LỜI MỞ ĐẦU Trong Luật quốc tế, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản và được đặt lên hàng đầu. Thật vậy, tại khoản 1 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên” đã khẳng định rằng đây chính là nền tảng tiền đề của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Để có cái nhìn rõ ràng hơn về nguyên tắc này, em xin chọn Đề số 02: “Phân tích nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và bình luận nhận định chủ quyền quốc gia là tuyệt đối” làm đề tài nghiên cứu bài tiểu luận. NỘI DUNG I. PHÂN TÍCH NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA 1. Các khái niệm liên quan Chủ quyền là thuộc tính chính trị – pháp lý không thể tách rời của quốc gia, thể hiện quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền lực độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế . Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Điều này được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc. Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia ở đây không đồng nghĩa với sự ngang bằng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các nước, mà là sự bình đẳng trong quyền tự quyết các vấn đề liên quan đến phương diện đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế. 2. Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Sự hình thành của nguyên tắc: Tại Hội nghị Matxcơva năm 1943, lần đầu tiên các quốc gia đồng minh phát thảo ra các nguyên tắc cơ bản cho một tổ chức quốc tế mới sẽ được thành lập sau khi kết thúc chiến tranh. Năm 1945, sau khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, với tôn chỉ và mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, trong Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế này. Nội dung chính của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia: Mọi quốc gia đều có chủ quyền và chủ quyền đó là bình đẳng với nhau. Chủ quyền của mọi quốc gia đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế, bất kể sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, hay điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ bảo đảm các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý. Tuyên bố năm 1970 giải thích rằng mọi quốc gia đều “bình đẳng về quyền và nghĩa vụ” nhưng thực chất chỉ đối với các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia theo luật pháp quốc tế chung. Bởi lẽ, mỗi quốc gia chịu ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, tùy thuộc vào nội dung các điều ước quốc tế từng quốc gia ký kết.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -BÀI TIỂU LUẬN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ SỐ 02
Đề số 2 Phân tích nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền
giữa các quốc gia và bình luận nhận định chủ quyền quốc gia là
tuyệt đối.
HÀ NỘI – 2021
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I PHÂN TÍCH NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA 1
1 Các khái niệm liên quan 1
2 Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 2
3 Các trường hợp ngoại lệ 5
II BÌNH LUẬN NHẬN ĐỊNH CHỦ QUYỀN QUỐC GIA LÀ TUYỆT ĐỐI 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong Luật quốc tế, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản và được đặt lên hàng đầu Thật vậy, tại khoản 1 Điều 2
Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên” đã khẳng định rằng đây chính là
nền tảng tiền đề của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Để có cái nhìn rõ ràng hơn về
nguyên tắc này, em xin chọn Đề số 02: “Phân tích nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ
quyền giữa các quốc gia và bình luận nhận định chủ quyền quốc gia là tuyệt đối” làm đề
tài nghiên cứu bài tiểu luận
NỘI DUNG
I PHÂN TÍCH NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA
1 Các khái niệm liên quan
Chủ quyền là thuộc tính chính trị – pháp lý không thể tách rời của quốc gia, thể hiện
quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền lực độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế1 Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối cao
về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài Điều này được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc
Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia ở đây không đồng nghĩa với sự ngang
bằng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các nước, mà là sự bình đẳng trong quyền tự quyết các vấn đề liên quan đến phương diện đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia mà không có
sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo đều
có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế
1 Giáo trình Luật quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội, tr 41, nxb CAND
Trang 42 Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Sự hình thành của nguyên tắc:
Tại Hội nghị Mat-xcơ-va năm 1943, lần đầu tiên các quốc gia đồng minh phát thảo
ra các nguyên tắc cơ bản cho một tổ chức quốc tế mới sẽ được thành lập sau khi kết thúc chiến tranh Năm 1945, sau khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, với tôn chỉ và mục đích gìn
giữ hòa bình và an ninh quốc tế, trong Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên
tắc cơ bản của Luật quốc tế và đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của
tổ chức quốc tế này
Nội dung chính của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia:
Mọi quốc gia đều có chủ quyền và chủ quyền đó là bình đẳng với nhau Chủ quyền của mọi quốc gia đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế, bất kể sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, hay điều kiện tự nhiên Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ bảo đảm các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý Tuyên bố năm 1970 giải thích rằng mọi quốc gia
đều “bình đẳng về quyền và nghĩa vụ” nhưng thực chất chỉ đối với các quyền và nghĩa vụ
cơ bản của các quốc gia theo luật pháp quốc tế chung Bởi lẽ, mỗi quốc gia chịu ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, tùy thuộc vào nội dung các điều ước quốc tế từng quốc gia ký kết
Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua những quyết định về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhưng phải trên cơ sở ý chí chủ quyền của nhân dân
Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của một quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ
sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế Sự thực hiện chủ quyền quốc gia chỉ có thể trọn vẹn khi quốc gia vừa đạt được lợi ích của mình mà không
Trang 5xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của chủ thể quốc tế khác, tức là việc thực hiện chủ quyền phải gắn với những giới hạn cần thiết Sự giới hạn chủ quyền đó có thể do quốc gia tự xác định hoặc được xác định bằng những thoả thuận quốc tế của quốc gia với các chủ thể khác của luật quốc tế
Trật tự quốc tế chỉ có thể được duy trì nếu các quyền bình đẳng của các quốc gia tham gia trật tự đó được hoàn toàn đảm bảo Hiến chương Liên hợp quốc đã lấy nguyên
tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình tại khoản 1 Điều 2: “Tổ chức Liên hợp quốc dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên” Nguyên
tắc này được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc
tế đa phương và song phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị
và tổ chức quốc tế
Tuyên bố năm 1970 còn giải thích cụ thể hơn nội hàm chi tiết của bình đẳng, như sau:
(a) Các quốc gia bình đẳng về pháp lý;
(b) Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đẩy đủ;
(c) Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
(d) Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
(e) Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội của mình;
(f) Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình
và tồn tại hòa bình với các quốc gia khác.
Theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền mỗi quốc gia đều có các quyền chủ quyền bình đẳng sau2:
(a) Được tôn trọn về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ về chế độ chính trị, kinh
tế, xã hội và văn hóa;
2 Giáo trình Luật quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội, tr 42, nxb CAND
Trang 6(b) Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;
(c) Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau;
(d) Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
(e) Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;
(g) Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, sự hội nhập khu vực và sự hội nhập toàn cầu đã xuất hiện nhiều tổ chức quốc tế phổ cập và khu vực Các tổ chức này ngày càng có vai trò
to lớn trong việc phối hợp hoạt động hợp tác của các quốc gia thành viên Quốc gia khi tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế, đồng nghĩa tự nguyện trao cho tổ chức quốc tế một số thẩm quyền thuộc chủ quyền của mình Sự trao quyền này không có nghĩa là quốc gia bị hạn chế chủ quyền Khi ấy, các quốc gia phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên, chịu sự chi phối nhất định của tổ chức quốc tế, như việc ký kết điều lệ (điều ước quốc tế) và tham gia vào các hoạt động của tổ chức quốc tế Mặt khác, quốc gia luôn có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của chính tổ chức quốc tế đó trong suốt thời gian tham gia tổ chức quốc tế Việc quốc gia tham gia vào đời sống quốc tế và việc ngày càng nhiều những vấn đề quốc gia đặt dưới sự điều chỉnh quốc tế là nhu cầu của sự hợp tác quốc tế
Như vậy có thể thấy bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là cơ sở để trật tự thế giới phát triển theo xu hướng ổn định, hội nhập và tiến bộ Chủ quyền không làm cho quốc gia tách biệt hoàn toàn với cộng đồng quốc tế mà các quốc gia tồn tại trong mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau
3 Các trường hợp ngoại lệ
Các chủ thể của luật quốc tế đã thừa nhận một số ngoại lệ của nguyên tắc bình đẳng
về chủ quyền Song, những ngoại lệ ấy không tạo ra sự bất bình đẳng chủ quyền giữa các
Trang 7quốc gia mà hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và được cộng đồng quốc tế thừa nhận Những ngoại lệ này bao gồm:
Năm quốc gia là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an có quyền phủ quyết mà các quốc gia khác không có:
Khi phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên đã tự nguyện chấp nhận sự bất bình đẳng giữa 05 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an và các quốc gia thành viên còn lại Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung Quốc luôn có mặt trong Hội đồng Bảo an; trong khi 09 ủy viên không thường trực sẽ được bầu theo nhiệm kỳ 02 năm và thậm chí không được đảm nhận vị trí ủy viên hai nhiệm kỳ liên tục Sự bất bình đẳng thể hiện rất rõ nét, nhưng là sự bất bình đẳng dựa trên sự đồng ý tự nguyện của 188 quốc gia còn lại
Năm ủy viên thường trực còn có quyền phủ quyết (veto) tất cả các dự thảo quyết định của Hội đồng Bảo an Quyền phủ quyết là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác, (thường trực và không thường trực) bỏ phiếu tán thành Nói cách khác, đây là việc thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa 05 nước ủy viên thường trực
Quyền phủ quyết của các thành viên thường trực đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thông qua một nghị quyết Để một nghị quyết được thông qua, nó phải thu hút được 09 phiếu thuận từ tổng cộng 15 nước thành viên của Hội đồng Bảo an, trong đó
có 05 thành viên thường trực và 10 thành viên không thường trực Trong số 09 phiếu thuận đó tính cả số phiếu tán thành của các thành viên thường trực
Tuy nhiên, đối với các vấn đề không thông thường (vấn đề liên quan đến thủ tục), không phải lúc nào cá nghị quyết được thông qua cũng cần phải có đủ 05 phiếu thuận của năm ủy viên thường trực Nếu như một nước Ủy viên thường trực không ủng hộ hoặc không muốn biểu thị sự ủng hộ của mình đối với một nghị quyết, đồng thời cũng không
Trang 8muốn ngăn cản việc thông qua nghị quyết, nước đó có thể bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, hành động này không bị coi là phủ quyết và nghị quyết vẫn được thông qua Tuy nhiên, nhiều nước dù biết trước dự thảo nghị quyết của mình sẽ bị phủ quyết nhưng vẫn đưa ra bỏ phiếu nhằm gây sức ép chính trị
Ví dụ: Nhằm gia tăng sức ép với Nga, Mỹ đã soạn một dự thảo Nghị quyết yêu cầu
Hội đồng Bảo an Liên hợp Quốc lên án cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 16/03/2014 tại nước Cộng hòa tự trị Crimea về kế hoạch sáp nhập vào Nga, đồng thời kêu gọi các nước
và tổ chức quốc tế không công nhận kết quả cuộc bỏ phiếu này Nga đã sử dụng quyền phủ quyết vì cho rằng nghị quyết đi ngược lại với một trong những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế - nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc được quy định trong Điều 1 của Hiến chương Liên hợp Quốc3
Các quốc gia bị hạn chế chủ quyền:
Ngoại lệ này áp dụng với chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế
và phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi; việc bị hạn chế chủ quyền là các biện pháp chế tài hoặc sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với hành vi của họ
Ví dụ: Nghị quyết 1737 của Hội đồng Bảo an đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đối
với Iran vì đã không dừng chương trình làm giàu uranium sau nghị quyết 1696; yêu cầu
Iran đình chỉ một số “hoạt động hạt nhân nhạy cảm phổ biến vũ khí hạt nhân”; đưa ra
một số lệnh cấm đối với tất cả các quốc gia liên quan đến các hoạt động hạt nhân của Iran Hội đồng Bảo an cũng áp đặt lệnh đóng băng các tài sản hỗ trợ hoặc liên quan đến các hoạt động phổ biến vũ khí hạt nhân của Iran và thành lập một ủy ban (được gọi là Ủy ban 1737) để giám sát việc thực hiện chúng
Các quốc gia tự hạn chế quyền:
Đây là trường hợp các quốc gia tự hạn chế quyền hạn của mình bằng cách:
3 Tùng Dương, “Nga phủ quyết Nghị quyết của LHQ về Ukraine”, Báo điện tử Tiền Phong
Trang 9- Trao quyền cho tổ chức quốc tế hay quốc gia khác thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của quốc gia;
- Tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách tuyên bố trung lập Có hai loại quốc gia trung lập: quốc gia trung lập tạm thời (tuyên bố trung lập trước các cuộc chiến tranh)
và quốc gia trung lập vĩnh viễn (đứng ngoài các tranh chấp quốc tế, không tham gia các tổ chức chính trị quốc tế, không tham gia các hoạt động quân sự quốc tế,…) như Thụy Sĩ từ năm 1815, Áo từ năm 1955 Nước trung lập được nhìn nhận bằng cách ra tuyên bố đặc biệt với tất cả các nước trên thế giới và phải thực hiện đầy đủ những cam kết của nước trung lập Điều này đồng nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc tế nào nhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế giới
Trong các trường hợp này, các quốc gia đã tự nguyện hạn chế quyền chủ quyền của mình và không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
Có thể thấy nguyên tắc bình đẳng chủ quyền chỉ bảo đảm cho các quốc gia sự bình đẳng về mặt pháp lý, không đồng nghĩa với sự bất bình đẳng trên thực tế về mặt chính trị, kinh tế hay xã hội (Ví dụ: Trong các định chế tài chính như quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), số lượng phiếu của các quốc gia thành viên phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp) Trong cộng đồng quốc tế, xét về mặt chính trị sẽ có các quốc gia có quyền lực khác nhau, có thể chia thành siêu cường, cường quốc, cường quốc khu vực, cường quốc tầm trung, và những nước nhỏ Xét về mặt kinh tế-xã hội, có các nước phát triển, nước đang phát triển, nước kém phát triển Xét về mặt khoa học-kỹ thuật, có thể có nước tiên tiến, có nước lạc hậu Những sự khác biệt đó không phải là sự bất bình đẳng pháp lý và không thể được xem là ngoại lệ của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền
II BÌNH LUẬN NHẬN ĐỊNH CHỦ QUYỀN QUỐC GIA LÀ TUYỆT ĐỐI
Nguồn gốc của nhận định:
Trang 10Quan niệm về chủ quyền tuyệt đối ra đời ở Tây Âu vào khoảng thế kỷ XV - XVI xuất phát từ xu hướng chống lại các quý tộc, lãnh chúa, giáo hội và sự áp đặt từ bên ngoài vào nhà nước ở cuối thời kì phong kiến Tại thời điểm này, chủ quyền quốc gia được coi
là quyền lực chính trị, pháp lý tối thượng trong một quốc gia và nó không thể chuyển nhượng, phân chia và uỷ thác cho bất cứ chủ thể nào khác
Nhận xét nhận định:
Đối với nhận định “chủ quyền quốc gia là tuyệt đối”, quốc gia phải là một đoàn thể
xã hội tự chủ và chủ thể nắm giữ quyền lực phải có bổn phận áp dụng mọi phương pháp thích hợp để bành trướng và phát triển quyền lực của quốc gia
Về mặt pháp lý, quan điểm chủ quyền tuyệt đối cho rằng chủ quyền tối thượng là
nguồn của mọi luật và có tính pháp lý vô hạn, bao hàm cả quyền sửa, đổi Hiến pháp
Về mặt đối nội, chủ quyền quốc gia phải phù hợp với công lý và công bằng xã hội,
cá nhân có quyền chống đối lại chính quyền nếu nhà cầm quyền có những hành động bạo ngược
Về mặt đối ngoại, chủ quyền quốc gia chỉ bị hạn chế bởi hoàn cảnh, không có quyền
lực nào trên quyền lực của quốc gia Chủ thể của pháp luật quốc tế là các nhà nước có chủ quyền và pháp luật này chỉ ràng buộc với các quốc gia đã cam kết (cá nhân không phải là chủ thể của pháp luật này)4
Đối với các tập quán và cam kết quốc tế, nếu quốc gia thấy rằng không phù hợp với
quyền lợi của mình thì có thể không áp dụng, và khi ban hành pháp luật trong nước thì cũng không cần phải tôn trọng chúng Như vậy, quốc gia có thể tự do đặt ra pháp luật cho mình mà không cần quan tâm tới ảnh hưởng của nó đối với quốc gia khác
Xét về nhiều phương diện, quan niệm về chủ quyền tuyệt đối hoàn toàn mâu thuẫn với sự tồn tại và phát triển của Luật quốc tế Nếu thừa nhận có sự tuyệt đối của chủ quyền
4 Đỗ Minh Khôi, “Các quan niệm về chủ quyền quốc gia theo cách tiếp cận, dạng biểu hiện, chủ thể và tương quan với quyền lực nhà nước”, Tạp chí Luật học, tr 54