Ở nước ta, trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã có một sốnghiên cứu và thử nghiệm ở các mức độ khác nhau về tác dụng của một sốloại thảo dược như: lá trầu không, hẹ, tỏi, lá
Trang 1nuôi phổ biến là cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus), có đặc điểm thịt
trắng, chất lượng thơm ngon, năng suất cao, dễ nuôi, ít dịch bệnh, có thể nuôi
ở nhiều điều kiện môi trường với nhiều hình thức nuôi khác nhau Ở nước tanghề nuôi cá Rô phi đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương và trongtương lai Việt Nam có thể trở thành một quốc gia xuất khẩu cá Rô phi chủlực, hướng tới những thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản và một số nướcChâu Âu Dự kiến đến năm 2015, sản lượng cá rô phi đạt 150.000 tấn, tăngtrưởng trung bình 7,9%/năm [46], [54]
Cá rô phi tuy có sức đề kháng tốt nhưng khi nuôi với hình thức thâmcanh hoặc bán thâm canh, với mật độ ao nuôi cao cùng với đó là tình trạngnước trong ao bị ô nhiễm và thiếu ôxi nên cá thường mắc bệnh xuất huyết do
vi khuẩn Streptococcus sp gây ra Năm 2009, trên địa bàn các tỉnh Hải
Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội đã xuất hiệnhiện tượng cá chết hàng loạt Tại tỉnh Hải Dương tiến hành xét nghiệm mẫu
bệnh phẩm của cá thấy 7/7 mẫu bệnh phẩm nhiễm vi khuẩn Streptococcus sp.
Tuy là một loại bệnh thông thường, nhưng do tâm lí chủ quan của người dânnên vẫn gây ra những thiệt hại lớn [32], [51]
Sử dụng kháng sinh, hoá chất được xem là phương pháp truyền thống
để điều trị bệnh xuất huyết do vi khuẩn Tuy nhiên phương pháp này cónhược điểm là người nuôi thuỷ sản không tính được lượng thuốc hợp lí cầncho cá nên thường cho hoặc nhiều quá hoặc ít quá, dẫn đến vi khuẩn bị nhờnthuốc Mặt khác hiện nay đã có nhiều cảnh báo trong việc sử dụng thuốc
Trang 2kháng sinh để điều trị bệnh thuỷ sản, do tác hại lâu dài của nó đối với sứckhoẻ con người, vật nuôi và môi trường xung quanh
Trước tình hình đó đòi hỏi phải có những giải pháp mới trong phòng vàtrị bệnh trên động vật thuỷ sản nói chung, cá rô phi vằn nói riêng nhằm thaythế các loại hoá chất, kháng sinh đang được sử dụng Trong đó hướng nghiêncứu và sử dụng thảo dược đang được nhiều người quan tâm Việc sử dụngthảo dược để phòng và trị bệnh cho thuỷ sản có nhiều ưu điểm như: giá thành
rẻ, dễ sử dụng, an toàn đối với thuỷ sản, con người và môi trường xungquanh Trên thế giới, một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh,Thái lan, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã có những nghiên cứu thử nghiệm tác dụng củamột số loại thảo dược đối với một số tác nhân gây bệnh trên một số loại thủysản Ở nước ta, trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã có một sốnghiên cứu và thử nghiệm ở các mức độ khác nhau về tác dụng của một sốloại thảo dược như: lá trầu không, hẹ, tỏi, lá xoan, lá húng, … trong phòng vàtrị bệnh trên cá chép, tôm sú, cá trắm cỏ, cá rô phi vằn,… Tuy nhiên có nhiềuloại thảo dược chưa được nghiên cứu đối với nhiều tác nhân gây bệnh trênnhiều đối tượng khác nhau Trong đó có cá rô phi vằn với loại bệnh thường
gặp là bệnh xuất huyết do vi khuẩn Streptococcus sp gây nên.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá khả năng kháng
khuẩn của dịch ép một số loại thảo dược đối với vi khuẩn Streptococcus
sp gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) ”
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá, so sánh khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch
ép giữa một số loại thảo dược thông dụng và giữa thảo dược với các loạithuốc kháng sinh thường dùng Từ đó góp phần đẩy mạnh việc sử dụng thảodược và hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng và trị bệnh cho thuỷsản
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 VÀI NÉT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1.1 Chủng vi khuẩn Streptococcus sp
Theo hệ thống phân loại của Bergey (1974) [3], chủng vi khuẩn
Streptococcus sp thuộc nhóm phân loại như sau:
Giới Sinh vật nhân nguyên thủy (Procaryota)
kính khoảng 1m, tạo thành dạng chuỗi ngắn hoặc dạng song cầu khuẩn Là
vi khuẩn Gram dương, phần lớn Streptococcus là yếm khí không bắt buộc.Trong thạch sâu vi khuẩn mọc ở tất cả chiều cao của ống môi trường [4], [38]
- Đặc tính gây bệnh:
Giống Streptococcus gồm nhiều nhóm khác nhau, có khả năng gâybệnh ở người, động vật và một số loài cá Ở người, 90% bệnh nhiễm khuẩn doStreptococcus, như: bệnh tinh hồng nhiệt, viêm họng, viêm thận, bệnh viêmmàng não của trẻ sơ sinh,…v.v Ở động vật, Streptococcus gây bệnh viêm vú
bò, nhiễm liên cầu khuẩn,…v.v [4] Vi khuẩn Streptococcus sp là tác nhân
chủ yếu gây bệnh xuất huyết cho nhiều loại cá khác nhau (cá Diêu hồng, cá
Rô phi,…) Chúng có khả năng xâm nhập và làm tổn thương não cá, rồi theomáu đến làm tổn thương thận và tỳ tạng Khi quan sát tiêu bản tươi mô gan,thận, tỳ tạng của cá bệnh sẽ thấy chúng nằm rải rác hoặc tập trung thành từng
Trang 4đám trên vùng mô phết kính bên cạnh các tế bào biến dạng, cấu trúc rời rạc.
Mô thận và tỳ tạng cá bệnh có dấu hiệu xung huyết, xuất huyết và hoại tử[27]
1.1.2 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
- Vị trí phân loại như sau:
Lớp cá Xương (Actinopterygii)
Bộ cá Vược (Perciformes)
Họ cá Rô phi vằn (Cichlidae)
Loài Rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
- Đặc điểm:
Cá rô phi vằn được nuôi ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là ở cácnước nhiệt đới và cận nhiệt đới Chúng có thể sống ở nhiều môi trường nướckhác nhau như: nước mặn, nước ngọt và nước lợ; có biên độ nhiệt khá rộng;
có thể sống trong môi trường có biên độ pH rất rộng từ 5-11, nhưng thích hợpnhất là từ 6,5-8,5; có thể sống được trong môi trường thiếu ôxi và có hàmlượng amoniac khá cao,… [50], [52] Thức ăn của cá rô phi vằn khá đa dạng
và phong phú, từ các loại thức ăn tự nhiên như: phù du, mùn bã hữu cơ, tảo,côn trùng,… cho đến các loại thức ăn công nghiệp đã chế biến hoặc chưa chếbiến như: các loại cám, phụ phẩm công nghiệp,… [39], [51], [35]
- Dịch bệnh ở cá rô phi vằn:
Cá rô phi vằn là loài sống khoẻ, ít bị dịch bệnh Tuy nhiên trong thực tếkhi nuôi thâm canh với mật độ cao, môi trường bị ô nhiễm và thiếu ôxi thì cá
rô phi vằn cũng có thể bị mắc bệnh Bệnh ở cá rô phi vằn có thể do vi khuẩn,
vi rút, nấm và kí sinh trùng gây ra Đặc biệt là bệnh do vi khuẩnStreptococcus là nguyên nhân gây nên thiệt hại lớn ở cá rô phi vằn nói riêng
và cá nước ngọt nói chung, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của nghành nuôitrồng thuỷ sản trên thế giới (Stoffregen et al, 1996; Shoemaker and Klesius,1997) Ở nước ta một số dịch bệnh lớn ở cá rô phi vằn gây thiệt hại đáng kểcho các hộ nuôi thuỷ sản đã được ghi nhận Năm 2009 đã xảy ra dịch bệnh
Trang 5làm cá chết hàng loạt ở 5 tỉnh phía bắc là Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh,
Hà Nội, Quảng Ninh Theo kết luận của Trung tâm nghiên cứu, quan trắc,cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miền bắc thìtrong 51 mẫu cá rô phi vằn bị bệnh lấy ở các tỉnh và xét nghiệm thấy đều có
mặt tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Streptococcus sp Đây là vi khuẩn đặc
trưng gây bệnh cho cá rô phi vằn, vi khuẩn có mặt trong gan, thận thậm chí cảtrong não cá rô phi vằn nên khi sắp chết cá thường có biểu hiện quay trên mặtnước rồi chìm xuống đáy ao
Năm 2010 lại xuất hiện dịch bệnh lan rộng ở nhiều huyện của tỉnh HảiDương làm cá rô phi vằn chết hàng loạt Theo kết luận của Trung tâm nghiêncứu, quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu
vực miền bắc thì cá chết là do vi khuẩn Streptococcus agalactae [32], [51]
Như vậy có thể thấy rằng, hiện nay nghành công nghiệp nuôi cá rô phivằn trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng đang đối mặt với một loạibệnh nguy hiểm do vi khuẩn Streptococcus gây ra và thường được gọi là bệnhxuất huyết Bệnh thường gây chết cá với số lượng lớn, cá bị bệnh thường cókích thước đã lớn, từ 100g trở lên nên thường gây hậu quả nặng nề cho ngườinuôi Triệu chứng bệnh thường gặp là cá bị xuất huyết ở da quanh miệng cáhoặc gốc vây; các vết áp xe lớn ở vây ngực và đuôi, có thể có mủ; cá có hành
vi bất thường như bơi vòng quanh, bỏ ăn, khi giải phẫu thấy có hiện tượngtích dịch trong xoang bụng, một số trường hợp còn có dấu hiệu mắt cá lồi to
Ngoài ra khi cá bị nhiễm bệnh nặng, cá còn bị các vi khuẩn cơ hội khác
tấn công như Aeromonas sp trong nước ngọt hay Vibrio sp trong nước lợ làm
cho dịch bệnh trở nên nghiêm trọng hơn Bệnh chủ yếu lan truyền ngang từ cá
bị bệnh sang cá khỏe hoặc từ môi trường đến cá Dịch bệnh thường xảy ra khi
cá nuôi bị căng thẳng (stress) kéo dài, có thể do mật độ cao, hàm lượng ôxitrong nước thấp hoặc nhiệt độ nước tăng cao [50]
1.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO THỦY SẢN
Trang 6Thuốc kháng sinh là tất cả những chất hóa học không kể nguồn gốc(chiết xuất từ môi trường nuôi cấy vi sinh vật, bán tổng hợp hay tổng hợp) cókhả năng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn bằngcách tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyển hóa cần thiết của vi sinhvật [58].
Trong nghề nuôi thuỷ sản, một trong những nguy cơ mà người nuôithường xuyên phải đối mặt và gặp phải đó là dịch bệnh trên vật nuôi Để giảiquyết tình hình này biện pháp chủ yếu thường xuyên được áp dụng hiện nay
là sử dụng thuốc kháng sinh Hiện nay ở nước ta việc nuôi thuỷ hải sản đaphần là mang tính chất nhỏ lẻ, manh mún do các hộ gia đình tự nuôi Thuốckháng sinh và các hóa chất độc hại có thể xâm nhiễm thông qua các conđường như: môi trường (ao, hồ,…), con giống, thức ăn,… Ở những vùng cócác doanh nghiệp kinh doanh và chế biến được các công ty, doanh nghiệp thumua lại, sơ chế hoặc chế biến, đóng gói và tiêu thụ Ngoài ra ở một số nơiđược các tiểu thương thu mua thì người ta có thể sử dụng các hóa chất cấm đểbảo quản sản phẩm (phân urê) Với một quy trình sản xuất và bao tiêu sảnphẩm như vậy nên việc các sản phẩm thuỷ sản có dư lượng kháng sinh và cáchoá chất độc hại là điều khó tránh khỏi
Đối với vật nuôi nói chung và thủy sản nói riêng, nếu sử dụng một loạikháng sinh lặp lại trong một thời gian dài có thể gây ra những ảnh hưởng xấunhư: gây ra tác dụng phụ; giảm sức đề kháng; làm mất cân bằng hệ vi sinh vậtđường ruột, có thể tiêu diệt các vi sinh vật có ích tạo điều kiện cho vi sinh vật
có hại phát triển và gây ra những bệnh khác cho vật nuôi; làm cho vi khuẩn
kháng thuốc như: hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn E ictaluri
gây bệnh gan thận mủ ở cá tra đã được cảnh báo trong nhiều năm qua [32]
Việc sử dụng thủy sản có dư lượng thuốc kháng sinh và hóa chất độchại có rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn Trong đó có việc ảnh hưởng đến sức khỏengười tiêu dùng Qua thực tế người tiêu dùng có thể bị ngộ độc cấp tính khi
sử dụng những sản phẩm này với những biểu hiện thường thấy ở người bị ngộ
Trang 7độc thực phẩm như: buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, tiêu chảy,… Ngoài rangười tiêu dùng còn có thể bị ngộ độc mãn tính, phải trải qua một thời giantích lũy lâu dài mới biểu hiện triệu chứng bệnh Cụ thể như:
- Chloramphenicol gây ra các triệu chứng rối loạn đường ruột, làm rốiloạn quá trình giảm phân của tế bào máu gây nên bệnh thiếu máu, chất nàylàm suy thoái nghiêm trọng chức năng của tủy xương, làm suy yếu hệ xương
ở trẻ sơ sinh
- Oxytetracyline là dư lượng kháng sinh được phép không quá 100ppbtrong thực phẩm Nó có thể hình thành hệ vi khuẩn kháng thuốc, ảnh hưởngđến hệ miễn dịch của cơ thể
- Dẫn xuất của Nitrofuran (Furaltadone, Furanzolidone, Nitrofurazone)
có thể gây ung thư
- Kháng sinh nhóm Quinolon có thể gây ung thư da khi tích lũy lâu dài[6], [33], [35]
Mặt khác dư lượng thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại trong sảnphẩm thủy sản còn gây nên một hậu quả nữa, đó là ảnh hưởng đến uy tín vàviệc xuất khẩu các sản phẩm này sang các nước khác Ở các nước như: Mỹ,Nhật Bản, Nga, các nước EU có những quy định rất nghiêm ngặt trong việcnhập khẩu các sản phẩm thủy sản Ngoài các quy định cụ thể về dư lượng cácchất cho phép trong sản phẩm, quy định về các chất cấm sử dụng thì quy trìnhkiểm tra các lô hàng nhập khẩu diễn ra rất chặt chẽ Ở từng thời điểm, trongcác lô hàng nhập khẩu sẽ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên một mẫu sản phẩm,nếu phát hiện trong mẫu sản phẩm kiểm tra có dư lượng các chất độc hại vượtmức cho phép họ sẽ cảnh báo và nâng mức kiểm soát lên cao dần Nếu trongcác lô hàng tiếp theo vẫn tiếp tục vi phạm sẽ ngưng nhập khẩu và buộc công
ty nhập khẩu tiến hành hủy toàn bộ lô hàng Cụ thể: ngày 10/6/2011, NhậtBản đã nâng mức cảnh báo đối với mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam lên100%; tháng 7/2011, ba nhà bán lẻ của Anh là Tesco, Asda, Morrisson quyếtđịnh ngừng bán cá tra Việt Nam do phát hiện tạp chất tăng trọng Điều này
Trang 8không những ảnh hưởng đến uy tín các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của nước
ta mà còn gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành xuất khẩu thủy hải sản
và nhiều hệ lụy kéo theo đó Và đây cũng là một thách thức không nhỏ đốivới các doanh nghiệp Việt Nam trong khi nhà nước chưa có chế tài đủ mạnhcũng như các biện pháp mạnh tay để kiểm soát ngay từ đầu Bởi vì hiện nay
có một nghịch lý là trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đang laođao vì hàng xuất đi bị trả về do không đạt chuẩn thì các hóa chất độc hại vẫnđược nhập về một cách tràn lan, không hề được kiểm soát và ngăn ngừa cũngnhư hạn chế Điều này cũng dẫn đến một hậu quả nữa đó là các doanh nghiệpxuất khẩu sau khi có hàng bị trả về do không đạt chuẩn thì thay vì phải hủy,
họ lại bán các phế phẩm này cho người tiêu dùng trong nước để hạn chế thiệthại Việc làm đó chẳng khác gì đi đầu độc ngay chính người dân của mình
Do vậy để tránh những điều nghịch lý như trên trong hoàn cảnh hiện nay, nhànước và các nhà khoa học cần phải tìm ra các biện pháp đồng bộ để từng bướckhắc phục Một trong những biện có tính khả thi, mang tính chất bền vững lâudài là nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh mới sử dụng các loại thảo dược[35]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG THẢO DƯỢC
1.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trên thế giới
Việc sử dụng thảo dược để phòng và trị bệnh cho con người đã đượcnghiên cứu và áp dụng từ rất lâu Trên thế giới, những nước có ngành y học
cổ truyền phát triển và có truyền thống lâu đời trải qua hàng nghìn năm như:Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,… Tại những nước này ngành yhọc cổ truyền được nghiên cứu lâu đời với nguồn kinh nghiệm được tích lũy,chắt lọc qua nhiều thế hệ đã tạo nên một vốn kiến thức rất đồ sộ và phongphú Trong đó có rất nhiều phương thuốc trị được nhiều căn bệnh (từ nhữngbệnh đơn giản đến những bệnh nan y) ở người có sử dụng các loại thảo dược.Trong đông y, một phương thuốc có thể sử dụng kết hợp rất nhiều vị thuốckhác nhau Chính sự kết hợp tài tình đó đã tạo nên hiệu quả lớn trong việc sử
Trang 9dụng các bài thuốc đông y để phòng và trị bệnh cứu người Vậy thì con người
có thể xem như một loài động vật tiến hóa cao nhất Nếu thảo dược có thểchữa bệnh cứu người, vậy tại sao lại không phòng và chữa được bệnh chonhững động vật khác?
Trong khi đó vấn đề dư lượng thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại
đã và đang làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người, vật nuôi, môitrường xung quanh, mặt khác nó còn làm ảnh hưởng đến ngành xuất khẩuthủy sản của các nước Hơn thế nữa việc sử dụng kháng sinh từ thảo dược cónhững lợi ích thiết thực như: chi phí thấp, dễ kiếm, dễ sử dụng, an toàn vớivật nuôi, không gây hại cho con người và thân thiện với môi trường Chính vìnhững lợi ích như vậy, hiện nay có rất nhiều nước trên thế giới quan tâmnghiên cứu ứng dụng thảo mộc vào trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản Trong
đó phải kể đến những nước có ngành nuôi trồng thủy sản tương đối phát triểnnhư các nước thuộc châu Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Banglades, Thổ Nhĩ
Kỳ, Malaysia,…
Một số tác giả T Rahman, MMR Akanda, MM Rahman, MBRChowdhury đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thuốc kháng sinh và cácloại thảo dược đối với một số loại vi khuẩn gây bệnh phổ biến trên cá Thínghiệm được tiến hành với 4 loại thuốc kháng sinh là: CFCIN (Ciprofloxacin), Renamycin (Oxytetracycline), Dt – 10 (Doxycycline) và Sulfatrim(Sufadiazin + Trimethoprim) với các liều lượng 100, 75, 50 và 25 ppm; 4 loại
thảo dược là: Tỏi, Nghệ, Akand (C.gigentia) và hỗn hợp Akand + Neem (A.
indica) với các nồng độ là 2, 4, 6, 8 mg/ml Thí nghiệm tiến hành lần lượt đối
với cá bị nhiễm 1 trong 3 chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến là: Aeromonas
hydrophyla, Pseudomonas fluorescens và Edwardsiella tarda và cảm nhiễm
trên cá Thái bạc (Barbonymus gonionotus) Biện pháp chữa trị là tắm, đối với
kháng sinh tắm 3-4h/lần và 2 lần/ngày; đối với thảo dược tắm với nồng độ8mg/1ml và 2 lần/ ngày Kết quả nhận được như sau: đối với kháng sinh hiệuquả cao nhất (100% khỏi bệnh) là đối với CFCIN với liều lượng 75ppm Đối
Trang 10với thảo dược hiệu quả cao nhất (90% 2,89) là đối với tỏi với liều lượng8mg/ml Và kết quả này ngang hoặc cao hơn với kết quả của 3 loại kháng sinhcòn lại Còn kết quả thấp nhất là khi sử dụng Akand (50%2,89) Như vậybước đầu thí nghiệm đã cho kết quả tốt trong việc sử dụng thảo dược để chữabệnh trên cá [31].
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, các tác giả Hakar Turker, Arzu Birinci Yildirim vàFatma Pehlivan Karakas đã tiến hành thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của
22 loại thảo dược có ở địa phương đối với một số chủng vi khuẩn phổ biến
gây bệnh trên cá như: Aeromonas hydrophyla, Yersinia ruckeri, Lactococcus
garvieae, Streptococcus agalactiae và Enterococcus faecalis Các loại thảo
dược được chiết xuất với 2 loại dung môi là cồn và nước Kết quả dịch chiết
các loại thảo dược cho khả năng kháng khuẩn cao nhất bao gồm: Nuphar
lutea, Nymphaea alba, Stachys annua, cây kim tước chỉ Lydia, Vinca nhỏ,
Fragaria Kết quả này cho thấy có thể tiếp tục nghiên cứu các loại thảo dượctrên để cho ra sản phẩm thay thế dần thuốc kháng sinh hiện nay [27]
Ở Ấn Độ, một số tác giả Subramanian Velmurugan, ThavassimuthuCitarasu đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chiết xuất từ một số thảo dược
Murraya koenigii, Psoralea corylifolia và Quercus infectoria đối với một số
chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus và các vi khuẩn Vibrio harveyi được phân lập từ tôm trắng Ấn Độ (Fenneropenaeus
indicus) bị bệnh Biện pháp áp dụng là nghiên cứu nồng độ ức chế tổi thiểu
của chiết xuất từ các thảo dược trên đĩa thạch nghiêng có cấy vi khuẩn sau24h Sau đó thử nghiệm bằng cách trộn chiết xuất từ các thảo dược vào thức
ăn và cho tôm ăn liên tục trong 30 ngày và cứ 10 ngày một lần cho tôm tắm
trong dung dịch có pha vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi để theo dõi tỉ lệ mắc
bệnh và tỷ lệ sống sót giữa nhóm kiểm soát và nhóm đối chứng Ngoài ra thựcnghiệm cũng tiến hành kiểm tra hệ vi sinh vật đường ruột của tôm sau khi cho
ăn thức ăn có trộn thảo dược và so sánh với nhóm đối chứng Bởi vì vi sinhvật đường ruột cũng là những tác nhân cơ hội gây bệnh khi sức đề kháng của
Trang 11vật chủ bị suy giảm Kết quả cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong các thửnghiệm nói trên giữa các loại thảo dược và giữa nhóm kiểm soát với nhóm đốichứng (P < 0,05) [30].
Ngoài ra một số nước khác như Trung quốc, Thái Lan, Malaysia cũng
có những nghiên cứu về các loại thảo dược trong nước trong phòng và trịbệnh trên thủy sản nhằm mục đích hướng tới một ngành thủy sản xanh, vớimục tiêu hạn chế dư lượng thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại trong cácsản phẩm thủy sản
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong nước
Như vậy có thể thấy rằng vấn đề dư lượng thuốc kháng sinh trong nuôitrồng thủy sản là một vấn đề chung trên thế giới, trong đó có nước ta Việctồn dư thuốc kháng sinh và các hóa chất độc hại trong thủy sản không nhữngảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường xung quanh màcòn trực tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế ở trong nước, đặc biệt nước ta lại làmột nước có nền kinh tế nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng, trong đóngành nuôi trồng thủy sản với mục tiêu đến năm 2015, sản lượng thủy sản đạt3,6 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 3,5-4,0 tỷ USD và đến năm 2020 sản lượng thủysản sẽ đạt 4,5 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 5,0-5,5 tỷ USD [46]
Nước ta là một trong những đất nước từ xa xưa đã có truyền thống sửdụng thuốc đông y để chữa bệnh cho con người Với những danh y nổi tiếngqua các triều đại như: Tuệ Tĩnh (đời nhà Trần), Hải Thượng Lãn Ông – LêHữu Trác (đời nhà Hậu Lê), GS Đặng Văn Ngữ (1956) với công trình nghiêncứu tác dụng kháng khuẩn trên 500 loài cây khác nhau,…Ngoài ra với một đấtnước có nhiều dân tộc, mỗi một dân tộc lại có kinh nghiệm sử dụng các loạithảo dược khác nhau trong việc chữa bệnh cho người Chính dựa trên một nềnvăn hóa lâu đời và đa dạng như vậy nên để khắc phục và hạn chế việc sử dụngthuốc kháng sinh trên thủy sản, các nhà khoa học trong nước đã có nhữngcông trình nghiên cứu về các loại thảo dược trong việc phòng và trị bệnh chovật nuôi nói chung và thủy sản nói riêng
Trang 12Trong quá trình nuôi các loại thủy sản với kinh nghiệm của mình các
hộ nuôi trồng cũng đã sử dụng một số biện pháp đơn giản và rẻ tiền nhằm hạnchế dịch bệnh như: dùng lá xoan ngâm thả trong ao nhằm mục đích phòng vàchữa bệnh do giáp xác gây ra hoặc để hạn chế sự phát triển của trùng mặt trời(Trichodina) kí sinh và gây bệnh trên các loài cá nước ngọt Dùng tỏi trộn vàothức ăn cho cá để trị bệnh viêm ruột ở cá trắm cỏ Ngoài ra để diệt cá tạp khitẩy dọn ao ương nuôi tôm giống tôm thương phẩm người dân thường dùng rễdây thuốc cá đập dập cho ra chất nhựa trắng, sau đó ngâm trong ao có nướcsâu 15-20 cm, sau 5-10 phút cá tạp sẽ nổi lên trên
Dựa trên nguồn kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trong nước đãlần lượt nghiên cứu các loại thảo dược sẵn có, dễ tìm và rẻ tiền trong việcphòng và trị bệnh cho các loài thủy sản và đã cho một số kết quả nhất định
Một số công trình nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm về cácloại thảo mộc trong phòng và trị bệnh do vi khuẩn gây ra trên các loại thủysản đã được tiến hành Đoàn Chí Thanh và các tác giả đã nghiên cứu thửnghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh đốm đỏ trên cá trắm cỏ
giống (Ctenopharyngodon idellus) Thử nghiệm được tiến hành bằng cách
chiết xuất dịch chiết từ các loại thảo dược Tỏi (nước và cồn), lá Xoan, cây Cỏmực, Cộng sản, lá Bỏng, lá Hoàn ngọc; sau đó pha loãng ở các nồng độ khác
nhau và thử nghiệm trên đĩa có tráng vi khuẩn Aeromonas sp với mật độ
106CFU/ml Kết quả cho thấy dịch chiết từ Tỏi có kết quả tốt nhất, còn dịchchiết từ lá Xoan và cây Cỏ mực có kết quả thấp nhất (dựa vào đường kínhvòng vô khuẩn) [15] Nguyễn Anh Tuấn đã tiến hành thử nghiệm một số loạithảo dược trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá trắm cỏ
(Ctenopharyngodon idellus) Thử nghiệm được tiến hành với phương pháp
như trên và sử dụng các loại thảo dược là: Tỏi, Cỏ sữa lá nhỏ, Chó đẻ răngcưa, lá Húng, hỗn hợp lá Húng và Tỏi với các tỷ lệ khác nhau, Rau sam,Nghệ, Cỏ bạc đầu, Sài đất Kết quả cho thấy có 4 loại hợp chất là Tỏi, Cỏ sữa
lá nhỏ, Chó đẻ răng cưa, Tỏi + lá Húng có khả năng tiêu diệt chủng vi khuẩn
Trang 13phân lập được (Aeromonas sp), trong đó hợp chất được phối trộn từ Tỏi và lá
Húng với tỷ lệ 50% : 50% có khả năng kháng khuẩn cao nhất và giảm dầnxuống đối với những hợp chất còn lại [21]
Ngoài ra còn có các nghiên cứu sâu hơn của các nhà khoa học về thànhphần các chất có trong thảo mộc Điều này đã tạo điều kiện cho các cơ sở, cácnhà máy bào chế thảo dược dưới dạng chế phẩm hoặc thuốc, có sự kết hợpcủa nhiều thành phần có công dụng cao hơn và thuận tiện sử dụng hơn đối vớingười dân Một số sản phẩm do Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường vàphòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản miền Bắc thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồngthuỷ sản I bài chế như: thuốc KN-04-12 của tác giả Hà Ký là sản phẩm thuốcthảo dược của cấp nhà nước mã số KN-04-12 gồm các thành phần Tỏi, Sàiđất, Nhọ nồi, Cỏ sữa, Chó đẻ răng cưa phối trộn với vitamin và một sốkhoáng vi lượng khác Sản phẩm dùng để phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn(xuất huyết đồm đỏ, thối mang, viêm ruột) Thuốc Becanor TD1 và BecanorTD2 là 2 sản phẩm của tác giả Phan Thị Vân, gồm thành phần chính là Tỏingoài ra còn có một số thành phần khác như: vitamin và một số khoáng vilượng khác,… Sản phẩm dùng để phòng trị bệnh lở loét, đốm đỏ cho một sốloài cá nước ngọt như: cá Trắm cỏ, cá Tra, cá Ba sa, cá Chép Thuốc còn giúptăng cường sức đề kháng và phòng chống stress cho cá nuôi [47] Hai sảnphẩm này đã được Nguyễn Viết Khuê và các cộng sự thử nghiệm để điều trịbệnh đốm đỏ cho cá trắm cỏ tại các ao nuôi và lồng nuôi tại 2 tỉnh Bắc Ninh
và Thái Nguyên từ tháng 3/2008-10/2009 Kết quả cho thấy sau khi sử dụng 2sản phẩm này để điều trị bệnh cho cá trắm cỏ thương phẩm thì tỷ lệ cá sốngtrong các ao/lồng nuôi cao hơn so với ao/lồng nuôi đối chứng [35]
Bùi Quang Tề (2005) đã nghiên cứu chế phẩm VTS1 – C và VTS1 – T
là 2 sản phẩm phối chế từ các hoạt chất tách chiết từ tỏi, sài đất sử dụngphòng bệnh cho cá tra và tôm sú nuôi ao hoặc nuôi lồng đạt kết quả tốt, phòng
được bệnh nhiễm khuẩn do các vi khuẩn Aeromonas hydrophyla, Edwarsiella
tarda, Hafnia alvei, Vibrio harveyi, V.alginolyticus cho tôm cá [47].
Trang 14Nguyễn Quang Linh, Trần Quang Khánh Vân và các cộng sự đã nghiêncứu chế phẩm Bokashi trầu, là chế phẩm được sản xuất dựa trên công nghệchiết xuất dịch chiết từ lá trầu và lên men với các vi sinh vật có lợi, chế phẩmtạo nên có thành phần chủ yếu: eugenol, chavicol, estradiol, cadinen và cáchợp chất phenol khác từ dịch chiết lá trầu và các vi sinh vật chủ yếu thuộcnhóm Lactobacillus Chế phẩm được sử dụng bằng cách trộn vào thức ăn chothủy sản nuôi Sản phẩm vừa có khả năng kháng khuẩn, vừa có khả năng tăngcường vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa của động vật thủy sản Chếphẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên nên thân thiện với môi trường và nâng caosức đề kháng cho động vật thủy sản Ngoài ra tôm được bổ sung chế phẩm cómàu sáng hơn và vỏ kintin cứng hơn so với tôm không được bổ sung chếphẩm [36].
Một số sản phẩm chế xuất từ thảo dược đã nghiên cứu thành công vàđược thương mại hóa góp phần vào việc cùng nhà nông hướng tới quy trìnhsản xuất và nuôi trồng thủy sản xanh, sạch và bền vững Như: SDK, TS.01,
TS 999, TR 555, TS 1002,… Các sản phẩm này đã được kiểm nghiệm trongthực tế và được sự chấp nhận rộng rãi của người nuôi trồng thủy sản
Như vậy có thể thấy ở nước ta đã có những công trình nghiên cứu vềtác dụng của các loại thảo đối với các bệnh trên thủy sản nuôi cũng như cácnghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của các loại thảo dược để chiếtxuất thảo dược dưới dạng thuốc dễ sử dụng Tuy nhiên trong số các công trình
đã được công bố thì công trình nghiên cứu cề các loại thảo dược hoặc các chếphẩm từ thảo dược để phòng và trị bệnh thường gặp trên cá Rô phi vằn chưa
có Vì vậy trong đề tài này chúng tôi muốn thử nghiệm tác dụng kháng khuẩn
của dịch ép một số loại thảo dược đối với vi khuẩn Streptococcus sp gây bệnh
xuất huyết trên cá Rô phi vằn
1.3.3 Các loại thảo dược
Ở nước ta có rất nhiều loại thảo dược có khả năng chữa được bệnh Tuynhiên với mục tiêu của đề tài là hướng tới các loại thảo dược rẻ tiền, dễ tìm,
Trang 15dễ sử dụng và có hiệu quả cao đối với việc phòng và trị bệnh trên thủy sản,nên trong đề tài này chúng tôi lựa chọn các loại thảo dược dễ tìm, quen thuộc
có mặt hàng ngày trong cuộc sống của người dân
1.3.3.1 Tỏi Allium sativum L.
Thuộc họ Hành - Alliaceae
- Đặc điểm:
Cây thảo sống nhiều năm Thân thực hình trụ, phía dưới mang nhiều rễphụ, phía trên mang nhiều lá Lá cứng, hình dải, thẳng dài 15-50cm, rộng 1-2,5cm có rãnh khía, mép lá hơi ráp Ở mỗi nách lá phía gốc có một chồi nhỏsau này phát triển thành một tép Tỏi; các tép này nằm chung trong một cáibao (do các bẹ lá trước tạo ra) thành một củ Tỏi tức là thân hành (giò) củaTỏi Hoa xếp thành tán ở ngọn thân trên một cán hoa dài 55cm hay hơn Baohoa màu trắng hay hồng được bao bởi một cái mo dễ rụng, tận cùng thànhmũi nhọn dài
Hoa tháng 5-7, quả tháng 9-10
- Bộ phận dùng: Thân hành (giò) - Bulbus Allii, thường có tên là Ðại toán
- Nơi sống và thu hái: Cây của miền Trung châu Á, được gây trồng ở nhiềunước ôn đới Ở nước ta, cũng trồng nhiều, có những vùng trồng Tỏi có tiếng ởQuảng Ngãi, Hà Bắc, Hải Hưng Tỏi là gia vị rất quen thuộc trong đời sốngcủa nhân dân ta Thường ta thu hoạch vào cuối đông, đầu xuân; có thể dùngtươi hay phơi khô dùng dần
- Tác dụng dược lý:
Trong các nghiên cứu và thử nghiệm các loại thuốc chiết xuất từ dịch
ép củ Tỏi trên người bệnh đã cho thấy Tỏi có tác dụng chữa trị nhiều cănbệnh khác nhau Trong tỏi tươi có chất allicin, nhờ tác dụng của men allinazachuyển hóa aliin có sẵn trong tỏi thành allicin, là chất chủ yếu gây tác dụngđối với vi khuẩn Allicin là chất kháng sinh tự nhiên có tác dụng mạnh hơn cảpenicillin Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại
vi khuẩn gram âm và gram dương như: Staphylococcus, Streptococcus,
Trang 16samonella, V cholerae, B dysenteriae, Mycobacterium tuberculosis Tỏi
cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi trái ra, bại liệt,cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida.Trong Tỏi còn có liallyl sulfide, chất này tuy không mạnh bằng allicin nhưng
có thể tồn tại lâu hơn và giữ nguyên được dược tính khi nấu [34] Data (1948)
đã phân lập từ Tỏi một chất gọi là allistalin, có tính chất giống như allicin;Machado (1948) cũng phân lập từ Tỏi chất garcin, nó là một chất khángkhuẩn màu vàng, không có mùi lưu huỳnh, không độc, có tác dụng đến cả vikhuẩn Gram (-) và Gram (+) Garcin có thể dễ dàng hấp thu qua thành ruột và
có thể đi tới dịch não tủy, đã ứng dụng có kết quả trong nhiễm khuẩn Shigellahoặc do các bệnh ký sinh trùng như giun kim, giun đũa và giun tóc Các nhàkhoa học Mỹ đã tìm thấy chất prostagladin A trong nước Tỏi, có khả nănghạn chế bệnh nhồi máu cơ tim, hạ huyết áp, phòng bệnh xơ vữa động mạch.Các bác sĩ Nhật Bản lại nhận xét rằng do Tỏi chứa chất allixotine nên Tỏi cótác dụng chữa đau lưng, viêm khớp Ngoài ra các nghiên cứu lâm sàng cũngcho thấy Tỏi có tác dụng chữa trị được nhiều căn bệnh như: các bệnh về tai,mũi, họng; bỏng nhiễm khuẩn và vết thương có mủ; dùng Tỏi để trị các loạigiun; dùng nước ép Tỏi để trị viêm âm đạo trùng roi; chữa các bệnh về timmạch [4, tr 223-228] Theo kinh nghiệm của người dân, có thể dùng tỏi trộnvào thức ăn cho cá để trị bệnh viêm ruột ở cá Trắm cỏ
1.3.3.2 Ổi Psidium guajava L.
Hay còn có tên gọi là: Phan thạch lựu, Thu quả, Kê thỉ quả,… thuộc họSim – Myrtaceae
- Đặc điểm:
Cây nhỡ cao 5-10m Vỏ nhẵn, mỏng, khi già bong từng mảng lớn Cànhnon vuông, có nhiều lông mềm, về sau hình trụ và nhẵn Lá mọc đối, thuônhay hình trái xoan, gốc tù hay gần tròn, gân lá nổi rõ ở mặt dưới Hoa trắng,mọc đơn độc hay tập trung 2-3 cái thành cụm ở nách lá Quả mọng hình cầu,chứa rất nhiều hạt hình bầu dục Ðài hoa tồn tại trên quả
Trang 17- Bộ phận dùng: Lá, quả ổi xanh - Folium et Fructus Psidu Guajavae
- Nơi sống và thu hái: Gốc ở châu Mỹ nhiệt đới được trồng rộng rãi ở nhiềunơi, có khi gặp ở trạng thái hoang dại Các bộ phận của cây được thu háiquanh năm và phơi khô
- Tác dụng dược lý:
Đối với Ổi, một số công trình nghiên cứu về thành phần hoá học chothấy quả và lá đều chứa sitosterol, quercetin, quaijaverin, leucocyanidin vàavicularin, trong lá Ổi non và búp non còn có volatile oil, eugenol, 7-10%tanin pyrogalic, khoảng 3% nhựa Nhựa cây ổi chứa acid d-galacturonic(72,03%), d-galactose (12,05%) và l-arabinose [36], [49]
Trong đó quercetin là một flanovid có tác dụng điều trị các rối loạn nhưtiêu chảy, viêm dạ dày và các vấn đề về tiêu hóa khác Chất tanin (chất chát)làm kết tủa protein ở niêm mạc tạo thành màng bao che niêm mạc, có tácdụng làm săn se niêm mạc ruột, dạ dày, giảm tiết dịch vị và dịch ruột, giảmnhu động ruột, do đó nó có tác dụng chữa tiêu chảy Ngoài ra tanin còn có tácdụng sát trùng, chữa các vết thương bị gỉ nước lâu ngày; giải độc kim loạinặng [48] Một số nghiên cứu khác đã chứng minh chiết xuất từ lá và vỏ câycủa cây Ổi có tác dụng kháng lại một số vi khuẩn: Bacillus, Clostridium,
E.coli, Shigella, Staphylococcus, Salmonella và Pseudomonas, ngoài ra còn
có khả năng kháng lại một số nấm (Candia) [4, tr 21] Theo kinh nghiệmcủa người dân Ấn Độ, họ sử dụng nước sắc từ lá và vỏ cây Ổi để chữa cácbệnh như: tiêu chảy, lị, nôn mửa, đau họng, chữa lở loét miệng, viêm âm đạo,viêm thận, động kinh Ngoài ra họ còn dùng các lá Ổi non nhai để chữa chảymáu nướu răng, hơi thở hôi Người dân ở Braxin sử dụng Ổi để làm thuốc lợitiểu, …[58] Theo kinh nghiệm dân gian ở nước ta, lá và búp Ổi non có tácdụng chữa vết thương do chấn thương hoặc do thú, trùng cắn; vết loét lâu lành
ở chân tay; đau răng hoặc vết lở ở miệng; ho, sốt, viêm họng; tiêu chảy cấp;tiểu đường loại 2; băng huyết
Trang 181.3.3.3 Cỏ lào Eupatorium odratum L
- Cỏ lào (hay còn gọi Yến Bạch, Cỏ hôi, Cỏ Việt Minh, cây Cộng sản, câyLốp bốp, cây Ba bớp, cây phân xanh, Cỏ Nhật) thuộc chi Cỏ lào, họ Cúc -Asteraceae
- Đặc điểm:
Cỏ lào là một loại cây nhỏ mọc thành bụi, thân hình trụ thẳng cao tớihơn 2 mét, có nhiều cành Lá mọc đối, lúc non hình tam giác, dài 5-10cm,rộng 3-6cm; khi cây trưởng thành, lá biến dạng thành hình quả trám lệch Đầu
lá nhọn, mép có răng cưa thưa, có lông thưa và ngắn ở cả hai mặt lá và ngọncành Vò lá và cành non có mùi thơm hắc Cụm hoa đầu, hình trụ dài 9-11mm, đường kính 5-6mm Lúc mới nở, hoa màu xanh tím nhạt, sau trắng.Quả bé, nhỏ dài, đầu có túm lông nên có thể phát tán đi rất xa nhờ gió Mùahoa tháng 11-12 dương lịch
Ở Việt Nam, Cỏ lào phân bố nhiều nhất ở trung du, miền núi thấp, ngay
ở xã Hưng Lộc – thành phố Vinh - Nghệ An cũng thấy những bụi lớn Cỏ làomọc ven đường Cây có thể sinh sản vô tính rất mạnh, ngọn non, cành già bẻtrụi lá, cắm xuống đất chỉ một tuần sau là mọc rễ trắng Chặt cây sát gốc càngđâm chồi mạnh (Dược sỹ Trần Xuân Thuyết – CTQ số 20)
- Tác dụng dược lý:
Theo kinh nghiệm dân gian, lá Cỏ lào ở dạng tươi được dùng để đắpvết thương ngoài, giúp cầm máu và nhanh lên da non; lá non nấu nước tắm cótác dụng chữa ghẻ; lá non Cỏ lào hãm lên pha với nước đường uống có tácdụng chữa lỵ cấp tính và ỉa chảy; nước sắc Cỏ lào dùng uống chữa đau nhứcxương…
Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu y học quân sự (1976) thì lá,thân, rễ Cỏ lào đều có tác dụng chống viêm nhưng lá có tác dụng mạnh hơn
cả Nước sắc Cỏ lào có tác dụng ức chế vi khuẩn gây mủ trên vết thương và
ức chế trực khuẩn lỵ Shigella Cũng theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu yhọc quân sự (1983), ngọn non và lá bánh tẻ thu hái trong các tháng đều có
Trang 19hiệu lực như nhau Ngọn có nụ hiệu lực kháng khuẩn kém (điều này khác vớicác dược liệu khác, khi có nụ là lúc hoạt chất cao nhất) So sánh giữa dượcliệu tươi, khô và các dung môi chiết xuất khác nhau thì dược liệu tươi chiếtbằng nước nóng 80oC ít tạp chất và có hiệu lực kháng khuẩn cao nhất, so vớidược liệu khô và dung môi cồn Cao đặc và cao khô (chiết từ dược liệu tươibằng nước nóng 80oC) bảo quản được lâu (sau 1 năm không mốc) và giữnguyên hiệu lực kháng khuẩn.
Nghiên cứu kỹ thành phần hóa học của cây Cỏ lào thì trong lá, thân, rễ
Cỏ lào đều có alcaloid, tinh dầu, tanin, trong lá tinh dầu chiếm khoảng 1,5%tính theo lá tươi (Theo Đặng Hanh Khôi, Hoàng Như Mai và nhiều tác giả,1981) Cũng theo các tác giả trên thì Cỏ lào (nước sắc từ lá) có tác dụng đối
với các vi khuẩn: Staphylococcus aureus, Salmonella typhi, Bacillus proteus,
Bacillus subtilis, Shigella shigae Dịch chiết từ Cỏ lào được tinh chế thành
dạng cao có tên gọi là Eupolin – 12 dùng để điều trị các bệnh như: viêmnhiễm cấp, viêm nhiễm mãn tính liên quan đến răng, lợi (thử nghiệm củaTrương Minh Kháng, 1989) Ngoài ra Nguyễn Đình Phàn, Nguyễn Chánh vàHoàng Xuân Tuệ (1992) cũng đã thử nghiệm dùng cao Cỏ lào để điều trị vếtthương phần mềm và cũng cho kết quả tốt [49]
- Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất - Herba ecliptae
Trang 20- Nơi sống và thu hái: Loài cây liên nhiệt đới, mọc hoang ở chỗ ẩm mát khắpnơi Có thể thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô [45], [49].
- Tác dụng dược lý:
Theo các tài liệu nghiên cứu về thành phần hóa học của Cỏ mực đãđược công bố thì trong Cỏ mực có alcaloid ecliptin, nicotine, a-terthienylinethenol, a-formyl a-terthienyl; còn có tinh dầu, tanin, chất đắng,caroten, cumarin lacton Còn về tác dụng kháng khuẩn của cỏ Mực, thì Cỏ
mực có tác dụng ức chế sự nảy mầm của một vài loại nấm (Fusarium nivale,
Cephalosporum sacchari) nhưng rất yếu (theo Economic Botany vol 30, 10–
12/1976, pp 371–374) [11], [49]
Cỏ mực có độc tính thấp, thử trên chuột bạch với liều 5-80 lần liều dùng lâmsàng không thấy triệu chứng độc Thực tế lâm sàng đã dùng với liều 40-100g/ngày, kéo dài trong nhiều ngày không nhận thấy dấu hiệu ngộ độc [4, tr 56-57]
- Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Curcumae Longae, thường gọi là Khương
hoàng
- Nơi sống và thu hái:
Gốc ở Ấn Độ, được trồng lấy thân rễ làm gia vị và làm thuốc Thân rễthường được thu hái tháng 8, tháng 9, cắt bỏ hết rễ để riêng Muốn để lâu,phải hấp trong 6-12giờ, sau đó để ráo nước đem phơi nắng hay sấy khô [45]
- Tác dụng dược lý:
Trang 21Củ Nghệ được bắt đầu sử dụng trong y học Ayurveda tại Ấn Độ từkhoảng năm 1900 trước Công nguyên để chữa trị một loạt các loại bệnh tật.Nghiên cứu của các nhà khoa học vào cuối thế kỷ 20 đã xác định curcuminđóng vai trò quan trọng trong các hoạt tính sinh học của củ Nghệ [23] Theonghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho thấy curcumin có khả năng chống ungthư, chống ôxi hóa, chống viêm khớp, chống thoái hóa, chống thiếu máu cục
bộ và kháng viêm [22], [24], [29] Ngoài ra theo các nghiên cứu được tiếnhành trên chuột của UCLA Alzheimer’s Disease Center và của các nhà khoahọc Veterans Affairs đã chỉ ra rằng, hoạt chất curcumin có tác dụng làm chậmquá trình hình thành loại protein có tên “beta amyloid” trong não, đây lànguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer ở những người già
Ở nước ta có 8 loài Nghệ khác nhau, trong đó loài được sử dụng nhiều
nhất là loài Curcuma longa Theo Nguyễn Xuân Cường và Nguyễn Văn Đàn
(1977); Nguyễn Khang và nhiều tác giả (1978) thì trong Nghệ có chất màucurcumin tinh dầu, nó là một chất lỏng màu vàng nhạt, thơm, có chứaturmerol và ar-turmerol Từ tinh dầu Nghệ Việt Nam, Nguyễn Khang vànhiều tác giả (1982) đã phân lập được một vài thành phần như turmerol và ar-turmerol Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu và một số thànhphần có trong tinh dầu đã thu được kết quả là tinh dầu Nghệ, turmerol và ar-
turmerol đều có tác dụng mạnh với Mycobacterium tuberculosis H37Rv ở độ pha loãng 1 microgam/ml Tuy nhiên một số giống vi khuẩn như Klebsiella
sp, Shigella flexneri, E coli, Salmonella typhi, Bacillus mycoides, Proteus
vulgaris thì tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu và ar-turmerol không có, còn
turmerol có tác dụng kháng khuẩn trung bình Còn theo kinh nghiệm dân gianthì Nghệ có tác dụng kích thích lên da non và nhanh liền sẹo,…[11]
1.3.3.6 Húng quế Ocimum basilicum L.
Hay còn gọi là Húng giổi, É trắng thuộc họ Hoa môi – Lamiaceae
- Đặc điểm: Cây bụi nhỏ, cao tới 50-80cm, có mùi thơm đặc biệt Cànhvuông, lá đơn, mọc đối, màu lục bóng, hơi khía răng ở mép Hoa mọc thành
Trang 22chùm đơn, dài đến 20cm, gồm những vòng 5-6 hoa cách xa nhau Hoa nhỏ cótràng hoa màu trắng hay hồng, chia hai môi, môi dưới hơi tròn, còn môi trênchia thành 4 thùy đều nhau Quả bế tư, rời nhau, mỗi quả chứa 1 hạt đen,bóng có vân mạng.
- Bộ phận dùng: Toàn cây và hạt
- Nơi sống và thu hái: Loài cỏ nhiệt đới, được trồng để lấy cành làm rau ănsống như là gia vị thơm, nhưng cũng được trồng để lấy hạt làm thạch Có thểgieo hạt vào tháng 3 và trồng vào tháng 5 Thu hái vào mùa hè thu, rửa sạch
và phơi khô [49]
- Tác dụng dược lý:
Trong Húng quế có chứa tinh dầu (0,02-0,08%) có hàm lượng cao nhấtlúc cây đã ra hoa Tinh dầu có mùi thơm của Sả và Chanh Trong tinh dầu cólinalol (60%), cineol, estragol melyl - chavicol (60-70%) và nhiều chất khác[49] Tinh dầu Húng quế làm hạn chế sự phát triển của rất nhiều vi khuẩnnhư: khuẩn tụ cầu, cầu khuẩn tràng, trực khuẩn Ngoài ra Húng quế có chứaflavonoid với 2 chất orientin và vicenin, đây là 2 chất flavonoid quan trọngtan trong nước Các chất flavonoid trong húng quế này bảo vệ cấu trúc tế bàocũng như các nhiễm sắc thể từ bức xạ và ô xi hóa tự nhiên Húng quế còn cótác dụng chống viêm, giúp phòng tránh bệnh viêm khớp, những vấn đề về tuổitác và phòng ngừa bệnh ung thư [55]
Trang 23CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủng vi khuẩn Streptococcus sp được thu và lưu giữ bởi phòng thí nghiệm
cơ sở thủy sản, khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Vinh
- Các loại thảo dược:
+ Cỏ lào: được hái vào buổi sáng, ở xã Hưng Lộc – Tp Vinh – tỉnhNghệ An Bộ phận sử dụng: lá bánh tẻ
+ Tỏi: được lấy ở xã Nghi Phong – Nghi Lộc – Nghệ An Bộ phận sửdụng: củ (thân hành)
+ Cỏ mực: được hái ở xã Nghi Phong – Nghi Lộc – Nghệ An Bộ phận
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ cấy truyền, định lượng vi khuẩn: Đĩa lồng, que cấy vô trùng, quegạt, đèn cồn, pipet, kẹp gắp, tủ lạnh, tủ ấm, nồi hấp,…
- Dụng cụ lấy dịch ép thảo dược: Máy xay, chai lọ, giấy lọc…
- Hoá chất: Cồn, nước muối sinh lý, nước cất,…
- Môi trường nuôi cấy cơ bản Nutrient agar
- Giấy tẩm nước ép thảo dược đường kính 6mm
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- So sánh khả năng kháng khuẩn của dịch ép các loại thảo dược
- So sánh khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của các loại thảo dược ở
các nồng độ dịch ép khác nhau
Trang 24Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép các loại
thảo dược: Cỏ lào, Tỏi, Cỏ mực, lá Ổi, lá Húng, củ Nghệ
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của hỗn hợp thảo dược Tỏi và Húng quếvới các tỷ lệ khác nhau
- Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ bảo quản và thời gian bảo quản đếnhiệu lực kháng khuẩn của dịch ép từ lá Cỏ lào
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp lấy dịch ép thảo dược
bộ phận lá, ta lấy những lá bánh tẻ, tươi Sau đó rửa sạch, để ráo nước tựnhiên ở nhiệt độ phòng Rồi cân khối lượng lá rồi cho vào máy xay thậtnhuyễn, vắt lấy dịch ép và lọc qua lưới lọc Dịch ép được bảo quản ở nơi khôthoáng và ở nhiệt độ phòng
- Đối với Tỏi và Nghệ sử dụng bộ phận thường gọi là củ (thân hànhhoặc thân rễ), ta lấy những củ chắc, đều, đẹp Sau đó bỏ vỏ và rửa sạch, để ráonước tự nhiên ở nhiệt độ phòng Tiến hành cân khối lượng củ rồi cho vào máy
Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt
độ bảo quản và thời gian bảoquản đến hiệu lực kháng khuẩncủa dịch ép từ lá Cỏ lào
Nhận xét và kết luận
Trang 25xay thật nhuyễn, vắt lấy dịch ép và lọc qua lưới lọc Dịch ép được bảo quản ởnơi khô thoáng và ở nhiệt độ phòng.
2.3.2 Phương pháp định lượng mật độ vi khuẩn
Chuẩn bị một số ống nghiệm vô trùng, mỗi ống chứa 9ml nước muối sinhlý
Lấy 1ml mẫu nước cần nghiên cứu, đưa sang ống nghiệm thứ nhất làmđồng đều ta được độ pha loãng 10 lần (10-1)
Lấy 1ml nước ở ống nghiệm 10-1 cho vào ống nghiệm thứ 2, ta được độpha loãng 100 lần (10-2)
Cứ làm như vậy ta được độ pha loãng tiếp theo: 10-3, 10-4, …,10-n
Lấy 0,1ml nước nghiên cứu ở 2 – 3 độ pha loãng khác nhau, nuôi cấytrên đĩa thạch chứa môi trường cần thiết bằng que gạt Mỗi độ pha loãng nuôicấy trên 2 – 3 đĩa lồng
Nuôi cấy ở nhiệt độ 300C, sau 24 – 72 giờ, đem ra đếm số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch, lấy giá trị trung bình của các đĩa lồng có cùng nồng độ pha loãng
Hình 2.2 Sơ đồ các bước pha loãng nồng độ vi khuẩnMật độ vi khuẩn tính theo công thức: CFU/ml = V A.K
Trong đó:
A: Số lượng khuẩn lạc trung bình trong 1 độ pha loãngV: Thể tích dịch pha loãng được cấy gạt trên mặt đĩa thạch
Nước muối sinh lý
Vi khuẩn gốc
1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml
Trang 26Đọc kết quả , đo đường kính vòng kháng khuẩn sau 24h.
- Đường kính vòng vô khuẩn > 20mm là vi khuẩn có tính mẫn cảm caovới thảo dược
- Đường kính vòng vô khuẩn từ 11-20mm là vi khuẩn có tính mẫn cảmtrung bình với thảo dược
- Đường kính vòng vô khuẩn < 11mm là vi khuẩn có tính mẫn cảm kémvới thảo dược
- Đường kính vòng vô khuẩn = 0mm là vi khuẩn không có tính mẫncảm với thảo dược
2.3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm:
2.3.4.1 Nghiên cứu khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch
ép các loại thảo dược
- Thu lấy dịch ép các loại thảo dược
- Vi khuẩn được lưu giữ lấy ra nuôi cấy tăng sinh, sau đó xác định mật độ vikhuẩn, tiến hành thí nghiệm với mật độ vi khuẩn 106 CFU/ml
- Thử kháng sinh đồ theo phương pháp của Bauer – Kirby (1997) và đốichứng với 2 loại kháng sinh
- Giữ các đĩa lồng ở trong tủ ấm ở nhiệt độ 300C trong 24h Sau đó lấy ra và
đo đường kính vòng kháng khuẩn
Thu dịch ép từ các loại thảodược
Trang 27Hình 2.3 Sơ đồ khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép các
thảo dược với thuốc kháng sinh
- Từ thí nghiệm này, ta so sánh được hiệu quả kháng khuẩn giữa dịch ép cácloại thảo dược và các thuốc kháng sinh thường dùng
2.3.4.2 Thí nghiệm nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép các loại thảo dược pha loãng ở các nồng độ khác nhau.
- Thu lấy dịch ép các loại thảo dược
Dịch
ép từ
lá Cỏmực
Dịch
ép từláHúngquế
Dịch
ép từcủNghệ
Thuốckhángsinh BtSMX/
TMP
ThuốckhángsinhCiprofloxacin
Dịch
ép từ
củ Tỏi
Thu dung dịch vikhuẩn
Thử kháng sinh đồ
Nhận xét vàkết luận
Thu dịch ép từ các loại thảodược
Dịch
ép từ
lá Cỏmực
Dịch
ép từláHúngquế
Dịch
ép từcủNghệ
Trang 28Hình 2.4 Sơ đồ khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép các
loại thảo dược ở các nồng độ khác nhau
- Sau đó lấy một ít dịch ép pha loãng với nước cất với các tỷ lệ khác nhau lầnlượt ta được các dung dịch có nồng độ thảo dược là 100%, 50%, 25% và12,5%
- Vi khuẩn được lưu giữ lấy ra nuôi cấy tăng sinh, sau đó xác định mật độ vikhuẩn, tiến hành thí nghiệm với mật độ vi khuẩn 106 CFU/ml
- Thử kháng sinh đồ theo phương pháp của Bauer – Kirby (1997)
- Giữ các đĩa lồng ở trong tủ ấm ở nhiệt độ 30oC trong 24h Sau đó lấy ra và
đo đường kính vòng kháng khuẩn
- Từ thí nghiệm này, ta sẽ xác định được khả năng kháng vi khuẩn
Streptococcus sp ở các nồng độ của từng loại thảo dược.
Thu dung dịch vikhuẩn
Thử kháng sinh đồ
Nhận xét vàkết luận
Trang 292.3.4.3 Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của hỗn hợp 2 loại thảo dược
là Tỏi và Húng quế được trộn với các tỷ lệ khác nhau
Hình 2.5 Sơ đồ khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của hỗn hợp Tỏi
và Húng quế với các tỷ lệ khác nhau
- Từ thí nghiệm 2 ta chọn được nồng độ dung dịch tối ưu cho 2 loại thảodược Sau đó tiến hành pha hỗn hợp 2 dung dịch tỏi và húng quế tương ứngtheo các tỷ lệ là: 50% : 50%, 75% : 25%, 87,5% : 12,5%, 25% : 75%, 12,5% :87,5%
- Tiến hành thí nghiệm tương tự như thí nghiệm 1
- Từ đó ta rút ra được tỷ lệ pha cho hiệu quả kháng khuẩn cao nhất, đồng thời
so sánh đối chứng với 2 loại thuốc kháng sinh ở trên
Pha dịch ép của củ Tỏi và
lá Húng quế theo các tỷ lệ
50% :
50%
75% :25%
87,5% :12,5%
25% :75%
12,5% :87,5%
Thử kháng sinh đồ
Nhận xét
và kết luận
Trang 302.3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản và thời gian bảo
quản đến khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của một số loại thảo
dược (Cỏ lào)
- Từ thí nghiệm 1 ta chọn được nồng độ dung dịch tối ưu đối với Cỏ lào
- Sau đó tiến hành lấy dịch ép từ lá cây Cỏ lào và bảo quản ở các nhiệt độ
10oC, 30oC, 50oC, 70oC sau các khoảng thời gian 6h, 12h và 24h
- Tiến hành thử kháng sinh đồ
- Từ thí nghiệm này ta sẽ rút ra được ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản và thờigian bảo quản đến hiệu lực kháng khuẩn của dịch ép đối với một số thảo dượcnhư Cỏ lào
Bảo quản dịch ép lá Cỏ lào ở các nhiệt độ khácnhau, trong các thời gian khác nhau
Trang 31Hình 2.6 Sơ đồ ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian bảo quản đến khả năng
kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép lá Cỏ lào
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu
Các số liệu được phân tích và xử lí bằng phương pháp thống kê sinhhọc trên phần mềm SPSS 16.0 với phép kiểm định Ducan và phần mềm Excel2003
2.4 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ 3/2011-10/2011
Thử kháng sinh đồ
Nhận xét và kết luận
Trang 32- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm cơ sở thủy sản khoa Nông – Lâm –
Ngư trường Đại học Vinh
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép các loại thảo
dược
Theo phương pháp thử kháng sinh đồ của Bauer – Kirby (1997), tiếnhành thử nghiệm lần lượt đối với dịch ép từng loại thảo dược và đối chứng
Trang 33với hai loại thuốc kháng sinh Bt SMX/TMP (sulfamethoxazol trimethoprim)
và Ciprofloxacin, chúng tôi thu được kết quả theo bảng sau:
Bảng 3.1 Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép các loại thảodược
Tên thảo dược hoặc
thuốc kháng sinh
Đường kính vòngkháng khuẩn (mm)
Mức kháng khuẩn (theo tiêuchuẩn Bauer – Kirby, 1997)
và thấp nhất là Nghệ (kháng khuẩn kém)
Trang 3420,75 20,63
18,23
12,44 8,56
24,37 19,81
0 5 10 15 20 25
oflox acin
Loại thảo dược
Tỏi ỔI
Cỏ lào
Cỏ mực Nghệ
Bt SMX/TMP Ciprofloxacin
Hình 3.1 Đường kính vòng kháng khuẩn của các loại thảo dược
và thuốc kháng sinh
Thuốc kháng sinh là tất cả những chất hóa học không kể nguồn gốc(chiết xuất từ môi trường nuôi cấy vi sinh vật, bán tổng hợp hay tổng hợp) cókhả năng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn bằngcách tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyển hóa cần thiết của vi sinhvật [58] Còn thảo dược chứa hỗn hợp nhiều chất khác nhau nên phổ tác dụngcủa thảo dược rộng hơn so với kháng sinh Ngoài ra thuốc kháng sinh là sảnphẩm đã được tinh chế nên hàm lượng chất kháng sinh trong thuốc ở mức độcao do vậy hoàn toàn dễ hiểu khi khả năng kháng khuẩn của thuốc kháng sinh
Bt SMX/TMP cao hơn so với các loại thảo dược Tuy nhiên trong nghiên cứucủa chúng tôi thì thuốc kháng sinh Ciprofloxacin lại có tác dụng kháng khuẩnthấp hơn so với hai loại thảo dược là Tỏi và Ổi Điều này mở ra một hi vọngmới cho việc có thể thay thế hoàn toàn việc sử dụng thuốc kháng sinh để chữabệnh cho thủy sản bằng các loại thảo dược thông thường như Tỏi hoặc Ổi
3.2 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của các loại thảo dược ở
các nồng độ dịch ép khác nhau
Trang 353.2.1 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của thảo dược ở các
nồng độ dịch ép khác nhau
3.2.1.1 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép củ Tỏi
Bảng 3.2 Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép củ Tỏi ở các nồng độkhác nhau
Nồng độ thảo
dược (%)
Đường kính vòngkháng khuẩn (mm)
Mức kháng khuẩn (theo tiêuchuẩn Bauer-Kirby, 1997)
sử dụng nước cất làm dung dịch pha loãng nồng độ dịch ép (không làm ảnh
Trang 36hưởng đến hoạt chất có trong thảo dược) Vì vậy trong nghiên cứu của chúngtôi khi nồng độ thảo dược giảm dần đồng nghĩa với việc hàm lượng hoạt chấtkháng khuẩn giảm xuống và khả năng
kháng khuẩn cũng giảm, biểu hiện qua
đường kính vòng kháng khuẩn giảm
Hình 3.3 Đường kính vòng kháng khuẩn dịch ép củ Tỏi (100%)
3.2.1.2 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép lá Ổi
Bảng 3.3 Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép lá Ổi ở các nồng độkhác nhau
Nồng độ thảo
dược (%)
Đường kính vòngkháng khuẩn (mm)
Mức kháng khuẩn (theo tiêu chuẩn
Trang 37Đối với dịch ép lá Ổi ở nồng độ dịch ép 100% có tác dụng kháng vi
khuẩn Streptococcus sp cao, sau đó giảm dần ở các nồng độ thấp hơn (sai
khác có ý nghĩa thống kê với P < 0,05) Ở nồng độ dịch ép 50% và 25% cóhiệu lực kháng khuẩn trung bình, còn ở nồng độ 12,5% có hiệu lực khángkhuẩn kém Điều này được giải thích tương tự như đối với Tỏi là do hoạt chấtkháng khuẩn giảm dần khi nồng độ dịch ép giảm
Hình 3.5 Vòng kháng khuẩn dịch ép lá Ổi (100%)
3.2.1.3 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép lá Cỏ lào
Trang 38Bảng 3.4 Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép lá Cỏ lào ở các nồng độkhác nhau
Nồng độ thảo
dược (%)
Đường kính vòngkháng khuẩn (mm)
Mức kháng khuẩn (theo tiêuchuẩn Bauer-Kirby, 1997)
ép 100%, rồi giảm dần ở các nồng độ dịch ép thấp hơn Còn ở nồng độ dịch
ép 12,5% hiệu lực kháng khuẩn thấp nhất và ở mức kém (sai khác có ý nghĩathống kê với P < 0,05) Điều này cũng được lí giải là do hàm lượng hoạt chấtkháng khuẩn giảm dần khi nồng độ dịch ép giảm
Trang 39Mức kháng khuẩn (theo tiêuchuẩn Bauer-Kirby, 1997)
Trang 40Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép lá Cỏ mực
tương đối thấp Ở nồng độ dịch ép 100% có hiệu lực kháng khuẩn cao nhấtnhưng chỉ ở mức trung bình (sai khác có ý nghĩa thống kê với P < 0,05), còn
ở các nồng độ dịch ép 50%, 25% và 12,5% có khả năng kháng khuẩn giảmdần và ở mức kém Trong đó khả năng kháng khuẩn ở nồng độ dịch ép 25%
và 12,5% tương đương nhau (sai khác không có ý nghĩa thống kê với
P 0,05) Như vậy có thể thấy rằng khi giảm nồng độ dịch ép xuống 25% và12,5% thì khả năng kháng khuẩn không thay đổi Điều này có thể lí giải do
Cỏ mực có tính kháng khuẩn thấp nên khi giảm nồng độ dịch ép thảo dượccũng không làm giảm nhiều khả năng kháng khuẩn
3.2.1.5 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép củ Nghệ
Bảng 3.6 Đường kính vòng kháng khuẩn của dịch ép củ Nghệ ở các nồng độkhác nhau
Nồng độ thảo
dược (%)
Đường kính vòngkháng khuẩn (mm)
Mức kháng khuẩn (theo tiêuchuẩn Bauer-Kirby, 1997)
Đối với dịch ép từ củ Nghệ chỉ có ở nồng độ dịch ép 100% có khả năng
kháng vi khuẩn Streptococcus sp nhưng chỉ ở mức kém, còn ở các nồng độ
dịch ép pha loãng thì không có khả năng kháng khuẩn Như vậy khi giảmnồng độ dịch ép xuống thì hoàn toàn không còn khả năng kháng khuẩn Điều
này càng cho ta thấy Nghệ có tính kháng vi khuẩn Streptococcus sp yếu.
3.2.1.6 Khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp của dịch ép lá Húng
quế
Tiến hành thử nghiệm khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus sp đối
với lá Húng quế, chúng tôi thu được kết quả là ở tất cả nồng độ dịch ép (kể cảdạng dịch ép nguyên chất) thì Húng quế không có khả năng kháng vi khuẩn
Streptococcus sp Kết quả này cho ta thấy Húng quế chỉ có tác dụng đối với