Khái niệm người nước ngoài và phân loại người nước ngoài 1.1 Khái niệm người nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam Để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh đến chủ thể là người
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Mã Bài tập lớn: 17 BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LẤY VÍ DỤ ĐỂ
MINH HỌA VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH ĐÓ
Họ và tên: Phạm Thị Thu Hà MSSV: 21A4060061
Lớp niên chế: K21LKTA Nhóm lớp tín chỉ: LAW45A01
ĐIỂM TRUNG BÌNH:
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I/ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1
1 Khái niệm người nước ngoài và phân loại người nước ngoài 1
1.1 Khái niệm người nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam 1
1.2 Phân loại người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam 2
2 Khái niệm năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài 2
II/ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 3
1 Quy định về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 3
2 Các trường hợp đặc biệt khi xác định năng lực hành vi của người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 6
III/ ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 10
1 Ưu điểm 10
2 Hạn chế 10
IV/ KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thì yếu tố
mà bất cứ chủ thể nào cũng cần phải có là năng lực chủ thể Tuy nhiên, do có sự khác biệt về các đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội,… mà có thể dẫn đến vấn đề xung đột pháp luật trong xác định năng lực chủ thể giữa các quốc gia Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà mình là thành viên,… và hệ thống pháp luật quốc gia cũng đã đưa ra một số quy định để điều chỉnh vấn đề này Bài viết dưới đây sẽ phân tích và chỉ ra sự hợp lý cũng như những điểm hạn chế trong các quy định pháp luật của Việt Nam trong điều chỉnh vấn đề này
I/ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN
SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1 Khái niệm người nước ngoài và phân loại người nước ngoài
1.1 Khái niệm người nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam
Để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh đến chủ thể là người nước ngoài trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam cũng có quy định
để xác định chủ thể này trong một số văn bản pháp luật như sau:
Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ban hành ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự có yếu
tố nước ngoài thì “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người
có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch” Trong Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
cũng quy định về khái niệm của chủ thể này theo cách thức liệt kê: “Người nước ngoài cư trú
ở Việt Nam là công dân nước ngoài hoặc người nước ngoài không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam”
Như vậy, có thể suy ra rằng một người được xem là người nước ngoài khi người này không mang quốc tịch Việt Nam
Việc quy định như này cũng phù hợp với cách quy định của hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới; cụ thể là việc sử dụng dấu hiệu quốc tịch để xác định địa vị pháp lý của một
Trang 4cá nhân, bất cứ cá nhân nào không mang quốc tịch của quốc gia sở tại đều được xác định là người nước ngoài
1.2 Phân loại người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào các quy định về thuật ngữ “người nước ngoài” theo pháp luật Việt Nam thì theo dấu hiệu quốc tịch, có thể hiểu người nước ngoài bao gồm:
- Người có một quốc tịch nước ngoài không phải là quốc tịch Việt Nam
- Người mang quốc tịch của hai hay nhiều quốc gia khác nhau
- Người không có quốc tịch của bất cứ quốc gia nào
Như vậy, khái niệm người nước ngoài được đề cập trong pháp luật dân sự Việt Nam chỉ bao gồm cá nhân nước ngoài mà không bao gồm pháp nhân nước ngoài
2 Khái niệm năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài
Để tham gia và các quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật thì một chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định, pháp luật Việt Nam quy định năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự và được quy định tại mục 1 chương III Bộ luật Dân sự
2015 (BLDS 2015)
Theo đó, năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân được hiểu “là khả năng cá nhân đó
có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” (Khoản 1 Điều 16), trong khi năng lực hành vi dân
sự của cá nhân được quy định “là khả năng cá nhân đó bằng hành vi của mình xác lập, thực
hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 19)
Vì các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế cũng là các quan hệ dân
sự nên cũng có thể hiểu khái niệm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài như sau:
- Năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài là khả năng cá nhân là người nước ngoài
có các quyền và nghĩa vụ dân sự
- Năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài là khả năng cá nhân là người nước ngoài đó bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
Trang 5II/ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là hai yếu tố quan trọng để xác định năng lực chủ thể của người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam, trong đó năng lực hành vi dân sự được quy định cụ thể tại chương XXVI BLDS 2015
1 Quy định về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thì trước tiên các cá nhân là người nước ngoài cần phải có năng lực chủ thể Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm chính trị - xã hội, phong tục tập quán,… mà quan điểm về năng lực chủ thể của cá nhân là người nước ngoài của các quốc gia sẽ khác nhau Cụ thể, ở Việt Nam năng lực hành vi dân sự của một cá nhân là người nước ngoài được quy định tại điều 674 BLDS 2015:
1 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó
có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
2 Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người đó được xác định theo pháp luật Việt Nam
3 Việc xác định cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam
Như vậy có thể thấy năng lực hành vi pháp luật của người nước ngoài được xác định theo các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, khả năng một cá nhân nước ngoài xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự
không trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được xác định dựa vào hệ thống pháp luật nơi mà người đó mang quốc tịch Quy định này cũng tương tự như quy định về xác định năng lực pháp luật dân
sự của người nước ngoài tại khoản 1 điều 673 BLDS 2015 Theo đó, nếu một cá nhân là công dân Anh thì năng lực hành vi của người đó sẽ được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật Anh
Trang 6Quy định này thể hiện sự tôn trọng của pháp luật Việt Nam với mối quan hệ quốc tịch giữa một cá nhân nước ngoài với quốc gia mà họ mang quốc tịch Hay nói cách khác, khi áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết một quan hệ dân sự phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam và thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế thì năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự của một người nước ngoài sẽ được xác định theo pháp luật nước mà người đó mang quốc tịch
Ví dụ: Chị A (công dân Việt Nam) và anh B (công dân Thái Lan) kết hôn với nhau được 5 năm và việc đăng ký kết hôn được diễn ra tại Thái Lan Một thời gian sau, do cãi vã chị A đã trở về Việt Nam và cư trú tại phường Cầu Giấy, Hà Nội và nộp đơn ra toà án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu xin ly hôn với anh B Lúc này, toà án phải xem xét sự kiện kết hôn của 2 người có phù hợp với pháp luật Việt Nam hay không Trong trường hợp này căn cứ khoản 1 điều 674 năng lực hành vi của anh B trong quan hệ kết hôn được xác định theo pháp luật Thái Lan do anh B có quốc tịch Thái Lan
- Thứ hai, trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại
Việt Nam thì năng lực hành vi của họ sẽ được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam
Quy định như vậy là nhằm mục đích tạo sự công bằng cho chính chủ thể thực hiện hành vi
và cho các chủ thể khác cùng tham gia vào quan hệ dân sự được xác lập, thực hiện tại Việt Nam khi họ đều cùng bị điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật Bên cạnh đó, vì các giao dịch này được xác lập và thực hiện tại Việt Nam nên việc quy định này cũng tạo điều kiện cho quá trình quản lý, điều chỉnh và giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài một các nhanh chóng hơn
Cơ sở cho quy định về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài tại Việt Nam xuất phát từ quy định tại khoản 2 điều 673 BLDS 2015, cụ thể trong trường hợp người nước ngoài thường trú hay tạm trú tại Việt Nam thì năng lực pháp luật sẽ được xác định như công dân Việt Nam và theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam quy định khác Nói cách khác, cá nhân này sẽ được hưởng các quyền về nhân thân, sở hữu,… nhất định và có nghĩa vụ phải tôn trọng pháp luật của Việt Nam,… Việc người nước ngoài tại Việt Nam có
Trang 7năng lực pháp lực dân sự được xác định theo luật Việt Nam tạo điều kiện cho xác định phạm
vi quyền và nghĩa vụ mà người này có khả năng thực hiện trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự về các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Ví dụ: Anh A (quốc tịch Đức) đang sinh sống tại Việt Nam, anh có mong muốn mở một tiệm hoa nhỏ và muốn nhập hoa từ Tây Bắc về để bán nên có làm hợp đồng mua hoa với một trang trại hoa ở Điện Biên Tuy nhiên, trong một lần giao hoa thì anh A bị đưa đi cách ly do
có tiếp xúc với F0 dương tính với Covid-19 dẫn đến việc hoa bị hư hỏng sau khi vận chuyển trở lại trang trại, phía bên trang trại cho rằng nếu anh A báo trước cho bên trang trại trong khi chờ kết quả xét nghiệm của người bị nghi là F0 tiếp xúc với anh trước đó thì sẽ không xảy
ra hậu quả trên cho nên đã khởi kiện anh A đòi bồi thường Lúc này do quan hệ mua bán giữa anh A và chủ trang trại kia được xác lập tại Việt Nam nên căn cứ theo khoản 2 điều 674 nên năng lực hành vi của anh A sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam và lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc này
Tuy nhiên, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài cũng có một giới hạn nhất định
do không phải trong trường hợp nào thì năng lực pháp luật của người nước ngoài cũng được xác định như của công dân Việt Nam Ví dụ như trong vấn đề nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thì người nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt
Nam hay chỉ có công dân Việt Nam mới có quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang Việt Nam,…điều này đương nhiên dẫn đến sự hạn chế trong năng lực hành vi mà các chủ thể là
người nước ngoài có thể được hưởng
Việc quy định về các quyền và nghĩa vụ dành riêng cho công dân nước mình vô cùng cần thiết trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các công dân, tạo cơ hội cho công dân Việt Nam được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ riêng biệt và đồng thời cũng có ý nghĩa lớn trong các vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng,…
- Thứ ba, một cá nhân chỉ được công nhận là mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam khi người này đáp ứng được các điều kiện về xác định một cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có
Trang 8khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy
định tại điều 22, điều 23, điều 24 BLDS 2015
Ví dụ: Ông X (quốc tịch Pháp), do bị bệnh về thần kinh dẫn đến mất khả năng làm chủ được hành vi của mình nên đã bị hàng xóm là anh C dụ dỗ ký hợp đồng tặng cho anh C một khoản tiền tiết kiệm gửi tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Cầu Giấy; sau đó, chị Z là con gái của ông X biết được nên đã yêu cầu Toà án Việt Nam tuyên bố ông X mất năng lực hành
vi dân sự để vô hiệu hợp đồng tặng cho với anh C Như vậy, lúc này Toà án Việt Nam căn cứ vào các điều kiện để xác định một cá nhân có được xem là mất năng lực hành vi không theo quy định tại điều 22 để xem xét trường hợp của ông X do ông X đang cư trú, sinh sống ở Việt Nam và yêu cầu này được xảy ra tại Việt Nam
Việc quy định như vậy là hợp lý vì việc xác định các trường hợp mất năng lực hành vi dân
sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ
là căn cứ để điều chỉnh và giải quyết các giao dịch dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài được xác lập và thực hiện tại Việt Nam, do vậy việc sử dụng pháp luật Việt Nam làm căn cứ xác định là hợp lý
2 Các trường hợp đặc biệt khi xác định năng lực hành vi của người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Trong xác định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài cũng cần phải lưu ý một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, trong quy định tại khoản 1 điều 674 chỉ có thể áp dụng trực tiếp với người mang
một quốc tịch không phải quốc tịch Việt Nam; đối với trường hợp cá nhân đó là người nước ngoài không có quốc tịch hay có hai hay nhiều quốc tịch thì việc xác định luật dẫn chiếu đến phải tuân theo nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng đối với người không có quốc tịch, người
có nhiều quốc tịch quy định tại điều 672 BLDS 2015:
“1 Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nếu người đó
có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân
Trang 9sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên
hệ gắn bó nhất
2 Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú
và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn
bó nhất.”
+ Cụ thể, căn cứ vào khoản 1 điều 672 thì đối với người không có quốc tịch thì năng lực hành
vi của họ sẽ được xác định theo quy định của pháp luật nơi người đó cư trú vào thời điểm phát
sinh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Ví dụ, D là người không có quốc tịch hiện đang cư trú tại Trung Quốc, D thường xuyên giúp đỡ ông X là người bán hàng vỉa hè để kiếm cơm ăn qua ngày Một thời gian sau, ông X chết vì đột quỵ và đã viết di chúc trước đó để lại cho D một khoản tiền nhỏ Lúc này việc xác định năng lực hành vi của D trong việc nhận thừa kế của ông X sẽ dựa vào pháp luật Trung Quốc căn cứ theo khoản 1 điều 672 BLDS 2015 vì tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm phát sinh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài), D là người không có quốc tịch và đang cư trú tại Trung Quốc
Nếu tại thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú thì năng lực hành vi của người này được xác định theo pháp luật nước người đó có mối liên hệ gắn bó nhất Quy định này có điểm khác
biệt so với quy định trong BLDS 2005, trong BLDS 2005 quy định “nếu người đó không có
2005 thì lúc này năng lực hành vi của người nước ngoài sẽ xác định theo pháp luật Việt
thống pháp luật, phù hợp hơn với tính chất mối quan hệ dân sự đang cần điều chỉnh
Trang 10+ Theo khoản 2 điều 672 BLDS 2015, đối với người hai hay nhiều quốc tịch thì năng lực hành
vi của người này sẽ được xác định căn cứ vào pháp luật nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Ví dụ: Ông A (quốc tịch Việt Nam) ký hợp đồng đặt may quần áo thiết kế riêng với ông Y (có 3 quốc tịch Anh, Pháp, Đức) đang sinh sống và làm việc tại Anh Theo hợp đồng, ông A
sẽ cung cấp vải cho ông Y Tuy nhiên, sau khi nhận hàng ông A phát hiện ông Y không sử dụng đúng chất liệu vải cao cấp mà mình đã cung cấp và cũng không có thông báo hay giải thích thích đáng về điều này, do vậy ông A đã khởi kiện ra toà án Việt Nam yêu cầu bồi thường Khi này Toà án Việt Nam căn cứ khoản 2 điều 672 BLDS 2015 thì sẽ xác định năng hành vi của Y căn cứ vào pháp luật của Anh làm cơ sở để giải quyết vụ việc vì tại thời điểm ký kết hợp đồng ông Y đang cư trú tại Anh
Khoản 2 điều 672 BLDS 2015 cũng đề cập trong trường hợp người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thì xác định năng lực hành vi căn cứ vào pháp luật nước mà người đó có quốc tịch và có mối quan hệ gắn bó nhất
Song, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể mang tính tổng quát cho việc xác định
thế nào là “pháp luật của nước mối quan hệ gắn bó nhất”, tuy nhiên căn cứ vào điều 683 BLDS
2015 về việc xác định pháp luật nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng thì cũng có thể hiểu yếu tố “mối liên hệ gắn bó nhất” ở đây có thể được xác định linh hoạt trong từng trường hợp, có thể xác định theo thời gian cư trú, nơi làm việc, tài sản là bất động sản,…
Xem xét ví dụ phía trên, nếu như việc ký kết hợp đồng được diễn ra trong lúc ông Y đang
cư trú tại Thái Lan và đã có thời gian cư trú và làm việc lâu dài nhất trước đó tại Anh, thì lúc này căn cứ khoản 2 điều 672 năng lực hành vi của ông Y không được xác định theo luật Thái Lan do ông không mang quốc tịch Thái Lan mà được xác định theo pháp luật của nước mà ông mang quốc tịch và gắn bó nhất là Anh do ông có thời gian cư trú, làm việc lâu dài là Anh Tuy nhiên, trong trường hợp người có hai hay nhiều quốc tịch mà trong đó có quốc tịch Việt Nam thì năng lực hành vi của họ được xác định theo pháp luật Việt Nam Việc quy định như