năm lịch sử bằng lao động vất vả, chiến đấu dũng cảm, nhân dân Việt Nam đã đạt được Đây là nền văn hoá lấy tư tưởng độc lập dân tộc và CNXH, Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị cơ bản của con người làm nền tảng Nền văn hoá này khi giữ gìn các giá trị bền vững của truyền thống và tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại Đó là một nền văn hóa giữ vững tính nhân dân, tính dân tộc, bảo tồn các giá trị bền vững, lành mạnh đảm bảo tính phong phú, thống nhất
mà đa dạng để tiếp biến những giá trị văn minh của nhân loại
Bản sắc dân tộc bao gồm những GTVHTT bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình; làng xã - Tổ quốc; đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống v.v Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo
Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và nhiều nghị quyết TW tiếp theo đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và coi văn hoá vừa là mục tiêu vừa
Trang 40là động lực của sự phát triển Đây là một tầm nhìn mới về văn hóa phù hợp với tầm nhìn của thế giới
Nghị quyết TW 5, khoá VIII chỉ ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình phát triển văn hoá trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó là:
Thứ nhất: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội [16, tr.14]
Thứ hai: Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc [16, tr.14]
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ, (tinh hoa nhân loại), đó chính là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự
do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử mấy ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa, tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế ứng xử, tính giản dị trong lối sống v.v
Thứ ba: Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [16, tr.15-16]
Thứ tư: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng [16, tr.16]
Thứ năm: Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một
sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng [16, tr.17]
Tại Hội nghị TW 9, khoá IX (tháng 1/2004) xác định thêm: “Phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế” Tại Hội nghị TW 10, khoá IX (tháng