Phương pháp dạy học lịch sử là con đường, cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình thống nhất việc giảng dạy giáo viên và học tập của học sinh, nhằm truyền thụ và tiếp thu kiế
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trần Viết Thụ đã định hướng và chỉ bảo tận tình, các thầy cô giáo trong khoa đã góp ý bổ sung, gia đình và bạn bè giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Dạy học là một hoạt động đặc thù vì đối tượng dạy học là con người, đòi hỏi giáo viên phải có vốn kiến thức về bộ môn và phương pháp dạy học Phương pháp dạy học lịch sử là con đường, cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình thống nhất việc giảng dạy giáo viên và học tập của học sinh, nhằm truyền thụ và tiếp thu kiến thức lịch sử (cả lý thuyết và thực hành) Trong dạy học lịch
sử không phải chỉ có một phương pháp đơn nhất mà có cả một hệ thống phương pháp Người giáo viên bên cạnh sử dụng phương pháp lời nói sinh động, sử dụng
đồ dùng trực quan mềm dẻo, linh hoạt…thì việc đa dạng hoá các nguồn tài liệu,
sử dụng các loại TLTK khác nhau để bổ sung vào bài học là không thể thiếu được Qua sử dụng tài liệu, giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức lịch
sử, từ đó làm nảy sinh những tình cảm đúng đắn và hình thành những kỹ năng học tập, làm việc tương ứng, đặc biệt rèn luyện cho học sinh có phương pháp làm việc với TLTK, phát huy năng lực tự học Điều này, đặc biệt quan trọng như đồng chí Phạm Văn Đồng trong bài viết “Phương pháp tự học và lòng ham muốn
đó là cái quý nhất” (báo Nhân Dân số ra ngày 18/11/1994)đã nói: “Ở trường học bất cứ là trường gì cũng chỉ có thể cung cấp cho con người khối lượng tri thức giới hạn Trong khi đó, khả năng hiểu biết sự mong muốn của con người trong cả cuộc đời là vô cùng Cần đào tạo con người mới vươn lên mãi mãi trong quá trình cuộc sống”
Mặt khác, tại Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ hai, khoá tám đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng như: coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo Riêng bộ môn lịch sử phải xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp, cấu trúc như thế nào để khắc phục
Trang 3được quan niệm chỉ chú trọng lịch sử chính trị quân sự, đấu tranh giai cấp coi nhẹ lịch sử văn hoá, lịch sử nghệ thuật…Sử dụng TLTK, đặc biệt tài liệu văn học
sẽ phần nào khắc phục được quan niệm trên
Trong cuốn “Giáo dục học, tập 1” NXBGD, Hà Nội, năm 1978, Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt có viết: “Mỗi môn học chỉ có khả năng phản ánh những kết quả nhận thức của con người về một hoặc một số lĩnh vực nhất định của thế giới khách quan Chính vì thế, trong quá trình dạy học, học sinh cần được học nhiều môn học tương ứng với các khoa học nhất định Các môn học này có mối liên hệ qua lại với nhau rất mật thiết” [17;220] Tác giả muốn nhấn mạnh yêu cầu của dạy học liên môn Phương pháp sử dụng TLTK được chú trọng sẽ cung cấp học sinh vốn hiểu biết về các lĩnh vực, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa các môn học
Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói phải “phát huy tính tích cực của học sinh” và Chủ tịch Hồ Chí Minh (tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” ) đã khuyên người dạy là “tránh lối dạy nhồi sọ” Trên thực tế, mặc
dù có nhiều chuyển biến trong dạy và học nhưng vẫn còn nhiều bất cập Đa số học sinh không hứng thú học tập lịch sử, học chỉ để “đối phó” Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức lịch sử nhất là về kiến thức lịch sử dân tộc…
Về phía giáo viên, mặc dù đã chú ý đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng nhìn chung vẫn còn tồn tại lối dạy “thầy đọc,trò ghi”, “dạy chay”…Đây là
hệ quả của nhiều tác nhân trong đó trước hết phải kể đến phương pháp giảng dạy của giáo viên Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học, trong
đó có vấn đề đổi mới phương pháp sử dụng TLTK
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của “dựng nước và giữ nước”, trong
đó giai đoạn lịch sử Việt Nam 1930 – 1945 là một trong những trang sử hào
Trang 4hùng, tiêu biểu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đây là giai đoạn mười lăm năm vận động của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao thác ghềnh cho đến ngày giành thắng lợi Trong quá trình ấy, Đảng ta đã không những đề ra đường lối chiến lược đúng đắn mà còn tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể để đưa ra sách lược kịp thời, giành thắng lợi trọn vẹn mà ít tổn thất nhất Do vậy, dạy học lịch
sử giai đoạn này một mặt giúp học sinh hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc nhưng mặt khác cũng củng cố niềm tin yêu vào Đảng, Bác Hồ, vào sự nghiệp cách mạng nước ta Để làm được điều này, nguồn TLTK, đặc biệt tài liệu văn kiện Đảng giữ một vai trò quan trọng không thể thiếu
Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”(Sách giáo khoa lịch sử,lớp 12) làm luận văn tốt nghiệp
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Vấn đề phương pháp sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã được một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến
2.1 Tài liệu nước ngoài:
A.A.Vaghin - nhà nghiên cứu phương pháp dạy học của Liên Xô trước đây- trong cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông” đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa, phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu lịch sử trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông Tác giả viết: “Tài liệu kiến thức lịch sử chiếm một vị trí quan trọng trong khoá trình lịch sử ở trường phổ thông Việc lĩnh hội tài liệu
Trang 5ấy là điều kiện cần thiết…Dựa vào tài liệu đó, trước hết chúng ta phải nêu cho học sinh thấy những quy luật khách quan cơ bản của việc phát triển lịch sử” [15;4]
I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” đã khẳng định vai trò của “vấn đề sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập trong dạy học” là “bổ ích đáng học hỏi” [15;4]
Đặc biệt, N.G.Đairi- tiến sĩ giáo dục Liên Xô trước đây- trong tác phẩm
“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”đã nêu lên các vấn đề:
Thứ nhất: những yêu cầu quan trọng của một giờ học.Theo tác giả, giờ học
là “một tổng hợp sư phạm cực kỳ phức tạp”[13;6] Tác giả đã nêu lên 14 yêu cầu của một giờ học lịch sử như: xác định được tính đúng đắn, ý nghĩa của giờ học;
có phương tiện dạy học cần thiết, ngôn ngữ chính xác của thầy giáo…Trong đó, tác giả đã khẳng định vai trò tầm quan trọng của các nguồn TLTK để một giờ học lịch sử có “kết quả thiết thực” Tác giả đề nghị giáo viên phải “vận dụng những nguồn tri thức… vận dụng các nguồn tài liệu muôn hình muôn vẻ” [13; 8] N.G Đairi nhấn mạnh: “phải sử dụng không ngừng có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệu muôn hình muôn vẻ: Tác phẩm kinh điển…, văn kiện Đảng và nhà nước Liên Xô, sách chuyên khảo, sách giáo khoa, sách văn nghệ, hồi ký, tạp chí,…phải nắm được một cách thông thạo tài liệu tham khảo chuyên đề về phương pháp dạy học và thiết bị giảng dạy [13; 13] Bởi vì, “lựa chọn tài liệu khéo léo, nhằm mục đích làm cho giờ học đem lại sự phong phú về kiến thức, tình cảm,
tư duy…[13; 35], “vì nó nâng hứng thú đối với lịch sử, nó mở rộng kiến thức và điều chủ yếu là nó nâng sự hiểu biết về quá khứ lên một trình độ mới”[13; 88]
Từ việc nhấn mạnh vai trò của TLTK, N.G Đairi đã đề xuất phương pháp
sử dụng các loại TLTK trong một giờ học cụ thể Điều này được thể hiện rõ trong sơ đồ nổi tiếng mà giới chuyên môn thường gọi là “sơ đồ Đairi”
Trang 62.2 Tài liệu trong nước:
Trước hết, phải kể đến các giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử do Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên, xuất bản trong các năm 1992, 2001, 2002) Giáo trình đã khẳng định vị trí, ý nghĩa của việc sử dụng TLTK cũng như cách phân loại và một vài gợi ý về phương pháp sử dụng cho giáo viên khi tiến hành bài học
Tuy nhiên, giáo trình chưa đi sâu tìm hiểu phương pháp sử dụng TLTK trong từng chương, từng khoá trình lịch sử ở trường phổ thông, vì đây không thuộc phạm vi nghiên cứu của một giáo trình đại cương
Bên cạnh đó, cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” (NXBĐHQG Hà Nội xuất bản năm 2002) của tập thể tác giả do Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (chủ biên) đã giới thiệu bốn chuyên đề, trong đó có một số bài viết trình bày phương pháp sử dụng tài liệu trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Nhìn chung, các bài viết đã chú trọng đi sâu nghiên cứu và đề xuất phương pháp sử dụng TLTK trong giảng dạy một khoá trình, một vấn đề, một bài cụ thể Nhưng nhìn một cách tổng thể thì mỗi bài viết đều chỉ nói đến một số TLTK, chủ yếu tài liệu của Hồ Chí Minh
Ngoài ra, cuốn “Những vấn đề lịch sử trong tác phẩm Hồ Chí Minh” (NXB ĐHQG Hà Nội, xuất bản năm 1999) do giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên) đã trích dẫn một số tài liệu dùng cho dạy học ở các bài, các chương trong chương trình lịch sử ở trường phổ thông
Từ trước đến nay đã có một số luận văn đề cập đến phương pháp sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông ,ví dụ:
-Luận văn “Sử dụng tài liệu văn học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương
Trang 7“Văn hoá và truyền thống dân tộc” trong sách giáo khoa lịch sử, lớp 11 ” của Cao Thị Nhiếp, Đại học sư phạm Vinh
- Luận án thạc sĩ “Sử dụng tài liệu báo chí trong dạy học bài “Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939” trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12, không chuyên ban” của Nguyễn Thành Nhân, Đại học sư phạm Hà Nội I
Tóm lại: Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến mặt này mặt
khác của vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào giải quyết đầy đủ, có hệ thống việc sử dụng TLTK trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 Tất nhiên, các kết quả nghiên cứu nêu trên được chúng tôi tham khảo và sử dụng khi thực hiện đề tài này
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
3.1 Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu là những biện pháp để sử dụng các TLTK (trong giờ nội khoá và ngoại khoá) nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT
3.2.Phạm vi:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc dạy học lịch sử dân tộc, khoá trình lịch sử lớp 12, giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu lựa chọn đúng các TLTK và có biện pháp sử dụng thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả dạy học khoá trình lịch sử lớp 12 ở trường THPT nói riêng và lịch
sử dân tộc nói chung
5 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
5.1 Mục đích:
Trang 8-Trên cơ sở khẳng định vai trò, vị trí và ý nghĩa của TLTK trong dạy học lịch sử, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những nội dung TLTK cần thiết có thể sử dụng để dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cho học sinh lớp 12 THPT
- Đề xuất phương pháp sử dụng TLTK để dạy học tốt khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi lần lượt giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài như các tài liệu của Tâm
lý học, Giáo dục học…, các tài liệu lý luận dạy học bộ môn, phương pháp luận
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1.Nghiên cứu lý thuyết:
- Tài liệu về lý luận dạy học bộ môn
Trang 9- Tài liệu về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 –1945
- Chương trình và sách giáo khoa lịch sử phổ thông
6.2.Nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra sư phạm: trao đổi với tổ bộ môn phương pháp, với thầy cô giáo ở trường phổ thông và học sinh THPT, quan sát tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm: tiến hành thực nghiệm một bài học cụ thể của chương để kiểm chứng rút ra biện pháp đúng, loại trừ biện pháp không hợp lý
Chương 2: Các loại TLTK được sử dung trong dạy học khoá trình lịch sử Việt
Nam, giai đoạn 1930-1945
Chương 3: Phương pháp sử dụng TLTK trong dạy học khoá trình lịch sử Việt
Nam, giai đoạn 1930-1945
Trang 101.1 VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO
TRONG HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG.
Theo “Từ điển tiếng Việt ” (NXB Đà Nẵng, 1997), khái niệm “tài liệu” được hiểu theo hai cách: thứ nhất, tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì như tài liệu học tập, tài liệu tham khảo.Thứ hai, tài liệu là sử liệu
Xét theo nghĩa đó, tài liệu tham khảo trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là nguồn sử liệu giúp cho việc tìm hiểu những vấn đề quan trọng của lịch sử dân tộc, giai đoạn 1930- 1945
Tài liệu tham khảo bao gồm nhiều loại, mỗi loại có một vị trí, ý nghĩa khác nhau Trong các phương pháp dạy học ở trường phổ thông thì việc kết hợp phương pháp sử dụng lời nói và đồ dùng trực quan là cơ bản Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo là phương pháp hỗ trợ nhưng có vai trò quan trọng, không thể thiếu được Bởi vì, “lịch sử không phải là một chuỗi những sự kiện
mà người viết sử ghi lại, rồi người dạy sử đọc lại và người học sử học thuộc lòng” (Phạm Văn Đồng) Bài giảng của người giáo viên chỉ là trình bày những vấn đề chủ yếu then chốt, gợi mở cho người học tự mình đi đến vấn đề để hiểu rõ
và vận dụng Bởi vậy, giáo viên phải đọc nhiều, hiểu rộng, học sinh ngoài bài giảng, sách giáo khoa phải đọc thêm nhiều tài liệu tham khảo khác
Trang 11Tài liệu tham khảo có ý nghĩa thiết thực thể hiện trên ba phương diện: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh
1.1.1 Về mặt giáo dưỡng:
Quy luật nhận thức chung của loài người là :từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường nhận thức biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan
Do đặc trưng của nhận thức lịch sử là nhận thức những cái đã qua, không lặp lại nên giai đoạn nhận thức cảm tính bắt đầu từ hình thức biểu tượng lịch sử Đây là hình thức đầu tiên và duy nhất trong giai đoạn nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức lịch sử của học sinh Giai đoạn nhận thức lý tính bắt đầu bằng việc hình thành khái niệm, nêu quy luật và bài học lịch sử Trong đó, sự kiện được đánh giá là cơ sở để nhận thức, sự kiện được coi là nguyên liệu để hình thành tri thức lịch sử khoa học
Bởi vậy, các loại TLTK, học tập khác (ngoài sách giáo khoa) góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ Ví dụ: khi dạy bài 7
“Cuộc vận động Cách mạng tháng Tám ” trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12,
tập 2, NXBGD, giáo viên sử dụng nhiều nguồn TLTK để khôi phục lại những ngày tháng Tám oai hùng Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả của sự chuẩn bị của Đảng ta và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vòng mười lăm năm, nhưng cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền chỉ diễn ra trong vòng 15 ngày (từ 14- 28/ 8/1945) Ngày 28/8/1945, Hà Tiên là địa phương cuối cùng giành được chính quyền Nói đến 15 ngày ấy, chúng ta không thể không nhớ đến ngày 19/8/1945 – ngày khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội Để học sinh hình dung không khí sôi sục của ngày cướp chính quyền tại Hà
Trang 12Nội, giáo viên có thể sử dụng nguồn TLTK sau đây để xây dựng bài tường thuật :
“…Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ cách mạng Việt Nam đã chín muồi Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (ngày 14/8/1945), đã quyết định Tổng khởi nghĩa trong cả nước
Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước, triệu người như một nhất tề đứng dậy, với tinh thần
“dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập” Ngày 15/8/1945, lệnh khởi nghĩa về tới Hà Nội Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Uỷ ban khởi nghĩa) đã được thành lập Uỷ ban đã khẩn trương hoàn thành kế hoạch khởi nghĩa Quần chúng ở nội, ngoại thành đã sẵn sàng xuống đường, tầng lớp trung gian đã ngả về phía cách mạng Các cuộc mít tinh do bọn thân Nhật tổ chức đều biến thành mít tinh ủng hộ Việt Minh Chính phủ bù nhìn rệu rã đến cực điểm Khâm sai Bắc Kỳ đã bỏ nhiệm sở
ở Hà Nội Điều kiện khởi nghĩa ở Hà Nội đã chín muồi Uỷ ban quân sự cách mạng đã lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền
Sáng 19/8/1945 cả thủ đô tràn ngập khí thế cách mạng Cả Hà Nội đỏ rực một rừng cờ đỏ sao vàng Hàng chục vạn nhân dân nội, ngoại thành và các lực lượng tự vệ mang theo giáo, mác, gậy gộc, mã tấu…xuống đường biểu dương lực lượng Họ rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn dự cuộc mít tinh do mặt trận Việt Minh tổ chức
Chưa tới 10 giờ, nhân dân đã tụ tập rất đông trước Nhà hát lớn Một lá cờ
đỏ sao vàng rất lớn phủ từ trên tầng hai của nhà hát làm nền cho lễ đài Cuộc mít tinh càng tăng thêm vẻ nghiêm trang và rực rỡ Một rừng cờ giữa một biển người rộng lớn Biểu ngữ nhiều vô kể, tất cả nổi lên những khẩu hiệu:
Trang 13Sau lời kêu gọi, đại biểu Việt Minh hô to các khẩu hiệu:
- Đánh đổ mọi lực lượng xâm phạm đến nền độc lập Việt Nam!
- Đánh đổ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim…
Quần chúng hưởng ứng hô vang các khẩu hiệu của Uỷ ban khởi nghĩa Cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành biểu tình Quần chúng chia thành hai đoàn: một đoàn đi chiếm phủ Khâm Sai, Toà thị chính, Sở bưu điện, Sở cảnh sát; một đoàn đi chiếm Trại bảo an binh, Ty liêm phóng, Nhà máy AVIA
Trước khí thế của quần chúng khởi nghĩa đã giành thắng lợi nhanh chóng”[2; 270-272]
Trang 14Như vậy, với đoạn trích trên không những tái hiện cho học sinh thấy được không khí trong ngày Hà Nội giành chính quyền mà còn là căn cứ khoa học, bằng chứng về tính chính xác, tính cụ thể, phong phú của sự kiện lịch sử Qua đây, giúp các em khắc phục việc “hiện đại hoá” lịch sử, hoặc “hư cấu” lịch sử
Việc sử dụng TLTK còn giúp học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm, hiểu rõ những quy luật, bài học quan trọng của lịch sử TLTK là phương tiện có hiệu quả để hiểu rõ hơn SGK, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ví dụ :để giúp học sinh rút ra được ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám 1945, giáo viên có thể sử dụng một đoạn tài liệu sau:
“Cách mạng tháng Tám là kết quả của tám mươi năm đấu tranh không ngừng của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp Nó cũng là một sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của nước ta từ khi Quang Trung đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh (1789) đến nay…
… Không những giật tung được xiềng xích của bọn đế quốc phát xít, Cách mạng tháng Tám lại lật nhào được chế độ quân chủ thành lập trên đất nước ta hàng chục thế kỉ, làm cho nước Việt Nam thành một nước cộng hoà dân chủ, đưa dân tộc Việt Nam lên hàng các dân tộc tiên phong
…Cách mạng tháng Tám tỏ rõ tinh thần chống phát xít và yêu chuộng hoà bình, dân chủ của nhân dân Việt Nam…Không nghi ngờ gì nữa, nhân dân Việt Nam đã góp một phần hi sinh xương máu trong cuộc chiến đấu chống phát xít xâm lược mấy năm vừa qua…
… Đã chọc thủng được hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở một trong những mắt xích yếu nhất của nó, mở đầu cho một quá trình tan rã không thể cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân trên thế giới Cách mạng tháng Tám đã báo hiệu giờ giải phóng của các dân tộc bị áp bức đã đến rồi…”[1; 388-391]
Trang 151.1.2 Về giáo dục:
TLTK trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục tư tưởng, đạo đức càng đặt ra một cách cấp thiết Nền kinh tế thị trường với những mặt tích cực ngày càng được khẳng định trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, song nó cũng có mặt tiêu cực cần được hạn chế và khắc phục Trong bối cảnh chung ấy, giáo dục cần khai thác những giá trị tiến bộ đích thực để làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta, cần tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại, giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình
1.1.3 Về phát triển toàn diện học sinh:
- TLTK sử dụng trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao năng lực tư duy của học sinh, thể hiện ở các mặt sau:
+ Rèn luyện kỹ năng tưởng tượng để tái hiện lại không khí, không gian lịch sử
+ Rèn luyện kỹ năng so sánh, phân tích đối chiếu các nguồn tài liệu, trên
cơ sở đó có kết luận khách quan chính xác
- Mặt khác, sử dụng TLTK trong dạy học góp phần phát triển cho học sinh thói quen và kỹ năng tự làm việc với tài liệu để phục vụ cho bài học
1.2 CÁC LOẠI TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ:
1.2.1 Tài liệu lịch sử:
Theo nghĩa rộng, tài liệu lịch sử là tất cả những hiện vật, văn bản mang những thông tin về quá khứ xã hội loài người và dân tộc Qua đó, con người có những hiểu biết cần thiết về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử xã hội loài người Theo sử liệu học, tài liệu lịch sử bao gồm các loại sau:
Trang 161.2.1.1 Tài liệu hiện vật:
Tài liệu hiện vật bao gồm các di vật và di tích lịch sử qua các thời kì lịch
sử như trống đồng Đông Sơn, đền Cổ Loa…Tài liệu hiện vật chủ yếu sử dụng trong bài học ngoại khoá, trong giờ học nội khoá, học sinh tiếp cận tài liệu hiện vật gián tiếp qua tranh ảnh
1.2.1.2 Tài liệu thành văn:
Tài liệu thành văn được chia thành nhiều loại Nội dung và tính chất của mỗi loại không giống nhau, về đại thể có thể phân tài liệu thành văn thành các loại sau:
- Tài liệu lịch sử gốc bao gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các sự kiện, như các văn tự cổ, các hiệp ước, các điều ước, tuyên ngôn…Loại tài liệu này dùng để dẫn chứng, minh họa cho sự kiện đang trình bày Ví như để kết thúc mục I “Tình hình Việt Nam trong Chiến tranh thế giới hai”, giáo viên có thể sử dụng một đoạn trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “…Mùa thu 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật” [28; 206] Hoặc như để dạy mục VII.3 :“Giành chính quyền trong toàn quốc”, giáo viên cũng có thể sử dụng bản Tuyên ngôn độc lập để rút
ra nội dung, ý nghĩa của bản Tuyên ngôn này
- Tài liệu, văn kiện của Đảng, nhà nước, phong trào cộng sản quốc tế… Văn kiện Đảng phản ánh đường lối hoạt động cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ lịch sử Đây là nguồn tài liệu gốc, thể hiện quan điểm, mang tính chỉ đạo, tổng kết những kinh nghiệm và khái quát, nâng lên tầm lí luận Có những tài liệu gốc như biên bản các cuộc họp chi bộ, kế hoạch hoạt động của các cấp bộ
Trang 17Đảng địa phương…chỉ mang ý nghĩa là tài liệu lịch sử địa phương Những văn kiện của Đảng do các cấp trung ương ban hành, ở một phạm vi rộng lớn hơn, ý nghĩa tác dụng và ảnh hưởng của nó đến lịch sử dân tộc
Các văn kiện Đảng bao gồm:
+Các văn kiện Đảng gắn bó mật thiết với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) Tuy vậy, cần phải kể đến tài liệu có từ thời kỳ hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng (Trong đó có tài liệu của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng) Tài liệu của các tổ chức tiền thân như:
“Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, “Tân Việt cách mạng Đảng”, “Đông Dương cộng sản Đảng”… Các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc như Bản án chế
độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh…cũng được xem là văn kiện Đảng
+ Văn kiện của hội nghị thành lập Đảng “Chính cương vắn tắt”, “sách lược vắn tắt”, Chương trình, điều lệ vắn tắt của Đảng; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc và hội nghị cán bộ trung ương, hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ, văn kiện hội nghị Ban chấp hành trung ương và văn kiện của Ban thường vụ trung ương…
+ Một số tác phẩm quan trọng, tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các tổng bí thư về đường lối, chủ trương của Đảng trong các thời kỳ cách mạng:
“Vấn đề dân cày” (của Qua Ninh và Vân Đình); “Tuyên ngôn độc lập”, “Dưới lá
cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới” (của Lê Duẩn), “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, hai tập (của Trường Chinh)…
+ Một số tài liệu quan trọng khác có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam như tài liệu Quốc tế cộng sản: “Gởi cho những người cộng sản ở Đông Dương”…
Trang 18Văn kiện Đảng bao gồm nhiều loại, tuỳ vào tình hình sử dụng cụ thể mà người ta lựa chọn cách phân loại phù hợp Cụ thể có các cách phân loại sau: Văn kiện Đảng theo các cấp trung ương và cấp Đảng bộ địa phương; Văn kiện theo các thời kỳ lịch sử; Văn kiện thuộc các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, văn hoá, giáo dục…
Mặc dù vậy, mỗi cách phân loại đều có những ưu nhược điểm cơ bản, không tránh khỏi Chẳng hạn, phân theo các cấp từ trung ương đến địa phương giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể, biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa tính phổ biến và tính đặc thù của lịch sử dân tộc Tuy vậy, nó lại chỉ dừng lại ở ý nghĩa phân định phạm vi, quyền hạn chỉ đạo hoạt động của các cấp bởi nội dung văn kiện là sự thống nhất từ trung ương đến địa phương Phân loại văn kiện Đảng theo các thời kỳ lịch sử giúp người đọc thấy được những tháng trầm của lịch sử cũng như sự lớn mạnh của các cấp Đảng bộ từ trung ương đến địa phương… Nhưng dù ở cách phân loại nào, văn kiện Đảng cũng gắn với một hoàn cảnh nhất định với một nhiệm vụ tương ứng
- Hồi ký cách mạng, tức là những văn bản do những nhân chứng lịch sử tái hiện lại sự kiện, hiện tượng lịch sử mà mình tham gia hoặc chứng kiến: Ví dụ: cuốn “Ráng đỏ Hồng Lam” – hồi ký của các chiến sĩ Xô Viết
Đối với những loại tài liệu này dù ít dù nhiều đều mang tính chủ quan của tác giả Bởi vậy, khi sử dụng phải chú ý rõ các hồi ký ấy đã được xác minh hay chưa
- Ngoài ra, tài liệu thành văn còn bao gồm các tác phẩm nghiên cứu như: tác phẩm nghiên cứu lịch sử, tác phẩm nghiên cứu của các ngành khoa học kế cận như lịch sử Đảng, dân tộc học, khảo cổ học…Với những tác phẩm này cho ta
Trang 19thấy tính đa dạng, cụ thể để có đủ cơ sở lý giải, phân tích, phục vụ cho dạy và học
1.2.2 Tài liệu văn học:
Tài liệu văn học chính là những tác phẩm văn học được đưa vào làm công
cụ cho việc giảng dạy nghiên cứu trong một số lĩnh vực khoa học
Vậy “tác phẩm văn học” là gì? Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) thì tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm sự, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại
Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi
Tác phẩm văn học có dung lượng rất khác nhau có thể chia thành ba loại hình cơ bản: tác phẩm tự sự, tác phẩm kịch, tác phẩm trữ tình
Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề, tư tưởng, kết cấu ngôn ngữ…
Ở những tác phẩm văn học có giá trị, sự kết hợp hài hòa và tác động qua lại giữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật mang tính thống nhất hữu cơ biện chứng giữa nội dung thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật
Trong nghiên cứu văn học, tác phẩm văn học của một nhà văn, sáng tác của một trào lưu, một nền văn học của một dân tộc đều được xem là một chỉnh thể nghệ thuật
Tính phức tạp của một tác phẩm văn học không những thể hiện qua cấu trúc nội tại của bản thân nó, mà còn biểu hiện hàng loạt quan hệ khác Với người
Trang 20sáng tạo tác phẩm văn học là nơi ký thác, nơi khẳng định quan niệm nhân sinh,
lý tưởng thẩm mỹ Tác phẩm văn học là hình ảnh sống động, là tấm gương ghi giữ diện mạo lịch sử của một thời kỳ một đi không trở lại và dự báo tương lai Với người đọc, tác phẩm văn học là đối tượng tích cực của cảm nhận thẩm mỹ
Xét từ chức năng giao tiếp của đời sống lịch sử thì tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định bất biến, một đối tượng vật thể Tác phẩm là tổng thể của một quá trình khác nhau, một hệ thống thường xuyên diễn ra những biến đổi đa dạng có trật tự: biến đổi về văn bản Vì vậy, tác phẩm văn học là sự thống nhất giữa phần khái quát đã được mã hoá trong tác phẩm văn học và phần cảm nhận khám phá của người đọc Tiếp nhận là điều kiện chủ quan của tồn tại tác phẩm
Tác phẩm văn học còn mang tính xác định không cho phép người đọc suy diễn chủ quan, gán ghép ý nghĩa cho nó
Với những đặc điểm trên, tài liệu văn học bao gồm nhiều loại, xét ở khía cạnh khai thác phục vụ cho bộ môn lịch sử có thể khai thác ở mức độ, dung lượng khác nhau ở từng loại: văn học dân gian, tác phẩm văn học ra đời vào thời
kỳ xảy ra các sự kiện lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, hồi ký cách mạng, thơ ca cách mạng…
- Văn học dân gian ra đời sớm và rất phong phú, bao gồm nhiều loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao Đây là loại tài liệu có giá trị, phản ánh nội dung nhiều sự kiện quan trọng lịch sử dân tộc Nếu gạt bỏ những yếu tố thần bí, hoang đường, chúng ta có thể tìm thấy những yếu tố hiện thực của lịch sử trong văn học dân gian
Trang 21Các loại hình văn học dân gian góp phần minh hoạ sự kiện lịch sử, làm cho bài giảng thêm sinh động Trên cơ sở đó, giáo viên giáo dục tư tưởng, truyền thống đạo đức cho học sinh
- Các tác phẩm văn học xuất hiện vào thời kỳ diễn ra các sự kiện lịch sử có
ý nghĩa đối với việc khôi phục hình ảnh quá khứ Chẳng hạn, để diễn tả nỗi khổ cực của người nông dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, có tinh thần đấu tranh chống áp bức bóc lột, song không có đường lối đấu tranh đúng đắn nên thất bại, chúng ta có thể sử dụng các tác phẩm: “Tắt đèn ”(Ngô Tất Tố), “Bước đường cùng ”( Nguyễn Công Hoan),‟‟Vợ nhặt”(KimLân).Qua tác phẩm Vợ Nhặt
ta còn thấy được nỗi thống khổ của nhân dân dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp , hậu quả của chính sách bóc lột của Nhật –Pháp …
- Tiểu thuyết lịch sử có vai trò không nhỏ đối với việc dạy học lịch sử, vì các tiểu thuyết này lấy chủ đề là những sự kiện trong quá trình lịch sử, giúp học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử
- Thơ ca cách mạng là những bài thơ, bài ca có nội dung cách mạng như thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu…
- Tóm lại ,TLTK trong dạy học lịch sử phong phú, đa dạng Giáo viên có thể kết hợp sử dụng TLTK trong bài giảng để nâng cao hiệu quả dạy học Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sử dụng như thế nào và mức độ ra sao? Điều này không phải đơn giản, bởi vậy thực tiễn sử dụng TLTK ở trường THPT bên cạnh ưu điểm còn nhiều hạn chế
1.3 TÌNH HÌNH THỰC TIỄN SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
Thông qua các phương pháp điều tra khác nhau, chúng tôi trình bày tình hình cụ thể của việc sử dụng TLTK của giáo viên và học sinh, trên cơ sở đó có
Trang 22một vài nhận xét chung về thực tế sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Giáo viên và học sinh là hai nhân tố chủ yếu trong quá trình dạy học Khi
đề cập đến việc sử dụng TLTK ở trường phổ thông thì phải xem xét việc sử dụng
ở cả hai nhân tố ấy
Trước hết, đối với giáo viên: Một trong những ưu điểm lớn nhất của giáo viên phổ thông là đa số nhận thấy được vai trò, vị trí của việc sử dụng TLTK trong quá trình dạy học Nó góp phần nâng cao hiệu quả bài dạy, giúp học sinh ghi nhớ nhanh, nhớ lâu, dễ hiểu bài và có hứng thú học tập, đồng thời bồi dưỡng tình cảm đúng đắn, cảm xúc lành mạnh, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo Như vậy, TLTK là cần thiết phục vụ dạy và học Trên thực tế, nhiều giáo viên thường xuyên sử dụng TLTK để bổ sung vào bài dạy (đặc biệt những giáo viên
có thâm niên nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao.)
Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục là có bộ phận giáo viên ít hoặc thậm chí không sử dụng tài liệu trong quá trình giảng dạy Một số giáo viên
đã sử dụng TLTK nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ thông báo, làm sinh động,
cụ thể hoá sự kiện hiện tượng lịch sử chứ không đi sâu để cùng giúp học sinh hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Hoặc ngược lại giáo viên “quá tải” khi sử dụng TLTK, thoát li sách giáo khoa, chỉ tập trung giới thiệu TLTK
Cả hai mặt hạn chế trên, đều gây ra hậu quả là học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản của bài học Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do giáo viên chưa có ý thức, kỹ năng sưu tầm TLTK và phương pháp sử dụng chúng trong quá trình dạy học
Thứ hai, đối với học sinh: Nhiều học sinh, nhất là bộ phận học sinh khá giỏi thường xuyên tham khảo TLTK để bổ sung vào bài học, nâng cao hiểu biết
Trang 23của mình, tự hình thành cho mình một phương pháp khoa học làm việc với tài liệu, có hứng thú say mê tìm hiểu TLTK Phần nhiều, các em ít sử dụng TLTK Nhiều học sinh chỉ dừng lại ở mức độ tham khảo sách hướng dẫn học, ôn tập môn lịch sử, nhớ máy móc bài giảng của giáo viên
Thực trạng sử dụng TLTK của giáo viên và học sinh càng đặt ra yêu cầu đổi mới dạy học một cách toàn diện: đổi mới chương trình, cấu trúc, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp sử dụng TLTK Đây là một vấn đề lâu dài và phức tạp, sử dụng TLTK trước hết phải dựa trên cơ sở vững chắc, khoa học và phải có phương pháp sử dụng cụ thể, linh hoạt, uyển chuyển
Trang 242.1.1.1 Vị trí của khoá trình:
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công đã trải qua ba đợt cải cách Đến đợt cải cách giáo dục lần thứ ba(1981), một trong những nguyên tắc chỉ đạo để xây dựng chương trình là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, xây dựng chương trình theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp đường thẳng
Chương trình lịch sử ở trường THPT thực chất là chương trình được đào sâu, đào kĩ hơn trên cơ sở kiến thức cơ bản ở trường THCS Lịch sử lớp 12, tập
2 tiếp nối chương trình lịch sử lớp 11(lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến đầu thế kỉ XX) Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 bao gồm hai phần:
Lịch sử thế giới hiện đại( thời kì sau Chiến tranh thế giới hai) gồm 5 chương, 5 bài, 18 tiết
Lịch sử Việt Nam từ 1919 – 1991 gồm 6 chương, 18 bài, 41 tiết
Ngoài ra, có 3 tiết tổng kết, ôn tập
Khoá trình lịch sử Việt nam giai đoạn 1930 – 1945 có nhiều nội dung quan trọng Từ 1919 – 1930 là giai đoạn đấu tranh sôi nổi của nhân dân ta để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự ra đời một Đảng Cộng sản duy nhất Trong phần lịch sử dân tộc, chương hai “ Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam 1930 – 1945” được bố trí dạy trong 9 tiết, gồm 4 bài (chiếm gần 1/5
số tiết lịch sử dân tộc) Đây là một chương chiếm vị trí quan trọng được đánh dấu đầu tiên bằng sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời(3/2/1930), kết thúc bằng sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công Để có thắng lợi này, cách mạng Việt Nam phải trải qua mười lăm năm với những bước thăng trầm của lịch sử, trải qua ba đợt diễn tập cách mạng 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945 và bốn lần chuẩn bị Mỗi đợt diễn tập cách mạng mặc dù còn có thiếu sót song để
Trang 25lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu chuẩn bị cho thắng lợi sau đó Bởi vậy, mười lăm năm với biết bao sự kiện đã có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển toàn diện học sinh
2.1.1.2 Mục đích, yêu cầu của khoá trình:
Với vị trí như vậy khi dạy chương hai “ Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam (1930 – 1945)” cần đạt các mục đích, yêu cầu sau
Giáo viên giúp học sinh nắm được chặng đường mười lăm năm đấu tranh gian khổ của nhân dân ta để dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám
Bằng những sự kiện cụ thể chính xác giáo viên cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hoàn cảnh trong nước và thế giới trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ cùng sự chuẩn bị đầy đủ của Nguyễn Ái Quốc dẫn đến yêu cầu cấp thiết thành lập Đảng Cộng sản duy nhất Mặt khác, phải khẳng định cho học sinh thấy được giá trị to lớn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được hội nghị thành lập Đảng thông qua Luận cương chính trị, bên cạnh hạn chế nhất định đã vạch ra những nét lớn cho con đường phát triển cách mạng Việt Nam
Khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, mở đầu là phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh Với vốn tài liệu phong phú, qua phong trào cách mạng 1930 – 1931 giáo viên giúp học sinh thấy được đây là bước phát triển quyết liệt của phong trào cách mạng Việt Nam dưới
sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Kết quả phong trào diễn ra sôi nổi và thiết lập chính quyền ở một số vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Nhưng
“thắng lợi lớn nhất của Đảng ta trong cao trào cách mạng 1930 – 1931 là Đảng
đã thực hiện được khối liên minh công nông”[27;285] đội quân chủ lực đảm bảo cho thắng lợi của cuộc cách mạng
Trang 26Trong bối cảnh thế giới sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1923, giáo viên giúp học sinh thấy được sự chuyển hướng kịp thời và đúng đắn của Đảng cộng sản Đông Dương Đảng chủ trương chưa nêu khẩu hiệu chống đế quốc và phong kiến nói chung, mà tập trung đấu tranh chống “ chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đòi tự do, dân chủ cơm áo hoà bình” [27;285]
…Thời kì 1936 – 1939 đã huy động được đội quân chính trị hùng hậu làm tiền
đề quan trọng cho cuộc Cách mạng tháng Tám
Những năm từ 1939 – 1945, trong sự chuyển biến mau lẹ của tình hình trong và ngoài nước, cách mạng đã chuẩn bị về mọi mặt từ lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng đến khởi nghĩa từng phần giành chính quyền từng bộ phận
Giáo viên hình thành một số khái niệm cho học sinh như phong trào cách mạng, cao trào cách mạng, diễn tập, tổng diễn tập, chiến lược, sách lược, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tình thế cách mạng …Những khái niệm này được hình thành sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn nội dung lịch sử
Về mặt giáo dục:
Trên cơ sở hình thành kiến thức cơ bản, giáo viên giáo dục nhiều mặt cho học sinh Trước hết, củng cố niềm tin của học sinh vào sự lãnh đạo của Đảng vô sản, vào con đường xã hội chủ nghĩa – con đường mà không chỉ người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn mà chính nhân dân, chính lịch sử dân tộc đã lựa chọn
Mặt khác, làm cho học sinh có những tình cảm đúng đắn, lành mạnh ví như biết yêu chuộng và bảo vệ hoà bình Ngược lại, trên cơ sở giáo viên vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, học sinh biết ghét chiến tranh, căm thù giặc ngoại xâm Pháp, Nhật, bọn phát xít
Trang 27Qua những thắng lợi cũng như tổn thất của cách mạng, giáo viên giáo dục lòng kính yêu Đảng, Bác Hồ và những người có công với cách mạng
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là ”Thành tựu tuyệt vời của tinh thần, ý chí, trí tuệ con người Việt Nam của truyền thống và văn hoá Việt Nam Tinh thần và trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi đầu lịch sử dân tộc, được nâng lên một tầm cao mới Nó kết tinh những truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm chống phong kiến bành trướng xâm lược
và gần một thế kỉ đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân …, kết quả của mười lăm năm đấu tranh quật cường của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là Hồ Chí Minh” [24;63 – 64] chứ không phải là “sự ăn may” hay “gặp thời” Khẳng định điều này, giáo viên giáo dục cho học sinh truyền thống yêu nước yêu độc lập tự do của dân tộc, biết trân trọng, bảo vệ, phát huy thành quả cách mạng Từ đó giáo dục học sinh biết yêu chuộng hoà bình, ủng hộ nhân dân thế giới vì cuộc đấu tranh dân chủ, tiến bộ thế giới
Về mặt phát triển:
Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 gắn liền với một Đảng Cộng sản, đứng đầu
là Hồ Chí Minh Bởi vậy,Đảng ta đã đưa ra nhiều chiến lược, sách lược, chủ trương, biện pháp nhằm đưa cách mạng đi lên Giáo viên bồi dưỡng cho học sinh kỹ năng so sánh, phân tích, đánh giá, nhận định Chẳng hạn, qua nội dung các hội nghị Trung ương VI, VII, VIII giúp học sinh có kỹ năng phân tích, so sánh, đối chiếu để thấy được rằng: nếu như hội nghị Trung ương VI là bước
“chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và phương pháp cách mạng …đánh dấu sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng cộng sản Đông Dương”
Trang 28[27;309], thì hội nghị Trung ương VII, đặc biệt hội nghị Trung ương VIII đã hoàn chỉnh chỉ đạo chiến lược đề ra từ hội nghị Trung ương VI
Mặt khác, cách mạng Việt Nam luôn đặt trong bối cảnh thế giới và trong nước nhất định Bối cảnh ấy ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình lịch sử Việt Nam Vì vậy, giáo viên bồi dưỡng cho học sinh kỹ năng phân tích, nhìn nhận các
sự kiện lịch sử trong mối quan hệ biện chứng, không cô lập, tách rời để có cái nhìn tổng thể nhất
Khi trình bày diễn biến cách mạng, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng
đồ dùng trực quan (bản đồ) Sử dụng chân dung, giáo viên tạo biểu tượng nhân vật, trau dồi ngôn ngữ, rèn luyện khả năng diễn đạt cho học sinh
2.1.2 Căn cứ vào trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lí học sinh
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh, đó là việc phản ánh thế giới khách quan vào ý thức học sinh Bởi vậy, khi sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử Việt Nam nói riêng phải căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh Bên cạnh đó, chúng ta cần xem xét yếu tố tâm lí, đặc điểm lứa tuổi của học sinh
Quá trình nhận thức của học sinh trải qua các giai đoạn nhận thức cảm tính, nhận thức lí tính và thực tiễn Tuy nhiên, do đặc trưng của nhận thức lịch sử
là nhận thức cái đã qua, không lặp lại trong thực tại mà được “lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Vì vậy, một điểm dễ nhận thấy trong dạy học lịch sử là không có những thí nghiệm, mô hình diễn tả lại toàn bộ sự kiện lịch sử như nó diễn ra Mặc dù, ngày nay khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bậc người ta có thể diễn tả lại một số sự kiện của quá khứ, nhưng vẫn không thể dựng lại đầy đủ biến cố lịch
sử, một cuộc cách mạng … của quá khứ Học sinh chỉ có thể bắt đầu từ các sự kiện lịch sử cụ thể để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và bài
Trang 29học Sự kiện càng được nhận thức chính xác, phong phú bao nhiêu thì các khái niệm, quy luật và bài học lịch sử được hình thành càng chính xác, phong phú
Biểu tượng là hình thức đầu tiên và duy nhất trong giai đoạn nhận thức cảm tính Biểu tượng thực sự đóng vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử Để tạo biểu tượng cụ thể, sinh động giáo viên phải linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học TLTK là một bằng chứng về tính chính xác, cụ thể, phong phú của sự kiện lịch sử Sử dụng tốt TLTK sẽ giúp học sinh thực hiện tốt giai đoạn đầu của quá trình nhận thức như Lê Nin nói là “trực quan sinh động”
Ví dụ, để tạo biểu tượng cho học sinh về sự kiện ngày 2/9/1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, giáo viên kết hợp miêu tả, tường thuật diễn biến sự kiện với sử dụng đoạn thơ trong tác phẩm Trường ca theo chân Bác ( tác giả Tố Hữu):
“… Hôm nay sáng mồng hai tháng chín Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ…chim cũng nín Bỗng vang lên tiếng hát ân tình
Hồ Chí Minh ! Hồ Chí Minh!
Người đứng trên đài lặng phút giây Trông đàn con đó vẫy hai tay Cao cao vầng trán … Ngời đôi mắt
Độc lập bây giờ mới thấy đây …” [42;288]
2.1.3 Căn cứ vào điều kiện dạy học:
Căn cứ vào điều kiện dạy học để sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử chúng ta phải xem xét trên hai khía cạnh:
Thứ nhất: bản thân TLTK dễ hay khó tìm?
Trang 30Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, cùng với chủ trương của nhà nước xem “giáo dục là quốc sách hành đầu” và nhu cầu dân trí ngày càng cao thì sách vở, báo chí ngày càng nhiều, thông tin ngày càng cập nhật chính xác Ngoài sách giáo khoa, giáo trình cơ bản, TLTK rất phong phú, đa dạng Các TLTK khai thác nội dung lịch sử ở nhiều góc độ khác nhau, phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau: học sinh THCS, học sinh THPT, sinh viên, giáo viên…
Ngược lại, có nhiều TLTK khó tìm do mất mát cùng thời gian hoặc do chiến tranh
Ở trường THPT nhìn chung đã chú trọng đầu tư để trang bị những phương tiện dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, ví như: phòng truyền thống, phòng tư liệu Nhưng vẫn còn tình trạng thiếu cơ sở vật chất, nhất là trường học
ở miền núi, vùng sâu vùng xa Có trường, phòng đọc tư liệu chỉ đủ khả năng phục vụ nhu cầu của giáo viên Tình trạng “ dạy chay, học chay”, hiểu kiến thức lịch sử đơn giản, sơ sài, máy móc vẫn còn
Thứ hai: khả năng sử dụng TLTK của giáo viên và khả năng tiếp thu của học sinh
Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh bên cạnh điều kiện vật chất ở trường phổ thông thì còn có nhân tố con người ( giáo viên và học sinh) trong quá trình dạy học
Giáo viên với tư cách là người giữ vai trò chỉ đạo, tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, muốn đem lại hiệu quả bài học cao khi sử dụng TLTK bổ sung vào bài dạy, trước hết cần có một trình độ chuyên môn nhất định:
-Phải có vốn hiểu biết rộng liên quan đến bài giảng
Trang 31-Giáo viên trên cơ sở kiến thức cơ bản của khoá trình, lựa chọn TLTK phù hợp
-Biết vận dụng TLTK để nêu bật bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Muốn làm được điều đó, N.G.Đairi đã viết: người giáo viên phải thanh toán tối đa tình trạng lãng phí thời gian rất lớn và “tổ chức một cách khoa học lao động của thầy giáo”
Tuy nhiên, trên thực tế không phải ai cũng làm được điều đó Do vậy, khả năng sử dụng của giáo viên, khả năng tiếp thu của học sinh cùng điều kiện dạy học (nêu trên) cần có sự quan tâm của nhà trường, sự nỗ lực của bản thân giáo viên và học sinh
Cũng vì vậy, với đề tài này chúng tôi sẽ cung cấp một phần nhất định bổ sung vào thiếu sót ấy, hệ thống hoá các TLTK cần sử dụng trong khoá trình lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
2.2 CÁC LOẠI TÀI LIỆU THAM KHẢO SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
Với những cơ sở khoa học trên, chúng tôi lựa chọn trích dẫn một số đoạn, bài trong các TLTK, trình bày theo nội dung của bài, của khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Qua đây giúp giáo viên và học sinh có thể sử dụng tham khảo trong dạy và học
Bài 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời”
Trước hết, ta xác định mục đích của bài:
- Cho học sinh thấy rõ sự thống nhất ba tổ chức cộng sản vào đầu năm
1930 là một yêu cầu cấp bách và tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam Đồng thời, khẳng định giá trị to lớn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo và được hội nghị hợp nhất nhất trí thông qua (tháng
Trang 322/1930) Từ đó, nắm được ý nghĩa lịch sử to lớn của việc thành lập chính đảng
vô sản đối với tiền đồ phát triển cách mạng Việt Nam
- Bồi dưỡng, củng cố lòng tin cho học sinh vào vai trò lãnh đạo của Đảng
- Bồi dưỡng kỹ năng so sánh, phân tích, đánh gía, nhận định trong khi giảng nội dung Chính cương, Sách lược vắn tắt và Luận cương chính trị
Theo trình tự bài giảng, chúng tôi sẽ sử dụng các TLTK sau đây để làm rõ mục đích trên
Mục 1: “Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam”(3/2/1930)
- “…không có một Đảng cộng sản độc nhất trong lúc cuộc vận động quần chúng thợ thuyền và nông dân càng ngày càng phát triển, đó là một sự nguy hiểm rất lớn cho tương lai tối cận của cuộc cách mạng ở Đông Dương Vậy cho nên những sự
do dự và sự không quyết định của một vài nhóm đối với vấn đề lập ra ngay một Đảng cộng sản là những điều sai lầm …nhiệm vụ quan trọng hơn hết và tuyệt đối cần kíp của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng cách mạng của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng cộng sản quần chúng Đảng ấy phải là Đảng độc nhất và ở Đông Dương chỉ có Đảng ấy là tổ chức cộng sản mà thôi…” [32; 10-11]
Đoạn trích này được sử dụng để khẳng định việc thành lập Đảng Cộng sản
là một yêu cầu cấp thiết của lịch sử Trước yêu cầu ấy, Quốc tế cộng sản cũng thấy được và thực sự quan tâm đến cách mạng: gửi thư kêu gọi thành lập một Đảng thống nhất và cử Nguyễn Ái Quốc phụ trách việc thành lập Đảng:
“…Nhận được chỉ thị của Quốc tế cộng sản về công tác ở Đông Dương, tôi đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm vào tháng 7 năm 1928 Tôi đã làm việc với một số người An Nam di cư ở đây tới tháng 11 năm 1929…lập tức
đi Trung Quốc, tới đó ngày 23 tháng 12 Sau đó, tôi triệu tập đại biểu của hai
Trang 33nhóm (Đông Dương và An Nam) chúng tôi họp vào ngày 6 tháng 1…” [8; 91]
90 Miêu tả diễn biến hội nghị thành lập Đảng, qua đó gợi lại những hình ảnh sống động và gây xúc cảm mạnh mẽ ở học sinh trước biến cố vĩ đại này Đồng thời, thấy được vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:
“…Cuối tháng 1 năm 1930, Hồng Kông đang vào xuân Tiếng pháo đón tết sớm của trẻ con đã nổ râm ran trên các đường phố Bảy đại biểu đã có mặt tại Cửu Long (hai đại biểu của Đông Dương Đảng cộng sản, hai đại biều của An Nam cộng sản Đảng cùng với Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Ái Quốc) được gặp Nguyễn Ái Quốc mà tên tuổi từ lâu đã được các nhà cách mạng Việt Nam nói đến với lòng tin yêu, kính trọng, các đại biểu rất mừng và cảm động
Tối ngày 3/2/1930 trong ngôi nhà cũ bé nhỏ của một cơ sở Cửu Long thuộc khu vực ổ chuột với những túp lều bằng tôn và các tông chen chúc nhau nằm trên đất liền của lãnh thổ Hồng Kông, hội nghị thành lập Đảng chính thức khai mạc
Mọi người ngồi xung quanh một chiếc bàn đã có sẵn một bộ xúc xắc - một trò chơi ưa thích của người Trung Quốc ở Hồng Kông Nếu ai nghi ngờ vì có tiếng ồn trong buồng thì có thể tưởng tượng đây là nơi tụ tập của những kẻ cờ bạc Uy tín của ông Nguyễn có sức nặng đặc biệt đối với các đại biểu Trong các buổi thảo luận, Nguyễn Ái Quốc khéo léo hướng dẫn Nhờ những lời phát biểu cởi mở, súc tích và những lời kết luận có căn cứ, người đã thuyết phục được tất
cả các đại biểu và đưa hội nghị đến thành công
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, hội nghị đã hoàn toàn nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập một Đảng duy nhất lấy tên là:
“Đảng cộng sản Việt Nam” [7; 198]
Trang 34- Giới thiệu Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và hội nghị thông qua Tuy còn sơ lược chưa đầy hai trang nhưng nó
đã đề ra cho cách mạng Việt Nam đường lối cơ bản đúng đắn:
“Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở, sức sản sinh làm cho công nghệ bản xứ không thể nào mở mang được Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi
về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
A Về phương diện xã hội thì
a Dân chúng được tự do tổ chức v.v…
b Nam nữ bình quyền
c Phổ thông giáo dục theo công nông hoá
B Về chính trị
a Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
b Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập
c Dựng ra chính phủ công nông binh
d Tổ chức ra quân đội công nông
C Kinh tế
a Thủ tiêu hết các thứ quốc trái
b Thu hết sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh
c Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo
d Miễn thuế cho dân nghèo
e Mở mang công nghiệp và nông nghiệp
f Thi hành luật ngày làm 8 giờ
Trang 35III Đảng phải hết sức làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày nghèo (công hội, nông hội, hợp tác xã…) khỏi ở dưới quyền lực, ảnh hưởng của bọn tư sản quốc gia
IV Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản trí thức, trung nông (Thanh niên, Tân Việt, phái Nguyễn An Ninh…) để kéo họ về phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú, trung, tiểu địa chủ và tư sản việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nữa làm cho họ trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến…) thì phải đánh đổ Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thoả hiệp
V Trong khi tuyên truyền các khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, lại phải đồng thời … liên lạc…vô sản giai cấp thế giới ” [33;18 – 19 - 20]
Mục 2: “Luận cương chính trị năm 1930”
- “Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương
…Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Đông Dương sẽ là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, bởi vì cách mạng chưa thể trực tiếp giải quyết được những vấn đề
tổ chức XHCN, sức kinh tế trong xứ còn rất yếu, các di tích phong kiến còn nhiều, sức mạnh giai cấp tương đương chưa mạnh về phía vô sản, vả lại còn bị
Trang 36đế quốc chủ nghĩa áp bức Vì những điều kiện ấy cho nên thời kì bây giờ cách chỉ có tính chất thổ địa và phản đế
…Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là:
1 Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ
2 Lập chính phủ công nông
3 Tịch kí hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội, giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chính phủ công nông
4 Sung công hết thảy các sản nghiệp lớn của bọn tư bổn ngoại quốc
5 Bỏ các sưu thuế hiện thời, lập ra thuế luỹ tiến
6 Ngày làm công 8 giờ, sửa đổi sự sinh hoạt cho thợ thuyền và quần chúng lao khổ
7 Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận dân tộc tự quyết
8 Lập quân đội công nông
Trang 37Qua đoạn trích giúp học sinh thấy được sự khác nhau và giống nhau giữa Chính cương – Sách lược vắn tắt với Luận cương 10/1930 Từ đó, rút ra kết luận cần thiết, khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của Chính cương – Sách lược vắn tắt cũng như nhìn thấy hạn chế của Luận cương 10/1930 …
Tất nhiên, trước khi tìm hiểu những nội dung trên giáo viên cần giới thiệu cho học sinh biết khái quát: Luận cương chỉ dài khoảng 18 trang sách in, nội dung bao gồm 3 mục lớn:
I Tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương
II Những đặc điểm và tình hình cách mạng Đông Dương
III Tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương
- Giáo viên giới thiệu tóm tắt tiểu sử và những hoạt động của Trần Phú:
“ Trần Phú sinh ngày 1/5/1904, tại Quảng Ngãi (nguyên quán ở Đức Thọ, Nghệ Tĩnh) Ngay từ thuở nhỏ Trần Phú đã sống trong cảnh côi cút, tha phương cầu thực vô cùng cực khổ, vì cha mẹ mất sớm Đến bước đường cùng anh em Trần Phú phải về Quảng Trị tìm nơi họ hàng nương tựa nhờ bà con giúp đỡ, anh vào học trường Quốc học Huế Anh học rất giỏi và nuôi trong lòng hoài bão lớn Sau đó Trần Phú theo cách mạng, trở thành người chiến sỹ trung kiên của Đảng 10/1930, anh tham gia trong Ban chấp hành trung ương Đảng và được cử làm tổng bí thư Trần Phú được cử thảo ra Luận cương chính trị Để viết Luận cương này anh đã dựa vào Chính cương, Sách lược vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc, đi vào tìm hiểu thực tế trong phong trào công nhân ở Hải Phòng, lên Hà Nội dựa vào anh em, bồi bếp cho tên công chức cao cấp thực dân Pháp ở số nhà 90 – hàng Bông nhuộm – tại đây, Trần Phú đã bí mật thảo Luận cương chính trị của Đảng ngay dưới lầu nhà của tên thực dân Pháp đó
Trang 38Sau một thời gian hoạt động vì sự phản bội của Ngô Đức Từ ngày 19/4/1931 anh bị bắt Những tên mật thám khét tiếng đã điên cuồng tra tấn anh (bắt ngồi vào dòng nước bẩn rồi cho dòng diện chạy qua, đến cả thủ đoạn treo ngược lên nhà, cắt gan bàn chân rồi cho xăng đốt) Cuối cùng, chúng phải lắc đầu trước tinh thần gan thép của người chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi Trước khi chết, Trần Phú còn nhắc lại các đồng chí của mình “hãy giữ vững ý chí chiến đấu” Câu nói của anh đã trở thành vũ khí của người Việt Nam đi vào trận đánh Anh hy sinh lúc tuổi đời mới 27” [7; 200 – 201]
Sử dụng đoạn văn trên kết hợp bức ảnh Trần Phú (hình 5, sách giáo khoa lịch sử 12, tập 2) đã tạo biểu tượng cho học sinh về hình ảnh Trần Phú Nó không chỉ làm bài giảng có hồn mà còn gây xúc cảm mạnh mẽ ở học sinh, qua
đó giáo dục tình cảm cho các em
Mục 3: Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng:
- “Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-LêNin và phong trào công nhân với phong trào yêu nước của nhân dân ta” [32;33]
- “…Đảng ta con của phong trào
Mẹ nghèo mang nặng nỗi đau khôn cầm
…Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt
Đảng ta đây xương sắt da đồng
Đảng ta muôn vạn công nông
Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin
Đảng ta Mác-LêNin vĩ đại…” [41;198 – 199]
Trang 39- “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch
sử cách mạng Việt Nam ta Nó chứng tỏ giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” [28;152]
Đoạn trích trên là đánh giá của chủ tịch Hồ Chí Minh về ý nghĩa lớn lao của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đối với lịch sử dân tộc
Bài 5: “Phong trào cách mạng 1930-1931 và cuộc đấu tranh phục hồi lực lượng cách mạng”
Mục đích của bài 5
- Giúp học sinh nắm được tình hình kinh tế và xã hội Việt Nam dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ 1929; bước phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam thời 1930-1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh dưới
sự lãnh đạo thống nhất của Đảng; lực lượng cách mạng được phục hồi sau khủng
bố trắng
- Giúp học hiểu rõ sự lãnh đạo đúng đắn kịp thời của Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng như tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, đầy sáng tạo của công nhân và nông dân, từ đó nâng thêm lòng tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng và tình cảm gắn bó với công nông Đồng thời, nâng cao thêm một bước lòng căm thù đối với đế quốc Pháp
- Bồi dưỡng kỹ năng phân tích, nhìn nhận sự kiện lịch sử trong mối quan
hệ biện chứng
Mục I: “ Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới” (1929-1933)
- “Bây giờ là thời kỳ khủng hoảng phổ thông của đế quốc chủ nghĩa Kinh
tế Đông Dương là bộ phận trong kinh tế thế giới cho nên cũng bị khủng hoảng
Vả lại kinh tế nước Pháp đã bị biến động, kinh tế Đông Dương phụ thuộc nhiều
Trang 40vào kinh tế đế quốc Pháp cho nên cũng bởi đó mà bị lay chuyển thêm Những công ty mỏ thiếc, chì, cao su, công nghệ dệt và vận tải đã phải hạn chế sự sinh sản lại Việc buôn bán với các nước ngoài và trong nước đã bị sút nhiều, các tiệm buôn hoặc nhà máy nhỏ đã bắt đầu bị đóng cửa Số tiền của đế quốc và tư bổn bổn xứ bỏ ra để kinh doanh công nghệ và thương mại so với mấy năm trước thì nay bị sút nhiều Từ Âu chiến đến nay, lần này là lần đầu mà ở Đông Dương
có sự khủng hoảng như vậy Một điều nữa làm cho sự khủng hoảng kinh tế ở Đông Dương càng thêm sâu sắc là sự bóc lột của đế quốc, nhất là trong lúc khủng hoảng phổ thông của đế quốc chủ nghĩa Sự sinh hoạt của quần chúng lao khổ mỗi ngày mỗi sa sút, cách hợp lý hoá ở các sản nghiệp rất thịnh hành, ruộng đất tập trung vào tay đế quốc và tay địa chủ Vả lại mấy năm nay, mất mùa luôn bởi vậy nên sức mua hàng của quần chúng giảm nhiều; vì lẽ ấy nên hàng hoá của
đế quốc bị ế, làm cho sự khủng hoảng kinh tế càng thêm phát triển.” [33;78-79]
Đoạn trích trên được lấy từ “Án nghị quyết của trung ương toàn thể hội nghị nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng10/1930”, ở mục I “Tình hình hiện tại ở Đông Dương” Qua đây, thấy được
“ Tình hình khủng hoảng kinh tế” ở Đông Dương, nguyên nhân kinh tế Đông Dương khủng hoảng sâu sắc
-… “Chẳng những nó chém, đày, tù tội những người cách mạng mà thôi, chúng hết sức tàn sát quần chúng đấu tranh như bắn và ném bom vào quần chúng biểu tình, tù tội và đuổi, bắn công nhân bãi công Đồng thời, nó tổ chức việc “bãi công” và nói xấu Liên Bang Xô Viết Nó đặc biệt xuất bản nhiều tờ báo (“Thanh Nghệ Tĩnh tân văn”, “Bình Trị tân văn” … ở Trung Kỳ, “Công thị báo”, “Tứ dân tạp chí”, …ở Bắc kỳ) để chuyên môn chửi cộng sản Nó lại góp chó săn mật thám thành một Đảng “Lý Nhơn” để chuyên môn phá Đảng Cộng sản, … nó giả hô hào chánh