(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
Trang 1-
PHẠM THẾ VIỆT
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Lâm học
Mã ngành: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thoa
Thái Nguyên - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, do bản thân tôi thực hiện và chưa từng được công bố Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng 01 năm 2021
Tác giả
Phạm Thế Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên khóa 26
Luận văn là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của đề
tài “Điều tra hiện trạng phân bố và xây dựng kế hoạch bảo tồn tại chỗ các loài dược liệu trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng” do
Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng thực hiện và
TS Nguyễn Thị Thoa đại diện nhóm tư vấn
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, các cán bộ kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng, bà con nhân dân các xã trong khu bảo tồn Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Thoa - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập Ban Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai đề tài cũng như thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
IUCN : International Union for Conservation of Nature and Natural Resources
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế
KBT : Khu bảo tồn
LSNG : Lâm sản ngoài ghỗ
NXB : Nhà xuất bản
QĐ : Quyết định
QLKBT : Quản lý khu bảo tồn
UBND : Ủy ban nhân dân
WHO : Orld Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1.2 Nghiên cứu về đa dạng cây dược liệu 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 23
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 23
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Thời gian nghiên cứu: 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Kế thừa các tài liệu 27
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 28
2.4.3 Xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3 34
Trang 6KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 34
3.1.1 Đa dạng về bậc ngành 34
3.1.2 Đa dạng bậc họ 36
3.1.3 Đa dạng bậc chi 37
3.1.4 Đa dạng về giá trị bảo tồn nguồn gen cây thuốc 38
3.2 Hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 39
3.2.1 Đặc điểm phân bố của một số loài cây thuốc trên các tuyến điều tra 39
3.2.2 Hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu 42
3.3 Kiến thức bản địa của người dân trong việc sử dụng, chế biến cây thuốc của cộng đồng 45
3.3.1 Các nhóm bệnh và số loài cây thuốc để chữa trị 45
3.3.2 Sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc 48
3.4 Bản đồ phân bố một số loài cây được sử dụng làm thuốc có giá trị 51
3.5 Những hạn chế, thuận lợi trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng 51
3.5.1 Những hạn chế 51
3.5.2 Những thuận lợi 52
3.6 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 52
3.6.1 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên dược liệu 53
3.6.2 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý về dược liệu 53
3.6.3 Giải pháp chế biến, tiêu thụ sản phẩm dược liệu 54
3.6.4 Giải pháp về kỹ thuật 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Tồn tại 58
3 Kiến nghị 58
Trang 7- Thử nghiệm nhân giống một số loài cây thuốc đặc biệt là các loài quý hiếm 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC 40
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tuyến điều tra thực địa 29
Bảng 3.1 Sự phân bố cây dược liệu theo từng ngành thực vật tại Khu BTTN
Thần Sa - Phượng Hoàng 34
Bảng 3.2 Các họ đa dạng nhất của tài nguyên cây thuốc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng 36
Bảng 3.3 Các chi đa dạng nhất của tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng 37
Bảng 3.4: Tình trạng bảo tồn các loài quý hiếm theo mức độ phân hạng 38
Bảng 3.5 Đặc điểm phân bố của một số loài cây thuốc quý hiếm 40
Bảng 3.6 Danh mục loài cây thuốc ưu tiên phát triển ở khu vực
Thần Sa - Phượng Hoàng 43
Bảng 3.7 Đa dạng về nhóm loài cây thuốc chữa bệnh và các nhóm bệnh 45
Bảng 3.8 Các bộ phận dùng của cây thuốc ở Thần Sa - Phượng Hoàng 48
Bảng 3.9 Các cách dùng cây Dược liệu ở Thần Sa - Phượng Hoàng 50
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống xói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ở châu Á, được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và
đa dạng của sinh vật Hệ thực vật Việt Nam cũng được biết đến rất đa dạng và phong phú Theo ghi nhận của Phạm Hoàng Hộ (1999) có khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch và dự đoán có đến 12.000 loài; trong đó, số loài cây dùng làm thuốc chiếm khoảng 36% Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu,
Bộ Y tế đã xác định ở Việt Nam có 3.948 loài cây thuốc Võ Văn Chi (2012) đã thống kê ở Việt Nam hiện có gần 4.700 loài thực vật làm thuốc
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (Akérelé) Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và "Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền" năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này
Lợi ích nhiều mặt thu được từ nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam thực sự là lớn lao Song thực trạng hiện nay do con người đang gây ra là một thảm hoạ, nạn phá rừng tràn lan, khai thác dược liệu bừa bãi, chưa có kế hoạch tái sinh phát triển, nhiều loài cây thuốc mọc tự nhiên cho nhiều loại dược liệu
Trang 10quý trong rừng bị phá huỷ đã và đang làm cho vốn quý đa dạng sinh học cây dược liệu ngày càng bị cạn kiệt
Việt Nam cũng có một lịch sử lâu đời trong sử dụng cây cỏ tự nhiên và một nền y học cổ truyền có bản sắc riêng để phòng và chữa bệnh cho con người Nằm trong khu vực nhiệt đới Đông Nam Á có đa dạng sinh học rất cao Theo ước tính Việt Nam có khoảng trên 12.000 loài thực vật bậc cao, chiếm khoảng 4-5% tống số loài thực vật bậc cao đã biết trên thế giới và khoảng 25% số loài thực vật bậc cao đã biết ở châu Á Trong số này, có khoảng 4.000 loài thực vật và 400 loài động vật được dùng làm thuốc Thế nhưng, các thuốc này mới chủ yếu được sử dụng trong điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền và
y học dân gian Việt Nam Thị trường dược liệu ở Việt Nam vẫn trong tình trạng thả nổi, thiếu sự quản lý của các cơ quan có chức năng quản lý ví dụ: khai thác thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá cả quản lý thị trường, chất lượng dược liệu thuộc Sở Y tế
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập tại Quyết định số 3841/QĐ-UB ngày 01 tháng 12 năm 1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, được tổ chức lại tại Quyết định số 1963/QĐ-UBND, ngày 31/8/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên, diện tích được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ, phát triển là 19.913,54 ha Khu bảo tồn có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá, tài nguyên rừng còn nhiều cây gỗ lớn là rừng tự nhiên giáp ranh với 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, có chiều dài trên 40 km vùng rừng giáp ranh, là khu vực phòng thủ an ninh quốc phòng của Nhà nước và là khu rừng quý duy nhất của tỉnh Thái Nguyên
Đề tài: Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên, nhằm xác định thực trạng và tiềm năng, làm cơ sở quan trọng
Trang 11đề xuất xây dựng các giải pháp bảo tồn tại chỗ, xây dựng vườn dược liệu, các giải pháp đồng bộ về khai thác có kiểm soát trong việc bảo tồn và đi đôi với phát triển bền vững cây dược liệu trong khu vực Luận văn là một phần nội dung của nhiệm vụ: “Điều tra hiện trạng phân bố và xây dựng kế hoạch bảo tồn tại chỗ các loài dược liệu trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng
Hoàng”, của khu bảo tồn được thực hiện năm 2019-2020
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần
Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc nói riêng và hệ thực vật nói chung tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin
- Bổ sung dẫn liệu về tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là những dẫn liệu cập nhật và là cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc trong hệ sinh thái rừng tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu
Từ ngày xưa, thậm chí đến ngày nay Người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn (Theo Farnsworth N.R and Soejarto D.D (1991)
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung), hoàng thảo tam bảo sắc, hoàng thảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Theo Farnsworth N.R and Soejarto D.D (1991)
Trang 13Tư liệu từ Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) cho biết, trong số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin, thì có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong tài liệu “Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ” xuất bản năm 1980 đã
đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là cây thuốc Hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài được sử dụng làm thuốc cần bảo vệ Vấn đề bảo tồn đa dạng nói chung và vào tồn cây thuốc nói riêng đang được nhiều Quốc gia và các
tổ chức quốc tế quan tâm (Theo Nguyễn Tập, 2007)
1.1.1.2 Nghiên cứu về đa dạng cây dược liệu
Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao (trong tổng số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp để làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N R Farnsworth & D D Soejarto, 1985) Con số này được ước tính từ 30.000 – 70.000 loài (Napralert, 1990) Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6.500 loài,… (N R Farnsworth, 1985; S K Alok, 1991; P G Xiao, 2006) Tại các quốc gia đang phát triển, hiện
Trang 14vẫn có một tỷ lệ lớn dân số đã hoặc đang được chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền, mà trong đó có sử dụng cây thuốc (Nguyễn Tập, 2007)
Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 – 70.000 loài cây trong số 250.000 - 300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550 – 700 loài Theo Jukovski (1971), có 12 trung tâm đa dạng sinh học cây trồng trên thế giới là Trung Quốc – Nhật Bản, Đông Dương – Indonesia, Châu úc, ấn Độ, Trung á, Cận Đông, Địa Trung Hải, Châu Phi, Châu Âu – Siberi, Nam Mexico, Nam Mỹ và Bắc Mỹ Nhiều loài cây thuốc đã được thuần dưỡng và trồng trọt từ lâu đời tại các trung tâm đó như Gai dầu, Thuốc phiện, Nhân sâm, Đinh hương, Nhục đậu khấu, Quế xây lan, Bạc hà, Canh kina, v.v… (Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích, 2018)
Theo các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập
cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung) lan thạc hộc tía, hoàng thảo tam bảo sắc, hoàng tảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người
Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Farnsworth N.R and Soejarto D.D., 1991)
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc,… Người dân bản xứ Mexico từ nhiều nghìn
Trang 15năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng sinh Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu, v.v… ; người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo trong khoảng thời gian gần 5.000 năm trước đây với 365 vị thuốc; người ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hindu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây cỏ gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… (Dẫn theo Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích, 2018)
Manju Panghal và cs (2010), nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ Kết quả cho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật Trong đó có 19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng để chữa trị các bệnh khác Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16 loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi (16%) và 1 loài thân bò (2%) Những họ có số loài nhiều nhất là họ Đậu (Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có 3 loài
Koushalya Nandan Singh (2013), nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn Độ Kết quả ghi nhận có 86 loài thực vật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc về các họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae Hầu hết các loại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái cây và dịch triết Trong số các bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử dụng phổ biến, tiếp theo là hoa
Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản
Trang 16ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và
bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại
Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội
dung đề cấp là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ
bản, công dụng và thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006)
Parinitha M và cs (2005), nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm Mười hai tuyên bố mới về
Trang 17kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn (Farnsworth N.R and Soejarto D.D., 1991)
Rey G Tantiado (2012), nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tại Iloilo, Philippines Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92 chi và 44 họ Bộ phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả, 10% số loài dùng thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài dùng cả cây và 2% số loài dùng hạt
Gidey Yirga (2010), điều tra tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại phía Bắc Ethiopia Kết quả thống kê có 16 loài cây được sử dụng để trị các bệnh cho người Phần lớn các loài cây (68,75 %) cây hoang dại và gây trồng được sử dụng lá Mahwasane và cs (2013), điều tra thi thức bản địa sử dụng cây thuốc của các thầy lang tại khu vực Lwamondo, tỉnh Limpopo, Nam Phi Kết quả điều tra cho thấy có 16 loài cây thuốc, thuộc 7 họ và 14 chi Họ Đậu (Fabaceae) có số lượng loài nhiều nhất (43,8%), tiếp theo là họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) với 18.8%
Rễ được sử dụng nhiều nhất (44,5%), tiếp theo là lá (25,9%), vỏ (14,8%), cả cây (11%), và hoa (3,7%)
Gangwar và cs (2010), nghiên cứu đa dạng thực vật dân tộc tại huyện Kumaun Himalaya, bang Uttarakhand, Ấn độ Kết quả cho thấy các loài cây thuốc dân tộc truyền thống rất đa dạng Đã thống kê được 102 loài cây thuộc 48 họ được sử dụng như là cây thuốc truyền thống của người dân bản địa, số loài thuộc các họ được thống kê từ cao tới thấp là: các họ Asteraceae, Limiaceae và Rosaceae (mỗi họ có 9 loài) tiếp theo là các họ Solanaceae và Poaceae (4 loài); Araceae, Euphorbiaceae, Polygonaceae, Ranunculaceae, Scrophularaceae và
Trang 18Valerianaceae (3 loài mỗi họ); Apiaceae, Apocynaceae, Liliaceae, Meliaceae, Moraceae, Pinaceae, Plantaginaceae, Rutaceae, Saxiferagaceae, Verbenaceae và Zingiberaceae (2 loài mỗi họ); và 25 họ khác (mỗi họ 1 loài) Về dạng sống, có
50 loài cây thân thảo, 24 loài cây bụi, 22 loài cây gỗ, thân bò và dây leo mỗi dạng có 3 loài Bộ phận sử dụng, có 21 loài sử dụng cả cây; 43 loài sử dụng một vài bộ phận (nhiều hơn 1 bộ phận như lá, cành và rễ, thân, rễ và vỏ…); 14 loài sử dụng rễ; 8 loài sử dụng lá; 4 loài sử dụng quả; vỏ, thân ngầm và hạt mỗi loại có 3 loài; 2 loài sử dụng thân và 1 loài sử dụng hoa
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát Đặc biệt là nước nhân dân sống gần đó mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất
Nguyễn Tập (2007), trong cuốn “Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam” giới thiệu chung về nguồn tài nguyên cây thuốc và vấn đề bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam hiện nay Tài liệu đề cập danh sách 144 loài, thuộc 93 chi, 57 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 18 loài ở bậc Cực kỳ nguy cấp (CR), 57 loài Đang bị nguy cấp (EN) và 69 loài Sắp bị nguy cấp (VU) Trong số đó tác giả chọn ra 102 loài tiêu biểu đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau để giới thiệu về đặc điểm hình thái cơ bản, phân bố, đặc điểm sinh thái, tái sinh, hiện trạng, giá trị bảo tồn, biện pháp bảo tồn Tài liệu nhằm góp phần vào những nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn
Trang 19chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng
Nguyễn Văn Tập (2006), tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền (2000), tại xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết
về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức
độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc
Trong công trình cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo (2003) đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc
Trang 20Trong 2 năm 2004-2005, Ngô Quý Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự
án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển
Đỗ Hoàng Sơn và cs (2009), đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác,
sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có
459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là:
Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc
vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn
Theo Nguyễn Văn Tập, 2005, trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả
Trang 21Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng
(Coscinium fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đằng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá
mức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác
Một số loài thuộc nhóm này như Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh
lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt
chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2005)
Ninh Khắc Bản và cộng sự (2013), nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã Kết quả thống kê cho thấy, các loài cây thuốc dùng để chữa bệnh không những đa dạng về thành phần loài (249 loài thuộc 82 họ của người Cơ Tu,
27 loài thuộc 21 họ của người Vân Kiều), về dạng sống (thân thảo 61,0%, dạng
gỗ, bụi 39,0%), về bộ phận sử dụng (người Cơ Tu sử dụng làm thuốc vẫn là cành, lá 77 loài chiếm 31%; tiếp đến là cả cây 73 loài chiếm 30%; rễ, củ 68 cây
Trang 22chiếm 28%; hoa quả 15 loài chiếm 7%; các bộ phận khác 9 loài chiếm 4% Người Vân Kiều sử dụng rễ củ 13 loài chiếm 42%; cành lá 8 loài chiếm 26%; cả cây 5 loài chiếm 16%; các bộ phận khác (nhựa, dịch thân, ) 4 loài chiếm 13% và hoa quả 1 loài chiếm 3%) mà còn đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị (11 nhóm bệnh)
Bùi Văn Hướng và cộng sự (2013), nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai Qua điều tra nghiên cứu, bước đầu đã xác định được 145 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 112 chi và
61 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là Ngọc lan (Magnoliophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông đất (Lycopodiophyta) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 53 họ, chiếm 86,9%; 105 chi, chiếm 93,8% và
137 loài, chiếm 94,5% so với tổng số họ, chi, loài cây thuốc đã điều tra Về dạng sống của cây thuốc thì nhóm cây bụi với 62 loài, chiếm 42,8%; tiếp đến là nhóm cây thân thảo với 31 loài, chiếm 21,4%; nhóm cây dây leo với 25 loài, chiếm 17,2%; nhóm cây gỗ với 21 loài, chiếm 14,5% và cuối cùng là nhóm cây thân rễ với 6 loài, chiếm 4,1% tổng số loài cây thuốc đã điều tra được Trong các bộ phận của cây thuốc, rễ là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với 51 loài chiếm 35,2%; thân với 33 loài chiếm 22,8%; lá và cả cây được sử dụng với tỷ lệ bằng nhau là 17,2% Các bộ phận khác như: Vỏ, củ, quả tuy được sử dụng nhưng tỷ lệ không đáng kể Có 13 nhóm bệnh chủ yếu được chữa trị bằng cây thuốc bản địa với kiến thức của đồng bào dân tộc Trong đó, nhóm bệnh về tiêu hoá là nhiều nhất với 14 loài chiếm 9,7%; tiếp đến là nhóm bệnh phụ nữ với 13 loài, chiếm 9,0% Các bệnh về ngoài da và động vật côn trùng cắn có số loài lần lượt là 12 loài, chiếm 8,3% và 9 loài, chiếm 6,2% Một số bệnh về răng và dạ dày tỷ lệ sử dụng cây thuốc để chữa trị là khá ít
Võ Văn Minh và cộng sự (2014), nghiên cứu cây thuốc của người Hre tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Kết quả đã điều tra xác định được 45 loài cây thuốc, thuộc 26 họ, thông qua việc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của cộng
Trang 23đồng người Hre huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi Trong đó có 2 loài thuốc quý trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, 6 loài quý theo kiến thức bản địa của người dân Cây thuốc được khai thác chủ yếu từ tự nhiên (84,44%), kiến thức bản địa phong phú thể hiện ở kinh nghiệm sử dụng để chữa trị 12 nhóm bệnh khác nhau, số lượng các loài cây thuốc được sử dụng chữa các nhóm bệnh cơ - xương
- khớp, thận, nội tiết, gan là nhiều nhất Cách thức chế biến sử dụng khá đa dạng
Những loài cây thuốc quý cần ưu tiên bảo tồn là Ba kích (Morinda officinalis), Thổ phục linh (Smilax glabre), Sa nhân tím (Amomum longiligulare)
Lê Thanh Hương và cộng sự (2012), đánh giá thực trạng cây thuốc quý
hiếm tại tỉnh Thái Nguyên, kết quả bước đầu đã xác định được 25 loài thực vật
bậc cao có mạch sử dụng làm thuốc cần đươc phải bảo tồn Trong đó, theo Sách
đỏ Việt Nam có 20 loài (cấp EN có 6 loài, cấp VU có 11 loài và cấp K có 3 loài); theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP có 6 loài (1 loài ở mức độ nghiêm cấm khai thác sử dụng - IA và 5 loài hạn chế khai thác sử dụng - IIA); theo Danh lục đỏ cây thuốc có 15 loài (cấp EN có 10 loài và cấp VU có 5 loài)
Theo Nguyễn Thế Cường và cs (2015), bổ sung một số kết quả điều
tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang, đã thống kê được 275 loài cây thuốc thuộc 204 chi và 96 họ thực vật bậc cao có mạch được người Dao và người Tày sử dụng để làm thuốc trị bệnh
1.1.2.2 Nghiên cứu đa dạng cây dược liệu tại Việt Nam
Để khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam, từ nhiều chục năm trở lại đây, các ngành Y tế, Lâm nghiệp, Sinh học đã có nhiều đợt điều tra cơ bản Trong đó đáng chú ý nhất có công tác điều tra nghiên cứu của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, đã được tiến hành một cách tương đối có hệ thống ở tất cả các địa phương trên phạm vi toàn quốc Kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận được ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp (kể cả nấm),
Trang 24trong số 3.948 loài cây thuốc đã biết có trên 3.500 loài (hơn 90%) là cây mọc tự nhiên, mọc chủ yếu trong các quần xã rừng Trong số 3.948 loài cây thuốc, phần lớn được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương Hiện đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu (Theo Nguyễn Tập, 2007)
Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch
Mã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt Theo thống kê của ngành Dược, cả nước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa Có 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần 4.000 cơ sở chuẩn trị đông y Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong sách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng như các cây thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền khoảng 30.000 tấn/năm
Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nghiên cứu cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai Hiện nay, nhiều loài cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng
do lạm dụng khai thác quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra,
Trang 25tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây
cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây
thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu
của Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô
Trong tài liệu: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2004), bao gồm có 2 phần: Phần I tác giả trình bày một số chú ý khi sử dụng thuốc nam; cơ sở lý luận về tìm thuốc và tác dụng thuốc theo đông y; bào chế thuốc theo đông y; cơ sở để xem xét tác dụng của thuốc theo khoa học hiện đại;
kê đơn thuốc đông y Phần II: Những cây thuốc và vị thuốc bao gồm có 20 nhóm cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh khác nhau, các cây thuốc trong mỗi nhóm được
mô tả hình dạng, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược
lý, công dụng và liều dùng
Số loài cây thuốc được phát hiện ở Việt Nam tăng liên tục theo thời gian Trước năm 1952, toàn Đông Dương có 1.350 loài cây làm thuốc, GS Đỗ Tất Lợi (2004) giới thiệu 800 cây, con và vị thuốc Viện Dược liệu (2003) Việt Nam có
Trang 263.850 loài cây thuốc Tính đến nay theo thống kê của Viện Dược liệu đã ghi nhận 5.117 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam Trong số đó, có khoảng 70 loài có tiềm năng khai thác với tổng trữ lượng khoảng 18.000 tấn/năm như diếp cá (5.000 tấn), cẩu tích (1.500 tấn), lạc tiên (1.500 tấn), rau đắng đất (1.500 tấn) Dự đoán, nếu được khảo sát đầy đủ, số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể là 6.000 loài Những năm gần đây, nhiều loài cây thuốc hoang dại đã được nghiên cứu và đã trở thành những dược phẩm có giá trị chữa bệnh và kinh tế như Chè dây, Giảo cổ lam, Thìa xanh, Diệp hạ châu, Cà gai leo, Sâm Ngọc Linh… Song song với sự phát hiện và đưa vào sử dụng cây thuốc ngày càng nhiều, thì sự mất đi về nguồn gen cây thuốc và các tri thức sử dụng cây thuốc do nhiều nguyên nhân khác nhau đang là thử thách lớn cho sự suy thoái về tài nguyên sinh vật nói chung và cây thuốc nói riêng (Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích, 2018)
Theo Trần Văn Ơn và cs (2018), số loài cây thuốc chính thức ở Việt Nam được thống kê hiện nay là 4.700 loài Số loài cây thuốc được phát hiện ở Việt Nam tăng liên tục theo thời gian Theo tài liệu của Pháp, trước năm 1952, toàn Đông Dương có 1.350 loài cây làm thuốc trong 160 họ thực vật Bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2004) giới thiệu 800 cây, con và vị thuốc Bộ sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 loài cây thuốc Theo số liệu điều tra của Viện dược liệu (2003), Việt Nam có 3.850 loài cây thuốc và đã mô tả khoảng 1300 loài cây, con làm thuốc trong tác phẩm “Cây thuốc và động vật làm thuốc” Có khoảng 657 loài trong
357 chi thuộc 114 họ cây có tinh dầu Dự đoán, nếu được khảo sát đầy đủ, số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể là 6.000
Chuyên đề “Tài nguyên cây thuốc” dùng cho sinh viên Đại học Dược sau khi đã học môn Thực vật dược, Dược liệu, Dược cổ truyền của Trần Văn Ơn, Lê Đình Bích (2018) đã trình bày về khái niệm tài nguyên cây thuốc, sự hình thành tài nguyên cây thuốc, đặc điểm của tài nguyên cây thuốc, tài nguyên cây thuốc ở
Trang 27Việt Nam, bảo tồn tài nguyên cây thuốc, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc và phương pháp điều tra cây thuốc
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ, củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ
ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể
Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996,
tuy mới biết được trên 10 loài thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải
đưa vào sách đỏ việt Nam
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum Roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở
vùng nhiệt đới núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có
24 loài Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng,… Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình, 2000 đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo
Trang 28vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,…
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở các địa phương, đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, làm cơ sở bảo tồn tài nguyên cây thuốc, như:
Phạm Tiến Thịnh (2015), nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học một số loài cây thuốc bản địa tại huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái, đã xác định được có 56 loài cây thuốc bản địa thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 12 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), có 6 loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và 2 loài nằm trong danh lục đỏ IUCN (2013) Xác định được phổ dạng sống của các loài cây thuốc bản địa, mô tả đặc điểm phân loại được 54 loài cây thuốc bản địa và tri thức sử dụng của chúng
Nguyễn Văn Huy (2018), nghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái, kết quả đã phát hiện và ghi nhận được tại Khu BTTN Nà Hẩu có 110 loài cây thuốc, 67 họ, của 4 ngành Thực vật bậc cao có mạch, các dạng sống gồm: nhóm cây thảo có nhiều loài nhất (42 loài), sau đó đến dây leo (29 loài), nhóm cây bụi (25 loài), nhóm cây gỗ (12 loài) và cuối cùng là nhóm cây thân gỗ (2 loài) Số loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam ( 2007) là 14 loài, trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP là 3 loài, trong Danh lục đỏ IUCN (2014) là 2 loài Đồng bào dân tộc sống trong Khu bảo tồn có nhiều kinh nghiệm trong khai thác, sơ chế và sử dụng cây thuốc, có nhiều bài thuốc quý cần được nghiên cứu, kiểm chứng để phục vụ cho việc chữa bệnh
1.1.2.3 Những nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
Theo Trần Xuân Sinh (2004), Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) là khu rừng đặc dụng, diện tích rừng tự nhiên là 11.220ha, có mục đích bảo tồn các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và bảo tồn
Trang 29các nguồn gen động thực vật, đặc biệt các loài quý hiếm và đặc hữu Ưu thế là các loài Nghiến, Trai, Đinh, Chò chỉ, Mạy tèo, Ô rô, nổi bật là ưu hợp Nghiến + Ô rô
Theo Ngô Xuân Hải và cs (2010), đã phân loại thảm thực vật Thần Sa thành
5 kiểu theo phương pháp phân loại của Thái Văn Trừng Về thành phần thực vật có
1086 loài, thuộc 645 chi và 160 họ của 5 ngành thực vật Có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP Số loài thực vật rừng trong khu hệ thực vật diễn biến theo chiều hướng giảm về số lượng và chất lượng, đặc biệt một số cá thể quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
Điền Thị Hồng (2012), nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý tại khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng tham gia đồng quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng là rất lớn (cả về nguồn lực con người, trình độ chuyên môn về bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học) Mặt khác Ban QLKBT rất cần sự tham gia của các bên liên quan để đảm bảo thực hiện công tác quản lý rừng tại Khu bảo tồn được tốt hơn; về phía các bên liên quan, qua phân
tích cho thấy họ có điều kiện để tham gia đồng quản lý Tác giả đưa ra 5 nguyên
tắc trong đồng quản lý rừng: (1) Đảm bảo tính hợp pháp; (2) Tự nguyện tham gia; (3) Bình đẳng; (4) Đảm bảo lợi ích kinh tế; (5) Đảm bảo tính bền vững
Nguyễn Duy Tùng (2014), đã nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa-Phượng Hoàng huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên, kết quả đã thống kê trong khu bảo tồn có 60 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 họ, trong đó đã thống kê được số loài quý hiếm phân bố theo tuyến, và theo trạng thái rừng
Nguyễn Thị Thoa (2014), nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ ở Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng và đã xác định được 611 loài, 344 chi, 107 họ thuộc 2 ngành thực vật thuộc 10 quần hệ và 9 phân quần hệ của 4 lớp thảm thực vật Đã xác định được 49 loài thực vật thân gỗ quý hiếm Đã sử dụng chỉ số
Trang 30Shannon - Wiener (H), chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Cd), chỉ số tương đồng (SI), chỉ số entropy Rẽnyi (H) để phân tích tính đa dạng của hệ thực vật ở đây Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên, một số yếu tố tác động đến tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn và đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật nói riêng và thực vật thân gỗ nói chung
Nguyễn Văn Tuyên (2017), nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa -
Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, vật hậu và tái sinh của loài Xoan đào, từ đó tác giả đã đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Xoan đào tại khu vực nghiên cứu như điều tiết mật độ, tạo không gian dinh dưỡng, độ tàn che thích hợp, loại bỏ những cây ít giá trị kinh tế, dây leo ảnh hưởng đến sự phát triển của loài, đặc biệt là các cây tái sinh
Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về rừng, về đa dạng sinh học cũng như những loài thực vật quý hiếm, nhưng những nghiên cứu về tài nguyên cây dược liệu thì chưa có nghiên cứu nào, vì vậy cần thiết phải có nghiên cứu về vấn đề này
Tóm lại:
Như vậy có thể thấy nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, có tính đa dạng về các kiểu rừng, hệ sinh thái, có nhiều thành phần dân tộc, có nền văn hóa đa dạng, đặc sắc, chính vì thế kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc và những kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng Tuy nhiên, những nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng còn hạn chế Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị
Trang 31giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vì vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết hiện nay
1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý: Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía Bắc, có tọa độ địa lý: 105051’05’’ đến 106008’38’’ kinh độ Đông 21045’12’’ đến
21056’30’’ vĩ độ Bắc
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Phía Nam giáp với huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 32Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính của 7 xã và một thị trấn thuộc huyện Võ Nhai gồm: Thị trấn Đình Cả, xã Phú Thượng, xã Sảng Mộc, xã Thần Sa, xã Thượng Nung, xã Nghinh Tường, xã Vũ Chấn, xã Cúc Đường Với tổng diện tích đất quy hoạch khu rừng đặc dụng là 19.913,54 ha
1.2.1.2 Địa hình địa thế
Địa hình: Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng có địa hình bị chia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành Chúng có đặc điểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chính như: địa hình đồi núi thấp; địa hình núi đá vôi và kiểu địa hình trũng nằm xen
kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất
1.2.1.3 Khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu: Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc Sơn đến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn
so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường có sương muối vào mùa đông
Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C; nhiệt
độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90C Lượng mưa trung bình năm từ 1.400 mm đến 1.600 mm
Thuỷ văn: Mật độ dòng chảy bề mặt thấp do điều kiện địa hình núi đá vôi, nhiều hang động Các-xtơ và suối ngầm Dòng chảy tương đối hẹp, độ dốc dòng chảy lớn Có suối ngầm, có sự xuất hiện đột ngột dòng chảy trên bề mặt tạo nên cảnh quan đẹp trong Khu BTTN Điều kiện khí hậu cùng với đặc điểm địa hình địa mạo tạo nên những vùng có tài nguyên động, thực vật rừng phong phú, đặc hữu và quý hiếm
1.2.1.4 Địa chất - thổ nhưỡng
Khu bảo tồn gồm 2 loại đất chính: Nhóm đất màu nâu đỏ trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá; đất có độ phì cao nên thường bị đồng bào
Trang 33phát nương làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua, tầng B phát triển mạnh và có mầu đỏ tươi rất dễ nhận biết Loại đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất: Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn, tầng đất từ mỏng đến trung bình và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi đất có độ cao dưới 300 - 600m, loại đất này có thành phần cơ giới biến động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng, trên các loại đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với trên đá phiến thạch sét, đất thuộc loại chua, kết cấu kém hơn loại đất trên
1.2.1.5 Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng: Theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể và hệ thống phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng, thảm thực vật trong khu bảo tồn do có độ cao thấp nên hầu hết các kiểu rừng đều thuộc rừng mưa nhiệt đới ẩm núi thấp Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật khác nhau, kết hợp điều kiện khí hậu và địa hình của khu vực đã tạo nên tính đa dạng, phong phú về thành phần loài thực vật ở đây Hệ động vật trong Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc khu hệ động vật vùng Đông Bắc Việt Nam Đây là hệ động vật đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Đa số các loài động vật ở đây có ưu thế là thích nghi với điều kiện địa hình hiểm trở, có khả năng vận động kiếm ăn tốt nơi địa hình phức tạp
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong khu vực có 6 dân tộc sinh sống là Tày, Dao, Nùng, Kinh,
H’Mông, Cao Lan Dân tộc Tày có số dân đông nhất (với 8.717 người, chiếm
41,72 %), sau đó đến dân tộc Dao (4.414 người, chiếm 21,12%)
Dân số nằm trong vùng đệm và vùng lõi KBT có 4.929 hộ với 20.592 nhân khẩu Mật độ đông nhất là thị trấn Đình Cả (358 người/km2), thấp nhất là xã Thần Sa (23 người/km2) Số lượng nhân khẩu tập trung đông nhất ở 5 khu
vực là Phú Thượng, thị trấn Đình Cả, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Sảng Mộc chiếm 77,68% tổng số dân Xã có số dân ít nhất là Thượng Nung với 2.193
Trang 34khẩu chiếm 10,65% Trình độ dân trí không cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế Đa số các hộ gia đình vẫn canh tác theo lối truyền thống, khai thác quá mức tài nguyên đất, tài nguyên rừng
Thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/người/năm Số hộ nghèo trong khu vực là 1.921 hộ, chiếm 39% tổng số hộ Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ, LSNG, người dân sống tại các xã thuộc khu bảo tồn chiếm trên 95% là sản xuất nông nghiệp Vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của Khu bảo tồn
Trang 35CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các loài thực vật được người dân khai thác và sử dụng làm thuốc
- Địa điểm nghiên cứu: đề tài nghiên cứu điều tra cây thuốc trên phạm
vi 5 xã gồm: Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung và Thần Sa 2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2019 đến tháng 10/2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đa dạng về tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
- Đánh giá hiện trạng khai thác, phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
- Kiến thức bản địa của người dân trong việc sử dụng, chế biến cây thuốc của cộng đồng
- Xây dựng bản đồ phân bố một số loài cây được sử dụng làm thuốc có giá trị và phổ biến
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa các tài liệu
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan đến đề tài bao gồm:
+ Các bản đồ khu vực nghiên cứu: Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình… + Các báo cáo khoa học, đề tài đã thực hiện tại khu vực liên quan đến khu hệ thực vật nói chung và các loài cây dược liệu nói riêng
+ Báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở Khu bảo tồn
Trang 36+ Các báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng hàng năm của khu bảo tồn
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Phương pháp phỏng vấn: Đối tượng phỏng vấn là người dân thường
xuyên vào rừng, cán bộ khu bảo tồn, thầy lang có am hiểu về tài nguyên cây thuốc, việc thực hiện phỏng vấn, trao đổi được thực hiện ngay trên thực địa trong quá trình đi điều tra thực địa có sự tham gia Các câu hỏi tập trung trao đổi về thành phần loài, công dụng, bộ phận sử dụng, sử dụng để chữa bệnh gì, cách chế biến, thời điểm thu hái, khu vực phân bố, thang điểm cho các loài cây trong khu vực nghiên cứu,… Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 150 người, trung bình mỗi xã phỏng vấn 30 người
- Phương pháp điều tra thực địa:
Phương pháp điều tra theo tuyến: Sử dụng bản đồ hiện trạng nhằm sơ
thám và xác định các tuyến điều tra cho từng xã chủ yếu dựa vào đường dân sinh, đường mòn làm tuyến điều tra chính Các tuyến điều tra được xác định theo 2 hướng là song song và vuông góc với đường đồng mức, cự li giữa hai tuyến khoảng 50-100m tùy vào địa hình khu vực điều tra
Tuyến điều tra thực vật được thiết kế để kiểm tra các thông tin đã được thảo luận với các cán bộ địa phương và người dân am hiểu về cây dược liệu hiện trạng phân bố, tình hình quản lý, khai thác, sử dụng
Các tuyến được bố trí điển hình (dựa trên bản đồ phân bố lý thuyết) trên các kiểu sinh cảnh được dự đoán có khả năng xuất hiện nhiều các loài dược liệu, đi qua các đai cao khác nhau, núi đá, núi đất, các kiểu thảm thực vật khác nhau, đại diện cho từng khu vực nghiên cứu Trên mỗi tuyến quan sát sang hai bên, mỗi bên 5m Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của các loài nguy, cấp quý hiếm trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng của KBT thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
Để có thể điều tra tổng thể về khu hệ thực vật rừng, nghiên cứu đã tiến hành lập 26 tuyến, chiều dài tuyến phụ thuộc vào địa hình của sinh cảnh Trên một số tuyến, thiết lập các OTC có diện tích 500m2 ở các vị trí địa hình khác
Trang 37nhau (chân núi, sườn núi, đỉnh núi) để thu thập nhưng thông tin về thành phần loài cây, mật độ cây, khả năng tái sinh của cây thuốc Vị trí các tuyến đã lập được trình bày cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Tuyến điều tra thực địa
STT
Trang 38STT