Bản chất trữ tình của thiên nhiên qua cảm hứng, qua cái nhìn của đờnglối “tả cảnh ngụ tình” đã phát huy rực rỡ qua những nhân vật có đời sống nộitâm phong phú nh Thuý Kiều, Kim Trọng – B
Trang 1trờng đại học vinh khoa: ngữ văn
“truyện kiều” của nguyễn du
khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành : văn học Việt Nam trung đại
Giáo viên hớng dẫn: TS Trơng Xuân Tiếu
Giáo viên hớng dẫn: ThS Lê Văn Minh
Vinh - 2006
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân,chúng tôi còn đợc sự hớng dẫn nhiệt tình, chu đáo và có phơng pháp của thầygiáo TS Trơng Xuân Tiếu, sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, Sự
động viên khích lệ của ngời thân và bạn bè
Qua đây cho phép tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáocô giáo, ngời thân và ban bè
Vinh, tháng 5 năm 2006 Sinh viên:
Trang 3“Truyện Kiều” trờng tồn bất tử cùng tên tuổi của đại thi hào Nguyễn
Du Đọc “Truyện Kiều” không ai là không cảm nhận đợc cái hay, cái đặc sắccủa nó Nhng để hiểu hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm “Truyện Kiều” lại là
điều vô cùng khó khăn
Một trong những đặc trng cơ bản của nghệ thuật văn học trung đại là lấycảnh tả tình Với Nguyễn Du bút pháp “tả cảnh ngụ tình” đã trở thành đỉnhcao đặc sắc trọn vẹn trong cái nhìn biện chứng, thống nhất giữa không gianngoại cảnh và nội tâm nhân vật Nó trở thành một phơng tiện đắc lực để thểhiện tâm trạng nhân vật
“Truyện Kiều” luôn là đề tài phong phú và đa dạng mang tầm cỡ kháiquát rộng lớn nhất đến những đề tài cụ thể sinh động
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều Về nội dung t ởng, về nghệ thuật, sức sống của Truyện Kiều trong độc giả, ảnh hởng củavăn học dân gian đối với Truyện Kiều, thi pháp Truyện Kiều … Viết Truyện Viết TruyệnKiều, Nguyễn Du dựa vào tác phẩm “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâmtài nhân Nhng Nguyễn Du không chỉ đổi mới về thể loại, ngôn ngữ, mà kểcả cách kể và cách thể hiện đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình
t-Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều song cha có đềtài nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể vấn đề cảnh và tình trong TruyệnKiều Với mong muốn đợc khám phá tìm hiểu thế giới nghệ thuật của
“Truyện Kiều” để có thể phần nào hiểu hơn về ngòi bút của Nguyễn Du, gópphần soi sáng một phơng diện cơ bản của thế giới nghệ thuật “Truyện Kiều” ,nên chúng tôi chọn đề tài này cho khoá khoá luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nhiệm vụ khoa học đặt ra khi giải quyết vấn đề này là phải đi sâunghiên cứu nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật với bút pháp “tả cảnh ngụtình” đồng thời nghiên cứu tâm lý nhân vật qua mối quan hệ giữa cảnh vàtình nh thế nào? Trong số các truyện nôm thì “Truyện Kiều” đợc chọn học ởtrờng phổ thông với việc trích dẫn nhiều đoạn nhất, việc đi sâu nghiên cứunhằm mục đích thiết thực là để dạy và học tốt hơn một kiệt tác văn học ViệtNam trung đại
3 Lịch sử vấn đề
“Truyện Kiều” đã thu hút đợc sự nghiên cứu của rất nhiều nhà khoahọc Ngời ta đã khẳng định giá trị tác phẩm trên rất nhiều bình diện: Từ nộidung đến nghệ thuật Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về vấn đề “cảnh”
và “tình” trong truyện Kiều cha nhiều Trong quá trình tập hợp tài liệu để
Trang 4thực hiện đề tài, chúng tôi thấy ít có công trình nào nghiên cứu đầy đủ ở lĩnhvực này, đặc biệt là nghiên cứu thành đối tợng riêng Rải rác trong một số tácphẩm có đề cập đến vấn đề cảnh và tình, tuy nhiên nó cha đợc đặt thành một
hệ thống Chúng tôi xin điểm lại một số ý kiến sau:
Đặng Thanh Lê trong giáo trình “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷXVIII nửa đầu thế kỷ XIX” đã viết: “Trình bày môi trờng hoạt động củanhân vật, Nguyễn Du chú trọng môi trờng thiên nhiên nhiều hơn môi trờngxã hội Nguyễn Du sử dụng hình tợng thiên nhiên làm nền cho sự hoạt động
và sự phát triển của tính cách nhân vật
Nhìn lại văn học cổ Việt Nam, ta thấy hình tợng thiên nhiên chủ yếugắn bó với tác phẩm trữ tình hơn là tác phẩm tự sự Ca dao, thơ đờng luật,khúc ngâm song thất lục bát, khác với truyện kể dân gian và văn xuôi chữHán – miêu tả thiên nhiên khá nhiều
Bản chất trữ tình của thiên nhiên qua cảm hứng, qua cái nhìn của đờnglối “tả cảnh ngụ tình” đã phát huy rực rỡ qua những nhân vật có đời sống nộitâm phong phú nh Thuý Kiều, Kim Trọng – Bóng dáng “nên thơ” của khungcảnh thiên nhiên đặc biệt phù hợp với yêu cầu biểu hiện tâm t tình cảm conngời đứng trớc tình yêu lứa đôi – Với “Truyện Kiều”, vẻ đẹp của thiên nhiênchân thực sống động dới ngòi bút Nguyễn Du, hài hoà tuyệt diệu với nội tâmnhân vật trong tình yêu quê hơng xứ sở, trong tình yêu lãng mạn, cũng nhtrong nhiều khía cạnh tâm lý phong phú đa dạng khác khi con ngời đối diệnvới cuộc sống” [4;200]
ở đây Đặng Thanh Lê đã đề cập đến bút pháp “tả cảnh ngụ tình” củaNguyễn Du trong “Truyện Kiều” song còn ở mức độ khái quát chung Ngoài
ra Đặng Thanh Lê chỉ mới đề cập đến việc Nguyễn Du sử dụng thiên nhiên
nh một hình thái ngôn ngữ nghệ thuật để miêu tả tâm hồn con ngời và ngợclại, tâm hồn con ngời soi bóng qua hình tợng thiên nhiên
Cùng quan điểm trên, Nguyễn Lộc trong giáo trình “Văn học ViệtNam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX” viết: “Trong “Truyện Kiều”Nguyễn Du không phải chỉ kể lại diễn biến câu truyện, của sự việc, của hành
động mà rất chú trọng nội tâm của nhân vật Nhà thơ có nhiều cách biểu hiệnnội tâm Thiên nhiên nhiều khi cũng là biểu tợng của tâm trạng” [5;417] Rõràng ở đây Nguyễn Lộc chỉ mới nói khái quát một cách chung về việcNguyễn Du sử dụng thiên nhiên để diễn tả nội tâm nhân vật
Phan Ngọc trong cuốn “ Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
“Truyện Kiều” đã bàn đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong “Truyện
Trang 5Kiều” của Nguyễn Du, đồng thời nhà nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu vớitác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân Phan Ngọc đãviết: “Vì lo tìm tiếng nói của nội tâm, cho nên ông bắt buộc phải chú ý đếnmột tiếng nói nữa, góp phần hết sức đắc lực vào việc bộc lộ nội tâm, đó làtiếng nói của thiên nhiên” [9;181] Phan Ngoc còn đi vào nghiên cứu sự phân
bố và chức năng của ngôn ngữ thiên nhiên trong “Truyện Kiều” Phan Ngọc
đã đề cập đến ba chức năng của ngôn ngữ thiên nhiên trong “Truyện Kiều”:
“Chức năng đầu tiên là nói lên sự thay đổi của tâm trạng, tính lu chuyển của
đời sống nội tâm của con ngời” [9;183]
“Chức năng thứ hai của ngôn ngữ thiên nhiên là nói lên tiếng nói lybiệt, nhớ , lo lắng, đợi chờ… Viết Truyện mỗi lần ly biệt hai ngời sẽ đối diện với hai tìnhhuống mới mà tơng lai cha biết ra sao, cho nên trong tình huống khó nói nàythiên nhiên xuất hiện” [9;184]
“Chức năng thứ ba của thiên nhiên là nhắc nhớ quá khứ… Viết Truyện” [9;185]Phan Ngọc đã đề cập đến mối quan hệ giữa thiên nhiên và tâm trạng con ng-
ời, đồng thời đi sâu phân tích vai trò của ngôn ngữ thiên nhiên nhng ở mộttầm khái quát cao mà cha đi vào phân tích cụ thể
Trần Đình Sử trong cuốn “Thi pháp Truyện Kiều” đã nói đến chất thơtrong Truyện Kiều: “Trớc hết là chất thơ ở cảnh vật, cảnh vật là phơng tiệnnội tâm hoá, phải nói rằng tác giả Thanh Tâm tài nhân rất ít chú ý tới cảnhvật… Viết Truyện ở đây Thanh Tâm tài nhân thuần tuý kể việc, hầu nh không quan tâm
đến cảnh, đến ngời, đến cảm giác của con ngời Trái lại Nguyễn Du đã sángtạo ra cảnh mùa xuân, cảnh chơi xuân (Đoạn chị em Thuý Kiều đi chơi tiếtthanh minh) Nguyễn Du đã thổi hồn vào trong cảnh, làm cho cảnh có tình”.[10;216]
“Cùng với tả cảnh là tả tình Tình thấm trong cảnh, cảnh quyện vàotình Tình cảnh giao hoà là truyền thống lớn của thơ ca cổ điển Việt Nam.Nguyễn Du đã hấp thụ truyền thống đó để tạo ra chất thơ cho tác phẩm củamình” [10;219]
Trần Đình Sử đã nêu lên bút pháp “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du
mà cụ thể là cảnh và tình, tuy nhiên ở đây tác giả đề cập đến ở mức độ vớinhững nét chấm phá tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du Tiếp tục sự chú ý vềvấn đề “cảnh” và “tình” trong “Truyện Kiều” của những nhà khoa học đi tr-
ớc, trong khoá luận, với khả năng trình độ một sinh viên, chúng tôi mạnh dạntiếp tục đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong TruyệnKiều và xin giới hạn với các nhân vật chính diện là Kim Trọng và Thuý Kiều
Trang 64 Phơng pháp nghiên cứu:
Truyện Kiều sử dụng bút pháp “tả cảnh ngụ tình” đạt đến trình độ đỉnhcao, nên trong khi nghiên cứu chúng tôi không tách tác phẩm ra khỏi hệthống mà xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng với các tác phẩm trớc đó
và đơng thời để thấy đợc ngòi bút bậc thầy của Nguyễn Du
Để đạt đợc mục đích và giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đặt
ra chúng tôi áp dụng một hệ thống phơng pháp, trong đó các phơng phápphối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, đồng thời kiểm tra lẫn nhau để khẳng
định kết quả nghiên cứu
- Phơng pháp thống kê những câu thơ tả cảnh và tình đối với việc thểhiện tâm trạng nhân vật Thuý Kiều và Kim Trọng
- Phơng pháp phân tích tổng hợp để thấy đợc mối quan hệ giữa cảnh
và tình khi nói về hai nhân vật Kim Trọng và Thuý Kiều
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẻ tham khảo công trình nghiêncứu về “Truyện Kiều” của một số tác giả nh : Đào Duy Anh, Phan Ngọc,Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Trần Đình Sử, Trơng Xuân Tiếu… Viết Truyện
5 Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong “TruyệnKiều”, chúng tôi dựa vào tác phẩm “Truyện Kiều” do giáo s Nguyễn ThạchGiang khảo đính và chú giải của của Nhà xuất bản Giáo dục, H 1996
“Cảnh” và “tình” trong “Truyện Kiều” là một đề tài không chỉ hấp dẫn
đối với giới phê bình văn học, mà còn hấp dẫn với chúng tôi – những sinhviên mới bớc đầu chập chững trên con đờng tập dợt nghiên cứu khoa học.Tuy nhiên đi sâu tìm hiểu vấn đề “tình” và “cảnh” trong “Truyện Kiều”không phải là công việc đơn giản dễ dàng Do điều kiện thời gian eo hẹp,năng lực bản thân có hạn, khoá luận của chúng tôi không khám phá hết mọiphơng diện thuộc vấn đề “tình” và “cảnh” trong “Truyện Kiều”, mà chỉ đisâu khám phá vấn đề “tình” và “cảnh” qua việc thể hiện tâm trạng hai nhânvật “Thuý Kiều” và “Kim Trọng”
6 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khoá luận
đ-ợc khai thác trong hai chơng
Chơng I: Mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” – một đặc trng thi pháp
văn học trung đại
Trang 7Chơng II: Mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong “Truyện Kiều”
của Nguyễn Du
phần nội dung Chơng I:
Mối quan hệ giữa cảnh và tình một đặc tr– một đặc tr ng thi pháp nghệ thuật trong văn học Việt Nam trung đại
1.1 Cảnh (thiên nhiên) là một đối tợng miêu tả của văn học Việt Nam trung đại
Thiên nhiên vốn là nguồn đề tài, nguồn cảm hứng vô tận của các thinhân ở Phơng Đông, từ xa xa, thiên nhiên là nơi giải thoát mọi nỗi phiềnmuộn cho con ngời trong cuộc đời trần thế Nó vừa chi phối, vừa tác động
đến cuộc sống con ngời và đợc xem là một nguyên tắc để nhận thức và lý giảinhững vấn đề của cuộc sống “Thiên nhiên hợp nhất”, “Thiên nhiên tơng dữ”,
“Thiên nhiên cảm ứng”, (trời và ngời là một, trời và ngời cùng sinh ra, trờivới ngời có quan hệ mật thiết với nhau) Ngời Phơng Đông quan niệm mỗicon ngời, mỗi sự vật là một “tiểu vũ trụ”, trong lòng “đại vũ trụ” Triết họcPhơng Đông xem vũ trụ cũng có linh hồn và chỉ khi nào linh hồn của con ng-
Trang 8ời nhập đợc vào linh hồn của vũ trụ, lúc ấy mới đạt đợc sự siêu thoát vĩnhhằng Với quan niệm ấy, trong văn học Phơng Đông, thiên nhiên vừa là hiệnthực khách quan, vừa là thế giới tinh thần của con ngời
Theo từ điển Tiếng Việt, thiên nhiên đợc quan niệm “là tổng thể nóichung những gì tồn tại xung quanh con ngời mà không phải do con ngời tạora” Với cách hiểu này, thiên nhiên đợc nêu ở bình diện bao quát, rộng lớnnhất Nghĩa là những gì tồn tại ngoài con ngời Nếu ở Phơng Tây, thiênnhiên tồn tại bên ngoài, tách biệt với con ngời, thì trong tâm thức Phơng
Đông thiên nhiên bao giờ cũng gần gũi, thân thuộc và thấm đẫm tình ngời.Cũng chính vì vậy trong nghệ thuật Phơng Tây, thiên nhiên thờng chỉ là đối t-ợng phản ánh của ngời nghệ sỹ, thì ở Phơng Đông, nhất là trong văn họctrung đại, thiên nhiên là đối tợng để con ngời tìm tòi, suy ngẫm mọi lẽ trongcuộc sống và trở thành đối tợng miêu tả trong văn học trung đại R.Tagore đãtừng khẳng định sự hoà hợp giữa con ngời và thiên nhiên nh một nhu cầukhông thể thiếu “Ngời nghệ sỹ vừa chủ, và là nô lệ đồng thời vừa là ngời tìnhcủa thiên nhiên nữa”
Văn học Việt Nam trung đại nói riêng và văn học Phơng Đông nóichung đều lấy thiên nhiên là đối tợng miêu tả và đều có những điểm chung
Đó là thiên nhiên tĩnh lặng, hài hoà với cuộc sống của con ngời, thiên nhiên
và con ngời gần nh là một thể thống nhất hoà quyện vào nhau, cùng tồn tại.Con ngời thờng gửi gắm những tâm sự của mình vào thiên nhiên, là nơi đểcon ngời giãi bày nỗi lòng của mình và mỗi khi con ngời mang nỗi buồn thìthờng tìm đến với thiên nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim muông) Kể cả lúc tâmtrạng của con ngời có niềm vui cũng đều lấy thiên nhiên để chia sẻ Từ đó tathấy thiên nhiên là đối tợng đóng vai trò quan trọng đối với con ngời và trởthành đối tợng miêu tả của văn học trung đại nói chung và văn học trung đạiViệt Nam nói riêng
Trong văn học Trung Quốc thời trung đại thiên nhiên là một đề tàiquen thuộc và gắn liền với những tên tuổi lớn nh Lý Bạch, Đỗ Phủ… Viết Truyện
Thiên nhiên trong thơ Lý Bạch không chỉ đợc khắc hoạ thông qua sựlĩnh hội, thẩm mỹ của nhà thơ, mà còn là ngời bạn tâm tình của nhà thơ.Thiên nhiên trong thơ Lý Bạch trở thành ngời bạn tri âm, tri kỷ, là nơi để nhàthơ gửi gắm bầu tâm sự của mình
Sau Lý Bạch - Đỗ Phủ là nhà thơ đợc tôn là “thi thánh” Thiên nhiêntrong thơ ông không phải là âm hởng chủ đạo, nhng Đỗ Phủ đợc xem là bậcthầy của thơ tả cảnh thiên nhiên Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Đỗ Phủ suy
Trang 9đến cùng là dáng dấp, hình ảnh con ngời yêu cuộc sống, có tâm hồn tinh tếnhạy cảm Đỗ Phủ đã mợn hình ảnh thiên nhiên để nói lên tâm sự của mình.
Bài thơ “Thu hứng” (số 1) khi mới đọc lên ta thấy nh một bài thơ tảcảnh, nhng suy đến cùng và đặt nó vào trong hoàn cảnh nhà thơ lúc đó thì
đây không phải là bài thơ tả cảnh đơn thuần, mà nhà thơ đã mợn cảnh thiênnhiên mùa thu để nói lên tâm trạng nỗi lòng của mình khi nhớ về quê hơng.Thiên nhiên trong bài thơ đã nhuốm màu tâm trạng
Lác đác rừng phong hạt móc sa
“
Ngàn non hiu hắt khí thu loà Lng trời sóng rợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà Lạnh lùng dục kẻ tay giao thớc Thành Bạch, chày vang bóng áo tà”
(Nguyễn Công Trứ dịch)Trong văn học trung đại Việt Nam nói đến thiên nhiên là nói đến ngờibạn để tác giả tâm sự gửi gắm tình cảm của mình Thiên nhiên trở thành đốitợng sáng tạo thi ca của các tác giả, là phơng tiện để các tác giả gửi gắm tâmtrạng con ngời Tác giả sử dụng thiên nhiên để diễn tả tâm trạng và đó là bútpháp “tả cảnh ngụ tình” Chúng ta không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Tú Xơng… Viết Truyện
1.2 Trong thơ và nhất là trong truyện thơ trung đại Việt Nam có các nhà thơ thờng tả cảnh ngụ tình (bút pháp tả cảnh ngụ tình)
Thiên nhiên dới ngòi bút của các tác giả không đơn thuần chỉ là thiênnhiên vốn có, mà còn có hình bóng của thi nhân Các tác giả sử dụng thiênnhiên nh một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để diễn tả tâm trạng con ngời
Nguyễn Trãi đợc xem là ngời mở đờng cho văn học trung đại ViệtNam phát triển, và ngời ta thờng gọi ông là nhà thơ của thiên nhiên Vớinhiệm vụ xã hội, Nguyễn Trãi đã làm đầy đủ và hết sức mình Vì thế NguyễnTrãi muốn gửi gắm tâm sự qua t cảm thông qua thiên nhiên Hồn thơ NguyễnTrãi đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình, lúc buồn,lúc vui, lúc bận rộn, lúc th giãn… Viết TruyệnTrong bất cứ hoàn cảnh nào tâm hồn nhàthơ cũng rộng mở đón nhận thiên nhiên Các thi nhân xa thờng đến với thiênnhiên bằng bút pháp đề vịnh ở bài thơ nôm mở đầu bằng câu “Rỗi, hóngmát thuỡ ngày trờng” (Báo kính cảnh giới-số3) Nguyễn Trãi lại thiên về bút
Trang 10pháp miêu tả Tác giả đã đón nhận cảnh vật với nhiều giác quan thị giác,thính giác, khứu giác, và cả sự liên tởng nữa Thiên nhiên qua các giác quancủa thi sĩ trở nên sinh động, đáng yêu và đầy sức sống mà cội nguồn sâu xa
là lòng yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả Cảnh vật thanh bình, yên vui bởi
sự thanh thản đang xâm chiếm tâm hồn nhà thơ Âm thanh “lao xao chợ cá”dội từ phía làng chài hay chính tác giả đang rộn rã niềm vui trớc cảnh “dângiàu đủ” và tiếng cầm ve giăng giỏi phải chăng là khúc nhạc lòng đợc tấulên? Những hình ảnh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi vừa cao xa nhng lạivừa thật gần gũi với con ngời Đó là cây cải, cây cà, cây mồng tơi, cây raumuống… Viết Truyện
Sau Nguyễn Trãi xuất hiện đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Có thể nóirằng Nguyễn Du là một thiên tài miêu tả thiên nhiên Trong “Truyện Kiều”
có 222 câu thơ tả cảnh thiên nhiên và cái khác lạ với các nhà thơ cùng thờihay sau ông là cách sử dụng thiên nhiên độc đáo mà không có ai làm đợc.Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du mang dáng dấp cổ điển, ảnh hởng nhiềuthiên nhiên trong thơ Trung Quốc Mọi phơng thức này của nó nói lên sựthay đổi tâm trạng, tính lu chuyển đời sống của con ngời Trong “TruyệnKiều” thiên nhiên mở đầu bằng một buổi sáng mùa xuân “cỏ non xanh tậnchân trời” và khi tâm trạng của con ngời thay đổi thì thiên nhiên cũng thay
đổi Thiên nhiên trong “Truyện Kiều” đợc bộc lộ theo nguyên tắc mà tác giả
nh một phơng tiện nghệ thuật đắc lực để biểu hiện, để giải bày tâm trạngnhân vật trữ tình
Trong văn học Việt Nam trung đại, Hồ Xuân Hơng là nhà thơ độc
đáo Bà là một nhà thơ trào phúng đả kích những mặt trái của xã hội, vàbênh vực cho ngời phụ nữ Đồng thời bà còn là nhà thơ trữ tình mà biểu hiệntrớc hết là lòng yêu mến thiên nhiên Cảnh trong thơ Hồ Xuân Hơng không
có cái màu phơn phớt nhạt nhoà nh trong tranh thuỷ mặc Nó không a nhữngnét buồn của buổi chiều tà, không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên đơn thuần mà
đằng sau hình ảnh thiên nhiên ấy là nỗi lòng, là tâm trạng của nhà thơ, những
Trang 11tâm sự sâu kín về số phận và cuộc đời bất hạnh của nhà thơ nói riêng và củangời phụ nữ trong xã hội cũ nói chung.
Nh vậy yếu tố thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hơng vừa là cảm xúc,vừa là phơng tiện bộc lộ nỗi lòng, tâm trạng của mình
Có thể nói Văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷXVIII – nửa đầu thế kỷ XIX Với đề tài thiên nhiên nó không còn mang tínhrập khuôn công thức nh thơ vịnh thiên nhiên giai đoạn trớc, mà trăm hìnhnghìn vẻ, mỗi nhà thơ có một cách nhìn riêng Thiên nhiên đợc nhìn ngắmqua con mắt của thi nhân để biểu hiện tâm trạng của nhà thơ Và nó là mộtphơng tiện nghệ thuật để diễn tả rõ nét tâm trạng của con ngời
1.3 Mỗi quan hệ giữa cảnh và tình rất là khăng khít gắn bó Cảnh
là phơng tiện để bộc lộ tình
Trong thơ Phơng Đông, tình và cảnh (tức con ngời và thiên nhiên)chan hoà với nhau “Nửa tình nửa cảnh nh chia tấm lòng” (Kiều) con ngời làmột bộ phận của thiên nhiên, không thể tách rời, có sự tơng ứng hữu cơ, máuthịt giữa con ngời và thiên nhiên Thiên nhiên gợi cảm hứng để con ngời gửigắm tâm trạng, cảm xúc
Cảnh có khi khăng khít với tâm trạng con ngời, để làm nổi bật tâmtrạng con ngời, thông qua cảnh vật để gợi mở tâm trạng Trăng là hình ảnh
đẹp nhất của cảnh Hình ảnh của trăng dễ đi vào thơ ca, ca dao với nhiều ýnghĩa và chức năng của nó
Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã miêu tả hình ảnh vầng trăng thểhiện rất nhiều tâm trạng khác nhau: Đó là một vầng trăng huyền diệu, chứngkiến mối tình của đôi lứa Kim – Kiều
Hình ảnh vầng trăng sáng đẹp giữa bầu trời đêm xuân, hình ảnh vầngtrăng ở đây tăng thêm vẻ đẹp thơ mộng của tình yêu và và vầng trăng ở đây
nh một “Ngời bạn không lời” hết sức đồng cảm với tâm trạng Kim – Kiều
Nhng có khi vầng trăng lại đợc Nguyễn Du miêu tả để nói lên tình lybiệt, tâm trạng và sự cô đơn lẻ loi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
“
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trờng”
Nguyễn Du đã tìm thấy cái nghịch lý của trăng trong nỗi cô đơn.Trăng với Thuý Kiều và Thúc Sinh xa cách là nửa vầng trăng thôi Mỗi ngờichỉ có một nửa vầng trăng khuyết Cảnh vật và con ngời trong “Truyện Kiều”luôn tơng ứng, thống nhất Thiên nhiên ở đây thấm đẫm tâm trạng con ngời
Trang 12Trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn Thiên nhiên và con ngờiluôn gắn bó khăng khít với nhau, cảnh gắn với tâm trạng của nhân vật Thiênnhiên là ngôn ngữ nói hộ nỗi lòng của ngời chinh phụ trong buổi tiễn đachồng ra trận, trong nỗi mong ngóng nơi cuối trời… Viết TruyệnCảnh và ngời luôn đancài với nhau, cảnh không đơn thuần là cảnh, mà đã nhuốm lên đó bao nỗiniềm của ngời chinh phụ.
Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cảnh là cái nền để trên đó tác giảthể hiện tâm trạng của mỗi nhân vật Thiên nhiên trong “Truyện Kiều” luônxuất hiện đúng lúc để nói hộ lòng ngời những điều thầm kín, là nơi để con ngờigiải bày và thể hiện nỗi lòng của mình Cảnh là phơng tiện để bộc lộ tình vàcảnh góp phần đắc lực vào việc thể hiện nội tâm của nhân vật Mỗi khi tâmtrạng có nhiều điều khó bộc lộ, thì thiên nhiên xuất hiện để nói hộ lòng ngời
Đoạn thơ Kiều gặp Kim Trọng cho đến khi Kim Trọng dọn sang nhàtrọ, Nguyễn Du miêu tả trong 224 câu, mà đã có 60 câu tả thiên nhiên, thiênnhiên xuất hiện dồn dập để nói hộ tâm trạng của đôi trai gái trong mối tình đầu
Để thể hiện tâm trạng bơ vơ của Thuý Kiều ở lầu Ngng Bíc, bằng bút pháp tảcảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã khắc hoạ tâm trạng cô đơn, nỗi nhớ cha mẹ và ng-
ời yêu của Thuý Kiều qua khung cảnh thiên nhiên xa lạ ở lầu Ngng Bích
Cảnh nh là một thứ ngôn ngữ để bộc lộ nội tâm theo nguyên tắc màNguyễn Du đã nêu:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,“
Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ ”Khi đợc cảm nhận qua tình cảm của con ngời nh trong “Chinh phụngâm”, cũng vì mang sẵn nỗi sầu thơng nhớ ngời chinh phu mà ngời chinhphụ đã nhìn khung cảnh buổi chiều với nhiều màu sắc u ám
Hạt s
“ ơng phủ bụi chim gù Sâu tờng kêu vẳng, chuông chùa nên khơi Vài tiếng dế nguyệt soi trớc ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên ”Hoặc trong “Bích câu kỳ ngộ” cũng bộc lộ tâm trạng của con ngời
Buồn trong dẫy phố Hoành D
Trang 13Chính vì nhận thấy sự liên quan chặt chẽ giữa tình và cảnh, Bà HuyệnThanh Quan đãtả cảnh có vũ trụ, có tuần hoàn, có non nớc vô tri, vô giác quatình cảm của bản thân mình.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nớc còn cau mặt với tang thơng ”
Và cuối cùng bà đã thốt ra để làm duyên, hơn là tỏ vẻ ngạc nhiên
Ô hay cảnh cũng
Cảnh đấy ngời đây luống đoạn trờng ”
Đi vào nghệ thuật, thiên nhiên không những chỉ tái hiện nh khách thể,
mà thiên nhiên đợc miêu tả trong mối quan hệ với con ngời Thiên nhiênkhúc xạ qua tâm hồn con ngời, thiên nhiên xuất hiện nh một biểu hiện tâmtrạng của con ngời Đặc biẹt nó đợc coi nh là một phơng tiện nghệ thuật đểdiễn tả rõ nét tâm trạng con ngời Cảnh để bộc lộ tình Điều này thể hiện quamột số tác phẩm, nhất là truyện thơ và một số khúc ngâm
1.4 Một số tác phẩm văn học trung đại rất chú ý thể hiện mối quan
hệ giữa cảnh và tình: Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Truyện Hoa“ ” “
Tiên của Nguyễn Huy Tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du” “ ”
Thiên nhiên trong Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn đợc nhìnbằng con mắt “tâm trạng”, là “ngoại cảnh” nhng cũng chính là “tâm cảnh”
Đến với khúc ngâm, ngời đọc thờng bắt gặp hình ảnh con ngời nhỏnhoi, lạc lỏng chìm đắm trong thiên nhiên Đó là bức tranh thiên nhiên xanhrờn cây lá trong buổi biệt li, cái thiên nhiên bao la của sự trông ngóng vô bờ,của ngời vợ với những lần tìm chồng, hay là bức tranh “tứ vọng” khi nàng
đứng trên lầu phóng tầm mắt xa xăm tìm chồng Tiếng nói thiên nhiên ở đâytrở thành tiếng nói nội tâm, tiếng nhạc lòng của ngời vợ trẻ
Cảnh có lúc hiện ra rất hắt hiu thể hiện nỗi cô đơn của ngời chinh phụ
Gió mây thổi không đ
Con chim bạt gió, lạc loài kêu sơng ”
Nàng so sánh cuộc sống chim muông, hoa cỏ với thân phận mình.Nàng xem chim uyên, chim én là loài chim sống kết đôi chung thuỷ “Bạc đầukhông nỡ đôi đờng rẽ nhau” và đã rút ra kết luận:
Trang 14“ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp ngời nỡ để đấy đây”
Trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, Đặng Trần Côn đã cất công xâydựng một hệ thống ngôn ngữ thiên nhiên đặc sắc và tài tình Thiên nhiên đãgóp phần đắc lực cho việc thể hiện tâm trạng nhân vật
Đặng Trần Côn là ngời đầu tiên biến thiên nhiên thành một thứ ngônngữ nghệ thuật đặc sắc để diễn tả tâm trạng của nhân vật Thiên nhiên và conngời hoà quyện lẫn nhau Chúng ta có thể khẳng định một cách tổng quát.Ngôn ngữ thiên nhiên là một phạm trù nghệ thuật có tính lịch sử,và bị quy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ”Thiên nhiên ở đây đã nhuốm màu tâm trạng của con ngời Hình ảnh
“ngàn dâu xanh” gợi lên sự nhớ thơng, lu luyến nhng không chỉ có ngời vợ màcả ngời chồng nữa Sự lu luyến của chàng cũng vợt qua cái mức độ thờng tình.Vì thế, Nàng trở về với nỗi đơn chiếc, lẻ loi nơi chốn cô phòng
Thiên nhiên trong “Chinh phụ ngâm” cũng chính là tiếng lòng thầmkín của con ngời Cảnh vật gợi lên nỗi niềm trong con ngời, ngợc lại tâmtrạng của con ngời cũng nhuốm lên cảnh vật
S
“ ơng nh búa, bổ mòn gốc liễu
Tuyết dờng ca, xẻ héo cành ngô ”Mùa đông lạnh lẽo, khắc nghiệt đã làm cho cảnh vật tàn phai, sức tánphá của “tuyết”, “sơng” thật ghê gớm, thiên nhiên ngày càng “mòn”, “héo”
cứ mai một và chết dần theo thời gian Đó là một thực tế trong con mắt ngờichinh phụ, hay cũng chính là tâm trạng trong con ngời lúc này
Đặc biệt, trong đoạn trích “Trông bốn bề”- đó là bốn bức tranh thiênnhiên – cũng là bốn nét tâm trạng trống trải, ngao ngán, bi thơng, thất vọngkhi lòng ngời soi vào tấm gơng phong cảnh và biện pháp tả cảnh ngụ tìnhcủa Đặng Trần Côn đạt đến trình độ hoàn hảo ở đây, tác giả tả cảnh là để tảtình Cảnh thiên nhiên gắn bó với tâm trạng ngời chinh phụ xa chồng Giữacảnh vật và con ngời có sự thống nhất tơng ứng với nhau Nỗi buồn của ngờithiếu phụ lan toả sang cả cảnh vật Vì thế nhìn vào đâu Nàng cũng thấy một
Trang 15bức tranh thiên nhiên tiêu sơ, hoang vắng để rồi Nàng lại bị chính cảnh vật ấytác động trở lại với một nỗi buồn đau khôn tả
Cảnh buồn ng
“ ời thiết tha lòng ”Thiên nhiên đã từng là ngời bạn sẻ chia nỗi niềm cùng ngời chinh phụ.Thiên nhiên với nhân vật luôn gắn bó, hoà quyện lẫn nhau Thiên nhiên nói
hộ lòng ngời chinh phụ trong buổi tiễn đa chồng ra trận, trong nỗi mongngóng… Viết TruyệnCảnh và ngời luôn đan cài vào nhau Cảnh không đơn thuần là cảnh
mà đã nhuốm lên đó bao nỗi niềm của ngời chinh phụ
Thiên nhiên và con ngời luôn gắn bó, hoà quyện với nhau Từ xa xatrong những bài ca dao quen thuộc cũng chan chứa tình cảm con ngời, cảnh
đợc nhìn qua tâm trạng của nhân vật
Trong “Truyện Kiều”, ngoài thủ phảp miêu tả trực tiếp tâm trạng nhânvật thông qua những lời độc thoại nội tâm, Nguyễn Du còn thể hiện tâmtrạng của nhân vật qua bút pháp miêu tả thiên nhiên Vì vậy thiên nhiên trong
“Truyện Kiều” là thiên nhiên của tâm trạng, thiên nhiên trữ tình, biết đaukhổ, vui buồn, băn khoăn day dứt cùng nhân vật
Khi sử dụng hình ảnh thiên nhiên để thể hiện tâm trạng nhân vật.Nguyễn Du đã ý thức đợc rằng, thiên nhiên là một dạng thức tồn tại của conngời, gắn bó với con ngời:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
“
Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ ”Cảnh vật thiên nhiên đã trở thành cái nền của cuộc sống, có sự tổnghợp hài hoà và kín đáo với tâm trạng Trong “Truyện Kiều”, Kiều là nhân vật
đối diện với thiên nhiên nhiều nhất Những lúc ấy thiên nhiên dồn tất cả choKiều để thể hiện tâm trạng Tác giả sử dụng thiên nhiên nh một phơng tiện đểmiêu tả nội tâm, phản ánh tâm trạng Điều này hoàn toàn đối lập với “KimVân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân Trong suốt toàn bộ “Kim VânKiều truyện” không có một câu nào nói về thiên nhiên, tác giả đã gạt bỏ điyếu tố thiên nhiên.Nguợc lại Nguyễn Du sử dụng thiên nhiên nh một phơngtiện nghệ thuật đắc lực để bộc lộ tâm trạng nhân vật Hình ảnh thiên nhiênxuất hiện trong “Truyện Kiều” có khi thể hiện tâm trạng rạo rực, vui vẻ củanhân vật, có khi đó là tiếng nói li biệt, nhớ mong, lo lắng, đợi chờ
Khi Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều ta thấy thiên nhiên đã giúp đoạn thơtả cuộc chia li này trở thành một “thiên phú biệt li” (Vũ Trinh) Tất cả nhữnghình ảnh thiên nhiên đều mang đậm dấu ấn tâm trạng con ngời Sự quyếnluyến, hụt hẫng, tâm trạng cô đơn, buồn tê tái của Kiều, những dự cảm của
Trang 16cuộc chia ly không có ngày gặp lại đều đợc tác giả thể hiện rõ nét bằng bútpháp tả cảnh ngụ tình Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du còn sử dụng thiênnhiên để gợi nhớ đến quá khứ của nhân vật Nguyễn Du đã sử dụng thiênnhiên để bổ sung và nói hộ lòng ngời, để thể hiện những sắc thái tình cảm, sựbiến đổi và phát triển tâm lý một cách linh hoạt của nhân vật.
Nh trên đã nói, so với tác giả của “Truyện Kiều” thì tác giả của “KimVân Kiều truyện” rất ít chú ý tới cảnh vật Trong hồi một của “Kim VânKiều truyện” tác giả viết: “Một hôm thanh minh cùng em trai Vơng Quan,
em gái Thuý Vân dạo chơi khắp chốn, bỗng nhiên đến bên cạnh một khe nớcchảy, nhìn thấy một ngôi mộ đắp cao nên mới hỏi Vơng Quan” Ơ đây tácgiả thuấn tuý kể việc mà, hầu nh không quan tâm tới tả cảnh, tả ngời.Trái lại,Nguyễn Du đã sáng tạo ra cảnh mùa xuân, cảnh chơi xuân và thổi hồn vàotrong cảnh, làm cho cảnh có tình
Ngày xuân con én đ
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mơi
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bônh hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sữa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngụa xe nh nớc áo quần nh nêm.
Lần xem phong cảnh co bề thanh.
Nao nao dòng nớc uốn quanh.
Sè sè nấm đấ bên đờng,
Dàu dàu ngọn cỏ nữa vàng nữa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh (59)“ ”
Trong “Truyện Kiều” cùng với tả cảnh là tả tình, tình thấm trong cảnh,cảnh quyện với tình Đây cũng là truyền thống của thơ ca Trung Quốc và thơ
Trang 17ca cổ điển Việt Nam Và Nguyễn Du đã hấp thụ và có sự sáng tạo độc đáo đểtạo ra chất thơ cho tác phẩm “Truyện Kiều”
Nguyễn Du, sử dụng hình tợng thiên nhiên làm nền cho sự hoạt động
và sự phát triển tính cách của nhân vật Dới ngòi bút thiên tài của Nguyễn Duthiên nhiên đã hài hoà tuyệt diệu với nội tâm của nhân vật Thiên nhiên trong
“Truyện Kiều” không phải là khách thể đi bên cạnh con ngời mà ở đây thiênnhiên là tâm hồn con ngời, thiên nhiên trở thành một hình thái ngôn ngữnghệ thuật để miêu tả tâm hồn con ngời và tân hồn con ngời soi bóng quahình tợng thiên nhiên
Trong truyện “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự, tác giả đã sử dụngkhung cảnh thiên nhiên làm tôn thêm vẻ đẹp thơ mộng của mối tình giữa DaoTiên và Lơng Sinh ở đây hình ảnh vầng trăng quen thuộc lại xuất hiện khi nói
đến tình yêu lứa đôi Trong truyện “Hoa Tiên” ta thấy có sự gặp gỡ với tác giảcủa “Truyện Kiều” đó là việc miêu tả vầng trăng vằng vặc, một vầng trăng lunglinh huyền diệu chứng kiến và chia sẻ cùng con ngời, hình ảnh vầng trăng nhcùng đồng lòng và trở thành ngời bạn của đôi trai gái trong đêm thề nguyền
Hoa lay trúc động mơ chừng, Lần trong cửa tía, vội ngừng gác son.
Tiêu đâu rũ phợng véo von, Một xoan nh gợi nớc non mấy niềm.
Phất phơ tơ liễu buông rèm, Nửa sân lê lựu bóng thiềm xế ngang”
Chơng II
Trang 18Mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình”
trong truyện Kiều của Nguyễn Du
Một trong những thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Du khi viết “TruyệnKiều” là phối hợp mối quan hệ giữa việc miêu tả cảnh thiên nhiên và miêu tảtâm trạng nhân vật Ngoài biện pháp miêu tả trực tiếp tâm trạng nhân vậtthông qua những lời độc thoại nội tâm, Nguyễn Du còn thể hiện tâm trạngnhân vật thông qua các đoạn thơ miêu tả thiên nhiên Vì vậy thiên nhiêntrong Truyện Kiều là thiên nhiên của tâm trạng, là “ngoại cảnh” nhng cũng là
“tâm cảnh”, thiên nhiên trữ tình, thể hiện đau khổ, vui buồn, băn khoăn daydứt của nhân vật
Khi sử dụng hình ảnh thiên nhiên để thể hiện tâm trạng nhân vật,Nguyễn Du ý thức đợc rằng thiên nhiên là một dạng tồn tại của con ngời, gắn
bó với con ngời:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
“
Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Cảnh vật thiên nhiên đã trở thành cái nền của cuộc sống, có sự tổnghợp hài hoà và kín đáo với tâm trạng
2.1 Những đoạn thơ trong truyện Kiều đợc Nguyễn Du diễn đạt trên mối quan hệ giữa cảnh và tình (liên quan đến hai nhân vật Kim“ ”
Trọng và Thuý Kiều)
Từ câu 39 Ngày xuân con én đ“ a thoi”
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mơi
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bônh hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sữa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngụa xe nh nớc áo quần nh nêm.
Trang 19Lần xem phong cảnh co bề thanh.
Nao nao dòng nớc uốn quanh.
Sè sè nấm đấ bên đờng,
Dàu dàu ngọn cỏ nữa vàng nữa xanh.
Đến câu 59: Rằng: Sao trong tiết thanh minh “Sao trong tiết thanh minh” ”
Trong đoạn thơ trên tác giả miêu tả cảnh mùa xuân và sự xuất hiện củacác nhân vật chính diện ở đoạn thơ này có hai cảnh mùa xuân Một cảnhsáng xuân và một cảnh chiều xuân Hai cảnh này làm nền cho sự xuất hiệncủa chị em Thuý Kiều (điều này chúng tôi sẽ phân tích rõ ở chơng 2)
- Từ câu 95 Lầm rầm khấn vái nhỏ to, “Sao trong tiết thanh minh”
Sụp ngồi đặt cỏ trớc mồ bớc ra.
Một vùng có ấy bóng tà,
Đến câu 98 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Gió hiu hiu thổi một và bông lau ”
Tác giả đã tả sắc cỏ trong ánh nắng chiều tà ở đây vì tình mà tả cảnh.Cảnh ảm đạm tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng Thuý Kiều khi Nàng khóc
Đạm Tiên
- Từ câu thơ 119 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Một lời nói chửa kịp th a , ”
Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
ào ào đổ lộc rung cây, Ơ trong dờng có hơng bay ít nhiều.
Dè chừng ngọn gió lần theo,
Đến câu thơ 124 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Dấu dày từng b ớc in riêu sành sành ”
Đoạn thơ miêu tả hình ảnh Thuý Kiều khấn cúng trớc mộ Đạm Tiên.làm cho linh hồn của Đạm Tiên có sự giao cảm với ngời đang sống
- Hai câu thơ “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” ới cầu nớc chảy trong veo , D ”
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thớt tha , ”
Tác giả đã sử dụng rất thành công bút pháp “tả cảnh ngũ tình” thể hiệntình yêu của Thuý Kiều và Kim Trọng
Từ câu 173 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” ơng nga chênh chếch dòm song” G
Vàng gieo ngấn nớc cây lồng bóng sân.
Hải dờng lả ngọn đông lân, Giọt sơng gieo nặng cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Đến câu 178 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Rộn đ ờng gần với nỗi xa bời bời ”
Trang 20Đoạn thơ nói lên tâm trạng của Thuý Kiều nghĩ về Kim Trọng và ĐạmTiên sau một ngày chơi tiết thanh minh.
- Từ câu 259 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ ng ời”
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì, Nớc ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu!
Gió chiều nh dục cơn sầu,
Vi lô hiu hắt nh màu khơi trêu.
Nghề riêng nhớ ít tởng nhiều.
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tờng, Cạn dòng lá thắm dứt đờng chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành, Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
Đầy thềm hoa rụng biết ngời ở đâu?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu
Đến câu 274 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Dạo quanh chợt thấy mái quanh có nhà ”
Đoạn thơ này miêu tả nỗi nhớ của Kim Trọng đối với Thuỳ Kiều saulần gặp đầu tiên bằng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
- Từ câu 365 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Sông t ơng một giải nông rờ”
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
Một tờng tuyết chở sơng che, Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.
Lần lần ngày gió đêm trăng,
Đến câu 370 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” a hồng rậm lúc đã chừng xuân qua Th ”
Đây là đoạn thơ thể hiên sự luân chuyển của thời gian Qua đó thể hiệnnỗi lòng của Thuý Kiều đợi chờ Kim Trọng
Đoạn thơ từ câu 449 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Vầng trăng vằng vặc giữa trời ”
Đinh ninh hai mặt một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xơng.
Trang 21Chén hà sánh giọng quỳnh tơng,
Đến câu 454 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Dãi là h ơng lộn bình gơng bóng lồng”
Đây là một trong những đoạn thơ tả cảnh tả tình đẹp nhất trong
“Truyên Kiều” khi nói đến mối tình Kim – Kiều
Đoạn thơ từ câu 559 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Dùng dằng ch a nỡ rời tay”
Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà
Ngại ngùng một bớc một xa, Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng, Mối sầu sẻ nửa bớc đờng chia hai.
Buồn trông phong cảng quê ngời,
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn tha.
Não ngời cữ gió tuần ma,
Đến câu thơ 569 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Một ngày nặng gánh t ơng t một ngày ”
Đoạn thơ tả cảnh cuộc chia ly giữa Thuý Kiều và Kim Trọng, nỗi buồntràn ngập trong lòng hai ngời khi Kim Trọng về Liêu Dơng hộ tang chú
Từ câu thơ 777 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Xiết bao kể nỗi thảm sầu ”
Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.
Kiệu hoa đâu đã đến ngoài, Quản huyền đâu đã giục ngời sinh li.
Đau lòng kẻ ở ngời đi,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.
Trời hôm mây kéo tối sầm,
Đến câu thơ 784 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Dầu dầu ngọn cỏ đến đầm cành s ơng”
Đây là những tâm sự của Thuý Kiều với cha mẹ, gia đình trớc khi lênkiệu hoa theo Mã Giám Sinh về nhà chồng (thực chất là về lầu xanh)
Đoạn thơ từ câu 911 “Sao trong tiết thanh minh”…Gió hiu hiu thổi một và bông lau” Nàng thì dặm khách xa xăm ”
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may, Một trời thu để riêng ai một ngời.
Giặm khuya ngắt tạnh mù khơi, Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!
Rừng thu tầng biếc xen hồng,