Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn đóng góp một phần không nhỏ của mình giúp nhân dân hai bên biên giới Việt - Lào có điều kiện hiểu nhau hơn và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, nhân dân hai nước từ lâu đã có mối quan hệ thân thiện, hữu nghị, thủy chung và gắn bó với nhau trong bảo vệ và xây dựng đất nước
CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào có tuyến biên giới đất liền dài nhất trong số các đường biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng, trong đó Nghệ An có đường biên giới dài 419 km tiếp giáp với ba tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào) Nhân dân hai bên biên giới có mối quan hệ dân tộc, thân tộc, dòng họ lâu đời, đã phát huy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất cũng như trong những cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược Tình cảm đó được thể hiện sinh động trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập tự do của hai nước, càng có ý nghĩa đặc biệt hơn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của mỗi dân tộc
Biên giới và an ninh biên giới là vấn đề được lãnh đạo hai nước Việt Nam - Lào đặc biệt quan tâm Do vậy, việc hoạch định biên giới giữa hai quốc gia là vô cùng quan trọng và cần thiết Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đầu năm 1976, lãnh đạo cấp cao hai nước đã họp để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước trên cơ sở đảm bảo chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an ninh biên giới quốc gia và Tổ quốc, tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước và tạo điều kiện cho việc làm ăn sinh sống của nhân dân hai bên biên giới
Khu vực biên giới cả nước nói chung, vùng Nghệ An nói riêng là địa bàn chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo
vệ biên giới luôn gắn liền với độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ, phá tan mọi âm mưu, hành động chống phá của kẻ thù Cho nên, xây dựng biên giới vững mạnh, toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,
Trang 3quốc phòng an ninh và đối ngoại là một việc làm cần thiết tạo thành sức mạnh tổng hợp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên giới vững mạnh vừa có ý nghĩa quan trọng, cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài
Nói đến biên giới là nói đến lãnh thổ Lãnh thổ là vấn đề quan trọng hàng đầu, là không gian cần thiết, là cơ sở thực tế cho sự phát triển của quốc gia Do vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa hai nước Việt - Lào không thể không nghiên cứu sự phối hợp giữa Nghệ An với ba tỉnh của Lào trong lĩnh vực biên giới Sự phối hợp này là sự thể hiện tình cảm truyền thống vốn có của nhân dân hai dân tộc, phối hợp giữ gìn an ninh trật tự biên giới, ngăn chặn bọn phản động lưu vong, đồng thời thể hiện được chính sách hòa bình, hữu nghị, hợp tác đối với các nước láng giềng theo đúng tinh thần, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Đã có nhiều công trình viết về mối quan hệ hai nước Việt - Lào Tuy vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các địa phương có chung đường biên giới Việt - Lào ở lĩnh vực hợp tác biên giới lại chưa được đề cập nhiều và đầy
đủ, phần lớn các bài viết chỉ nằm rải rác trong các bài báo cáo, tạp chí, văn bản
Xuất phát từ ý nghĩa trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: ''Quan hệ
hợp tác Nghệ An (CHXHCN Việt Nam) - Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào) trong việc giải quyết vấn đề biên giới'' để
làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn đóng góp một phần không nhỏ của mình giúp nhân dân hai bên biên giới Việt
- Lào có điều kiện hiểu nhau hơn và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác toàn diện cùng nhau xây dựng và bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Lào trở thành đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước anh em, góp phần xây dựng hai đất nước phồn vinh và hạnh phúc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 4Mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng như mối quan hệ giữa các địa phương kết nghĩa là mối quan hệ gắn bó, vừa mang tính truyền thống, vừa có tính chiến lược giữa hai nước cùng chung biên giới Về mối quan hệ đặc biệt này đã có nhiều tác giả tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam - Lào, nhưng ở lĩnh vực biên giới giữa các địa phương tiếp giáp của hai nước là một việc làm khá mới Đặc biệt chưa có tác giả nào đề cập một cách đầy đủ đến tuyến biên giới Việt Nam
- Lào phạm vi tỉnh Nghệ An (CHXHCN Việt Nam) tiếp giáp với ba tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào) giai đoạn 1976 đến nay Cho nên, nghiên cứu về sự phối hợp giữa Nghệ An với ba tỉnh tiếp giáp của Lào được xem xét trong tổng thể mối quan hệ tương tác, biện chứng không tách rời nhau giữa hai nước Việt - Lào
Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về mối quan hệ này:
+ Hợp tác Việt Nam - Lào trong việc giải quyết các vấn đề biên giới
lãnh thổ, Đặng Quốc Tuấn, Ban Biên giới, Bộ Ngoại Giao Ở bài viết này tác
giả đề cập đến việc giải quyết toàn tuyến biên giới Việt Nam- Lào
+ Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Phạm Đức Thành, Tạp chí nghiên
cứu Đông Nam Á, số 3, năm 2004 Tác giả đã phản ánh những tình cảm đặc biệt hữu nghị của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam- Lào
+ Hợp tác quốc phòng một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng trong quan
hệ hợp tác toàn diện và đặc biệt Việt Nam - Lào, Nguyễn Kim Lân, Viện
nghiên cứu chiến lược quân sự, Bộ Quốc phòng, nói về truyền thống đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, củng cố nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân hai nước
Trang 5+ Mối quan hệ ngôn ngữ tộc người ở biên giới Việt- Lào, Đoàn Văn
Phúc, Viện ngôn ngữ học, nhằm góp phần tìm hiểu mối quan hệ ngôn ngữ- tộc người ở khu vực biên giới
+ Mối quan hệ Việt Nam - Lào ở vùng biên giới Việt - Lào qua nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Thái ở phía Tây Nghệ An, Nguyễn Thị
Thi, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Bài viết này nhằm giới thiệu nghề dệt thổ cẩm và mối quan hệ Việt- Lào qua nghề thủ công truyền thống của người Thái ở tây Nghệ An
+ Hợp tác Việt - Lào trong các lĩnh vực đời sống dân sự tại khu vực
miền núi và dân tộc - biên giới, Nguyễn Duy Thiệu, Viện Nghiên cứu Đông
Nam Á Tác giả nêu lên các mối quan hệ trong đời sống dân sự của cộng đồng
cư dân ở khu vực biên giới Việt Nam- Lào tại địa phận tỉnh Quảng Trị và Kon Tum
+ Quan hệ Việt Nam - Lào qua thực địa biên giới Nghệ An, Nguyễn
Hào Hùng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, nhằm tìm hiểu thêm về lịch sử hình thành đường biên giới và các mối quan hệ hai bên thuộc phạm vi tỉnh Nghệ An
+ Vài nét về hợp tác Giáo dục - Đào tạo Lào- Việt, Nguyễn Quang
Ngọc, Bộ Giáo dục và Đào tạo Ở bài viết này tác giả đánh giá việc hợp tác giáo dục- đào tạo của Việt Nam đối với Lào trong sự nghiệp đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào
+ Quan hệ hợp tác giữa 2 tỉnh Nghệ An (Việt Nam) và Xiêng Khoảng
(Lào), Đậu Quỳnh Mai - Luận văn Thạc sĩ, 2004
+ Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng giữa hai
tỉnh Thanh Hoá ( Việt Nam)- Hủa Phăn (Lào) (1976- 2001), Lê Trọng Thế-
Luận văn Thạc sĩ, 2004
Trang 6+ Quan hệ hợp tác Hà Tĩnh (CHXHCN Việt Nam)- Bôlykhămxay
(CHDCND Lào) từ 1976- 2003, Dương Thị kim Ly- Luận văn Thạc sĩ, 2004
Những luận văn này đều viết về mối quan hệ hợp tác toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực, trong đó có đề cập tới việc giải quyết và bảo vệ biên giới hai nước trong phạm vi kết nghĩa của hai tỉnh có chung biên giới
Với nguồn tài liệu đã tiếp cận được, cùng với các công trình nghiên cứu nêu trên chúng tôi nhận thấy các công trình này chủ yếu phản ánh ở góc độ quan hệ giữa hai Đảng, hai Chính phủ và hai Nhà nước Việt Nam - Lào mà chưa phản ánh ở cấp độ địa phương Một số đề tài đã có đề cập đến nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, hoặc dừng lại ở một khía cạnh nhỏ lẻ chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về sự phối hợp giữa Nghệ An với ba tỉnh tiếp giáp của Lào trong lĩnh vực biên giới
Thực tế đó cho thấy việc nghiên cứu sự phối hợp giữa Nghệ An với ba tỉnh của Lào trong xây dựng và bảo vệ biên giới Việt Nam - Lào từ 1976 đến
2005 là một việc làm hết sức cần thiết
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ hợp tác giữa Nghệ
An (CHXHCN Việt Nam) với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào) trong việc hoạch định, xây dựng và bảo vệ biên giới Việt Nam - Lào từ năm 1976 đến 2005
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa Nghệ An (Việt Nam) với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào) trong việc hoạch định, xây dựng và bảo vệ biên giới
3.2.2 Ngoài ra luận văn còn đề cập đến những yếu tố về địa lí, văn hóa, mối quan hệ truyền thống hai bên biên giới, đi sâu vào nghiên cứu quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại hai bên biên giới giữa các tỉnh tiếp giáp
Trang 7Thời gian : Luận văn đề cập đến quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với ba
tỉnh tiếp giáp của Lào trong việc giải quyết vấn đề biên giới Việt - Lào từ
1976 -2005
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu: Luận văn được hoàn thành trên cơ sở nguồn tài liệu gốc:
+ Báo cáo tổng kết hàng năm về quan hệ hợp tác, các công văn, quyết định, biên bản, hội đàm giữa tỉnh Nghệ Tĩnh, tỉnh Nghệ An, tỉnh Hủa Phăn, tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Bôlykhămxay
+ Những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân
cách mạng Lào
Ngoài ra để luận văn thêm sinh động, chúng tôi có tham khảo thêm các nguồn tài liệu khác: các bài báo, tạp chí, bài phát biểu, phim tư liệu, bản đồ có liên quan đến
đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Với đối tượng, phạm vi nghiên cứu được xác định như trên, để giải
quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, về mặt phương pháp luận chúng tôi quán
triệt phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin, các chủ trương, đường lối,
chính sách đối ngoại của Đảng, của Nhà nước
Về các phương pháp cụ thể, trong luận văn chúng tôi chủ yếu sử dụng
các phương pháp chuyên ngành: phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử
Để hoàn thành đề tài ngoài hai phương pháp chính, tác giả còn sử dụng
nhiều phương pháp bổ trợ khác: thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, miêu
tả, thực địa, điền giã
5 Đóng góp của luận văn
Trang 8Theo ý kiến chủ quan của bản thân, luận văn này có những đóng góp chủ yếu sau:
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể về quan hệ hợp tác giữa Nghệ An (CHXHCN Việt Nam) với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay (CHDCND Lào), luận văn đã sưu tầm và hệ thống lại các tài liệu để phác thảo được một cách tổng thể, toàn diện và khách quan về quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với ba tỉnh của Lào hai bên biên giới
- Luận văn đã rút ra một số nhận xét, đánh giá và đưa ra một số định hướng có tính tham khảo cho quan hệ giữa Nghệ An với ba tỉnh của Lào có chung đường biên cũng như hai nước trong tương lai
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình tìm hiểu, nghiên cứu giảng dạy lịch sử địa phương Nghệ An, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay cũng như những hiểu biết về đường biên giới quốc gia của hai nước
6 Bố cục luận văn
Với 94 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, 8 phụ lục, 90 tài liệu tham
khảo, luận văn được chia làm 2 chương
Trang 9CHƯƠNG 1 QUAN HỆ HỢP TÁC NGHỆ AN (CHXHCN VIỆT NAM) - HỦA PHĂN, XIÊNG KHOẢNG VÀ BÔLYKHĂMXAY (CHDCND LÀO) TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI VIỆT NAM- LÀO TỪ
1976 - 2005
1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và dân cư vùng biên giới
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Nghệ An (CHXHCN Việt Nam) với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và
Bôlykhămxay (CHDCND Lào) là láng giềng gần gũi, có chung 419 km
đường biên giới, có nhiều điểm tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hoá Với
vị trí chiến lược “kề vai sát cánh”, chung đường biên giới, hệ thống giao thông đi lại thuận tiện là những điều kiện tốt để hai bên mở rộng quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng một cách bền vững và lâu dài
Nghệ An nằm ở tọa độ 18035’00” đến 20000’10” vĩ độ bắc và từ
103050’25” đến 105o
40’30’ kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông có biển Đông rộng lớn, phía tây có chung đường biên giới với ba tỉnh của nước bạn Lào: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay Nghệ An có một vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng, nhiều lần giữ vị trí căn cứ địa vững chắc trong lịch sử chiến tranh giải phóng và chiến tranh vệ quốc của dân tộc Từ thế kỷ thứ XV, Nguyễn Trãi coi Nghệ An là “phên dậu thứ ba ở phương Nam” Nhà sử học Phan Huy Chú nhận định là đất “hiểm yếu như thành đồng,
ao nóng của nước nhà và là then khoá của các triều đại” Đầu thế kỷ XIX, quốc sử quán triều Nguyễn cũng viết: “Nghệ An địa thế rộng rãi, chính là đất xung yếu giữa Nam và Bắc núi cao sông sâu, thực là một tỉnh lớn có hình thế hiểm yếu”
Trang 10Địa hình tự nhiên vùng biên giới Việt Nam - Lào là một dải núi rừng trùng điệp, hiểm trở, các sông suối cắt qua biên giới rất phức tạp Phần lớn tuyến biên giới Việt Nam - Lào đều đi qua đỉnh hoặc sống núi và sông, suối biên giới, so với mặt nước biển nơi thấp nhất vào khoảng 250 m, cao nhất có đỉnh PhuXaiLaiLeng 2.711 m - ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn hùng
vĩ và cũng là ngọn núi cao nhất tỉnh Nghệ An Ngoài ra, còn có nhiều đỉnh núi cao như PuSoong (2.365 m), PuTông Chinh (2.345 m), PuLong (2.176 m) hình thành biên giới tự nhiên giữa tỉnh Nghệ An và nước bạn Lào Một số đèo
đã trở thành các cửa khẩu nối liền hai nước, khu vực các cửa khẩu có độ cao trung bình 500m, có nơi trên 1.000m, còn trên các đoạn biên giới khác, hầu hết là núi cao, đi lại khó khăn: đi tắt qua các dãy núi đá, theo sông suối và theo các dạng địa hình khác [38,8]
Khí hậu khu vực biên giới sự khác biệt rõ rệt và rất khắc nghiệt, quanh năm đều bị mây mù che phủ Thời tiết chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao và phân thành hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 làm nhiệt độ tăng đột ngột và kéo dài nhiều ngày; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau kéo theo hiện tượng hanh heo, khô hạn Nhiệt độ tương đối cao, cao nhất khoảng 34,5oC, thấp nhất 14,5oC, bình quân 23,5oC Nhiệt độ mặt đất thường cao hơn nhiệt độ không khí Hàng năm lượng mưa bình quân 1.815 mm, song lại phân bố không đều giữa các vùng theo không gian và thời gian Mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8, 9, những tháng còn lại thường không có mưa hoặc mưa không đáng kể Điều kiện tự nhiên kết hợp nguồn tài nguyên đất đai phong phú với bạt ngàn núi, đồi là thế mạnh để phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày cũng như chăn nuôi đại gia súc, nhất là gia súc có sừng
Tài nguyên rừng phong phú, đa dạng với trữ lượng khá lớn như gỗ các loại 2,6 triệu m3, tre nứa 53,5 triệu cây, gỗ Pơmu hơn 70 ha, trữ lượng hơn
Trang 1160.000m3 Ngoài ra, còn có nhiều loại gỗ quý như: đinh hương, gội nếp, lát, chò chỉ, sa mu dầu Bên kia biên giới là những cánh rừng thông có thể cung cấp hàng chục vạn tấn nhựa hàng năm Rừng không chỉ là tài nguyên quý báu trong việc phát triển kinh tế quốc dân mà là nơi nương tựa cuộc sống của nhân dân các bộ tộc Lào Trong rừng có nhiều loại thú quý, có một số loài đã trở thành quý hiếm không chỉ đối với nước ta mà cả nhiều nước trên thế giới như sóc bay, sơn dương, báo Có nhiều loại khoáng sản quý: mỏ than, mỏ đồng, mỏ thạch anh, thạch cao, đá vôi, đất sét, chì, sắt, thiếc Đó là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các công trình xây dựng, làm đường sá và trong lĩnh vực kinh tế công nghiệp
Tuy giàu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng khó khăn lớn nhất đối với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay hiện nay là trình độ dân trí còn thấp, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông và khai thác lâm thổ sản, hệ thống giao thông đi lại khó khăn Hệ thống đường bộ sau nhiều năm khai thác nay đã xuống cấp nghiêm trọng Vào mùa mưa chỉ có một số tuyến giao thông chính hoạt động bình thường, còn lại là khó khăn, đôi khi các đường qua cửa khẩu phụ và đường mòn bị lũ lụt làm tắc nghẽn giao thông, gây trở ngại cho các hoạt động bảo vệ tuần tra biên giới Mặt khác là những tỉnh không có biển cho nên việc xuất nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu giao lưu với bên ngoài đang là một cản trở rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của 3 tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay
Với 419 km đường biên giới, Nghệ An và các tỉnh biên giới của Lào có một cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, một cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ với Bôlykhămxay, cửa khẩu phụ Quế Phong với Hủa Phăn Nghệ An có hệ thống giao thông khá phát triển, nối liền các tỉnh trong nước và nước bạn Lào Đặc biệt, đường số 7 nối liền quốc lộ 1A từ ngã ba Diễn Châu lên thị trấn Mường Xén băng qua dãy Trường Sơn đến cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn sang tỉnh
Trang 12Xiêng Khoảng (Lào) Đường 7B chạy từ thị trấn Mường Xén (Kỳ Sơn) sang thị xã Pôn Xa Vẳn (Xiêng Khoảng) Đường 46 liên huyện nối cửa khẩu phụ Thanh Thuỷ sang Khăm Cớt (Viêng Thoong, tỉnh Bôlykhămxay) Đường 48
đi từ Yên Lý (Diễn Châu) lên Quế Phong sang Sầm Tớ (Hủa Phăn) Ngoài ra, còn có hàng trăm đường lớn nhỏ qua lại biên giới do lịch sử để lại Nghệ An
có cảng biển Cửa Lò, là đầu mối giao thông đường biển đi ra các tỉnh bạn trong cả nước cũng như đi ra các nước trên thế giới Cho nên, từ trước cho tới nay Nghệ An được coi là cửa ngõ của nước Lào anh em Đây chính là thế mạnh, là một trong những điều kiện thuận lợi để giao lưu hàng hoá, phát triển
du lịch, hợp tác thương mại và quan hệ giao tiếp giữa Nghệ An và các tỉnh của Lào có chung đường biên
Bên cạnh giao thông thuận tiện, nhiều đầu mối giao lưu buôn bán cũng được hình thành và phát triển trên dọc biên giới của Nghệ An và ba tỉnh của Lào Trong đó có các cửa khẩu Nậm Cắn, Thông Thụ và Thanh Thuỷ là quan trọng nhất, lưu lượng hàng hoá thông qua các cửa khẩu không ngừng được tăng lên Đây là những nhân tố quan trọng để Nghệ An và ba tỉnh của Lào mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng
Với vị trí địa lí và địa hình hiểm trở, núi cao rừng rậm, dễ ẩn náu, giao thông đi lại thuận tiện, cảnh sát và quân đội khó kiểm soát, trong những năm qua tình hình biên giới có nhiều diễn biến phức tạp Kẻ địch luôn lợi dụng hoạt động chống phá Nghệ An với ba tỉnh của Lào, đặc biệt là bọn Vàng Pao lưu vong ở Mỹ đã trở về các vùng biên giới tiếp giáp một số nước láng giềng,
bí mật xây dựng căn cứ địa vũ trang để móc nối xây dựng cơ sở ngầm, kích động ly khai dân tộc, chia rẽ tình đoàn kết Việt Nam - Lào, lôi kéo đồng bào H’mông di cư trái phép sang Lào; buôn bán trao đổi vũ khí, hàng hoá, vận chuyển ma tuý, lưu hành tiền giả, vượt biên trái phép
Trang 13Sự gần gũi về địa lý là yếu tố cần thiết để Nghệ An với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay mở rộng quan hệ hợp tác về mọi mặt Song Nghệ An cũng như các tỉnh của Lào có chung đường biên giới cần phải quan
hệ phối hợp thường xuyên để quản lí, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, tạo quan hệ thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với các tỉnh của Lào ngày càng phát triển tốt đẹp
1.1.2 Mối quan hệ tộc người và giao lưu văn hoá
Do sự gần gũi về địa lí nên trong quá trình hình thành và phát triển, Nghệ An và ba tỉnh: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay có sự tương đồng về văn hoá lịch sử, đặc biệt là khu vực miền núi dọc hai bên biên giới
Khu vực biên giới Việt Nam- Lào là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, chủ yếu thuộc các nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me, Việt- Thái, H’mông- Dao Vùng rừng núi biên giới Nghệ An với ba tỉnh của Lào là địa bàn quần tụ của dân cư nhiều tộc người: Kinh, Thái, H’mông, Khơ mú, Thổ, Ơđu, Lào Lùm, Lào Xủng, Lào Thơng Tuy nhiên lịch sử cư trú của các tộc người không đồng nhất, có những tộc người là cư dân cổ, sinh sống lâu đời ở đây từ những thế kỷ trước công nguyên như tộc người nói tiếng Môn- Khơme Nhưng cũng có tộc người đến cư trú ở đây muộn hơn, đó là cư dân nói tiếng Thái, họ đến từ thế kỷ X- XIII Dân tộc Thái, có số dân cao nhất trong các dân tộc thiểu số trong tỉnh với các nhóm Tày Thanh, Tày Mường, Tày Khang, cư trú tại các huyện Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn và Quế Phong Muộn hơn cả là cư dân nói tiếng H’mông và Ơđu mới chỉ đến định cư ở đây khoảng một vài thế kỷ Người H’mông, phần lớn cư trú trên các triền núi cao thuộc huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong Dân tộc Ơđu sống dọc sông Nậm Nơn (Tương Dương) Một bộ phận dân tộc Thổ là người Đan Lai, Lí Hà và Tày Poọng, sống rải rác trên các bờ khe suối vùng Con Cuông, Tương Dương Dân tộc Khơ mú sinh sống ở Kỳ Sơn, Tương Dương H’mông và Khơ mú là
Trang 14hai dân tộc thiểu số còn sinh sống theo hình thức du canh, du cư, trình độ văn hoá thấp, còn tồn tại một số tập tục mê tín dị đoan, lạc hậu Các dân tộc thiểu
số sống thành từng bản, làng rải rác dọc trên biên giới Việt Nam- Lào, có nơi dân ở xa đường biên giới từ ba đến bốn ngày đường Nhiều dân tộc cư trú theo vùng nên thường một dân tộc cư trú hai bên biên giới Họ là một bộ phận
cư dân quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ biên giới hai bên, nhưng cũng là điều kiện để kẻ địch và các loại đối tượng lợi dụng mối quan hệ đó để trà trộn,
ẩn náu, xâm nhập, móc nối gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội trong khu vực biên giới
Xét về nguồn gốc dân cư hai bên biên giới Việt Nam- Lào tuy ít có nét chung, nét tương đồng, nhưng vẫn chung sống hoà thuận Từ lâu, nhân dân khu vực biên giới đã coi nhau như anh em cùng lớn lên từ việc làm chung nương rẫy, từ việc uống chung dòng nước, đi chung con đường Truyền thống văn hoá lịch sử đã gắn kết tình cảm nhân dân hai bên biên giới Mặc dù, hai bên biên giới có nhiều dân tộc khác nhau, nhưng giữa các nhóm tộc người không có sự kỳ thị, hiềm khích lẫn nhau Ngược lại, họ sống với nhau rất đoàn kết, thương yêu nhau, cùng chia ngọt, sẻ bùi, truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm trong lao động, sản xuất, hỗ trợ nhau trong kháng chiến chống ngoại xâm Nhân dân hai bên biên giới còn gắn bó với nhau bởi các mối quan
hệ thân tộc, dòng họ, thường xuyên qua lại thăm thân và giao lưu văn hoá với nhau
Quan hệ dòng họ càng nổi bật trong khu vực người H’mông Người H’mông vào Nghệ An khá muộn khoảng thế kỷ XIII, XIX Họ di cư thành nhiều đợt từ Lào qua trong các thời kỳ xảy ra biến động xã hội Người H’mông sống rải rác khắp các xã, huyện biên giới Họ sống xen kẽ trong khu vực của các dân tộc khác, thường chọn nơi cao nhất để ở và bảo tồn được những nét đặc sắc riêng của mình Tập quán sản xuất lâu đời của người
Trang 15H’mông là du canh du cư Khi sang Việt Nam, người H’mông còn giữ mối quan hệ dòng họ bền chặt với đồng tộc ở bên Lào Đặc biệt, Noọng Hét nằm trên trục đường 7, sát biên giới Việt Nam - Lào là trung tâm của người H’mông ở Xiêng Khoảng đã có ảnh hưởng lớn đến những người H’mông ở Việt Nam Tính chất du canh, du cư của nền sản xuất làm cho người H’mông trở thành một dân tộc đi lại tự do nhất trong khu vực này Có những cuộc di dịch cư hàng bản, nhưng thường xuyên có các cuộc di cư của từng nhóm gia đình, thậm chí vài ba nhà
Mùa xuân đến, từng đoàn thanh niên H’mông đi về khắp các ngã, có khi đi hàng mấy ngày đường, vượt qua cả biên giới để tìm hiểu và lấy nhau làm vợ chồng Quan hệ hôn nhân và dòng họ hiện nay vẫn còn chi phối nặng
nề Các cụ già vẫn nhắc nhở con cháu của mình nhớ về đất đai tổ tiên của mình ở bên Lào vì mới sang Việt Nam từ 40, 50 năm nay thôi Đồng bào H’mông khi di cư thường lấy lí do cần phải có sự giúp đỡ lẫn nhau của anh
em bà con trong những lúc ốm đau, đói kém Vì thế mỗi khi có việc vui buồn, hiếu hỉ bà con vẫn thường sang thăm hỏi lẫn nhau
Trên biên giới Việt Nam - Lào, các mối quan hệ dân tộc quốc gia, quan
hệ giữa các nhóm dân tộc và quan hệ thân tộc, dòng họ trong dân tộc thiểu số
đã hình thành và tồn tại từ lâu đời Đó là một yếu tố thuận lợi cho công cuộc xây dựng, củng cố tình đoàn kết giữa hai quốc gia, dân tộc Việt Nam - Lào cùng xây dựng, bảo vệ đường biên giới chung giữa hai nước Tuy nhiên, mỗi khi vấn đề quốc gia quốc giới chưa được giải quyết đầy đủ thì quan hệ biên giới trên đây là cơ sở phát triển của nhiều khó khăn, phức tạp nhất là khi có sự can thiệp, hoạt động của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động gây tình trạng mất ổn định ở khu vực biên giới
Mối quan hệ truyền thống Việt Nam - Lào được nảy sinh trong môi trường địa lí tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định Vùng biên giới
Trang 16Nghệ An và ba tỉnh tiếp giáp cùng nằm trên một cao nguyên đồi núi liên tục,
độ dốc lớn, điều kiện cảnh quan tương đối đồng nhất, diện tích đất rừng nhiều, mặt bằng làm ruộng ít nên từ lâu đời nhân dân các dân tộc ở cả hai bên biên giới đã quen với lối canh tác phát rừng làm rẫy Phương thức hoả canh
đã chiếm vai trò chủ đạo trong nền sản xuất của các dân tộc Ở đây tình trạng cộng cư và quan hệ dòng họ chi phối trong suốt quá trình lịch sử Những tương đồng về phương thức canh tác trên đã làm cho nhân dân hai bên biên giới xích lại gần nhau trong nếp nghĩ, nếp tư duy và trong các phong tục tập quán cũng như trong cách ăn, ở, sinh hoạt hàng ngày Họ ở nhà sàn, ăn cơm gạo tẻ, gạo nếp; đàn ông đóng khố cởi trần, đàn bà mặc váy với những màu sắc hoa văn trang trí hài hoà, độc đáo, sinh động vừa thể hiện khiếu thẩm mỹ, vừa mang nét đặc trưng của từng tộc người
Bên cạnh đời sống vật chất, qúa trình giao lưu tiếp xúc diễn ra thường xuyên giữa nhân dân hai bên biên giới đã tạo nên một đời sống văn hoá tinh thần hết sức phong phú và đa dạng Nhiều phong tục tập quán trong cưới xin,
ma chay, thờ cúng là những nét truyền thống văn hoá lâu đời được hai dân tộc Việt Nam - Lào lưu truyền, kế thừa và phát huy Họ sống chan hoà, thích
ca hát, nhảy múa, luôn lạc quan yêu đời trước những thử thách khắc nghiệt của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Bởi vì chỉ có lễ hội, con người được gần bên nhau có cơ hội để giao tiếp văn hoá, là khát vọng thể hiện tình cảm của bản thân, cộng đồng với tự nhiên và cũng để nói lên ước nguyện của mình sau những tháng ngày lao động vất vả, mệt nhọc
Trên cơ sở gần gũi về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là quan hệ bà con thân thuộc, trải qua những thể chế chính trị khác nhau, các nền văn hoá dân tộc đã cài xen vào nhau Ở đây đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa các dân tộc mà ở bên này (Lào) họ là đa số, còn ở bên kia (Việt Nam) họ là
Trang 17thiểu số đồng tộc Sự giao lưu văn hoá đã làm thành nền tảng của mối quan hệ giữa hai quốc gia vùng này càng thêm gắn bó
Hiện nay, Nghệ An với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay, đã thực hiện Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia, nhưng đôi khi đường biên giới chỉ có ý nghĩa tương đối Do đặc thù của địa bàn cư trú, do mối quan hệ mật thiết giữa các nhóm dân cư sống dọc biên giới cũng như điều kiện cụ thể của điều kiện lịch sử để lại và do nhu cầu giao tiếp giữa những cá nhân với cộng đồng vốn gần gũi về địa lí, có chung ngôn ngữ, tập quán văn hoá, nên trên thực tế đường biên giới quốc gia không thể chia cắt mối quan hệ tình cảm giữa các cộng đồng cư dân hai bên biên giới vốn có từ ngàn xưa Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các dân tộc luôn được rèn luyện, thử thách và ngày càng vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương Trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, Nghệ
An với Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay đã che chở đùm bọc cho nhau, đoàn kết chống lại kẻ thù chung và lập nên nhiều thành tích to lớn
Trong điều kiện hiện nay, sự gần gũi về địa lí, văn hoá là điều kiện quan trọng và cần thiết để hai bên tăng thêm hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quá trình hợp tác toàn diện Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi còn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống thường ngày của cư dân hai bên biên giới: nạn di cư tự do, vượt biên trái phép xảy ra ở nơi này hay nơi khác làm cho việc quản lí xã hội, an ninh chính trị gặp nhiều khó khăn Điều đó đặt ra yêu cầu hợp tác chặt chẽ, kịp thời và có hiệu quả giữa các tỉnh có chung biên giới mà còn đòi hỏi sự hợp tác toàn diện hai nước Việt Nam- Lào
1.1.3 Truyền thống lịch sử
Biên giới Việt Nam - Lào được hình thành trong quá trình chung sống giữa các dân tộc, thường gắn liền với cuộc đấu tranh chung nhằm bảo vệ sự sống còn của hai dân tộc Việt Nam - Lào Đó là lịch sử của các cuộc liên
Trang 18minh chiến đấu của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào hồi thế kỷ XV, cuộc liên minh chiến đấu của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam chống sự xâm lược và can thiệp của phong kiến Xiêm hồi thế kỷ XVIII, XIX
Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và thôn tính toàn bộ Đông Dương, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia lần đầu tiên bị đặt trong gông cùm chung của ách đô hộ thuộc địa, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương bị rơi vào tay kẻ đi xâm lược Bất chấp những thực tế lịch sử, thực dân Pháp đã tuỳ tiện chia cắt đất đai các vùng nhằm thực hiện chính sách “chia để trị” và bóc lột nhân dân các nước Thực dân Pháp đã nâng đỡ và cấu kết bọn tay sai trong tầng lớp trên biến chúng thành công cụ đắc lực thực hiện việc chia rẽ hai dân tộc Việt Nam - Lào Việc tuỳ tiện chia cắt gây nên tình trạng bất hợp lý trên đường biên giới quốc gia là tội ác lịch sử của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam - Lào Điển hình là
vụ tranh chấp đất đai ở khu vực Nậm Cắn (Kỳ Sơn) trong những năm từ 1935 đến 1937
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp vô sản lãnh đạo đã thanh toán những hận thù dân tộc, những kỳ thị hẹp hòi của các thế lực trước
để lại Cách mạng đã vạch cho nhân dân các nước có chung kẻ thù cần đánh
đổ là chủ nghĩa thực dân xâm lược và động viên các dân tộc vào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung đó Trên cơ sở của sự hiểu biết lẫn nhau, của lòng căm thù cao độ chủ nghĩa thực dân xâm lược, nhân dân hai nước cùng sát cánh bên nhau đoàn kết chiến đấu ủng hộ và bảo vệ cách mạng
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời sau cách mạng tháng Tám năm 1945 là nhà nước bảo vệ quyền lơị cho nhân dân, trong đó có các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhà nước ấy đã thực hiện chức năng và động viên nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược, đồng thời làm nhiệm vụ ủng hộ quốc tế đối với nhân dân
Trang 19Lào láng giềng Năm 1953, dân công Kỳ Sơn, Tương Dương cùng với dân công các huyện trong tỉnh và bộ đội vượt núi băng ngàn, vận chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn góp phần vào chiến thắng Thượng Lào, tăng cường
sự phối hợp chiến đấu giữa quân và dân hai nước, mở rộng khu căn cứ kháng chiến Việt Nam- Lào Sau ngày hoà bình lập lại, nhà nước Việt Nam có điều kiện xây dựng và tổ chức cho đời sống nhân dân bên cạnh việc trấn áp các lực lượng phản cách mạng, bảo vệ chủ quyền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc Chúng ta đã tiến hành các cuộc cải cách dân chủ và hợp tác hoá ở miền núi nhằm đưa nhân dân miền núi tiến kịp nhân dân vùng xuôi, xây dựng kinh
tế dân tộc vững mạnh gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng Đời sống của nhân dân ta có những thay đổi căn bản, ý thức giác ngộ của quần chúng
về chủ nghĩa xã hội ngày một nâng cao Trong khi chúng ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam thì ở bên kia biên giới đang diễn ra cuộc đấu tranh anh dũng chống
đế quốc Mỹ Cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ càng gắn bó chặt chẽ sự nghiệp cách mạng của nhân dân hai nước Việt Nam- Lào Vì thế miền Bắc không những là hậu phương của cách mạng miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã giúp đỡ cách mạng Lào không tiếc xương máu, đồng thời nhân dân Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của nhân dân Lào Kỳ Sơn (Nghệ An) là đầu cầu của tiền tuyến xã hội chủ nghĩa ở Đông Dương đã làm trọn nhiệm vụ quốc tế cao cả trong việc chi viện cho cách mạng Lào, đặc biệt
là trong chiến dịch Cù Kiệt năm 1969 - 1972, nhân dân Kỳ Sơn đã cưu mang, giúp đỡ đồng bào Xiêng Khoảng tản cư sang các xã dọc đường 7 Chỉ tính riêng năm 1969 số lượng chi viện cho cách mạng Lào bằng tất cả các năm trước gộp lại [47,18]
Trang 20Quan hệ Việt Nam - Lào được bắt nguồn từ trong lịch sử được hình thành và thử thách qua chiến đấu Mối quan hệ ấy không chỉ dừng lại ở hình ảnh “môi răng” mà nó xây đắp bằng nội dung thực tế là “cần gì có nấy” Kết quả của bao nhiêu năm chung sức đấu tranh là miền Bắc xã hội chủ nghĩa được củng cố và lớn mạnh không ngừng làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với cách mạng cả hai nước Cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi cơ bản Cũng như ở Việt Nam, vùng giải phóng Lào đã đem lại cho nhân dân quyền làm chủ thật sự, cách mạng hai nước ngày nay vững vàng hơn bao giờ hết Nó là kết quả của đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng ta và các lực lượng cách mạng Lào Đường lối quốc tế ấy thể hiện
sự nhất trí tối cao lợi ích chính trị của nhân dân hai nước Đường lối ấy sẽ nhằm vào mục đích tăng cường lực lượng cách mạng của hai nước Mỗi một thắng lợi và sự lớn mạnh của cách mạng hai nước đều có tác dụng củng cố và
hỗ trợ cho nhau Đó là những cơ sở vật chất hết sức to lớn, hết sức cơ bản mà cách mạng hai nước đã giành được, chúng ta kiên quyết không để mất đi, kiên quyết bảo vệ tình nghĩa trong sáng và thực lực cách mạng to lớn ấy Chỉ có đứng trên cơ sở và điều kiện này mới có cách nhìn nhận vấn đề biên giới giữa hai nước một cách đúng đắn
Mặc dù, đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa còn gặp khó khăn, nhưng phát huy tính ưu việt và tiên tiến của chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ nhân dân Lào trong các vùng giải phóng Sau chiến tranh, các đoàn đại biểu của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng đã sang thăm hỏi nhau và bàn biện pháp giúp đỡ nhau xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng và bảo vệ đời sống nhân dân Điều đó cho thấy quan hệ chính trị giữa hai dân tộc ở biên giới đã phát triển mạnh mẽ nhưng do hoàn cảnh phải trải qua nhiều năm chiến tranh liên tục, chúng ta chưa có điều kiện hình thành
và tổ chức một cách khoa học các mối quan hệ kinh tế Việc trao đổi mua bán
Trang 21hàng hoá đến từng xã đã phát huy vai trò trung tâm trong việc trao đổi và cung cấp những mặt hàng thiết yếu cho nhân dân ở Việt Nam, mặt khác cũng đóng góp một phần vật chất cho nhân dân Lào ở vùng biên giới Quan hệ mua bán và trao đổi hàng hoá giữa mậu dịch quốc doanh và nhân dân Lào ở địa phương mới chỉ là quan hệ kinh tế nhỏ bé và tự phát
Chiến tranh kết thúc, những vết thương do bom mìn phá hoại vẫn còn
Do vậy, yêu cầu hàn gắn vết thương chiến tranh là cần thiết để cùng đưa nền kinh tế- xã hội phát triển Vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách đại đa số các dân tộc vùng biên giới Nghệ Tĩnh vẫn một lòng tin tưởng và theo Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiện nay, nhân dân ở vùng biên giới đã tiến hành định canh, định cư Tuy nhiên, một bộ phận bà con dân tộc còn bị tập quán sản xuất cũ ràng buộc và bị kẻ xấu lợi dụng đã bỏ đi Lào mưu lợi ích trước mắt gây ra những mâu thuẫn không cần thiết giữa các dân tộc ở khu vực này
Vì vậy, chúng ta cần phân biệt chủ quyền lãnh thổ thuộc về nguyên tắc với những điều kiện thực tế bên ngoài, giải quyết làm sao có lợi cho cách mạng không để kẻ địch, không để kẻ hở cho tư tưởng sô vanh chủ nghĩa bám
rễ vào Quan điểm quốc tế, quan điểm dân tộc đòi hỏi phải phục tùng lợi ích tối cao của sự nghiệp cách mạng nhân dân hai nước Trong vấn đề biên giới Đảng ta chủ trương giải quyết trên cơ sở tuyệt đối đảm bảo chủ quyền lãnh thổ quốc gia, mặt khác phải giữ vững và phát huy tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào Với đường lối đúng đắn, với thực lực vững chắc cho cuộc đấu tranh cách mạng chung của nhân dân hai nước đem lại, biên giới Việt Nam - Lào đang và sẽ trở thành một khu vực phát triển các quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc
Biên giới Việt Nam - Lào ngày nay là thành quả của cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ chung lưng đấu cật giữa nhân dân hai nước
Trang 22chống đế quốc xâm lược và giải phóng dân tộc Biên giới ấy gắn với quyền lợi cách mạng của nhân dân hai nước, đồng thời gắn liền với lợi ích tối cao của các dân tộc Đó là chủ quyền quốc gia, là quyền tự quyết định vận mạng của dân tộc mình Thực tế sinh động trên biên giới Việt Nam - Lào càng giúp chúng ta thấm thía câu nói của chủ tịch Xuphanuvông- vị lãnh tụ vĩ đại của Lào: “Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng anh em gần gũi, như làng trên, xóm dưới cùng nhau chung một dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống nước chung một dòng sông Nhân dân hai nước chúng ta đã từng đồng cam cộng khổ sát cánh bên nhau từ bao đời nay Chúng ta lại cùng nhau chung một vận mệnh, chung một kẻ thù và đã từng giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau trong cả quá trình dựng nước và giữ nước Tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Lào và Việt Nam thật là vĩ đại mà bất cứ bài ca, bản nhạc nào, bất cứ bài thơ nào hay nhất cũng không sao diễn tả trọn vẹn được Tình hữu nghị đó cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm, ngát thơm như bất cứ đoá hoa nào thơm nhất Tình hữu nghị cao đẹp đó đã được vun trồng, xây đắp lên với tất cả tấm lòng thành thật của chúng ta, do đó không thể có hung thần nào, không có kẻ thù nào có thể phá nổi” [47, 25]
1.2 Lược sử hình thành đường biên giới Việt Nam- Lào
1.2.1 Quá trình hình thành đường biên giới Việt Nam- Lào trước khi Pháp xâm lược
Việt Nam- Lào là hai quốc gia láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng chung đường biên giới, nhân dân hai nước từ lâu đời đã gắn bó với nhau trong bảo vệ và xây dựng đất nước, có mối quan hệ láng giềng thân thiện
Trang 23Nghệ An là tỉnh có đường biên giới dài nhất so với các tỉnh có chung biên giới Việt Nam - Lào, trong đó huyện miền núi rẻo cao Kỳ Sơn (Nghệ An) có 192 km đường biên giới với nước CHDCND Lào
Trong lịch sử, vùng Kỳ Sơn và Xiêng Khoảng (Trấn Ninh cũ) có nhiều mối quan hệ gắn bó Trước đây, Kỳ Sơn thuộc phủ Tương Dương (giữ nguyên cho tới sau cách mạng tháng Tám năm 1945), một khu vực hành chính hình thành sớm trong lịch sử Việt Nam Dưới đời Trần vùng này được gọi là vùng đất Mật Châu (huyện Tương Dương), nơi có dòng Nậm Mật chảy qua Năm 1334, các bộ tộc Lào liên tục tấn công, cướp phá biên thuỳ nước ta, vua Trần Minh Tông cầm quân đi đánh bại Ai Lao Năm 1335, Thượng hoàng lại đích thân tây chinh lần nữa, đuổi được tù trưởng người Ai Lao âm mưu cát
cứ ra khỏi đất Mật Châu nhằm ổn định biên cương Lúc trở về có sai người đục núi đá ghi công đến nay dấu tích vẫn còn (xã Trầm Hương, huyện Con Cuông, Nghệ An) Nội dung văn bia kể rõ thắng lợi của Đại Việt và răn đe quân Ai Lao không được xâm lấn [39, 66] Đến đời thuộc Minh, đất Mật Châu (Tương Dương) đổi thành châu Trà Lung, sau đổi là châu Trà Thanh Thời Lê gọi là phủ Trà Lân Thế kỷ XV, cương vực phía tây nước ta rất phức tạp Các bộ tộc ở Đông Bắc và Đông Ai Lao chịu sự quản lí lỏng lẻo của nhà nước, thường xuyên xung đột với nhau, nhiều khi xâm phạm vào cương vực Đại Việt Cũng có khi chính quyền Ai Lao làm chỗ dựa cho các cuộc xâm lấn tranh chấp lãnh thổ với Đại Việt ở từng khu vực Đối với nhà Lê, Ai Lao chỉ
là một “ngoại phiên”, một nước nhỏ trong khu vực và vẫn giữ quan hệ hoà hiếu Nhưng Ai Lao thực hiện chính sách ngoại giao hai mặt với nhà Lê, một mặt tỏ vẻ thần phục, mặt khác làm hậu thuẫn và xúi bẩy các tù trưởng biên giới của họ xâm lấn, cướp phá lãnh thổ Đại Việt Nhà Lê đã kiên quyết trừng trị những hành động đó để giữ cương vực đất nước ở phía Tây [39,114] Vùng đất Bồn Nam và châu Ngọc Ma phía Tây và Tây Nam biên giới Nghệ An
Trang 24ngày nay vốn là đất Đại Việt từ lâu Nhưng nửa sau thế kỷ XV, tù trưởng Bồn Man lợi dụng địa thế xa xôi, dựa vào Ai Lao để chống lại triều đình Năm
1479, Lê Thánh Tông đem quân chinh phạt và đất Bồn Man đổi thành phủ Trấn Ninh phụ thuộc Nghệ An Từ đó, Ai Lao không dám xâm lấn cướp bóc biên giới Cương vực phía Tây tạm được yên ổn
Bồn Nam hay Trấn Ninh phụ thuộc Việt Nam nhưng quyền hành cai quản vẫn do các thổ tù, dòng họ địa phương nắm giữ Trong chính sách của các vương triều tiếp theo, Trấn Ninh được coi là “phên dậu” miền thượng đạo Việt Nam Đầu thời Nguyễn, biên giới phía Tây nước ta giáp đất Lào chưa phân định rõ ràng, vốn đã phức tạp từ các thời kỳ trước, đến thế kỷ XIX càng phức tạp hơn Đầu đời Gia Long, nhà Nguyễn trả công cho Vạn Tượng đã phối hợp tấn công nhà Tây Sơn, bằng cách cắt cho Vạn Tượng đất Trấn Ninh phía Tây Nghệ An Thế kỷ XVIII, Ai Lao đã bị chia cắt thành ba vương quốc: Luông Pha- bang (Nam Chưởng), Viên Chăn (Vạn Tượng), Bá Sắc và bị phong kiến Xiêm La khống chế Đầu thế kỷ XIX, vua Vạn Tượng là Chậu A
Nụ liên kết với hai quốc vương là Nam Chưởng và Bá Sắc chống lại quân Xiêm Nhưng cuộc khởi nghĩa dần dần thất bại và toàn bộ lãnh thổ của Lào trở thành thuộc địa của Xiêm La Khi phong kiến Xiêm tiếp tục tấn công sang phía Đông để bành trướng liền vấp phải sự không chịu thuần phục của cư dân vùng giáp đất Việt Nam [39, 200] Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), trước sức tấn công tàn bạo của quân Xiêm xâm lược, nhiều thổ tù địa phương ở những đất vốn do nhà Nguyễn cắt cho Ai Lao đã sang Việt Nam xin quy phục nhằm tăng cường lực lượng chống sự can thiệp của nước ngoài Trấn Ninh lại gia nhập khối liên minh với Việt Nam từ năm 1828 cho đến khi thực dân Pháp nhảy vào thôn tính toàn bộ Đông Dương cuối thế kỷ XIX
1.2.2 Từ khi Pháp xâm lược đến năm 1945
Trang 25Sau khi thôn tính toàn cõi Đông Dương, bằng Hiệp ước Pháp - Xiêm (03-10-1893), Pháp đã đòi được Xiêm trả lại những vùng đất phía Đông sông
Mê Kông mà trước đây là của Lào Từ năm 1893 đến năm 1899, nhà cầm quyền Pháp đã từng bước tiến hành lập nên xứ Ai Lao thuộc Pháp trên cơ sở những đất đai của Đông Dương ở phía Đông sông Mê Kông mà Xiêm buộc phải trả lại
Bất chấp mọi hiện tượng lịch sử của các mối quan hệ lâu đời giữa các dân tộc ở đây, thực dân Pháp đã tuỳ tiện cắt đặt, phân chia biên giới sao cho bảo đảm được mục đích duy trì an ninh, chia rẽ các dân tộc và bóc lột được nhiều nhất, thuận lợi nhất để tạo nên các xứ trong cái “Đông Dương thuộc Pháp”, trong đó đã cắt nhiều vùng rộng lớn của Việt Nam để sáp nhập với các vùng đất của Vương quốc Lạn Xang trước kia thành lập ở xứ Ai Lao
Đường ranh giới hành chính của các xứ trong “Đông Dương thuộc Pháp” được hình thành trong quá trình phân định lãnh thổ của các xứ giữa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Ai Lao Đường ranh giới hành chính đó được xác định với một số sửa đổi từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, dần dần ổn định và chính là cơ sở để hình thành trên thực tế đường biên giới giữa Việt Nam và Lào sau này
Cho đến năm 1905, việc chia cắt xáo trộn đất đai để hình thành lên các
xứ trong cái “Đông Dương thuộc Pháp” đã cơ bản hoàn thành Từ năm 1908 đến năm 1934, chính quyền thực dân Pháp đã tiến hành khảo sát xác định đường ranh giới các xứ trên thực địa và các đường ranh giới đó được thể hiện lên bản đồ Nơi nào không có điều kiện tiến hành khảo sát trên thực địa thì họ dùng máy chụp ảnh và căn cứ vào ảnh chụp để biên vẽ và ghép bản đồ
Trên loại bản đồ Bonne tỉ lệ:1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản, ranh giới giữa Lào với Bắc kỳ và Trung Kỳ khoảng 2.067 km, theo các tài liệu thì có khoảng 800 km được khảo sát đo vẽ trên thực địa (từ đỉnh Kèo
Trang 26Nưa vào Nam), khoảng 1.200 km được biên vẽ theo ảnh chụp từ máy bay hoặc bằng các phương tiện gián tiếp khác, một số đoạn còn lại chưa thể hiện đường ranh giới Phạm vi Nghệ Tĩnh từ đỉnh Kèo Nưa đường 8 đến điểm tiếp giáp tỉnh Quảng Bình với 110 km được khảo sát đo vẽ trên thực địa, còn 454
km từ đỉnh đèo Kèo Nưa đến điểm tiếp giáp tỉnh Thanh Hoá thì dựa theo ảnh chụp để biên vẽ thể hiện đường ranh giới, có đoạn còn để trắng như phía Bắc đường 8, núi Truyền (Thanh Chương)
Đến năm 1934, tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng về cơ bản nhà cầm quyền Pháp đã hoàn thành việc thể hiện ranh giới giữa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và
Ai Lao lên bản đồ Theo thống kê của Cục Đo đạc Nhà nước, trên loại bản đồ Bonne tỉ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản, đường ranh giới giữa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Ai Lao có những đặc điểm sau:
- Toàn bộ đường ranh giới có chiều dài tổng cộng là 2.067 km được thể hiện trên 48 mảnh bản đồ Bonne tỉ lệ 1/100.000
- Trên 48 mảnh bản đồ đó, còn có 7 đoạn ranh giới được thể hiện ở các khu vực chưa có địa hình và 8 đoạn chưa thể hiện đường ranh giới
Cùng với thời gian cho đến năm 1945, ranh giới hành chính giữa các xứ trong “Đông Dương thuộc Pháp” đã dần ổn định trên thực tế Sau khi Việt Nam và Lào cùng giành được độc lập, ranh giới hành chính giữa các xứ Bắc
Kỳ, Trung Kỳ và Ai Lao đương nhiên trở thành biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào Do được hình thành trên thực tế và trải qua quá trình quản lí lâu dài nên phần lớn đường ranh giới đó được nhân dân các dân tộc và chính quyền hai bên biên giới tôn trọng và thừa nhận là đường biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào Tuy có một số vùng do lịch sử để lại và hoàn cảnh chiến tranh tạo nên hoặc có sự chia rẽ xúi giục của bọn đế quốc nhưng chỉ là phạm vi cục bộ, không phải là chủ yếu
Trang 27Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, chính quyền địa phương châu Mường Khăm, Tà Xẻng Chằng, Tà Xẻng Pa Vén (Lào) được sự dung túng của trưởng đồn Pháp đóng tại Noọng Hét đã thực hiện ý đồ lấn chiếm lãnh thổ phía Tây tổng Hữu Kiệm (huyện Kỳ Sơn, phủ Tương Dương) Từ năm 1909 đến năm 1945, chúng đã thực hiện lấn chiếm lãnh thổ 3 lần khoảng 32 km với nhiều thủ đoạn
Lần thứ nhất, từ năm 1909 đến năm 1927 chiếm khoảng 18 km từ Huội Căng Pa Niên đến Huội Kỳ Linh
Lần thứ hai, từ năm 1932 đến năm 1934, lấn chiếm khoảng 10 km từ Huội Kỳ Linh đến Đin Đăm bằng thủ đoạn làm giấy tờ giả để dựa vào chứng
cứ đó lấn chiếm lãnh thổ
Lần thứ ba, từ năm 1938 đến năm 1945, chính quyền Tà Xẻng Chằng bằng thủ đoạn thuê người dựng cột mốc ở đèo Xalaep (đèo Gió) cách Đin Đăm vị trí lấn chiếm lần thứ hai khoảng 10 km, cách suối Nậm Cắn về phía Đông khoảng 6 km Với cột mốc giả nói trên nhằm làm chứng cứ hòng lấn chiếm thêm 10 km, nhưng sau lấn chiếm 4 km
Cả ba lần giải quyết sự kiện lấn chiếm lãnh thổ phía Tây tổng Hữu Kiệm (huyện Kỳ Sơn) đều có sự tham gia của các quan chức hai bên Qua những lần bàn cãi, tranh luận giải quyết về lãnh thổ mỗi bên đều nêu lên chứng cứ lí lẽ đấu tranh khá căng thẳng Phó lí Vi Văn Khuông đã kiên quyết nhổ cột mốc giả Tà Xẻng Chằng cắm ở đèo Xalaep và định hành hung nhau, nhưng hai trưởng đồn Pháp đã can ngăn, phân xử một cách tuỳ tiện, chúng cho rằng “đất nào cũng là đất của Đông Pháp cả” và nói sẽ báo cáo, xin ý kiến quyết định của toàn quyền Đông Dương Bọn chúng đã nói cho qua chuyện, đáp số vẫn bằng không Thực tế hai lần trước, bọn chúng đã làm ngơ, dung túng cho chính quyền địa phương châu Mường Khăm, Tà Xẻng Pa Vén, Tà Xẻng Chằng lấn chiếm 28km từ Huội Căng Pa Niên đến Đin Đăm Còn lần
Trang 28thứ ba, hai trưởng đồn Pháp lập biên bản đơn phương hoà giải tuỳ tiện, lấy suối Nậm Cắn làm giới hạn, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam thêm 4 km từ Đin Đăm đến suối Nậm Cắn Chính quyền phủ Tương Dương, huyện Kỳ Sơn, tổng Hữu Kiệm kiên quyết đấu tranh không chấp nhận Năm 1938, phó lí Vi Văn Khuông vẫn quản lí chính quyền tổng Hữu Kiệm Đầu năm 1945, phát xít Nhật hất quyền thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương, chính quyền tổng Hữu Kiệm buông lỏng quản lí Tà Xẻng (Lào) lợi dụng thời cơ vin vào biên bản trưởng đồn Pháp phân xử đã thu thuế đến Nậm Cắn trong vùng đất
10 km2 ở phía Đông dãy núi Đin Đăm tiếp giáp suối Nậm Cắn thuộc về lãnh thổ Việt Nam (theo bản đồ Sở Địa dư Đông Dương trước năm 1945 đã thể hiện) Do lịch sử để lại có sự nhập nhằng và một số bản đồ xuất bản sau này thể hiện sai đường biên giới, nên sau cách mạng tháng Tám, vùng phía Tây suối Nậm Cắn là một trong những vùng phải cùng với phía Lào giải quyết nhiều lần
Vùng đất Sóc (phía Tây xã Keng Đu, huyện Kỳ Sơn), năm 1840, niên hiệu Minh Mệnh thứ 21, thuộc về Việt Nam, với chứng cứ: chính quyền địa phương huyện Kỳ Sơn, phủ Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã cấp cho ông Pho Nhốt Bun Hương làm chủ đất Sóc được hưởng nhiều quyền lợi, quản lí trông coi thu thuế vùng này Đi đôi với bằng cấp có một con dấu bằng gỗ khắc sáu chữ: “Đồng Sóc lí trưởng tín ký” Già làng Lương Pha Hưm, bản Piêng Hay,
xã Huội Khăm cho biết: niên hiệu Duy Tân thứ 2 vùng đất Sóc gọi là xã Đồng Sóc thuộc tổng Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, phủ Tương Dương (Nghệ An) Năm
1909, vùng đất Sóc gồm 18 bản nhưng 17 bản thuộc về châu Mường Khăm, phủ Trấn Ninh (Xiêng Khoảng, Lào), chỉ 1 bản Huội Lê thuộc xã Keng Đu, tổng Hữu Kiệm (Kỳ Sơn, Nghệ An)
Từ năm 1909 đến năm 1929, tổ chức hành chính cơ sở vùng đất Sóc đổi thành Tà Xẻng Sóc thuộc huyện Mường Khăm (Lào) Sau chiến dịch Thượng
Trang 29Lào bộ máy chính quyền cơ sở ở Lào, kể cả vùng đất Sóc thuộc Tà Xẻng Chằng gọi là Uỷ ban Tam Bun
Từ năm 1945 đến năm 1954, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân đã dựa lưng vào nhau, phối hợp chiến đấu chặt chẽ, việc qua lại biên giới hoàn toàn tự do Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, trong vùng biên giới, cách mạng Đông Dương không phân biệt đâu là đất Lào, đâu
là đất Việt (cơ sở cách mạng của Việt Nam đóng ở Lào và cơ sở cách mạng của Lào đóng ở Việt Nam) Trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, Việt Nam và Lào đã phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung Quân đội, cán bộ và nhân dân hai nước qua lại tự do lãnh thổ của nhau, sự quản lí đất đai là do nhu cầu xây dựng lực lượng cách mạng chung không căn cứ đó là lãnh thổ của Lào hay của Việt Nam Thực tế, có nhiều vùng đất Lào cho Việt Nam mượn
để xây dựng cơ sở kháng chiến, ngược lại, ta cũng cho Lào mượn một số đất đai để xây dựng hậu phương Để phù hợp với yêu cầu của cách mạng, việc quản lí các vùng đất này đã được tạm thời giao cho lực lượng trực tiếp và nhiều vùng đã xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng của bên mượn đất, vô hình chung đã tạo thêm nhiều đường biên giới quản lí và gây ra nhận thức lộn xộn giữa lãnh thổ quốc gia thuộc nước này hay nước kia
Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà bình được lập lại ở Đông Dương, lực lượng vũ trang tuyên truyền của Việt Nam có qua lại vùng này, còn lực lượng vũ trang Lào Itxala thường xuyên công tác xây dựng cơ sở
Trang 30vùng biên giới Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, chấp hành mệnh lệnh cấp trên quân đội Pathét Lào rút về Sầm Nưa tập kết Trên tinh thần tình đồng chí anh
em, Lào giao lại vùng đất Sóc cho huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) vào tháng 8 năm
1954, còn châu Mường Khăm (Lào) sau tháng 7- 1954 thuộc khu vực kiểm soát của Chính phủ Vương quốc Lào
Như vậy, có một thời kỳ đất Sóc là vùng lãnh thổ nhập nhằng: thời kỳ thuộc Việt Nam, thời kỳ thuộc Lào Tình trạng đó kéo dài mấy thập kỷ, có thể
do nguyên nhân của sự xáo trộn, chia cắt đất đai tuỳ tiện của toàn quyền Đông Dương để tạo nên lãnh thổ “các xứ Đông Dương thuộc Pháp” vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và tình trạng di dịch cư của các dân tộc thiểu số hai bên biên giới, tạo tiền đề cho việc lấn chiếm đất, gây nên sự nhập nhằng về lãnh thổ Một vùng đất không rộng lại núi non hiểm trở, tình trạng không rõ ràng
do lịch sử để lại qua nhiều năm đã làm quá trình giải quyết khá phức tạp
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, những năm 1950, thực dân Pháp đã chia tách một số làng bản ở hai bên biên giới Việt Nam - Lào để lập ra xứ Thái tự trị ở phía Bắc Ở phía Nam, những năm 1960, để tránh bom đạn Mỹ, bảo toàn lực lượng cách mạng, nhiều làng bản đồng bào dân tộc của Việt Nam ở phía tây Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng đã di chuyển, sơ tán sang lãnh thổ Lào và mỗi làng, bản, thậm chí cả xã vẫn duy trì tổ chức Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang của mình, tạo ra các đường ranh giới quản
lí không ổn định
Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Việt Nam bị chia làm hai miền, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc sự quản lí của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc chính quyền Sài Gòn quản lí Tình hình ở Lào cũng rất phức tạp Vương quốc Lào trên danh nghĩa quản lí toàn bộ lãnh thổ Lào, nhưng Pathét Lào có hai tỉnh thuộc khu vực tập kết giáp với Việt Nam là Phôngxalì và Hủa Phăn trong phạm vi kiểm soát chưa được mở rộng Trước
Trang 31bối cảnh đó, thủ tướng Vương quốc Lào cũng chưa đặt vấn đề giải quyết toàn
bộ biên giới Lào Tất cả các yếu tố trên đã tạo ra một thực tế vô cùng phức tạp
về đường biên giới quản lí, đường biên giới tập quán, truyền thống ở biên giới Việt Nam- Lào Từ năm 1945, quân đội Vương quốc Lào liên tục xâm nhập, tranh chấp trên biên giới Việt Nam- Lào ở nhiều nơi và có những hành động khiêu khích nhân dân và chính quyền địa phương Việt Nam Nguyên nhân của sự kiện lấn chiếm và tranh chấp trên là do âm mưu chia rẽ và xúi giục của bọn đế quốc Chính phủ Vương quốc Lào căn cứ vào kết quả Hội nghị Giơnevơ (xác định lãnh thổ Lào theo bản đồ tỉ lệ 1/400.000 của Pháp) và Nghị định ngày 12- 10- 1916 của toàn quyền Đông Dương đã đưa quân chiếm đóng một số điểm mà Việt Nam đang quản lí trên biên giới Việt Nam - Lào
Tháng 3-1955, Chính phủ Vương quốc Lào gửi thư cho Uỷ ban giám sát quốc tế phản kháng ta xâm phạm và lấn chiếm lãnh thổ Lào ở Keng Đu (Nghệ An) và yêu cầu Việt Nam đàm phán để giải quyết vấn đề Keng Đu, Nậm Cắn, Mụ Giạ Tháng 8-1956, Thủ tướng Vương quốc Lào gửi công hàm yêu cầu Việt Nam trả cho Lào một số khu vực, trong đó có Keng Đu
Để tỏ rõ thiện chí, gây sự tin cậy giữa hai bên, giữ ổn định hoà bình tình hình biên giới, Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã cùng với Vương quốc Lào tiến hành đàm phán ở Noọng Hét từ ngày 14 - 9 - 1956 đến ngày 4-10- 1956 với những nội dung sau: Phía Lào nêu vùng Keng Đu (đất Sóc), phía Việt Nam nêu vùng Nậm Cắn Đoàn ta đề nghị song phương kiểm tra tại thực địa nhưng đoàn Lào lại nêu lí do không an toàn nên chỉ điều tra trên văn bản Trưởng đoàn Lào nêu Mường Sóc (Keng Đu) là đất Lào, đồng thời xuất trình một văn bản do Tạ Quang Đín ở Tà Xẻng Chằng làm ngày 25-5-1956 Phía đoàn Việt Nam trình một bản báo cáo của tổng lí Hữu Kiệm (huyện Kỳ Sơn) có chữ ký của tổng lí nhưng không có dấu, khẳng định lãnh thổ Việt Nam tại hai vùng Nậm Cắn, Keng Đu (đất Sóc) Văn bản của hai bên
Trang 32trình bày cho thấy hai vùng Nậm Cắn, Keng Đu (đất Sóc) là vùng lãnh thổ nhập nhằng Các văn bản chưa đủ chứng cứ khẳng định chính quyền thuộc bên nào Cuộc đàm phán phải tạm ngừng để báo cáo lên chính phủ mỗi bên
Sau cuộc đàm phán với phái đoàn Vương quốc Lào tại Noọng Hét, trưởng phái đoàn điều tra biên giới Việt Nam - Lào, Nguyễn Văn Chi đã báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ với nội dung như sau: Trên cơ sở tình hình diễn biến có hai khả năng: hoặc giải quyết xong vùng Mường Sóc, Nậm Cắn và đặt vấn đề tiếp tục điều tra các vùng khác, hoặc tiến hành điều tra xong các vùng khác rồi giải quyết cho các vùng Riêng vùng Mường Sóc và Nậm Cắn (Kỳ Sơn) có thể giải quyết bằng ba biện pháp sau đây:
- Ta rút khỏi vùng Mường Sóc, Lào rút khỏi vùng Nậm Cắn, thành hai vùng phi quân sự trong một thời gian nào đó nhưng hai bên vẫn giữ nguyên
chủ quyền quản lí hành chính của mình
- Hoạch định biên giới hai vùng Mường Sóc và Nậm Cắn theo bản đồ tỉ
lệ 1/400.000 Ta giao cho Lào 6 bản: Kẹo Nhôm, Con Me, Nhọt Xủng, Phiêng Phạt, Ngược Bun, Sen Nhôm thuộc vùng Mường Sóc (Keng Đu), Lào giao cho ta các bản: Đen Đín, Hín Tặng, Lí Tưởng thuộc vùng Nậm Cắn
- Hai bên cùng rút quân trên vùng Mường Sóc, Nậm Cắn và hai bên cùng nhau tổ chức trưng cầu dân ý tại hai vùng đó
Ngày 05- 5- 1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đề nghị Chính phủ Vương quốc Lào, hai bên đồng thời rút quân ra khỏi hai vùng Keng Đu (đất Sóc) và Nậm Cắn Sau đó hai bên tổ chức đi điều tra tại chỗ và báo cáo kết quả lên hai Chính phủ quyết định việc hoạch định chính thức biên giới hai vùng
Trang 33nhau về vấn đề chủ yếu là khu vực rút quân và khu vực hoạch định biên giới vùng Nậm Cắn và Keng Đu (đất Sóc), do không thống nhất với nhau về nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Cuối cùng, cuộc đàm phán tạm ngừng không thời hạn Sau hơn 15 năm, Chính phủ và nhân dân mỗi nước, tập trung vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, biên giới hai nước có những điều kiện chủ quan và khách quan nên chưa thể giải quyết được theo sự mong muốn của cả hai bên
Năm 1973, cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước giành được thắng lợi quan trọng, Hiệp định Pari lập lại hoà bình ở Việt Nam và Hiệp định Viên Chăn hoà bình, hoà hợp dân tộc ở Lào được ký kết Cách mạng Lào đã giành được thắng lợi lớn, Neo Lào Hắc Xạt có một vùng giải phóng từ Bắc xuống Nam Các đồng chí lãnh đạo Lào đã quyết tâm giải quyết vấn đề biên giới với Việt Nam Đó là điều kiện thuận lợi để tăng cường mối quan hệ về mọi mặt giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Trong cuộc gặp gỡ giữa hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng tại Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam ) từ ngày 12 đến ngày 14- 12- 1973, ngoài nội dung bàn sự hợp tác trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, hai bên thoả thuận giải quyết vấn đề biên giới tại 3 điểm: Nà Mèo, Keng Đu và Na Pê, sau đó lần lượt giải quyết các điểm khác cho đến vĩ tuyến
17 Bộ Chính trị Việt Nam đã thống nhất với Bạn: “Hai bên sẽ sớm xúc tiến toàn bộ vấn đề liên quan tới Quy chế biên giới và sẽ cử các phái đoàn đàm phán để giải quyết”
Thực hiện sự thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị (tháng 12-1973), từ tháng 3 đến tháng 7- 1974, Chính phủ Việt Nam và Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã tổ chức khảo sát ở 3 điểm trong đó có Keng Đu (đất Sóc), sau đó lần lượt giải quyết các điểm khác
Trang 34Từ ngày 20- 7 đến ngày 19- 9- 1974 tại thị trấn Mường Xén (Kỳ Sơn), hai đoàn Việt Nam- Lào đàm phán giải quyết vấn đề biên giới vùng Keng Đu
mà bạn cho là “điểm nóng”
Cuộc đàm phán đã diễn ra trong một thời gian dài nhưng cuối cùng hai đoàn cũng chưa thoả thuận được gì, vì tuỳ ý ra nguyên tắc ba chỗ dựa, mỗi bên hiểu và vận dụng không thống nhất Bạn vẫn khẳng định vùng đất Keng
Đu (đất Sóc) không phải là lãnh thổ nhập nhằng, đó là đất của Lào, bạn phải thu hồi trong đàm phán tại Mường Xén cũng như đi khảo sát ngoài thực địa Hai bên đã không giải quyết được vùng đất nhập nhằng trong nhiều năm Do
đó, qua các cuộc họp trao đổi, tranh luận đã đi vào khái niệm: đường biên giới truyền thống, đường biên giới lịch sử, đường biên giới quản lí trên thực tế và mỗi bên hiểu và vận dụng vào thực tế khác nhau, tất yếu là bế tắc phải tạm ngừng
Giữa năm 1974, tình hình cách mạng của mỗi nước phát triển rất khẩn trương Tuy cuộc chiến tranh chưa kết thúc, nước Việt Nam chưa thống nhất, chế độ CHDCND chưa được thiết lập ở Lào, dù có giải quyết được vùng nào
đó với Neo Lào Hắc Xạt thì cũng từ vĩ tuyến 17 trở ra Sau này, vẫn phải được giải quyết vấn đề biên giới một cách đầy đủ pháp lí qua con đường Nhà nước Xuất phát từ tình hình thực tế và nhận thấy rằng: “Triển vọng của cuộc đàm phán là kéo dài và ngày càng phức tạp hơn vấn đề càng kéo dài càng khó giữ được bí mật, dễ bị địch lợi dụng, xuyên tạc chia rẽ Việt Nam và Lào”
Do đó, Bộ Chính trị Việt Nam đã chủ động đề nghị với Bộ Chính trị Lào: “Vì lợi ích của cả hai bên, nên hoãn cuộc đàm phán về biên giới Việt Nam- Lào đến một thời gian khác thích hợp hơn”
Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào sau khi nghiên cứu tình hình, kết quả đàm phán đã thống nhất quan điểm với Việt Nam và nhất trí hoãn cuộc đàm phán của cả hai bên về vấn đề biên giới Việt Nam - Lào Đến
Trang 35đây việc đàm phán để giải quyết biên giới Việt Nam - Lào một lần nữa tạm gác lại
Thực ra, hai bên đều thấy rằng việc giải quyết biên giới để phân rõ lãnh thổ của mỗi nước nhằm chấm dứt các cuộc tranh chấp va chạm thường xảy ra
ở địa phương là cần thiết và hợp lí Nhưng vấn đề biên giới lãnh thổ là một vấn đề cực kỳ to lớn, hệ trọng đối với cả Việt Nam và Lào, việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ còn là công việc mới mẻ, khó khăn, cần có thời gian, cần tập trung trí và lực của cả hai bên Mở ra việc đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước đang ở vào thời quyết liệt nhất, hai bên đều đang phải huy động tối đa nhân tài vật lực cho thắng lợi cuối cùng nhằm giành cho được độc lập, thống nhất là chưa thật phù hợp nên đã chủ động tạm gác lại vấn đề này
Sang năm 1975, điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi đã đến với hai bên Neo Lào Hắc Xạt đã kiểm soát toàn bộ nước Lào, nước CHDCND Lào được thành lập và hai miền Nam - Bắc Việt Nam được thống nhất về mặt Nhà nước Đó là điều kiện thuận lợi để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai bên trên nguyên tắc pháp lí rõ ràng và tình đoàn kết hữu nghị truyền thống, đáp ứng lòng mong muốn không ngừng củng cố và vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước
1.3 Quá trình hợp tác giải quyết các vấn đề biên giới Việt Nam- Lào
1.3.1 Đàm phán hoạch định biên giới Việt Nam - Lào
Sau ngày giành được thắng lợi, cách mạng hai nước Việt Nam - Lào bước vào thời kỳ bảo vệ, xây dựng tổ quốc XHCN Mỗi nước đều có nhu cầu kiểm tra, khảo sát lại lãnh thổ, tài nguyên, đất đai, dân số chuẩn bị các luận
cứ, luận chứng khai thác tiềm năng và thế mạnh của mình để xây dựng lại đất nước sau những năm bị chiến tranh tàn phá, trên thực tế, đường biên giới
Trang 36chung giữa hai nước dưới các triều đại phong kiến, đặc biệt dưới ách cai trị trong nhiều thập kỷ của thực dân Pháp đã bị sửa đổi, cắt xén tuỳ tiện, chưa được xây dựng chính thức bằng các văn bản, hiệp ước, hiệp định biên giới giữa hai nhà nước độc lập có chủ quyền Do đó trong tình trạng nhập nhằng ở biên giới giữa hai nước đã phát sinh những tranh chấp đất đai của dân hai nước
Cho nên, vấn đề biên giới giữa hai nước cần được giải quyết một cách thận trọng, chính xác Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề biên giới, điều quan trọng là phải thống nhất được việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Việt Nam- Lào phải căn cứ vào nguyên tắc nào
Biên giới giữa Việt Nam và Lào đã hình thành trên thực tế từ lâu nhưng
nó vẫn là biên giới hành chính giữa các xứ trong “Đông Dương thuộc Pháp”, không phải là biên giới quốc tế, biên giới của hai nước độc lập, có chủ quyền
Khi hai nước giành được độc lập, một vấn đề nguyên tắc, một vấn đề chính trị và pháp lí đặt ra là Việt Nam và Lào có chấp nhận đường biên giới hiện có giữa hai nước và trên cơ sở đó ký một Hiệp ước biên giới không? Nếu không thì phải thương lượng để thiết lập một đường biên giới mới và ký một Hiệp ước ghi nhận đường biên giới mới đó, trước tiên là phải thống nhất căn
cứ vào nguyên tắc nào để thương lượng đường biên giới mới
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các đợt đàm phán trước đây kéo dài mà không đi đến kết quả là vì cả hai bên đều chưa căn cứ vào nguyên tắc đúng đắn nào để bàn bạc và giải quyết, thậm chí còn chưa xác định được chính xác những đặc thù của đường biên giới Việt Nam - Lào Chính vì vậy, mà cả hai bên đều đã dồn công sức cố gắng tìm hiểu đường biên giới tập quán, đường biên giới truyền thống là ở đâu Trong khi đó việc xác định cho rõ đường biên giới truyền thống, đường biên giới tập quán trong
Trang 37điều kiện hoàn cảnh, đặc điểm của biên giới Việt Nam - Lào là vô cùng phức tạp
Do đó, đường biên giới chung giữa hai nước Việt Nam - Lào, cần phải được hoạch định, cắm mốc, đảm bảo tôn trọng và bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của mỗi nước, phù hợp với tập quán và công ước quốc tế, trên cơ sở đó, xây dựng đường biên giới hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào bền vững
Giải quyết vấn đề biên giới đặt ra khi hai đầu biên giới phía Bắc và Tây Nam đang chịu những sức ép căng thẳng từ bên ngoài, nhưng Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam một lần nữa khẳng định quyết tâm cùng Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào trên tinh thần đồng chí, anh
em giải quyết vấn đề biên giới hai nước một cách dứt khoát và nhanh gọn, coi
đó là vấn đề ưu tiên phải làm, tăng cường quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, nhân dân hai nước, xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài, hai bên cùng có lợi
Ngày 10- 2- 1976, trên tinh thần đồng chí anh em, Bộ Chính trị hai Đảng nhất trí thừa nhận giữa hai nước chưa có một đường biên giới chính thức nhưng đã hình thành một đường biên giới trên thực tế và đã thoả thuận giải quyết vấn đề biên giới trên nguyên tắc cơ bản chấp nhận đường biên giới hiện đang có Bộ Chính trị Việt Nam đã đề nghị: “lấy đường biên giới trên bản đồ tỉ lệ 1/100.000 của Pháp in năm 1945 khi hai nước chúng ta tuyên bố độc lập làm căn cứ chính ” Những vùng đất Việt Nam mượn Lào trong chiến tranh, Việt Nam sẽ trả lại cho Lào, những đường biên giới mà không phù hợp với thực tế quản lí hành chính (có nơi đất của Lào sang phía Việt Nam, có nơi đất của Việt Nam sang phía Lào) thì dùng đường biên giới trên bản đồ Pháp vẽ làm căn cứ giải quyết với những điều mà hai bên xét thấy cần thiết Bộ Chính trị Việt Nam đã chủ động gạt bỏ mọi quan điểm về biên giới truyền thống, biên giới tập quán và chủ trương lấy đường biên giới đã hình
Trang 38thành trên thực tế và thể hiện trên bản đồ của Pháp làm căn cứ chính để hoạch định biên giới giữa hai nước
Cuộc đàm phán còn đề cập việc điều chỉnh các vùng dân cư ở khu vực biên giới, thoả thuận một số quy định quy chế biên giới Hai bên thoả thuận thời gian giải quyết chậm nhất đến tháng 4-1976 và cùng coi đây là vấn đề nội
bộ Trên cơ sở các điểm và nguyên tắc chung đó, hai Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước đã cử các đoàn đại biểu gặp nhau để đàm phán
Từ ngày 01- 3 đến ngày 05- 3- 1976, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc đàm phán cấp đại diện Chính phủ để giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam- Lào Cuộc đàm phán đã bàn bạc, phân định những khu vực đất đai đã được thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị, so sánh xác định và vẽ đường biên giới mà hai
Bộ Chính trị đã xác định lên bản đồ Pháp vẽ năm 1945 Cuộc đàm phán cũng
đã định ra việc lập các tiểu ban điều tra thực địa biên giới ở các khu vực đánh dấu trên bản đồ Ngày 17 - 3 - 1976, Thủ tướng Chính phủ nước ta ra quyết định “Về việc khảo sát biên giới”
Theo quy định trên, tỉnh Nghệ Tĩnh (Việt Nam) và tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) đều lập tiểu ban điều tra, khảo sát thực địa
Ngày 11- 3- 1976, để thực hiện thoả thuận của hai Đảng và mong muốn của các cấp chính quyền địa phương, hai Tiểu ban khảo sát biên giới Việt Nam - Lào thuộc đoạn biên giới giữa tỉnh Nghệ Tĩnh với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) đã gặp nhau tại thị trấn Mường Xén, huyện Kỳ Sơn để xác định các vùng Keng Đu, Nậm Cắn Trên cơ sở cùng nhau nghiên cứu bản đồ Pháp vẽ năm 1945, hai bên đã nhất trí chia thành hai tổ khảo sát liên hiệp cùng nhau đi xuống thực địa ở Keng Đu, Nậm Cắn để xem xét Qua quá trình làm việc của hai tổ khảo sát thấy nổi lên ba vấn đề:
- Đối với ba bản ở xã Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn theo bản đồ Pháp vẽ thuộc Việt Nam, đề nghị giao cho Việt Nam quản lí
Trang 39- Đối với xã Keng Đu, theo bản đồ Pháp vẽ là đất Việt Nam nhưng có tài liệu là của Lào, có tài liệu nói là của Việt Nam đề nghị xuống thực địa nghiên cứu để giải quyết
- Các vùng khác sẽ tiếp tục khảo sát nghiên cứu
Ngày 21- 3- 1976, hai Tiểu ban khảo sát biên giới đoạn Nghệ Tĩnh với Xiêng Khoảng (Lào) họp tại thị trấn Mường Xén, huyện Kỳ Sơn để bàn và thống nhất một số điểm ở khu vực Nậm Cắn và Keng Đu Hai bên đã bàn bạc
và thống nhất những vấn đề cơ bản về cách giải quyết đoạn biên giới vùng Keng Đu và Nậm Cắn để trình lên Trung ương hai nước quyết định [40, 74] Ngày 23- 6- 1976, đoàn khảo sát toàn tuyến biên giới Nghệ Tĩnh được thành lập, do đồng chí Dương Diện, Uỷ ban Nội chính Tỉnh uỷ làm trưởng ban cùng các đồng chí khác ở UBND tỉnh, BĐBP tỉnh, BCH Quân sự tỉnh trực tiếp tham gia chỉ đạo các cuộc hội đàm và khảo sát với bạn Các huyện biên giới được cử một đồng chí Chủ tịch UBND huyện tham gia cùng UBND tỉnh theo dõi khảo sát các đoạn biên giới cuả huyện Công việc khảo sát được tiến hành trong điều kiện rất khó khăn: địa hình hiểm trở, lắm đốc, nhiều khe suối, sương mù dày đặc Trên đường biên còn nhiều bãi chông mìn của ta và địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những đoạn rừng thẳm, cây cối um tùm, rậm rạp, núi hẹp đi lại khó, anh em phải cắt rừng vượt qua hàng chục đỉnh đồi mới xác định được đường biên Có những đồng chí bị sốt rét, sức khoẻ giảm sút, lương thực, thực phẩm hết phải tìm lá rừng để ăn Với tinh thần khẩn trương để khảo sát những đoạn còn lại, tạo điều kiện cho việc
ký kết Hiệp định sắp tới giữa ta và Lào các đồng chí đội trưởng đã động viên anh em phấn đấu vượt qua nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo thông tuyến
Ngày 18-7-1977, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào được đại diện hai Nhà nước ký kết
Trang 40chính thức tại Viêng Chăn, thủ đô nước CHDCND Lào Sự kiện này là một thắng lợi to lớn của hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước, đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình xây dựng biên giới hai bên trở thành biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển lâu dài
Hiệp ước hoạch định biên giới được ký kết là một bước tiến mới trên con đường liên minh đoàn kết chiến đấu của hai nước Việt Nam - Lào, xây đắp và củng cố thêm tinh thần đoàn kết, hữu nghị tươi đẹp đã có từ lâu đời Hiệp ước này là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực của chính sách láng giềng hữu nghị của nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào
1.3.2 Phân giới cắm mốc đường biên giới Việt Nam - Lào
Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam- Lào được ký kết đã đáp ứng các yêu cầu về pháp lí và thực tiễn của một Hiệp ước hoạch định biên giới, đặt cơ sở pháp lí, chính trị và kỹ thuật cho việc tiến hành các công việc tiếp theo: việc phân vạch biên giới và cắm mốc trên thực địa
Theo luật pháp và tập quán quốc tế, sau khi hiệp ước được phê chuẩn, Việt Nam và Lào căn cứ vào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia đã được
ký kết để cùng nhau tiến hành xác định vị trí trên thực địa cụ thể, rõ ràng biên giới giữa hai nước, định rõ lãnh thổ Việt Nam tới đâu, lãnh thổ Lào tới đâu và cùng nhau xây dựng hệ thống mốc quốc giới chung để đánh dấu đường biên giới trên thực địa giữa hai nước Đây là một việc cần được thực hiện sớm để Hiệp ước hoạch định biên giới đi vào cuộc sống nhằm xây dựng biên giới Việt Nam- Lào thành biên giới ổn định, hoà bình, hữu nghị và hợp tác lâu dài, góp phần tăng cường và củng cố mối quan hệ truyền thống hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Việt Nam- Lào