hội, đóng góp to lớn vào quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hànghoá; cho phép mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng trong cả nước; xoá đikhoảng cách về địa lý;
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia nằm ở cực Đông Nam của bán đảo Đông Dương, có diện tích khoảng 330.991 km 2 nằm trải dài từ Bắc tới Nam với chiều dài khoảng 1.650 km, do đó hệ thống đường bộ có một vị trí rất quan trọng Giao thông vận tải bằng đường bộ là loại hình vận tải có chi phí thấp và thuận lợi, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu lưu thông hàng hoá và đi lại của con người rất lớn Xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển, giao lưu văn hoá, hội nhập quốc tế, bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng.
Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã dành sự quan tâm lớn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đầu tư cho giao thông nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây là một nội dung mang tính chiến lược nằm trong lộ trình thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa kể từ đường lối Đổi Mới (1986) Để hiện thực hóa chủ trương này, Chính phủ đã huy động nhiều nguồn vốn đầu tư khác nhau nhằm phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng Tỷ lệ vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 10% GDP, trong đó vốn từ ngân sách nhà nước chiếm đến 65%.
Quảng Bình là một trong những địa phương chủ yếu sử dụng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông Theo Quyết định số 540/QĐ-UBND Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình đến năm 2020, dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư cở sở hạ tầng giao thông là 35.000 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2012-2016 là 13.310 tỷ đồng, giai đoạn 2016 – 2020 là 21.696 tỷ đồng,triển khai thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm, như: Nâng cấp mở rộng Quốc lộ 1,Quốc lộ 12A, Quốc lộ 15, Xây dựng cầu Nhật Lệ 2, Cải tạo nâng cấp hệ thống các tuyến đường tỉnh 565, 562…[24] Việc tăng cường đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống giao thông trong nhiều năm trở lại đây đã tác động tích cực đến kinh tế - xã hội, đóng góp to lớn vào quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá; cho phép mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng trong cả nước; xoá đi khoảng cách về địa lý; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý; phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương, từng ngành; xoá đói giảm nghèo; cũng cố quốc phòng - an ninh.
Ở Quảng Bình, công tác quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đang bộc lộ nhiều hạn chế: lập dự toán vốn đầu tư chưa bám sát điều kiện thực tế và quy mô công trình; cơ chế quản lý và sử dụng vốn ngân sách nhà nước quá phức tạp với sự chồng chéo của nhiều bộ ngành và cơ quan quản lý; công tác giải ngân và quyết toán còn tồn tại nhiều bất cập, thủ tục hồ sơ thanh quyết toán rườm rà và chậm cải cách gây phiền toái cho chủ đầu tư và nhà thầu thi công Đặc biệt, nhiều công trình thi công chậm tiến độ và xảy ra hiện tượng đội vốn do lạm phát tăng trong quá trình thi công, dẫn tới thất thoát và lãng phí nguồn vốn Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách nhà nước có hạn và huy động vốn gặp nhiều khó khăn khi nền kinh tế đang phục hồi, hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và đầu tư phát triển giao thông nói riêng là yêu cầu cấp thiết không chỉ với Quảng Bình mà còn với các địa phương khác trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn quản lý vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình” làm Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế Đề tài phân tích hiện trạng, đánh giá hiệu quả các quy trình cấp vốn và chi tiêu, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư, tối ưu chi phí và đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trên địa bàn Kết quả nghiên cứu hướng tới cung cấp các khuyến nghị thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị đầu tư, đồng thời bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Bình.
Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại Quảng Bình cho thấy những hạn chế và bất cập cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả đầu tư Dự kiến hệ thống giải pháp được đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Quảng Bình đến năm 2025, tập trung vào tăng cường tính minh bạch, kiểm soát chi phí, cải thiện quy trình quản lý dự án và ứng dụng công nghệ thông tin Mục tiêu là tối ưu hóa nguồn vốn ngân sách nhà nước, đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn cho các dự án giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh, từ đó thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng và kinh tế Quảng Bình đến năm 2025.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng;
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Quảng Bình giai đoạn 2016 - 2018;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hạ tầng giao thông đường bộ tỉnh Quảng Bình trong thời giantới.
Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin
4.1.1 Số liệu thứ cấp Được thu thập từ Niên giám thống kê Việt Nam và tỉnh Quảng Bình; các báo cáo, tài liệu của các ban ngành tỉnh Quảng Bình, đặc biệt của Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Bình; thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học, công trình và đề tài khoa học
Nhằm đạt mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả tiến hành điều tra khảo sát thực tế các đối tượng trực tiếp hoặc có liên quan, bao gồm cán bộ Ban Quản lý dự án, Sở Giao thông Vận tải, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị thi công xây lắp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Dữ liệu thu thập được dựa trên phương pháp định lượng, sau đó được tổng hợp và phân tích để rút ra nhận xét khách quan về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn ngân sách nhà nước Quá trình phân tích nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng, quy trình và hiệu quả quản lý vốn đầu tư tại tỉnh, từ đó cung cấp căn cứ đáng tin cậy cho đánh giá và đề xuất cải thiện công tác quản lý vốn đầu tư công trình giao thông đường bộ ở Quảng Bình.
- Các cán bộ phòng ban chuyên môn thuộc Ban quản lý dự án, Sở Giao thông vận tải, cán bộ Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Bình: Đây là bộ phận tham mưu, giúp việc trực tiếp cho chủ đầu tư trong tổ chức, điều hành các công việc liên quan đến các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, như: lập hồ sơ mời thầu, chỉ định thầu; giải quyết các thủ tục hồ sơ thanh quyết toán vốn đầu tư; Vì vậy, việc điều tra phỏng vấn các thành viên Ban quản lý dự án và các cán bộ phòng ban sẽ thu thập đầy đủ và chính xác các thông tin liên quan đến cơ chế quản lý vốn; công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư tại KBNN tỉnh Quảng Bình; năng lực của các nhà thầu.
Nghiên cứu này tiến hành điều tra toàn bộ các thành viên của Ban Quản lý
Dự án bao gồm 36 cán bộ, các phòng ban chuyên môn 10 cán bộ và cán bộ Kho bạc tỉnh 8 cán bộ.
Đơn vị thi công là các doanh nghiệp được chủ đầu tư chỉ định thầu hoặc trúng thầu các gói thầu tư vấn thiết kế, giám sát; cung cấp thiết bị; thi công công trình Việc điều tra, phỏng vấn các đơn vị thi công giúp tác giả nắm rõ cơ chế đấu thầu và chỉ định thầu, quy trình thanh quyết toán vốn đầu tư và cách giải quyết các thủ tục hồ sơ liên quan đến thanh quyết toán vốn đầu tư Đối tượng được điều tra, phỏng vấn tại các đơn vị thi công gồm Ban Giám đốc; Trưởng, Phó phòng Tài chính; Kế toán trưởng; Trưởng, Phó phòng Kỹ thuật.
Do hạn chế về thời gian và điều kiện đi lại gặp khó khăn, nghiên cứu này chỉ tiến hành điều tra tại 10 doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, với tổng số mẫu điều tra là 50 mẫu.
Như vậy, tổng số đối tượng cần được điều tra khảo sát là 104 người Thông tin thu thập từ các đơn vị được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường bưu điện dựa vào câu hỏi nghiên cứu đã được thiết kế sẵn.
Cuộc điều tra tập trung vào các vấn đề liên quan đến công tác quản lý vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình Các tiêu chí đánh giá đã được xây dựng sẵn trong bảng hỏi Các ý kiến đánh giá của các bên liên quan được cấu trúc dưới dạng thang đo Likert 5 điểm, trong đó 1 điểm thể hiện quan điểm hoàn toàn không đồng ý và 5 điểm thể hiện quan điểm hoàn toàn đồng ý với các phát biểu liên quan đến công tác quản lý vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại Quảng Bình.
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Để đạt được các mục tiêu đề ra, tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích sau: phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp thống kê mô tả, so sánh (số trung bình, số tuyệt đối, số tương đối, tần suất,… ) được sử dụng trong việc phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Cụ thể:
Phương pháp thống kê mô tả: Tập hợp các số liệu và thông tin đã thu thập được, chọn lọc và thống kê những thông tin cần thiết.
Phương pháp so sánh: Sau khi thu thập và phân tích các số liệu cần thiết sẽ tiến hành so sánh qua các thời kỳ.
Việc xử lý và tính toán các số liệu và chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính thông qua sử dụng phần mềm Excel và phần mềm thống kê SPSS.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương sau: Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình.
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG
1.1.1 Vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước a Đầu tư
Có rất nhiều quan niệm, cách hiểu về đầu tư trên nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau. Đầu tư theo nghĩa rộng: Đầu tư có thể hiểu là quá trình bỏ vốn bao gồm cả tiền, nguồn lực, công nghệ, để đạt được một hay nhiều mục tiêu đã định trước mà các mục tiêu đó có thể là chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hay chỉ là mục tiêu nhân đạo đơn thuần.[11] Đầu tư theo nghĩa hẹp: Đầu tư được hiểu cụ thể hơn và mang bản chất kinh tế hoạt động đầu tư mang mục đích kiếm lời, tính sinh lời là đặc trưng cơ bản và chủ yếu của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực kinh tế [11]
Căn cứ Luật Đầu tư công 2014 và Luật Đầu tư 2014, có thể phân đầu tư và hoạt động đầu tư cơ bản theo 3 loại như sau [12],[13]: a) Đầu tư công: là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. b) Đầu tư theo hình thức đối tác công tư:là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công. Chính phủ quy định chi tiết lĩnh vực, điều kiện, thủ tục thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP (Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư Public -
Private Partner). c) Đầu tư kinh doanh của Doanh nghiệp, nhà đầu tư: là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
Xét ở góc độ đầu tư, đầu tư là các hoạt động sử dụng nguồn lực hiện có để làm gia tăng giá trị của tài sản vật chất, nâng cao nguồn lực con người và trí tuệ nhằm cải thiện mức sống của người dân hoặc để duy trì và tăng cường khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có Dự án đầu tư là khung hoạt động nhằm triển khai các mục tiêu này, thông qua việc xác định mục tiêu cụ thể, huy động và phân bổ nguồn lực, và đo lường hiệu quả để tối đa hóa lợi ích kinh tế - xã hội và tính bền vững của các tài sản được đầu tư.
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Theo Luật Đầu tư năm 2014: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [13].
Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch được xác định, nhằm đạt được kết quả cụ thể và thực hiện các mục tiêu tương lai của dự án [11].
Xét ở góc độ quản lý, dự án đầu tư được xem như một công cụ quản lý hiệu quả nhằm sử dụng có hiệu quả vốn, vật tư và lao động để tạo ra các kết quả tài chính và tác động kinh tế - xã hội trong một thời gian dài Dự án đóng vai trò điều hành và cân đối nguồn lực, lập kế hoạch triển khai, quản lý chi phí và thời gian, từ đó tối ưu hóa giá trị và giảm thiểu rủi ro Nhờ sự phối hợp giữa quản lý vốn, quản lý vật tư và quản lý lao động, dự án đầu tư không chỉ mang lại lợi ích tài chính mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và lâu dài.
Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế- xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án) [11].
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định nhằm tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo các cơ sở vật chất nhất định để thực hiện các mục tiêu tương lai Quá trình này cần xác định rõ phạm vi hoạt động, nguồn lực và nguồn vốn đầu tư, đồng thời xác định cách phân bổ chi phí và thời gian triển khai để bảo đảm hiệu quả, tính khả thi và khả năng hoàn vốn cho dự án.
Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các tài sản nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai; các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư [10].
Vốn đầu tư là tổng chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Theo quan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư trong nền kinh tế gồm ba nội dung chính: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư cho tài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở [10].
Theo Khoản 18, Điều 3, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.” [13]
Với phạm vi đầu tư thì có phạm trù tổng vốn đầu tư mà chúng ta gọi là vốn đầu tư phát triển, có thời kỳ gọi là vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là tổng giá trị bằng tiền của toàn bộ chi phí đã bỏ ra để tạo ra năng lực sản xuất, bao gồm tăng thêm vốn cố định và vốn lưu động và các khoản đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư phát triển gồm: Vốn đầu tư cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư cơ bản là số vốn để tạo ra tài sản cố định (TSCĐ) Nó bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sữa chữa lớn TSCĐ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là tổng hợp các chi phí làm tăng thêm giá trị cho tài sản cố định Nó bao gồm hai bộ phận chính: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ, được quen gọi là vốn đầu tư cơ bản, và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ Hai thành phần này phản ánh quá trình nâng cấp và mở rộng tài sản cố định nhằm tăng giá trị và hiệu quả khai thác.
Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động (TSLĐ) trong thời kỳ nghiên cứu của toàn xã hội.