Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàntoàn do lỗi của bên b
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRACH NHI M BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI Ê Ê HỢP ĐÔNG TRONG VỤ AN HÌNH SƯ 5
1.1 Trach nhi m bôi thương thi t hai ngoai hơp đông ê ê 5
CHƯƠNG 2 35 NGUYÊN TĂC GIAI QUYẾT TRACH NHI M BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI HỢP ĐÔNG Ê Ê TRONG VỤ AN HÌNH SƯ 35
2.1 Cac căn cứ phap lý để ap dụng 35 2.2 Quy định của phap luật hình sự về việc giải quyết vấn đề bôi thương thi t hai ngoai hơp ê đông trong vụ an hình sự 36 2.3 Quy định của phap luật tố tụng hình sự về thủ tục giải quyết vấn đề bôi thương trong vụ
an hình sự 41
THƯC TIỄN THI HANH VA KIẾN NGHỊ ĐỂ HOAN THIỆN CAC QUY ĐỊNH VỀ TRACH NHI M Ê BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI HỢP ĐÔNG TRONG VỤ AN HÌNH SƯ Ê 45 LỜI MỞ ĐẦU 1 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRACH NHI M BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI Ê Ê HỢP ĐÔNG TRONG VỤ AN HÌNH SƯ 5
1.1 Trach nhi m bôi thương thi t hai ngoai hơp đông ê ê 5
CHƯƠNG 2 35 NGUYÊN TĂC GIAI QUYẾT TRACH NHI M BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI HỢP ĐÔNG Ê Ê TRONG VỤ AN HÌNH SƯ 35
2.1 Cac căn cứ phap lý để ap dụng 35 2.2 Quy định của phap luật hình sự về việc giải quyết vấn đề bôi thương thi t hai ngoai hơp ê đông trong vụ an hình sự 36 2.3 Quy định của phap luật tố tụng hình sự về thủ tục giải quyết vấn đề bôi thương trong vụ
an hình sự 41
THƯC TIỄN THI HANH VA KIẾN NGHỊ ĐỂ HOAN THIỆN CAC QUY ĐỊNH VỀ TRACH NHI M Ê BÔI THƯỜNG THI T HAI NGOAI HỢP ĐÔNG TRONG VỤ AN HÌNH SƯ Ê 45
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự là một chêđịnh quan trọng trong luật dân sự Theo quy định tại Điều 275 BLDS năm
2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong vụ án hình sự là sự kiện “Gây thiệt hại do hành vi tráipháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XX, phầnthứ ba Bộ luật dân sự (BLDS) “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng” Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong trường hợp này tráchnhiệm được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồithường cho người bị thiệt hại Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồngnghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với “Nghĩa vụ phátsinh do hành vi trái pháp luật”
Điều 584 BLDS đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định:
“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gâythiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liênquan quy định khác
Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàntoàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật cóquy định khác
Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiêm hữu tàisản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phátsinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từnghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với khái
Trang 4niệm nghĩa vụ được qui định tại Điều 274 BLDS: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó,một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giaovật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặckhông được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thểkhác (sau đây gọi chung là bên có quyền) Từ quy định này có thể nêu khái niệmvề nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như sau Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là mộtloại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đên tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín, tái sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gâythiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận vàthực tiễn áp dụng chê định qui định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng trong vụ án hình sự Trên cơ sở kêt quả nghiên cứu tổng hợp, khóaluận sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật ViệtNam đối với các quy định về chê định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng trong vụ án hình sự trên thực tê
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận phải hoàn thành một sốnhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và một số thực tiễnáp dụng chúng tại Toà án Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiêu hợp lý trongcác quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luậthình sự Việt Nam;
- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Namtrong quá trình giải quyêt bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ ánhình sự
Trang 54 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ quy định pháp luật hiện hành, trong bối cảnh cải cách
tư pháp, khóa luận tập trung chủ yêu vào các vấn đề liên quan đên chê địnhbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trung làm sáng tỏ một vài trường hợp cụthể: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; Tranh chấp vềbồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; Bồi thường thiệt hại do tínhmạng bị xâm phạm; Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bịxâm phạm và bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều
601 BLDS)
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củachủ nghĩa Mác – Lênin, chính sách của Nhà nước về chiên lược cải cách tưpháp Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu nhưphân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh Cụ thể:
- Phương pháp phân tích là phương pháp được tác giả sử dụng xuyênsuốt trong 02 chương của khóa luận Tại chương 1, tác giả sử dụng phươngpháp phân tích để phân tích các khái niệm về chê định trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự Tại chương 2, tác giả sử dụngphương pháp này để phân tích nội dung các quy định pháp luật Việt Nam hiệnhành về chê định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự,phân tích những vướng mắc, khó khăn khi áp dụng các quy định pháp luậthiện hành để từ đó đưa ra các kiên nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
- Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng để tập hợp số liệu thụ lý
vụ án của toàn ngành Tòa án nhân dân
- Phương pháp tổng hợp là phương pháp được sử dụng để hoàn thànhtiểu luận trên cơ sở phân tích, thống kê các tài liệu thu thập được
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận
Khóa luận nêu được cơ sở lý luận cơ bản của việc quy định pháp luật
Trang 6Việt Nam qua đó chứng minh quan điểm đúng đắn, chính xác của Đảng vànhà nước ta trong việc bảo vệ quyền công dân trong lĩnh vực này
Từ những quy định của pháp luật về trách nhiệm nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự, khóa luận khẳng định Nhà nướcthừa nhận quyền của người dân Trên cơ sở đó, khi quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân bị xâm phạm thì người dân được thực hiện quyền yêu cầu Nhànước bảo vệ quyền lợi cho mình
Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật về thực hiện quy định phápluật Việt Nam, khóa luận nêu lên được những nội dung tích cực cũng như tiêucực, phát hiện những bất cập, hạn chê của quy định pháp luật về trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự để từ đó có phươnghướng khắc phục, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Những kêt luận, giải pháp, kiên nghị trong khóa luận góp phần làm căncứ để hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam tại Tòa án nhân dân Trênnền tảng đó, nhà nước ta hoàn thiện các chê định tư pháp, tăng cường quyềntiêp cận công lý của công dân, tăng cường pháp chê xã hội chủ nghĩa và xâydựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kêt luận,nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng trong vụ án hình sự
Chương 2: Nguyên tắc giải quyêt trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong vụ án hình sự
Chương 3: Thực tiễn thi hành và các kiên nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SƯ
1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1 Khái niệm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất hiện từ rất sớm trong lịch sửphát triển của pháp luật thê giới cũng như pháp luật Việt Nam Kê thừanhững quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật HồngĐức, Bộ luật Gia Long, pháp luật dân sự ngày nay đã có những qui định kháchi tiêt về vấn đề này
Tiêp cận dưới cấp độ khoa học pháp lý, ta có thể hiểu (1) Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình, gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm BTTH.Khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng được xây dựng dướidạng quan điểm mà chưa được ghi nhận chính thức trong bất cứ một văn bảnpháp luật nào Theo đó, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được hiểu là mộtloại trách nhiệm dân sự đó, người có hành vi trái pháp luật dân sự phải bồithường cho người bị thiệt hại
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi chủ thể luật dân sự
có hành vi vi phạm nói chung như xâm phạm đên sức khỏe, tính mạng, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.Ngoài ra, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng còn phát sinh ngay cả khi haibên có quan hệ hợp đồng trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tínhmạng hoặc các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liênquan đên việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng
Trang 8Là một loại trách nhiệm dân sự nên ngoài những đặc điểm của tráchnhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng còn có nhữngđặc điểm riêng như:
- Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thỏa mãn nhữngđiều kiện nhất định do pháp luật quy định, giữa các bên có quan hệ hợp đồngthiệt hại xảy ra không liên quan đên hợp đồng
- Thiệt hại xảy rất đa dạng
- Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm tài sản, hậu quảpháp lý mà người gây thiệt hại phải gánh chịu là hậu quả bất lợi về tài sản
- Người gây thiệt hại phải bồi thường trong một số trường hợp không
1.1.2.1 Phải có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường Cóthiệt hại thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường, đồng thời nội dung tranhchấp chủ yêu là thiệt hại Vì vậy, việc xác định thiệt hại xảy ra hay không?Thiệt hại bao nhiêu là vấn đề quan trọng trong giải quyêt tranh chấp bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 9a Thiệt hại về vật chất:
- Thiệt hại do tài sản bị xâm phâm quy định tại Điều 589 BLDS;
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 590BLDS;
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 591BLDS;
- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tạikhoản 1 Điều 592 BLDS
b Thiệt hại tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người gây thiệt hại hoặc
do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhânphải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất
uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm…và cần phải được bồi thường mộtkhoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất về tinh thầncủa pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổchức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm súthoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin…vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồithường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu
1.1.2.2 Hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thểhiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định củapháp luật (Tiểu mục 1.2 mục I Nghị quyêt số 03/2006/HĐTP-TANDTCngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồithường thiệt hại)
1.1.2.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vitrái pháp luật
Thiệt hại xảy ra phải là kêt quả tất yêu của hành vi trái pháp luật vàngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại (Tiểu mục 1.3
Trang 10mục I Nghị quyêt số 03/2006/HĐTP-TANDTC ngày 8/7/2006 hướng dẫn ápdụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại).
Mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ nội tại tất yêu giữa hành vi tráipháp luật và thiệt hại, hay nói cách khác thiệt hại xảy ra là do chính kêt quảtrực tiêp, tất yêu của hành vi trái pháp luật
Trong tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài ngoài hợp đồng, mốiquan hệ nhân quả là một vấn đề phức tạp, bỡi lẽ một thiệt hại xảy ra có thể là
do tác động của một hoặc của nhiều hành vi trái pháp luật cũng có thể gây ranhiều thiệt hại…
Trong trường hợp có nhiều hành vi trái pháp luật, thì cần làm rõ: thiệthại do những hành vi nào (trong thực tê cùng lúc có nhiều hành vi trái phápluật cùng xảy ra nhưng có hành vi nào là nguyên nhân chính hay tất cả đều lànguyên nhân hỗn hợp dẫn đên thiệt hại như nhau; hành vi nào là nguyênnhân trực tiêp dẫn đên thiệt hại…Cũng có nhiều trường hợp thiệt hại xảy ralại là do một hành vi trái pháp luật khác xen vào chứ không phải do hành vi
có chứa đựng khả năng thực tê làm phát sinh gây thiệt hại Ví dụ: A dùng câyđánh B bị thương nặng, trên đường đi cấp cứu B lại bị xe của C đâm phải gâytrấn thương sọ não dẫn đên tử vong Như vậy, tuy hành vi của A có chứađựng khả năng gây thiệt hại đên tính mạng của B nhưng khả năng này chưakịp phát huy thì hành vi trái pháp luật của C lại xen vào phá vỡ đi khả năng
đó và tạo ra một quan hệ mới trong quan hệ này thì hành vi trái pháp luật của
C trực tiêp gây ra thiệt hại về tính mạng cho B
Tóm lại, việc xác định mối quan hệ giữa nguyên nhân và kêt quả giữahành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp cụ thể rấtphức tạp và dễ dẫn đên những sai lầm Vì vậy, khi xem xét mối quan hệ nàycần hêt sức thận trọng, phải thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, đánhgiá một cách toàn diện đối với vấn đề đang giải quyêt để có thể đưa ra một
Trang 11kêt luận chính xác, xác định đúng người có trách nhiệm bồi thường thiệt hạivà trách nhiệm bồi thường đó đên đâu.
1.1.2.4 Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại
a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vicủa mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốnhoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành
vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biêt hoặc có thể biêt trướcthiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệthại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Trong trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cảkhi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trongtrường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm phápluật đó
Ví dụ: khoản 3 Điều 601 BLDS 2015 quy định:
“3 Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người gây thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
1.1.3 Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Theo tinh thần điều 585 BLDS 2015 và Nghị quyêt số HĐTP ngày 08/7/2008 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫnáp dụng một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy địnhvề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định về nguyên tắc bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Thiệt hại thực tê phải được bồi thườngtoàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hìnhthức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc,
Trang 1203/2006/NQ-phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác
a) Bồi thường thiệt hại toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyêtbồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uytín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy địnhtrong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản u, mỗi khoản baonhiêu, trên cơ sở đó tính tổng mức thiệt hại đã xảy ra, mức độ lỗi của các bênđể buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tất cả các khoản thiệt hại tươngxứng đó
b) Bồi thường thiệt hại kịp thời, Tòa án phải giải quyêt nhanh chóngyêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định Trong trường hợpcần thiêt có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theoquy định của pháp luật tố tụng để giải quyêt yêu cầu cấp bách của đương sự
- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nêu do lỗi vô ýmà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tê trước mắt và lâu dài của mình
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tê thì người bị thiệthại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường
1.1.3.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
Điều 586 BLDS và Nghị quyêt số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2008của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy địnhvề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.3.1.1 Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngNgười gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân,
cơ quan nhà nước,…Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khảnăng” bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dùhành vi gây ra thiệt hại có thể không phải chính họ thực hiện BLDS quy địnhvề năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân (Điều 586) mà không quy
Trang 13định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác Bởi vậy, các chủ thể khácđược mặc nhiên coi là có năng lực chịu trách nhiệm BTTH Việc xác định cánhân nào có năng lực chịu trách nhiệm BTTH và phải BTTH trong trườnghợp nào có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị thiệt hại.
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh dựa trên các điều kiện dopháp luật quy định Khi có thiệt hại xảy ra, thiệt hại xảy ra do hành vi tráipháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra, có lỗi thì trong đa số trường hợp, người gây thiệt hại phải bồi thường chongười bị thiệt hại Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như người gâythiệt hại bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chê năng lực hành vi dân sự,không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không đủ để thực hiện trách nhiệm bồithường mà người gây thiệt hại không thể trực tiêp bồi thường cho người bịthiệt hại Vậy, câu hỏi đặt ra ai sẽ là người có trách nhiệm bồi thường trongnhững trường nêu trên ?
Pháp luật cũng đã dự liệu cách giải quyêt cho những tình huống này.Trong từng hoàn cảnh cụ thể, luật dân sự xác định trách nhiệm BTTH thuộcvề cha, mẹ của người gây thiệt hại là người chưa thành niên dưới mười lămtuổi, người giám hộ của người gây thiệt hại là người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự,…Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc xác định người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính trong từng trường hợp gây thiệt hại cụ thể bất luận người đó có phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại hay không.
Việc cá thể hóa trách nhiệm bồi thường chính là việc quy trách nhiệmbồi thường cho một chủ thể cụ thể Đây là việc làm có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong vấn đề BTTH ngoài hợp đồng Cá thể hóa trách nhiệm bồi thườngthiệt hại sẽ giúp cho việc giải quyêt vấn đề bồi thường thiệt hại diễn ra dễdàng hơn, xác định đúng người có trách nhiệm bồi thường sẽ tạo ra tính khả
Trang 14thi cho công tác thi hành án sau này; cá thể hóa trách nhiệm để xác định tráchnhiệm thuộc về ai giảm bớt nguy cơ việc lạm dụng việc mất năng lực haykhông đầy đủ khả năng nhận thức của người khác mà kích động họ gây thiệthại cho người khác và thu lợi bất chính, đồng thời nâng cao tinh thần, tráchnhiệm của những người có nghĩa vụ trông nom, giáo dục những người không
có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi một phần
Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường có thể dựa trên những tiêu chí nhấtđịnh như độ tuổi và trình độ nhận thức Cụ thể:
- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại thì phải tựmình BTTH
- Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, do đó khi người chưathành niên gây thiệt hại cần lưu ý:
+ Nêu người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹthì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nêu tài sản của cha, mẹ không đủđể bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tàisản đó để bồi thường phần còn thiêu
+ Nêu người từ đủ mười lăm đên chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hạithì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nêu không đủ tài sản để bồi thườngthì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiêu bằng tài sản của mình
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người cókhó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộthì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồithường; nêu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản đểbồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nêungười giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thìkhông phải lấy tài sản của mình để bồi thường
- Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt trongthời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiêp quản lý thì các tổ chức
Trang 15này phải BTTH Nêu tổ chức này chứng minh được mình không có lỗi thì chamẹ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự phải BTTH.
1.1.3.1.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người có năng lực hành vidân sự đầy đủ
Khoản 1 Điều 586 BLDS 2015 quy định: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”, tuy nhiên, qua việc xem xét
mối liên hệ giữa quy định này với quy định tại Khoản 3 Điều 586 BLDS thìthấy rằng cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải tự bồi thườngnêu gây thiệt hại
Điều 20 BLDS về năng lực hành vi dân sự của người thành niên quyđịnh: “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên Người thànhniên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều
22, 23 và 24 của Bộ luật này” Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là ngườithành niên Người thành niên nêu không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnhkhác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà bị Tòa ántuyên bố mất năng lực hành vi dân sự; không nghiệm ma túy, nghiện các chấtkích thích khác dẫn đên phá tán tài sản của gia đình mà bị Tòa án tuyên hạnchê năng lực hành vi dân sự thì được coi là có năng lực hành vi dân sự đầyđủ Ở mỗi con người bình thường đều có khả năng hình thành và phát triển ýthức và tự ý thức Nhưng phải qua quá trình hoạt động và giáo dục trong điềukiện xã hội, khả năng đó mới có thể trở thành hiện thực Những người đápứng đủ các điều kiện trên, xét về cơ bản tâm sinh lý của họ đều đã phát triểnmột cách hoàn thiện Họ hoàn toàn có đầy đủ khả năng để nhận thức về sựvật, sự việc và tự quyêt định về hành động của mình, hoàn toàn có khả năngnhận biêt được thê giới khách quan Họ có nghĩa vụ phải biêt trước nhữnghành vi của mình sẽ đem lại những hậu quả như thê nào, hành vi đó xâmphạm đên lợi ích của các chủ thể khác hay không từ đó lựa chọn cách xử sự
Trang 16phù hợp, đảm bảo cân bằng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích của các chủ thể khácvà xã hội.
Việc xác định người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vidân sự đầy đủ phải bồi thường cho những thiệt hại mà mình gây ra là hoàntoàn phù hợp Bởi lẽ, người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ điều kiện thamgia vào các quan hệ pháp luật do vậy, họ hoàn toàn có năng lực để tham giavà trở thành chủ thể của quan hệ BTTH và nêu là người gây thiệt hại thì họhoàn toàn có đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm bồi thường Ở độ tuổi này,họ đã có khả năng lao động, có thể tạo ra thu thập, hình thành khối tài sảnriêng của mình
Tuy nhiên, thực tê cho thấy, một bộ phận không nhỏ trong số nhữngngười từ đủ mười tám tuổi trở lên là những người mới trưởng thành, họ vẫncòn đi học, chưa có công việc làm, chưa có thu nhập hay tài sản đáng kể, vẫnsống phụ thuộc vào cha, mẹ Vì vậy, trong trường hợp những người từ đủmười tám tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng không có tài sảnriêng gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai ? Nêu họ vẫn lànhững người phải chịu trách nhiệm BTTH thì họ phải thực hiện trách nhiệm
đó như thê nào ? Nêu họ không thực hiện được thì phải chăng họ phải gánhchịu những hậu quả pháp lý bất lợi và những người bị thiệt hại cũng khôngđược bồi thường ? Đây là một tình huống xảy ra khá phổ biên trong những
vụ về xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Nêu Tòa án áp dụng mộtcách tuyệt đối và cứng nhắc những quy định của pháp luật thì sẽ phải hoãnviệc thi hành án cho đên khi người gây thiệt hại là người mới trưởng thành cóviệc làm, có thu nhập Tuy nhiên, việc làm này lại trái với nguyên tắc bồithường toàn bộ và kịp thời, không đảm bảo khôi phục lại tình trạng ban đầuhoặc khắc phục thiệt hại một cách nhanh nhất, đảm bảo cuộc sống ổn địnhcho người bị thiệt hại trước khi xâm phạm Vậy nên trong trường hợp nàyTòa án có thể chủ động giải thích, khuyên khích cha mẹ người thành niên đó
Trang 17tự nguyện bồi thường thiệt hại do người mới trưởng thành gây ra Tòa án cóthể công nhận sự tự nguyện đó, nhưng về mặt pháp lý, không thể quyêt địnhcha mẹ họ phải bồi thường Ngoài ra, trong trường hợp người thành niên cóthu nhập, còn ở chung và chung kinh tê với cha mẹ, mà gây thiệt hại thì họphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng phần thu nhập thường xuyêncủa bản thân và phần tài sản chung với cha mẹ Tòa án cần triệu tập cha mẹhọ đên phiên Tòa với tư cách là dự sự
1.1.3.1.3 Năng lực bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại dotài sản của vợ chồng gây ra
Liên quan đên vấn đề năng lực BTTH của người đã thành niên, cóđầy đủ năng lực hành vi dân sự, theo ý kiên chủ quan, em xin được đề cậpđên vấn đề BTTH ngoài hợp đồng do tài sản vợ chồng gây ra Trên thực, cókhông ít những trường hợp tài sản gây thiệt hại là tài sản thuộc sở hữu chunghoặc riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Xác định trách nhiệmBTTH thuộc về ai trong những trường hợp này vẫn còn được ít nhắc tới
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành về tài sản, tài sản của vợchồng bao gồm vật, tiền và các quyền tài sản Tài sản của vợ chồng có thể làđộng sản hay bất động sản…Tất cả các tài sản này dựa vào các căn cứ khácnhau mà được phân thành tài sản chung và tài sản riêng; việc xác định đâu làtài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng là cơ sở để giải quyêt các vấnđề liên quan đên trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng khi có thiệt hại xảy ra
Việc xác định trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại do tài sảncủa vợ chồng gây ra, bên cạnh việc xem xét các yêu tố để xác định tráchnhiệm BTTH còn phải căn cứ vào các loại tài sản cụ thể để xác định tráchnhiệm BTTH Chính vì vậy, trách nhiệm BTTH do tài sản của vợ chồng gây
ra cần phải được xem xét trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, cần phải xác định có căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng hay không khi tài sản của vợ chồng gây thiệt Điều này được
Trang 18xác định dựa trên các căn phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, cụthể: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, có mối quan hệnhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi (không có điềukiện bắt buộc).
Thứ hai, cần xác định xem tài sản gây thiệt là tài sản chung hay tài
sản riêng của vợ, chồng Đây là vấn đề quan trọng để chúng ta xác định tráchnhiệm BTTH là trách nhiệm của một bên vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng.Chính vì thê, việc xác định một cách chính xác trách nhiệm của vợ chồng đốivới việc BTTH trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của vợ chồng, đồng thời bảo vệ lợi íchchính đáng của người bị thiệt hại
Thứ ba, mặc dù là trách nhiệm BTTH được xác định là của một bên
vợ, chồng nhưng bên kia đã tự nguyện dùng tài sản chung của vợ chồng đểbồi thường hoặc có khi dùng tài sản riêng của mình để bồi thường cho phíabị thiệt hại, điều này hoàn toàn được chấp nhận, miễn là thiệt hại được bồithường toàn bộ và kịp thời theo đúng quy định của pháp luật
Theo nguyên tắc trách nhiệm thuộc về chủ sở hữu tài sản, trongtrường hợp tài sản gây thiệt hại là tài sản chung của vợ chồng thì trách nhiệmBTTH phát sinh là trách nhiệm của cả hai vợ chồng Điều này hoàn toàn phùhợp đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì vợ, chồng hoàn toànbình đẳng về căn cứ tạo lập tài sản, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Vì lẽ đó,cả hai vợ chồng phải có trách nhiệm BTTH bằng tài sản chung của mình
Cũng theo nguyên tắc nói trên, khi vợ, chồng có tài sản riêng gây thiệthại thì trách nhiệm BTTH lúc này chỉ phát sinh đối với một bên vợ, chồng.Tuy nhiên, trong đời sống hôn nhân gia đình, thiệt hại này cũng có thể đượcvợ chồng thỏa thuận thỏa bồi thường bằng tài sản chung của vợ chồng.Trường hợp này được thể hiện khá rõ trong tình huống tài sản riêng của vợ,chồng là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng lại do bên còn lại sử dụng và trong
Trang 19thời gian đó gây thiệt hại cho người khác Khoản 2 Điều 601 quy định: “Chủ
sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Cũng liên quan đên vần đề này, Nghị quyêt 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫnáp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng bổ sung;
“Nêu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độcho người khác mà gây thiệt thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đóngười được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiêm hữu, sửdụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồithường thiệt hại” Quan hệ chủ sở hữu tài sản và người chiêm hữu, sử dụnghợp pháp trong trường hợp này được thể hiện dưới dạng một hợp đồng thuê,mượn tài sản Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân và giađình, thông thường hai bên vợ chồng không có thỏa thuận cụ thể về vấn đềnày mà một bên để mặc cho bên kia sử dụng tài sản này vì lợi ích chung.Thực tê, việc xác định trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản lànguồn nguy hiểm cao độ gây ra ở đây rất khó Vì vậy, nên trong trường hợpnày nên xác định trách nhiệm BTTH là trách nhiệm chung của vợ chồng, trừtrường hợp người kia sử dụng tài sản riêng của một bên không vì nhu cầuchung của gia đình mà gây thiệt hại hoặc vợ chồng thỏa thuận người sử dụngtài sản sẽ phải BTTH khi tài sản gây thiệt hại cho người khác, bất lợi tài sản
đó là chung hay riêng
Xác định trách nhiệm BTTH của vợ chồng, trong các trường hợp tàisản của vợ, chồng gây thiệt hại cho đên nay còn khá nhiều phức tạp Bìnhthường trong cuộc sống vợ chồng, ranh giới giữa tài sản chung và tài sảnriêng rất mờ nhạt Khi cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, người ta ít phân định
“của em – của tôi” mà thường “ hòa làm một” vì lợi ích gia đình Tuy nhiên,khi động chạm đên quyền lợi, người ta lại ý thức rất rõ về cái chung, cái
Trang 20riêng để tránh thua thiệt Vì vậy, việc xác định trách nhiệm BTTH khi tài sảncủa vợ chồng gây thiệt hại cần xem xét một cách thấu đáo và đặt trong từngtrường hợp cụ thể.
1.1.3.1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của ngườichưa thành niên
Điều 21 BLDS 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưađủ mười tám tuổi” Người chưa thành niên là những người bắt đầu có sựnhận thức về hành vi của mình, tuy nhiên sự nhận thức này vẫn còn nhữnghạn chê nhất định Căn cứ vào độ tuổi và trình độ nhận thức và khả năng chịutrách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, pháp luật dân sự Việt Nam phân chiangười chưa thành niên thành hai nhóm: những người dưới 15 tuổi và nhữngngười từ đủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổi Theo đó, năng lực chịu trách nhiệmBTTH của hai nhóm này cũng không giống nhau
a) Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưathành niên dưới mười lăm tuổi
Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 quy định:“ Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này” Như vậy, trách nhiệm
BTTH do người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại trước tiênđược xác định cho cha, mẹ của người đó
Căn cứ vào sự phát triển về khả năng nhận thức, làm chủ hành vi củacá nhân dựa trên cơ sở về độ tuổi, người chưa thành niên dưới mười lăm tuổiđược phân thành hai nhóm:
- Cá nhân chưa đủ 6 tuổi Những người thuộc nhóm tuổi này khôngthể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, được coi là những ngườikhông có năng lực hành vi dân sự Họ không thể tự mình thực hiện các giao
Trang 21dịch dân sự do không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả pháp lýcủa những hành vi đó Vì vậy, giao địch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi phải
do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Cá nhân ở độ tuồi nàycũng ít có năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác và hầu nhưkhông có năng lực để thực hiện trách nhiệm BTTH do mình gây ra, vì vậy,cha, mẹ của những người ở độ tuổi này là những người đại diện đương nhiênvới tư cách bị đơn dân sự trước tòa
- Cá nhân từ 6 tuổi đên chưa đủ 15 tuổi là những người có năng lựchành vi dân sự một phần Những người thuộc nhóm tuổi này chưa phát triểnđầy đủ về thể chất cũng như về tâm - sinh lý, trình độ nhận thức còn hạn chêvì vậy khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theopháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngàyphù hợp với lứa tuổi Pháp luật không quy định thê nào là giao dịch nhằmphục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, tuy vậy, cần phảihiểu đó là những giao dịch có giá trị không lớn, nhằm thỏa mãn nhu cầu họctập, sinh hoạt vui chơi trong một giới hạn tài sản nhất định phù hợp với điềukiện sinh hoạt tại địa phương nơi cá nhân đó sinh sống Nêu cá nhân từ đủ 6tuổi đên chưa đủ 15 tuổi tham gia các giao dịch dân sự có giá trị lớn, khôngđược sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì người đại diên theo phápluật có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Như vậy, ta
có thể thấy, sự phụ thuộc của những người chưa thành niên trong độ tuổi nàyvào bố mẹ – người đại diện theo pháp luật hợp pháp vẫn còn rất lớn
Điều này một mặc xuất phát từ tính chất nhân đạo của pháp luật đốivới những người chưa thành niên phạm tội hoặc gây thiệt hại khác, mặt khácđề cao vai trò quản lý, giáo dục người chưa thành niên của cha mẹ Cha mẹ,hay nói một cách khác khái quát hơn là gia đình có vi trò rất lớn trong việcgiáo dục, quản lý người chưa thành niên Bên cạnh đó, đây cũng là đối tượngrất được sự quan tâm của nhà trường và toàn xã hội Người chưa thành niên
Trang 22dưới mười lăm tuổi, do chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như nhậnthức nên thường là những đối tượng dễ uốn nắn, dễ bị ảnh hưởng, tác động từbên ngoài Sự giáo dục của cha mẹ trong giai đoạn này có tính chất quyêt địnhđên việc định hình nhân cách của người chưa thành niên sau này Người đó sẽtrở thành một công dân tốt hay xấu phần lớn phụ thuộc vào sự phát triển tronggiai đoạn này Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định vấn đề BTTH do
con dưới mười lăm tuổi gây ra tại Điều 74 như sau:“Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự Kêt hợp với các quy định tại Điều
590 BLDS 2015 có thể thấy, pháp luật nước ta rất coi trọng trách nhiệm vànghĩa vụ của cha mẹ trong việc BTTH do hành vi trái pháp luật của con từdưới mười lăm tuổi gây ra Chính vì thê, cha mẹ của những người gây thiệthại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự, có nghĩa vụ bồi thường toàn bộcho thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con, trong khi chính cá nhân gâythiệt hại lại hoàn toàn không có trách nhiệm bồi thường
Tuy nhiên, pháp luật cũng dữ liệu những trường hợp mà cá nhân gâythiệt hại là người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi, cha, mẹ lại không cóhoặc không đủ khả năng bồi thường Trong trường hợp này, nêu con chưathành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường Quyđịnh này không nhằm loại trừ trách nhiệm của cha, mẹ Thực tê, dù cha mẹlấy tài sản riêng của con để bồi thường trong trường hợp tài sản của cha, mẹkhông đủ hoặc không có tài sản cũng không có nghĩa là trách nhiệm BTTHđã chuyển sang cho người con Giả sử người con không có tài sản riêng đểthực hiện nghĩa vụ cho phần còn thiêu thì trách nhiệm vẫn thuộc về cha, mẹ.Như vậy, trong mọi trường hợp gây thiệt hại trái pháp luật mà không có căncứ loại trừ trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật, người bị thiệt hạiđều được bồi thường, vấn đề là trách nhiệm bồi thường đó thuộc về ai màthôi Cần phải nói thêm, một lý do tham khảo nữa khiên luật quy định như
Trang 23vậy là do người chưa thành niên ở độ tuổi này không có hoặc chưa có khảnăng lao động Pháp luật hiện hành quy định độ tuổi lao động từ đủ mườilăm tuổi trở lên, trừ những công việc liên quan đên năng khiêu, nghệ thuậtnhư múa, xiêc…thì mới có người lao động dưới mười lăm tuổi, nhưng hợpđồng lao động giữa họ và người sử dụng lao động phải được sự đồng ý củangười đại diện theo pháp luật cho họ Chính vì thê, đa số người dưới mườilăm tuổi không có thu nhập hoặc tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ bồithường cho người bị thiệt hại.
b) Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưathành niên từ đủ mười lăm tuổi đên chưa đủ mười tám tuổi
Khoản 2 Điều 586 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đên chưa đủmười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình” Nhưvậy, cùng một điều luật quy định về năng lực chịu trách nhiệm BTTH củangười chưa thành niên nhưng lại có sự khác nhau cơ bản giữa trách nhiệm củangười chưa thành niên dưới mười lăm tuổi và người chưa thành niên từ đủmười lăm tuổi đên chưa đủ mười tám tuổi Nêu người dưới mười lăm tuổi,trách nhiệm BTTH được đặt ra trực tiêp với cha, mẹ của cá nhân gây thiệt hại,cá nhân gây thiệt không có trách nhiệm bồi thường thì người từ đủ mười lămtuổi đên dưới mười tám tuổi lại phải chịu trách nhiệm trực tiêp cho nhữngthiệt hại do hành vi của mình gây ra
Quy định này trước hêt xuất phát từ trình độ phát triển về mặt thể chấtvà nhận thức của những cá nhân ở độ tuổi này Cùng ở trong lứa tuổi chưathành niên nhưng những cá nhân từ đủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổi đã có sự pháttriển hơn hẳn những cá nhân dưới 15 tuổi Cụ thể, những người chưa thànhniên ở lứa tuổi này đã có sự nhận biêt khá hoàn chỉnh về thê giới khách quan,
có khả năng nhận biêt được hành vi nào không gây thiệt hại và hành vi nàogây thiệt hại cho xã hội Từ đó, lựa chọn cách xử sự hợp lý, phù hợp với lợiích cá nhân và lợi ích của các chủ thể khác Những người trong độ tuổi từ đủ
Trang 2415 đên dưới 18 đã cơ bản hình thành về mặt nhân cách, nhận thức, không còn
dễ uôn nắn và tác động như người chưa thành niên dưới 15 tuổi Bên cạnh đó,người từ đủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổi có tài sản riêng để đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cầnphải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác Như vậy, ta có thể thấy, cá nhân từ đủ 15 tuổi đên dưới 18tuổi đã có sự độc lập tương đối so với cha mẹ – những người đại diện theopháp luật
Một lý do nữa lý giải cho quy định này đó là người chưa thành niên từđủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổi, theo quy định của pháp luật hiện hành thì đã cókhả năng lao động Những người này, không chỉ về suy nghĩ, nhận thức đã có
sự tách biệt tương đối với cha, mẹ mà ngay cả tài sản cũng bắt đầu có sự độclập, tuy sự độc lập này là không lớn Cá nhân từ đủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổiđã có thể tự mình lao động, từ đó có thu nhập riêng, có tài sản riêng Tài sảncủa họ phần nào đó đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong những giaodịch dân sự do chính bản thân họ xác lập và thực hiện Đồng thời, tạo điềukiện cho năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hoàn thiện hơn
Tuy nhiên, do những người từ đủ 15 tuổi đên chưa đủ 18 tuổi vẫn lànhững người chưa thành niên Xét về mặt năng lực hành vi dân sự thì họ vẫnchưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Vì vậy, trong trường hợp người chưathành niên, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại thì không thểloại trừ trách nhiệm của cha mẹ, người đại diện theo pháp luật Khoản 2 Điều
586 còn quy định thêm người từ đủ 15 tuổi đên chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại,nêu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần cònthiêu bằng tài sản của mình Quy định này, một mặt nhằm ràng buộc tráchnhiệm pháp lý của cha, mẹ trong việc giáo dục, quản lý đối với con chưathành niên Mặt khác, nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị thiệt hại trong
Trang 25trường hợp người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đên dưới 18 tuổi gây thiệt hạinhưng không đủ khả năng bồi thường toàn bộ.
1.1.3.1.5 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của ngườiđược giám hộ
Điều 46 BLDS 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)” Tuy nhiên, giám hộ ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ theo luật
định đối với người được giám hộ thì còn có trách nhiệm trong việc BTTH dohành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra Người được giám hộ
theo Khoản 1 Điểu 47 bao gồm: “a Người chưa thành niên không còn cha,
mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; b Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;
c Ngườimất năng lực hành vi dân sự; d Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
a) Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đượcgiám hộ là người chưa thành niên
Người chưa thành niên theo quy định tại khoản 1 Điều 47 thì cần cóngười giám hộ Do vậy, với người chưa thành niên vẫn còn cha, mẹ và cha,mẹ của họ không rơi vào các trường hợp nêu trên thì họ đương nhiên là đạidiện cho con và thiệt hại do người chưa thành niên gây ra sẽ được cha, mẹ bồithường theo cách thức bồi thường phân tích nêu trên
Trang 26Nêu cha, mẹ của người chưa thành niên rơi vào các trường hợp nêu ởđiểm a khoản 1 Điều 47, người chưa thành niên gây thiệt hại phải bồi thườngthì trách nhiệm pháp lý trong khi thực hiện việc giám hộ của người giám hộđược đặt ra, trong đó có trách nhiệm BTTH
Ngưởi giám hộ được chia thành hai loại: giám hộ đương nhiên vàgiám hộ cử Người giám hộ đương nhiên được xác định dựa trên mối quan hệhôn nhân, huyêt thống hoặc nuôi dưỡng nhằm ràng buộc trách nhiệm giữanhững người thân thích, ruột thịt trong gia đình với nhau Người giám hộđương nhiên không có quyền từ chối trách nhiệm giám hộ của mình, họ phảichịu trách nhiệm về những hành vi do người được giám hộ gây ra Thứ tự cácthành viên trong gia đình được pháp luật quy định làm người giám hộ đươngnhiên cho người chưa thành niên, có nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ các quyền vàlợi ích hợp pháp của người giám hộ, có trách nhiệm trong việc để người đượcgiám hộ gây thiệt hại phải bồi thường sẽ được thực hiện như sau:
- Trước hêt là trách nhiệm của anh cả, chị cả đã thành niên đủ điềukiện làm người giám hộ Nêu anh cả, chị cả không đủ điều kiện làm ngườigiám hộ thỉ ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ Trongtrường hợp tất cả những người nêu trên không có đủ điều kiện làm ngườigiám hộ thì bác, chú, cô, cậu, dì là người giám hộ Nêu không có người giám
hộ đương nhiên thì sẽ phải cử người giám hộ
- Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm BTTH của người chưa thànhniên từ đủ 15 tuổi đên 18 tuổi có người giám hộ lại khác về cơ bản so với quyđịnh về trách nhiệm BTTH của người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đên dưới
18 tuổi còn cha, mẹ Ở trong trường hợp người gây thiệt hại là người chưathành niên từ đủ 15 đên dưới 18 tuổi còn cha mẹ thì trách nhiệm bồi thườngtrước tiên thuộc về người đó; nêu người đó không có tài sản hoặc tài sảnkhông đủ để bồi thường thì trách nhiệm bồi thường mới được đặt ra với cha,mẹ Ngược lại, ở trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên từ