Trong lịch sử con người đã sử dụng nhiều loại hàng hóa để làm hàng hóa trung gian như vậy, trong đó có: muối, vỏ sò, kim loại, gạo, trâu, bò,… Đây chính là những loại tiền đầu tiên của c
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này đã cho em cơ hội tìm hiểu về lịch sử hiện đại của vàng, từ thời kỳ vàng đóng vai trò là tiền tệ thế giới cho tới khi bị thay thế bởi tiền chứng chỉ như hiện nay - phần nội dung mà giáo trình ít đề cập tới Đồng thời, đề tài giúp em hiểu hơn về những động lực dẫn tới cuộc Khủng hoảng kinh tế 2008, và sự vận động của vàng song hành với tiền chứng chỉ sau khủng hoảng Nhờ đó, em đã có được góc nhìn rõ hơn về một số trong những yếu tố đã hình thành nên nền kinh tế như hiện tại Đề tài này, theo quan điểm cá nhân em, là đề tài có ứng dụng thực tế nhất trong 5 đề tài các thầy cô bộ môn đưa ra
2 Đối tượng nghiên cứu
Như đã đề trong tên đề tài, đối tượng nghiên cứu là Tác động của chức năng phương tiện cất trữ đến biến động thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hảng kinh tế 2008
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu nguyên nhân cuộc Khủng hoảng giới hạn trong nền kinh tế Mỹ và chủ yếu là thị trường bất động sản Mỹ trong thời gian từ năm 2000-2008 Phạm vi nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tới thị trường vàng là phạm vi trên thế giới trong thời gian
từ năm 2008 – 2017 Riêng mục các chính sách của chính phủ để bình
ổn thị trường vàng chỉ giới hạn trong Việt Nam, từ năm 2008-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là bước đầu tìm hiểu chung theo tiến trình thời gian, từ các yếu tố dẫn tới cuộc Khủng hoảng 2008 tới những diễn biến của thị trường vàng sau khủng hoảng, qua các kênh thông tin trung gian như Bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia, nền tảng chia
sẻ video Youtube, các báo điện tử Sau đó, các vấn đề được tìm hiểu sâu
Trang 2hơn qua các kênh thông tin gốc, kênh thông tin chính thống như cổng thông tin điện tử của các cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam, và của các
tổ chức quốc tế
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu gồm 3 phần chính:
Phần thứ nhất trình bày Lý luận của Mác-Lênin về tiền tệ
Nội dung Học thuyết Kinh tế Mác – Lênin đã được trình bày đầy
đủ trong giáo trình, phần này mang tính chất làm rõ hơn các quan điểm, các khái niệm đã tìm hiểu trong học phần
Phần thứ hai trình bày về cuộc Khủng hoảng 2008 và thị trường vàng
Phần này phân tích các diễn biến dẫn tới cuộc Khủng hoảng 2008, tác động của khủng hoảng lên kinh tế thế giới, và diễn biến thị trường vàng sau khủng hoảng
Phần thứ ba trình bày về các giải pháp bình ổn thị trường vàng
Phần này tìm hiểu những chính sách quản lý thị trường vàng của Chính phủ Việt Nam sau Khủng hoảng 2008, đồng thời phân tích những hoạt động tiêu cực trong thị trường vàng mà cần được xử lý, và những cách mà mỗi người dân có thể tham gia thị trường vàng, sử dụng vàng sao cho phù hợp và an toàn
Trang 3Để đơn giản ta xét nhu cầu cuộc sống cơ bản nhất con người: nhu cầu sinh tồn Vật chất đáp ứng nhu cầu sinh tồn là không khí, nước, thức
ăn Để đơn giản hơn nữa, ta chỉ xét đến thức ăn và cách con người có được thức ăn cần thiết Trong lịch sử, con người đã khai thác thiên nhiên (săn bắt, hái lượm) và sau đó là sản xuất (chăn nuôi, trồng trọt) để có được thức ăn để sinh tồn Dù là thời kì nào, xã hội loài người đều thực hiện một hình thức lao động nào đó, rồi từ đó có được một lượng của cải vật chất (ở đây ta đang xét đơn giản là thức ăn) Lượng thức ăn này sẽ giúp xã hội loài người sinh tồn
Dưới góc nhìn tổng quát, tại một thời điểm, lượng thức ăn toàn bộ
xã hội con người làm ra chính là lượng thức ăn toàn bộ xã hội con người dùng để sinh tồn Góc nhìn tổng quát cho một phương trình cân bằng đơn giản, nhưng khi xét cá nhân ai làm ra bao nhiêu thức ăn, và ai ăn ngần nào thì chưa rõ
Thường trong tự nhiên, nếu một cá thể trưởng thành muốn có thức
ăn, thì bản năng sẽ quyết định đơn giản là cá thể đó trực tiếp đi kiếm thức ăn cho bản thân và các con Con người trong lịch sử cũng vậy Khi
xã hội còn nhỏ, mật độ dân số, năng suất lao động thấp, thức ăn làm ra còn ít, thì mỗi người sẽ tự làm những việc mà trực tiếp tạo ra thức ăn cho bản thân và gia đình
Trang 4Đến đây ta có thể dừng ví dụ về thức ăn và mở rộng cho toàn bộ các nhu cầu cuộc sống khác của con người Lúc này, nói theo cách tổng quát, mỗi cá nhân hoặc mỗi gia đình thực hiện lao động mà trực tiếp làm
ra những của cải vật chất phục vụ nhu cầu cuộc sống của chính bản thân Mỗi cá nhân, gia đình lúc này hoạt động theo logic đơn giản: ai có nhu cầu gì thì tự lao động để phục vụ nhu cầu đó
Tới đây ta đã phân tích được một khái niệm trình bày trong giáo
trình học phần là: “nền sản xuất tự cấp tự túc” Theo Học thuyết Kinh
tế của Mác - Lênin, xã hội mà hoạt động theo tư duy trên, được gọi là có
tổ chức kinh tế sản xuất tự cấp tự túc
-
Nền sản suất tự cấp tự túc đã trả lời cho câu hỏi ai làm ra bao nhiêu, ai hưởng ngần nào trong xã hội Tuy nhiên, khi xã hội phát triển, đòi hòi một câu trả lời tốt hơn, một cách tổ chức kinh tế hiệu quả hơn
Bất cập nảy sinh khi con người ngày càng có những nhu cầu đa dạng hơn, không dừng lại ở một loại thức ăn, hay chỉ dừng ở mỗi thức
ăn Mỗi nhu cầu này cần được đáp ứng bởi những của cải vật chất, dịch
vụ rất khác biệt nhau Mỗi loại vật chất, dịch vụ này để có được cần những loại hình lao động, những kĩ năng lao động cũng rất khác nhau
Như vậy, những nhu cầu phong phú đã đòi hỏi những vật chất, dịch vụ phong phú, từ đó yêu cầu rất nhiều loại hình lao động, kĩ năng lao động rất khác biệt nhau Với nền sản xuất tự cấp tự túc, để đáp ứng những nhu cầu của mình, mỗi người cần thực hiện nhiều loại hình lao động Mâu thuẫn xảy ra là khi mỗi người thực hiện càng nhiều loại hình lao động, thì càng khó hơn để đạt được kĩ năng lao động cao, dẫn đến năng suất lao động càng giảm Lúc này, nền sản xuất tự cấp tự túc đang không thể cùng lúc thỏa mãn cả hai yêu cầu là: nhu cầu đa dạng phong phú của con người và năng suất lao động
Trang 5Trong lịch sử, các xã hội trên thế giới đã có những cách tổ chức
kinh tế khác nhau để giải quyết mâu thuẫn trên Ta sẽ chỉ xét đến “nền
đồng thời là cơ sở của nền kinh tế thị trường ngày nay
Mâu thuẩn được giải quyết khi mỗi người đã tập trung vào một số
ít loại hình lao động, từ đó nâng cao năng suất lao động Để đáp ứng những nhu cầu còn lại, mỗi người trao đổi của cải vật chất mình làm ra
lấy những của cải, vật chất, dịch vụ khác Học thuyết Kinh tế Mác –
Lênin gọi kiểu tổ chức kinh tế này là “nền sản xuất hàng hóa”
Lịch sử đã chứng minh rằng đây là tổ chức kinh tế hiệu quả hơn so với nền sản xuất tự cung tự cấp Tổng lượng của cải vật chất xã hội loài người tạo ra tăng cao Đồng thời, việc phân chia lượng lao động và lượng của cải được giải quyết tương đối thích đáng: mỗi người được hưởng của cải mà mình làm ra và của cải mà mình trao đổi được
- Tới đây, ta đã tiến gần hơn tới những điều kiện để tiền tệ hình thành Từ phân tích nhu cầu của con người và cách con người đáp ứng
chúng, ta đã tiếp cận tới hoạt động trao đổi hàng hóa của con người
Đây là điều kiện cơ bản nhất để tiền tệ ra đời
- Động lực cho sự xuất hiện của tiền tệ có được là nhờ xuất hiện
thêm những mâu thuẫn cần được giải quyết Mâu thuẫn đầu tiên xuất
phát từ tính chất tự nguyện của hoạt động trao đổi hàng hóa Để có thể trao đổi cần sự tham gia từ hai bên Ví dụ, một người nông dân đang có nhiều gạo, và muốn có chiếc cuốc mới Người nông dân cần một người trao đổi với mình để thỏa mãn nhu cầu có xẻng mới Giả sử có người thợ rèn thỏa mãn nhu cầu này Nhưng người nông dân chỉ có thể trao đổi,
1 Hàng hóa: Khái niệm theo Học Thuyết Kinh Tế của Mác – Lênin chỉ “sản phẩm của lao động, mà có thể thỏa mãn
những nhu cầu nhất định của con người thông qua trao đổi mua bán
Trang 6nếu người thợ rèn cũng có nhu cầu có thêm gạo, điều này là không chắc chắn Việc hoạt động trao đổi phụ thuộc vào xác suất hai bên trao đổi cùng muốn hàng hóa của nhau là một trở ngại cho nền sản xuất hàng hóa
Đồng thời, việc của cải vật chất bị hỏng, mất giá trị theo thời gian
dẫn đến mâu thuẫn thứ hai Giả sử người nông dân không thể ăn hết
chỗ gạo mình làm ra, cũng không thể trao đổi hết chỗ gạo này để lấy hàng hóa khác Chỗ gạo thừa lâu ngày bị ẩm mốc, phải vứt bỏ đi Đến năm sau, người nông dân không còn gạo để ăn hay gạo để đổi lấy cuốc mới để trồng cấy vụ mùa mới Việc hàng hóa không thể giữ được giá trị của mình theo thời gian trở thành một bất cập
Việc trao đổi hai hàng hóa khác nhau về công dụng và bản chất cũng làm xuất hiện câu hỏi tỉ lệ trao đổi giữa hai hàng hóa nên là bao nhiêu Người nông dân không biết nên đổi mấy cân gạo để lấy một cái
cuốc hay một cân gạo lấy mấy cái cuốc Đây là mâu thuẫn thứ ba Mâu
thuẫn này càng hiện rõ khi thay vì như trong ví dụ chỉ gạo và cuốc trao đổi cho nhau1, người nông dân muốn đổi gạo lấy nhiều loại hàng hóa khác2 Trong khi hoạt động trao đổi ngày càng phát triển, khiến số cặp hàng hóa cần trao đổi ngày càng tăng Lúc này, xuất hiện khó khăn để xác định tỉ lệ trao đổi của từng cặp hàng hóa Điều này tạo ra nhu cầu có một thước đo giá trị cho từng loại hàng hóa
Cả ba mâu thuẫn trên được giải quyết khi mỗi người đổi hàng hóa mình đang có để lấy một loại hàng hóa nào đó được nhiều người ưu chuộng, rồi lấy hàng hóa được ưu chuộng đó đổi lấy hàng hóa mà mình cần3 Trong lịch sử con người đã sử dụng nhiều loại hàng hóa để làm hàng hóa trung gian như vậy, trong đó có: muối, vỏ sò, kim loại, gạo, trâu, bò,… Đây chính là những loại tiền đầu tiên của con người
1 Học thuyết Kinh tế Mác-Lênin gọi là hình thái giản đơn của giá trị trong nền kinh tế hàng hóa
2 Hình thái mở rộng của giá trị trong nền kinh tế hàng hóa
3 Hình thái chung của giá trị trong nền kinh tế hàng hóa
Trang 7Nhưng do khác biệt vùng miền và sự ưu chuộng khác nhau, hầu hết từng loại hàng hóa trên chỉ có thể làm hàng hóa trung gian tại một số
ít vùng mà không thể làm hàng hóa trung gian cho mọi vùng miền
Vì những đặc tính như là hàng hóa khan hiếm, không bị hư hỏng,
dễ cắt nhỏ, dát mỏng, dễ nung chảy, dễ đúc, tính thẩm mỹ cao mà vàng
là hàng hóa trung gian được ưu chuộng mà có thể trao đổi trên gần như
toàn thế giới Học thuyết Kinh tế Mác-Lênin gọi là hình thái tiền tệ của
giá trị Học thuyết đưa ra nhận định: “Chỉ có vàng mới có thể là tiền tệ
đích thực”
1.2 Bản chất của tiền tệ
Theo Học thuyết Kinh tế Mác-Lênin, hàng hóa là sản phẩm của lao động, mà có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định của con người thông qua trao đổi mua bán
Từ khái niệm trên, học thuyết chỉ ra hai thuộc tính cơ bản của hàng
hóa Đó là giá trị sử dụng và giá trị Giá trị sử dụng của hàng hóa thể
hiện qua việc thỏa mãn nhu cầu của con người Trong khi đó, giá trị của hàng hóa thể hiện qua việc hàng hóa có được là nhờ lao động của con người Cụ thể hơn, giá trị của hàng hóa đặc trưng cho lượng lao động được bỏ ra để làm nên hàng hóa
Học thuyết lập luận rằng: trong các trao đổi mà biểu hiện hình thái
giản đơn của giá trị, tỉ lệ trao đổi giữa hai hàng hóa thể hiện tỉ lệ giá trị
của hai hàng hóa, hay tỉ lệ hao phí lao động bỏ ra để làm ra mỗi hàng
hóa Ở hình thái tiền tệ của giá trị, mỗi hàng hóa có thể trao đổi lấy một lượng tiền tệ Lượng tiền tệ này đại diện cho giá trị của hàng hóa, hay
lượng hao phí lao động xã hội1 cần thiết để làm mỗi hàng hóa
1 Lượng lao động xã hội là lượng lao động trung bình trên toàn xã hội để làm ra một hàng hóa (theo Học thuyết
Kinh tế Mác-Lênin)
Trang 8Dựa vào phân tích trên, có thể đưa ra phát biểu đầu tiên về bản
chất của tiền tệ rằng “tiền tệ là vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác thể hiện lượng lao động xã hội của hàng hóa1”
Như đã phân tích trong phần Lịch sử hình thành của tiền tệ, động
lực khiến tiền tệ xuất hiện là hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa
Điều này dẫn đến phát biểu thứ hai về bản chất của tiền tệ rằng “tiền tệ
biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất” (ở đây có thể hiểu là
quan hệ trao đổi)
1.3 Năm chức năng cơ bản của tiền tệ
Trong phần Lịch sử hình thành của tiền tệ, ta đã thấy ba mâu thuẫn
lớn mà các loại tiền (hàng hóa được ưu chuộng), đặc biệt là “tiền tệ đích thực” vàng, đã giải quyết được Việc giải quyết được ba mâu thuẫn này chính là thể hiện của ba chức năng của tiền tệ - ba chức năng đầu tiên trong năm chức năng của tiền tệ
a) Thước đo giá trị
Khi giải quyết mâu thuẫn về việc xác định tỉ lệ trao đổi giữa các
hàng hóa, tiền tệ thể hiện chức năng thước đo giá trị Như đã phân tích,
tiền tệ lúc đầu được coi là hàng hóa trung gian được nhiều người ưa chuộng Tiền tệ có thể là thước đo giá trị vì bản thân tiền tệ (vàng), vì là hàng hóa, nên có giá trị của riêng mình Học thuyết kinh tế Mác - Lênin gọi biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa là giá cả hàng hóa
Đây cũng là chức năng quan trọng nhất về mặt bản chất của tiền tệ,
là cơ sở cho các chức năng còn lại
b) Phương tiện lưu thông
Việc tiền tệ giải quyết mâu thuẫn về việc trao đổi hàng hóa phụ thuộc vào xác suất rằng cả hai bên đều muốn hàng hóa của bên còn lại thể hiện chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ Như trong phần
1 Trích giáo trình học phần
Trang 9Lịch sử hình thành của tiền tệ, ta đã phân tích rằng thay vì phụ thuộc vào
xác suất cả hai bên muốn hàng hóa của nhau, mỗi người đổi hàng hóa của mình lấy tiền tệ - hàng hóa được nhiều người ưa chuộng, rồi dùng tiền tệ đổi lấy hàng hóa mà mình muốn
c) Phương tiện cất trữ
Cũng như đã phân tích ở trên, bản thân tiền tệ cũng có giá trị Đồng thời tiền tệ, nói cách khác là vàng, có tính chất là không bị mất giá trị theo thời gian Như vậy, tiền tệ có giá trị, và giá trị đó không bị mất
đi theo thời gian
“Tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải.”1
d) Phương tiện thanh toán
Tiền tệ, vì là hình thức của giá trị, đại biểu cho của cải xã hội, nên
có thể dùng để thực hiện các nghĩa vụ mà yêu cầu giá trị, của cải như là nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ trả nợ và các nghĩa vụ tài chính khác
e) Tiền tệ thế giới
Vì tính thống nhất nhờ được ưu chuộng rộng rãi, vàng hay tiền tệ
là thước đo giá trị chuẩn toàn thế giới, nên có thể dùng để trao đổi hàng hóa trên toàn thế giới
1 Trích giáo trình học phần
Trang 102 Ảnh hưởng của chức năng phương tiện cất trữ đến sự biến động thị trường vàng trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008
2.1 Khái quát về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008
a) Bối cảnh
Tiền chứng chỉ
Trong phần Lý thuyết về tiền tệ của học thuyết kinh tế Mác-Lênin,
tuy đã phân tích nhiều mặt của tiền, ta chủ yếu tập trung ở vàng, “tiền tệ đích thực” theo Học thuyết Kinh tế Mác – Lênin Để tìm hiểu về cuộc khủng hoảng 2008, ta cần một số hiểu biết về hệ thống tiền tệ hiện tại,
cụ thể là hệ thống tiền chứng chỉ
Tiền chứng chỉ, hay còn gọi là tiền pháp định, xuất hiện để giải quyết một bất cập căn bản mà vàng không giải quyết được Trữ lượng vàng trên vỏ Trái Đất là hữu hạn Lượng hàng hóa con người sản xuất ngày càng tăng Đến một thời điểm, lượng vàng mà mỗi quốc gia có không còn đủ để lưu thông hàng hóa Giải pháp được đưa ra là chính phủ in những tờ giấy chứng chỉ dùng làm tiền để lưu thông hàng hóa Những tờ tiền chứng chỉ này tuy không có giá trị nội tại nhưng vẫn đáp ứng được chức năng lưu thông nhờ phát luật ban hành Đây được gọi là tiền chứng chỉ
Tại thời điểm bắt đầu khủng hoảng 2008, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thay thế hệ thống tiền tệ vàng và bản vị vàng1 bằng hệ thống tiền chứng chỉ
Giảm lãi suất cho vay
Lượng tiền chứng chỉ được mỗi chính phủ in ra phụ thuộc chủ yếu vào lượng hàng hóa trong quốc gia Tuy nhiên, dựa vào tình hình quốc
1 Là chế độ tiền tệ sử dụng tiền giấy, nhưng mỗi đơn vị tiền giấy có thể đổi thành một lượng vàng xác định tại ngân hàng phát hành Chế độ tiền tệ này xuất hiện tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ VII, rồi trở nên phổ biến ở châu Âu vào thế kỷ thứ XIX Chế độ tiền tệ này mất vị thế từ khi Mỹ bắt đầu dùng tiền chứng chỉ vào năm 1971
Trang 11gia, chính phủ vẫn có thể điều chỉnh sao cho đạt được ba mục tiêu: bình
ổn giá cả, giảm thiểu lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Cụ thể, trong tình huống khủng hoảng, giả sử các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, dẫn đến cắt giảm lương cho người lao động Điều này sẽ lại dẫn đến việc người lao động tiêu dùng ít hơn Trong nền sản xuất hàng hóa, tiêu dùng của người này là thu nhập của người khác Khi sức tiêu dùng giảm, doanh thu của các doanh nghiệp cũng sẽ giảm theo, nền kinh tế của quốc gia sẽ chậm lại
Để kích thích tiêu dùng, chính phủ chấp nhận tăng lạm phát và in thêm tiền, đồng thời giảm lãi suất cho vay Khi lãi suất cho vay giảm, doanh nghiệp sẵn sàng vay hơn vì giờ trả nợ đã dễ dàng hơn Doanh nghiệp dùng số tiền vay được này vào đầu tư sản xuất và trả lương cho người lao động Người lao động với mức lương tăng sẽ tiêu dùng nhiều hơn, dẫn đến doanh thu tăng cho các doanh nghiệp Nền kinh tế quốc gia tăng tốc trở lại
Lãi suất cho vay tại Mỹ giai đoạn 2000-2007
Tuy giảm lãi suất cho vay là một phương pháp kích thích tăng trưởng cho nền kinh tế, đây lại chính là một trong những yếu tố dẫn đến khủng hoảng kinh tế 2008
Trong giai đoạn 2000 – 2002, sau nhiều biến động xảy ra với nền
kinh tế Mỹ, trong đó kể tới vụ Khủng bố 11/9 1 và Khủng hoảng thị trường chứng khoán Dot-com2, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất cho vay xuống mức thấp kỉ lục3 Các doanh nghiệp, như đã phân tích ở trên, vay tiền và đầu tư kinh doanh Điều này lại thúc đẩy nền kinh
1 Khủng bố ngày 11/9/2001 nhằm vào Mỹ đã làm gần 3000 người chết, gây thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ USD Đây được coi là vụ khủng bố đẫu máu và thảm khốc nhất trong lich sử nước Mỹ
2 Là khủng hoảng thị trường chứng khoán Mỹ năm 2000 xuất phát từ bong bóng thị trường do kì vọng quá mức của các nhà đầu tư vào các công ty Internet
3 Mức 1% vào năm 2004, mức thấp nhất kể từ năm 1955 (Số liệu theo FED)
Trang 12tế Điều đặc biệt là trong các doanh nghiệp có các ngân hàng vay rất nhiều tiền và họ dùng số tiền đó để đầu tư vào thị trường nhà đất
Thị trường vay thế chấp nhà đất tại Mỹ
Trong nhiều thập kỉ kể từ năm 1940, giá bất động sản đã có xu hướng tăng, nhiều phần nhờ vào các chính sách kích thích thị trường của chính phủ Thời điểm năm 2000, giá nhà đất tại Mỹ đang ở mức cao và đang trên đà tăng mạnh
Lúc này, nhiều người, vì không đủ tiền, đã chọn hình thức vay thế
chấp ngân hàng để mua nhà Cụ thể là một người muốn mua nhà nhưng
không đủ tiền sẽ vay tiền từ một ngân hàng để thanh toán cho người bán Người mua nhà sẽ sở hữu căn nhà, nhưng mỗi tháng sẽ phải trả ngân hàng một phần của khoản vay và tiền lãi Nếu quá một thời gian nhất định, người mua không thể trả được nợ, người này sẽ chuyển quyền sở
hữu căn nhà cho ngân hàng Căn nhà chính là tài sản thế chấp cho
khoản tiền vay mua nhà lúc đầu
Trong thỏa thuận trên, người mua nhà được lợi ở điểm họ có thể có nhà trước khi đủ tiền mua nhà, còn ngân hàng được lợi ở điểm họ được
một tài sản tài chính, đó là quyền thu tiền cho vay và tiền lãi Trong
trường hợp người mua không trả nợ, ngân hàng được tài sản thế chấp là căn nhà
Tuy nhiên, các ngân hàng ở Mỹ đã không dừng lại ở đó Họ đã có
mô hình kinh doanh lợi nhuận nhiều hơn là chỉ thu tiền lãi cho vay Các ngân hàng cho rất nhiều người mua nhà vay tiền Với mỗi một khoản vay, ngân hàng có được một tài sản tài chính Ngân hàng lúc này lại tổng hợp các tài sản tài chính riêng lẻ này vào thành một tài sản tài chính lớn1 Tài sản tài chính lớn này là quyền thu tiền cho vay và lãi từ tất cả những người đã vay tiền ngân hàng Ngân hàng, sau đó, bán những tài
1 Đây là một loại chứng khoán có giá trị phái sinh từ tài sản đảm bảo là các nghĩa vụ nợ của những người vay thế
chấp nhà đất Loại tài sản tài chính này được gọi là Nghĩa vụ nợ thế chấp (Collateralized debt obligation – CDO)
Trang 13sản tài chính này cho các nhà đầu tư lớn Giá của tài sản tài chính cao hơn tổng số tiền ngân hàng cho người mua nhà vay
Phân tích thỏa thuận trên, lợi nhuận của cả ngân hàng và nhà đầu
tư đều đến từ tiền lãi vay của người mua nhà vay thế chấp Quyền lợi của nhà đầu tư giống như quyền lợi của ngân hàng trong thỏa thuận với người mua nhà như đã đề cập ở trên Nhà đầu tư được thu tiền lãi vay
và, trong trường hợp người mua không trả nợ, thì được thu căn nhà Ngân hàng được lợi từ chênh lệch giữa tiền cho người mua nhà vay và tiền bán các tài sản tài chính (TSTC) Lợi nhuận của ngân hàng là có ngay khi bán TSTC, còn lợi nhuận của nhà đầu tư là thu dần theo tháng
- Điểm mấu chốt đầu tiên cần nhấn mạnh là lợi nhuận của ngân hàng
và nhà đầu tư, dù gián tiếp hay trực tiếp, đều đến từ tiền lãi vay mà người vay thế chấp nhà phải trả Chính vì vậy, để đảm bảo, trước khi được vay thế chấp để mua nhà, người mua nhà cần chứng minh với ngân hàng rằng mình có khả năng trả nợ trong tương lai
Điểm mấu chốt thứ hai là lãi suất cho vay thế chấp mua nhà tương đối cao so với các lựa chọn đầu tư khác Điểm bất cập là tiền lãi chỉ có thể thu dần theo tháng và có rủi ro người mua nhà không trả nợ Điểm mấu chốt thứ ba là giá nhà đất đang tăng, khiến tài sản thế chấp, là các căn nhà, có giá trị, khiến cho rủi ro nêu trên ít xảy ra hơn Hai điểm này khiến TSTC là một lựa chọn đầu tư hiệu quả và an toàn đối với các nhà đầu tư
Điểm mấu chốt cuối cùng là các ngân hàng đang có lợi nhuận tức thì sau khi bán các TSTC
Sự xuất hiện của các rủi ro
Thúc đẩy bởi lợi nhuận tức thì và nhu cầu của các nhà đầu tư, các ngân hàng tiếp tục tiến thêm một bước để tăng doanh thu Đây là bước
Trang 14ngoặt lớn Tiến trình dẫn đến Khủng hoảng 2008 bắt đầu từ thời điểm này
Vì đã hết tiền để cho thêm người mua nhà vay, các ngân hàng đã lợi dụng lãi suất cho vay của Cục dự trữ Liên bang Mỹ (sau đây gọi tắt
là Cục dự trữ) đang thấp, vay thêm nhiều tiền để tiếp tục thực hiện mô hình kinh doanh đã phân tích trên Để việc cho vay thế chấp mua nhà diễn ra thuận lợi hơn, các ngân hàng đã đưa ra các chính sách cho vay ít nghiêm ngặt hơn, không đòi hỏi chứng minh về khả năng trả nợ trong
tương lai Điều này tạo ra rủi ro là có khả năng người mua nhà không
thể trả nợ
Các ngân hàng bất chấp rủi ro này vì rủi ro này đi kèm với TSTC,
mà TSTC cuối cùng lại được bán cho các nhà đầu tư Sau khi mua các TSTC, các nhà đầu tư sẽ là người chịu rủi ro, không phải các ngân hàng Đồng thời, vì giá nhà đất đang tăng, các tài sản thế chấp có giá trị nên bù đắp cho rủi ro nêu trên
Với số tiền vay lãi suất thấp từ Cục dự trữ, các ngân hàng tiếp tục kinh doanh trong thị trường vay thế chấp nhà đất và kiếm được lợi nhuận lớn, trong khi đó tạo ra rủi ro tiềm tàng cho các nhà đầu tư
Các chính sách cho vay không cần minh chứng của các ngân hàng
và sự tăng giá của thị trường bất động sản cũng dẫn đến sự tiêu cực từ những người môi giới bất động sản Nhiều người thu nhập thấp mong muốn có nhà ở nhưng chưa có tiền mua Vì thông tin không chính xác của môi giới, họ đã vay thế chấp để mua những bất động sản nằm ngoài khả năng chi trả của mình Điều này tạo ra rủi ro cho người mua nhà rằng có thể họ không thể trả nợ ngân hàng và mất quyền sở hữu nhà
Trong trường hợp vỡ nợ, những người thu nhập thấp này, cuối cùng lại không có nhà, và cũng sẽ mất nhiều tiền để trả nợ trong những tháng đầu Đối với người nắm giữ TSTC gắn với những người mua nhà này là rủi ro rằng họ không nhận được tiền lãi cho vay như mong đợi
Trang 15Tuy nhiên, những rủi ro trên không được nhiều người để ý tới, nhiều phần vì thị trường bất động sản đang làm nền kinh tế Nhiều bất động động sản mới được tạo ra Các công ty xây dựng có thêm dự án để tham gia Nhiều công ty môi giới bất động sản được mở ra Nhiều việc làm được tạo ra Thị trường bất động sản tiếp tục tăng trưởng, trở thành trụ cột lớn cho sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ
Đồng thời, do sự tiêu cực ở các công ty kiểm định, sự buông lỏng của các cơ quan thanh tra và động cơ chính trị của các nhà cầm quyền, những rủi ro này đã không được chỉ ra
b) Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008
Khủng hoảng thị trường bất động sản tại Mỹ
Hậu quả từ những khoản vay rủi ro bắt đầu xuất hiện Nhiều người vay thế chấp đã không thể trả nợ và bị mất nhà ở của mình Thay vì nhận được các khoản tiền lãi mỗi tháng - những TSTC có giá trị, các ngân hàng và các nhà đầu tư lớn nhận về tài sản thế chấp là các bất động sản, các căn hộ Họ đem bán những căn nhà này đi để thu về tiền mặt
Kết quả là ngày càng có nhiều căn nhà được rao bán, nguồn cung bất động sản ngày càng tăng, điều này khiến giá bất động sản ngừng tăng và bắt đầu giảm
Rủi ro của việc cho vay thế chấp đối với lượng lớn người không có khả năng trả nợ là rủi ro mang tính hệ thống Nhiều người thu nhập thấp được cho vay, nhưng rồi không thể trả nợ, dẫn đến việc nhiều ngôi nhà
bị thế chấp được ngân hàng hàng và chủ đầu tư rao bán Lượng nhà ở bán ra lớn ảnh hưởng mạnh tới thị trường bất động sản Giá nhà ở ngày càng giảm mạnh
Khủng hoảng lúc này càng trầm trọng hơn Nguyên nhân nhiều phần là vì giá của các căn hộ giờ đã thấp hơn nhiều so với tiền lãi mà những người mua nhà phải trả hàng tháng Việc trả số tiền nợ và lãi vay