Được xem là một trong những phương pháp cổ điển nhất để con ngườinhận thức sự vật và hiện tượng mang tính chất biện chứng, lý luận về Âmdương - Ngũ hành đánh dấu bước tiến quan trọng tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -NGÔ THỊ HIỀN
HµNH §èI VíI §êI SèNG V¡N HãA T¢M LINH
NG¦êI VIÖT NAM HIÖN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
VINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -NGÔ THỊ HIỀN
HµNH §èI VíI §êI SèNG V¡N HãA T¢M LINH
NG¦êI VIÖT NAM HIÖN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHÓA LUẬN Giảng viên: NGUYỄN TRUNG NGỌC
VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực củabản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của hội đồng khoahọc, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Triết học Mác – Lê nin, sự động viêncủa gia đình, bạn bè và những người thân Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, sâu
sắc của thầy giáo: Nguyễn Trung Ngọc - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi
làm khóa luận này Tất cả tình cảm đó là nguồn động lực tinh thần vô cùnglớn lao để cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho tôi Nhờ đó tôi hoàn thành tốtkhóa luận này.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự giúp đỡ quý báu này Trong một thời gian ngắn, do trình độ của bản thân còn hạn chế, nênchắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sựgóp ý chân thành của thầy cô và các bạn Kính chúc thầy cô và các bạn mạnhkhỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện Ngô Thị Hiền
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Vấn đề cơ bản của mọi triết học đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đềquan hệ giữa tư duy và tồn tại”(Ăngghen) Chừng nào con người còn tư duythì chừng đó còn mối quan hệ giữa đời sống tinh thần con người với hiện thựckhách quan vẫn còn là mối quan tâm đầu tiên Trong quá trình hình thành vàphát triển để đi tới tri thức triết học, tuy khác nhau về hoàn cảnh địa lý, lịch
sử, khác nhau về tính chất cũng như phương thức hoạt động song cả triết họcPhương Đông và triết học Phương Tây đều hướng tới một mục đích, đều cómẫu số chung đó là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học: Tư duy - Tồn tại
Xét đến cùng, mọi triết học đều nhằm trả lời những câu hỏi của thựctiễn đặt ra Học thuyết Âm dương - Ngũ hành cũng không nằm ngoài quy luật
ấy Được xem là một trong những phương pháp cổ điển nhất để con ngườinhận thức sự vật và hiện tượng mang tính chất biện chứng, lý luận về Âmdương - Ngũ hành đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy khoa học đầutiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm thần linhthượng đế mang lại
Ra đời từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ nhất trước công nguyên - Thời
kỳ còn sơ khai, mông muội của loài người, qua quá trình tồn tại, phát triểnhàng nghìn năm, với tính chất biện chứng của nó, phương pháp tư duy khoahọc trong thuyết Âm dương - Ngũ hành đã đặt một dấu mốc quan trọng Chính
vì vậy, nó đã có ảnh hưởng rộng rãi không chỉ ở đất nước Trung Hoa mà còntới các nước trên thế giới và khu vực trong đó có Việt Nam
Văn hoá Việt Nam đã tiếp nhận học thuyết Âm dương - Ngũ hành kháđầy đủ và toàn diện, cả phương diện vật chất đến phương diện tinh thần.Trong đời sống văn hoá tinh thần, trên cơ sở “Tiếp thu có chọn lọc” Việt Nam
Trang 5đã kế thừa, tiếp thu học thuyết, thấm vào thực tiễn đời sống văn hoá tâm linhkhá rõ nét.
Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế tri thức, sự phát triển của mộtquốc gia được đánh giá bằng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Tuy nhiên sứcmạnh tiềm tàng to lớn của dân tộc không thể thiếu đó là giá trị văn hoá tinhthần - đời sống tâm linh người Việt Đây được xem là thang giá trị tinh thầncao, dòng chảy xuyên suốt trong tiềm thức của con người Việc giữ gìn vàphát huy giá trị, vai trò cũng như ngăn chặn những vấn đề còn tồn tại đangđược đặt ra đối với mỗi ngành, mỗi cấp và toàn thể nhân dân
Một thực tế đã và đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay là trong quátrình đất nước mở cửa - đổi mới - thời cơ - thách thức đan xen lẫn nhau, conngười đang sống giữa những ranh giới: Thiện - ác, vật chất - tinh thần, caothượng - thấp hèn, xấu - đẹp, Các chuẩn mực đạo đức phù hợp với bản chấtnhân văn của con người dễ bị coi là không thực tế, hư ảo Thay vào đó, lốisống mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội rất có thể sẽ gia tăng, con người trôi vàodòng chảy của lối sống thực dụng, đua chen
Trong thời kỳ đầy bối rối, nhiều vấn đề đan xen, có bao nhiêu vấn đềcần giải quyết Tại sao lại nghiên cứu học thuyết Âm dương - Ngũ hành ảnhhưởng đến văn hoá tâm linh - một vấn đề nhạy cảm và đôi khi còn ít đượcquan tâm.Thực tế cho thấy: “Nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triểnkinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định xảy ra những mất cân đốinghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ
bị suy yếu”.(Tuyên bố của tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợpquốc UNESCO, năm 1998)
Chính vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìmlại những giá trị đích thực học thuyết Âm dương - Ngũ hành, đồng thời thấyđược ảnh hưởng của học thuyết tới đời sống văn hoá tâm linh người Việt trên
cả hai mặt tích cực và tiêu cực Từ đó góp phần xác định một hướng đi phát
Trang 6huy mặt tốt, hạn chế những tư tưởng lỗi thời, mê tín làm thui chột đời sốngtinh thần của con người Việt Nam trên đường đổi mới.
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan nội dung đề tài này đã có một số công trình nghiên cứu nhỏ
và vừa ở trong nước: Giáo trình triết học Mác – Lê Nin (Nhà xuất bản Chínhtrị Quốc Gia); Cơ sở văn hoá Việt Nam (Trần Quốc Vượng - Chủ biên); Triếthọc và tôn giáo phương Đông của Diane morgan, nhà xuất bản tôn giáo ;
Những bài luận văn, bài viết, những ý kiến trao đổi xoay quanh vấn đềtâm linh tôn giáo của các tác giả: “Giá trị văn hoá và những khía cạnh tích cựctrong đời sống văn hoá tâm linh” – ( Tiến sĩ Nguyễn Thái Sơn, Trưởng bộmôn triết học trường Đại học Vinh); “Vai trò tôn giáo trong đời sống xã hội” –(Tiến sĩ Đặng Thị Lan - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn); “Triếthọc, đạo đức và tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu” – (Vũ Khiêu,Giáo sư triết học); “Quan điểm của Nguyễn An Ninh về vấn đề tôn giáo”
Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đi sâu tìm hiểu ảnh hưởng thuyết Âmdương - Ngũ hành tới đời sống văn hoá tâm linh người Việt Do đó trong quátrình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã gặp những khó khăn nhất định về tài liệutham khảo, phương pháp tiếp cận Làm thế nào để đưa ra cách nhìn biệnchứng lô gíc, khoa học từ lý thuyết Âm dương - Ngũ hành đến ảnh hưởng của
nó trong đời sống, trong thực tiễn là một vấn đề không dễ Biết rằng chắc chắncòn nhiều hạn chế, thiếu sót nhưng chúng tôi mạnh dạn trình bày những suynghĩ của mình với mong muốn được khám phá, tìm tòi cái mới qua đề tàinghiên cứu này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm phân tích đánh giá ảnh hưởng của học thuyết Âm dương Ngũ hành đến đời sống con người, đặc biệt ảnh hưởng tới đời sống văn hoá
Trang 7-tâm linh người Việt để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy yếu tốtích cực và đẩy lùi những tồn tại trong đời sống văn hoá tâm linh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Làm rõ nội dung cơ bản của học thuyết Âm dương - Ngũhành
Thứ hai: Chỉ ra những giá trị của học thuyết đối với cuộc sống conngười cả về lý luận lẫn thực tiễn
Thứ ba: Nghiên cứu ảnh hưởng học thuyết Âm dương - Ngũ hành đếnđời sống văn hoá tâm linh người Việt ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực
Thứ tư: Đề ra giải pháp để phát huy vai trò tích cực và khắc phục hạnchế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành tìm hiểu ảnh hưởng họcthuyết Âm dương - Ngũ hành tới đời sống văn hóa tâm linh trong lịch sử Đặcbiệt, tiến hành khảo sát một số địa bàn trong phạm vi tỉnh Nghệ an Để thấyđược ảnh hưởng học thuyết Âm dương - Ngũ hành trong thực tiễn đời sốnghiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung, mục đích của đề tài chúng tôi đã sủ dụng tổng hợpnhiều phương pháp
Phương pháp phân tích và tổng hợp.
Thông qua quá trình phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài tiến hànhtổng hợp những vấn đề cơ bản, những nội dung chính, cốt lõi làm rõ giá trị líluận và thực tiễn của học thuyết Âm dương- Ngũ hành
Phương pháp thống kê và điều tra xã hội học.
Lí luận phải gắn với thực tiễn Để làm rõ nội dung, vấn đề cần nghiêncứu chúng tôi đã tiến hành điều tra xã hội học với cách thức tiến hành là: Phátphiếu điều tra(Kèm theo ở phần phụ lục) để chủ thể - người được phát phiếu
Trang 8điền đáp án dưới hình thức trắc nghiệm Sau khi điều tra chúng tôi thu lại sốphiếu phát ra và tổng hợp lại kết quả dưới dạng số liệu cụ thể.
Phương pháp lịch sử và lô gic.
Nội dung học thuyết Âm dương - Ngũ hành có phạm vi rộng lớn từ quákhứ, hiện tại đến tương lai Vì vậy, đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu chúngtôi phải sử dụng phương pháp lịch sử về thời gian, quá trình ra đời, phát triểncủa học thuyết Như vậy không có nghĩa là tìm hiểu cách tràn lan, vô mụcđích Để liên kết các sự kiện cũng như nội dung đề tài giữa học thuyết Âmdương - Ngũ hành ảnh hưởng tới đời sống văn hóa tâm linh người Việt chúngtôi đã sử dụng phương pháp lôgic
Tuy nhiên, các phương pháp được sử dụng trong đề tài không phải táchbiệt nhau mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
Đề tài chỉ ra ảnh hưởng của học thuyết Âm dương - Ngũ hành tới đờisống văn hoá tâm linh người Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó đề ra giải phápnhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế tiêu cực, từ đó xây dựng nềnđạo đức và lối sống văn hoá mới
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tàigồm hai chương với kết cấu cụ thể:
Chương 1 Nội dung cơ bản của thuyết Âm dương - Ngũ hành.
Chương 2 Tác động thuyết Âm dương - Ngũ hành tới đời sống văn hoá
tâm linh người Việt
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN THUYẾT ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH.
1.1 Nguồn gốc ra đời thuyết Âm dương – Ngũ hành
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh ở phương Đông thời kỳ
Cổ - Trung đại Cùng với những phát minh có tính chất vạch đường lối trêncác lĩnh vực khoa học tự nhiên, y học, thiên văn học, Nơi đây còn là quêhương của nhiều hệ thống triết học lớn – Đó là hạt nhân, nền tảng văn hoáTrung Quốc
Trong lịch sử triết học Trung Quốc có nhiều triết học gia và học thuyếtnổi tiếng Đặc biệt vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc - thời kỳ chuyển biếnchế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sự biến chuyển của xã hội đãđặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của các “kẻ sĩ” luôntranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội trongtương lai Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chủ tử” (Trăm nhà trămthầy), “Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy
đã sản sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết họclớn Đặc điểm của các trường phái này là luôn lấy con người làm trung tâmcủa sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết vấn đề chính trị - đạo đứccủa xã hội như các trường phái: Nho giáo, Mạc gia, Đạo gia, Danh gia, Phápgia Thuyết Âm dương - Ngũ hành cũng ở trong xu thế ấy Mặc dầu về tínhchất học thuyết bàn về quy luật biến hoá của vũ trụ nhưng đều hướng tới conngười và lấy con người làm trung tâm
Thuyết Âm dương - Ngũ hành ra đời rất sớm từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷthứ nhất trước công nguyên Sự ra đời của học thuyết đã đánh dấu bước tiến
bộ trong tư duy khoa học đầu tiên của con người xưa đối với sự sản sinh biếnhoá của vũ trụ Từ khi học thuyết ra đời trong tư duy của người Trung Quốc
Trang 10đã thoát khỏi sự khống chế hoàn toàn về tư tưởng do các khái niệm thượng đếquỷ thần đem lại Đây là cội nguồn của quan điểm duy vật biện chứng trong tưtưởng của người Trung Hoa Vì vậy, việc nghiên cứu học thuyết này giúpchúng ta nhận thức sâu hơn những tư tưởng triết học và những giá trị tích cựccủa nó tới đời sống con người Đặc biệt trong quá trình hình thành, phát triểnthuyết Âm dương - Ngũ hành đã tác động, ảnh hưởng tới nhiều phương diệnkinh tế, chính trị, khoa học và văn hoá trong đó có văn hoá tâm linh.
1.2 Những tư tưởng chính của thuyết Âm dương - Ngũ hành.
1.2.1 Những tư tưởng chính của thuyêt Âm dương.
Cội nguồn của âm dương có quan hệ mật thiết với cuộc sống con người.Ngay từ thời xưa, trước khi nhận định về vũ trụ con người vào thời kỳ ấu trĩ đã
có ý niệm về giống đực giống cái, việc ấy là bản năng là bước đầu của đờisống sinh lý, tình cảm Trung Quốc là một dân tộc nông nghiệp giàu tình cảm,một dân tộc có quan điểm truyền thống về luân lý xã hội, coi đầu mối nhânsinh là sinh hoạt gia đình, là tình cảm vợ chồng lại càng chú ý vấn đề nam - nữmột cách đặc biệt Chính thực tiễn cuộc sống ấy chi phối hai khái niệm Âm vàDương
Lý luận về Âm - Dương được ghi chép thành văn đầu tiên được xuấthiện trong sách “Quốc ngữ” Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho haidạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực,nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược, Hai thế lực Âm - Dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ Sách “Quốcngữ” nói rằng: “Khí của trời đất không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dânloạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không lênđược thì có động đất”
Học thuyết Âm - Dương được thể hiện sâu sắc nhất trong “Kinh dịch”,tương truyền Phục Hy (2852 trước Công nguyên) nhìn thấy bức đồ trên lưngcon long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hoá của vũ trụ, mới
Trang 11đem lẽ đó vạch thành nét Đầu tiên là một nét liền (-) tức là vạch lẻ để làm dấuchỉ khí dương và một nét đứt ( ) là vạch chẵn để làm ký hiệu cho khí âm Haivạch (-) ( ) là ký hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao hàm mọinguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương,không vật gì không được chuyển hoá bởi âm dương biến đổi cho nhau Cáchọc giả từ thời thượng cổ đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhiênbằng trực quan Dịch quan niệm vũ trụ, vận động và biến hoá không ngừng do
sự giao cảm của âm dương mà ra Đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lậpvới nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi
mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ
Theo lý thuyết trong “Kinh dịch” thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực,thái cực là nguyên nhân đầu tiên là lý của muôn vật “Dịch có thái cực sinh rahai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ” Như vậy tácgiả của kinh dịch đã quan niệm vũ trụ vạn vật đều có bản thể động Trong tháithiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinhthiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh rathái dương Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục tạo thành vòng biến hoákhông bao giờ ngưng nghỉ Ở “Kinh dịch” âm dương được quan hệ với nhau
và được quan niệm là những mặt, những hiện tượng đối lập Như trong tựnhiên: Sáng - tối, trời - đất, đông - tây; trong xã hội: Quân tử - tiểu nhân,chồng - vợ, vui – tôi, Qua các hiện tượng tự nhiên và xã hội kinh dịch đãbước đầu khẳng định: Vật nào cũng chứa âm dương trong nó “Vật hữu nhấtthái cực” (vạn vật, vật nào cũng có một thái cực, thái cực là âm dương)
Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống conngười cũng được bàn nhiều trong các tác phẩm y học, y thuật như tác phẩm
“Hoàng đế nội kinh”
Từ những quan niệm về âm dương, người Trung Quốc xưa đã đi sâuvào nghiên cứu quy luật vạn năng trong quá trình sinh thành, biến hoá và phát
Trang 12triển của mọi sự vật vũ trụ Nó trở thành một trong những công cụ đắc lực chocon người trong suốt một thời gian dài, để lại nhiều dấu ấn đậm nét cho tớingày nay Những tư tưởng triết học chủ yếu của thuyết âm dương có thể kháiquát ở những điểm sau:
Một là: Âm dương là hai mặt đối lập nhau, mâu thuẫn nhau trên nhiềuphương diện
Về tính chất: Dương thì cứng, nóng; Âm thì mềm, lạnh
Về đường đi lối về: Dương thì thăng (đi lên), Âm thì giáng (đi xuống),
“cái này đi ra thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bên trái thì cái kia dịch sangbên phải” Âm dương còn đối lập nhau cả phương vị theo tác phẩm Hoàng đếnội kinh thì khí dương lấy phía Bắc làm phương vị, lấy Nam làm tiềm phục.Nếu suy rộng ra thì những thuộc tính tương đối như: Hoạt động - trầm tính,sáng sủa - đen tối
Như vậy, vạn vật trong vũ trụ, từ cái tồn tại vô cùng lớn đến cái tồn tại
vô cùng bé đều bao hàm hai mặt Âm và Dương Cho nên, người xưa quanniệm “Dương là ánh sáng mặt trời, còn Âm là bóng tối”
Sự thống nhất giữa hai thế lực đối lập Âm - Dương trong mối tồn tạiđược gọi là thái cực
Hai là: Âm và Dương không còn có khả năng chuyển hoá cho nhau theonguyên tắc của sự đắp đối, hoán vị: Âm biến thành dương, dương biến thành
âm - “Cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất trường” Nếu chỉ một mình dươnghay chỉ một mình âm thì vũ trụ, vạn vật không thể sinh thành biến hoá được.Nếu một mặt mất đi mặt kia cũng mất theo, “dương cô thì âm tuyệt”, âmdương phải lấy nhau để làm tiền đề cho tồn tại của mình Ngay cả cái gọi âmdương cũng là tương đối vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờcũng có dương Âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau Sách Lão Tửviết: “Phúc là chỗ núp của hoạ, hoạ là chỗ dựa của phúc” Âm dương thu hút
Trang 13hoà hợp, bổ trợ nhau, mỗi yếu tố đều chứa mầm mống của yếu tố kia Mỗi yếu
tố đến cực độ sẽ thoải dần và lằm tăng hoặc sinh yếu tố kia
Ở đây, cũng phân biệt hai dạng Âm dương: Cặp âm dương xen kẽ (nếucác yếu tố của nó hiện hữu kế tiếp nhau, ví dụ ngày - đêm); Cặp âm dươngsong song (nếu các cặp của âm dương hiện hữu đồng thời, ví dụ cặp giống đực
âm bắt đầu xuất hiện đó là: Thiếu âm
Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín Có hai hìnhđen, trắng tượng trưng cho âm – dương Hai hình này tuy cách biệt, đối lậpnhau nhưng ôm lấy nhau Mặt khác chỗ hình phồng ra có một điểm trắng, chỗhình trắng phông ra có một điểm đen, chỗ hình đen phồng ra là chỗ hình trắngthót lại và ngược lại chỗ hình trắng phồng ra là hình đen thót lại
Trang 14
Theo cách đồ hoạ này thì:
Vòng tròn lớn là thái cực
Nửa trắng là thái dương
Nửa đen là thái âm
Chấm đen ở giữa phần trắng là thiếu âm
Chấm trắng ở giữa phần đen là thiếu dương
Vòng tròn lớn không thay đổi, do đó dương tiến đến đâu thì âm lùi đếnđó
Thiếu âm sinh ra ở phần lớn nhất của nửa trắng còn thiếu dương khởiphát từ phần lớn nhất của nửa đen
Quan niệm về Âm – Dương như vậy được vận dụng xem xét sự chuyểndịch của thời gian: Một đại vận, một tiểu vận, một tháng, một ngày,
Bốn là: Sự biến đổi, chuyển hoá âm dương không dẫn tới sự phát triểnnào cả Đó chỉ là sự thay đổi giữa hai trạng thái của vạn vật trong vũ trụ:Dương (động) Âm (tĩnh) mà thôi
Bởi vậy, thuyết âm dương không phải là thuyết về sự phát triển Nó làthuyết nhằm duy trì trạng thái cân bằng âm dương trong vạn vật Coi đó làtrạng thái lý tưởng của tự nhiên, của xã hội và của con người
Năm là: Theo thuyết Âm dương thì chu trình chuyển dịch của vũ trụtheo lôgíc sau:
Thái cực sinh lưỡng nghi (Âm - Dương)
Lưỡng nghi sinh tứ tượng (Thái âm, thiếu dương, thái dương, thiếu âm)
Tứ tượng sinh bát quái (Kiềm, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, thôn, đoài)Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận)
Tư tưởng triết học của Âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vậnđộng, phát triển của vạn vật Quy luật ấy là từ không rõ ràng -> rõ ràng -> sâusắc -> kịch liệt -> cao điểm -> mặt trái Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giaocảm âm dương Điều kiện sự giao cảm đó là sự vật phải “trung” và “hoà” với
Trang 15nhau Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động,phát triển không ngừng của mọi sự vật khách quan.
1.2.2 Những tư tưởng chính của thuyết ngũ hành.
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ hướng con người tới nhậnthức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thànhthuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bàn thế giới các hiện tượng trong vũ trụ
đã giúp cho họ hình thành thuyết ngũ hành
Cội nguồn ngũ hành có quan hệ với việc sùng bái năm loại vật chất tựnhiên cần thiết đó là: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Năm loại vật chất ấy luôn vậnđộng biến đổi và khi tác động vào các giác quan của con người cho ta biếtnhững biến thái về tâm lý
Ngũ hành được chép thành văn đầu tiên trong tác phẩm “Kinh thư” ởchương “Hồng phạm” để giải thích thế giới là một thể thống nhất, có trật tự
Về hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên “Hồng phạm” đề xuất “ngũ sự”
và “ngũ phúc” Ngũ sự như: Một là tướng mạo, hai là lời nói, ba là trông, bốn
là nghe, năm là suy nghĩ Ngũ phúc như: Một là thọ, hai là phúc, ba là thôngminh, bốn là hiểu đức, năm là khảo trung mệnh Trong tư tưởng này có chứađựng yếu tố duy vật, khẳng định ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của
sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: Thuỷ, hoả, kim, mộc, thổ
Sách “Lã thị xuân thu”, “Thượng thư” hay “Kinh dịch” cũng đề cập đếnhọc thuyết ngũ hành Trong “Kinh dịch” khi nói về ngũ hành các nhà toán học
và dịch học đã lý giải nó trên hai hình: Hà đồ và Lạc thư Theo “Kinh dịch”thì:
Trời lấy số 1 mà sinh thành thủ, đất lấy số 6 mà làm cho thành, trời lấy
số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinhhành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đấtlấy số 8 mà làm cho thành, đất số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làmcho thành
Trang 16Quan điểm ngũ hành và ứng dụng của nó được bàn nhiều trong tácphẩm “Hoàng đế nội kinh”.
Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được bao quát sau đây: Mọivật trong vũ trụ đều được cấu tạo từ năm yếu tố khởi thuỷ đó là:
Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ
Một là: Đây là năm yếu tố khởi nguyên của vạn vật Vạn vật biến đổi vôcùng đa dạng nhưng đều có thể quy về năm yếu tố này
Hai là: Mỗi yếu tố trong năm yếu tố đều có thể khái quát những đặctính:
Kim thì cứng, trắng, khô, cây, phương Tây
Thuỷ tượng trưng cho tính chất đen, mặn phía Bắc
Mộc tượng trưng cho tính chất xám, chua, phía Đông
Hoả tượng trưng cho tính chất đỏ, phía Nam
Thổ thì trì trụ, vàng phương chính giữa
Ba là: Năm yếu tố không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệthống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai quy luật thiên nhiên: quy luậtthứ nhất (sinh hoá cho nhau)
Trang 17Kim sinh thuỷ (Kim loại vào lò chảy nước đen).
Thuỷ sinh mộc (Nhờ nước cây xanh mọc lên)
Mộc sinh hoả (Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ)
Hoả sinh thổ (Tro tàn tích lại đất vàng thêm)
Đây là mối quan hệ ngũ hành tương sinh được biểu thị bằng mũi tênhình vòng cung màu xanh
Quy luật thứ hai: Ngũ hành tương khắc, biểu thị bằng mũi tên thẳnghình màu đỏ
Mộc khắc thổ (Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày)
Thổ khắc thuỷ (Đất đắp đê ngăn nước lũ)
Thuỷ khắc hỏa (Nước dội nhiều nhanh dập lửa)
Hoả khắc kim (Lửa lò nung chảy đồng sắt thép)
Kim khắc mộc (Thép cứng rèn dao chặt cây cỏ)
Sự tương sinh hay tương khắc bao giờ cũng qua yếu tố thổ Nói cáchkhác, thổ giữ vai trò trung gian, thống nhất bốn yếu tố: kim, mộc, thuỷ và hoả Như vậy, thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luậtmâu thuẫn đã giới thiệu trong thuyết âm dương nhưng bổ sung và làm chothuyết âm dương hoàn bị hơn
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao hàm hai phương diện giúp đỡnhau gọi là tương sinh và tương khắc Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiệntượng chế hoá biểu thị sự biến hoá phức tạp của sự vật Đó cũng là quy luậtchung về sự vận động, biến hoá của giới tự nhiên Nếu chỉ có tương sinh màkhông có tương khắc thì không thể giữ được thăng bằng, có tương khắc màkhông có tương sinh thì vạn vật không có sự sinh hoá Vì vậy, tương sinhtương khắc là hai điều kiện không thể thiếu được để duy trì thăng bằng hếtthảy của mọi sự vật
Quy luật tương sinh, tương khắc chỉ vào quan hệ của ngũ hành dướitrạng thái bình thường Còn giữa ngũ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hay
Trang 18thiên suy, thì không thể giữ gìn được cân bằng mà xảy ra trạng thái trái thườnggọi là “tương thừa tương vũ”.
1.2.3 Mối quan hệ thuyết Âm dương - Ngũ hành.
Học thuyết Âm dương - Ngũ hành được kết hợp từ rất sớm Nhân vật nổitiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết này là Trâu Diễn Ông đã dùng hệthống lý luận âm dương, ngũ hành “Tương sinh”, “Tương khắc” để giải thíchmọi vật trong trời đất và giữa nhân gian Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụngthuyết Âm dương - Ngũ hành để giải thích hiện tượng xã hội
Cuối thời chiến quốc đầu tiên Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về
sự kết hợp giữa thuyết Âm dương -Ngũ hành và mối quan hệ của chúng
Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp Âm dương - Ngũ hành để giảithích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người Theo ông giữa con người và
tự nhiên có mối quan hệ thần bí Khi giải đáp về khởi nguồn kết cấu vũ trụ,ông đã sáng tạo ra một vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ, có ý thức đạođức đó là trời Theo ông, trong vũ trụ con người là sự sáng tạo đặc biệt củavạn vật, tương hợp với trời, trời có bốn mùa, con người có tứ chi Từ thuyết
“Thiên nhiên hợp nhất” ông đã dẫn dắt ra mệnh đề “Thiên nhân cảm ứng” chorằng thiên tai là do trời cảnh báo loài người Tuy Đổng Trọng Thư đã đưa raphạm trù “Khí”, “Âm dương”, “Ngũ hành” đề giải thích quy luật biến hoá củathế giới Song ông lại cho rằng những thứ khí ấy bị ý chí của thượng đế chiphối Triết học của ông có màu sắc mục đích luận rõ nét Bên cạnh đó, ôngcòn nói trời không đổi, đạo cũng không đổi để phủ nhận sự biến hoá và pháttriển của thế giới khách quan
Hướng thứ hai: Tác phẩm “Hoàng đế nội kinh” đã sử dụng triết học Âmdương - Ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học Tác phẩm này đã dùng họcthuyết để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất Coi con người vàhoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời vàđất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời giới tự nhiên mà sinh sống được,
Trang 19con người và giới tự nhiên là tương ứng Tự nhiên có Âm dương - Ngũ hànhthì con người cũng có “thuỷ hoả” ngũ tạng Nội kinh viết “Âm dương là quyluật của trời đất tuy không thấy được nhưng chúng ta có thể hiểu được nóthông qua sự biểu hiện của Thuỷ hoả khí huyết, trong đó hoả khí thuộcdương, thuỷ huyết thuộc âm” Tác phẩm này còn dùng các quy luật Âm dương
- Ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa các phủ tạng trong cơ thể Tácphẩm đã vận dụng sự kết hợp giữa học thuyết Âm dương và học thuyết Ngũhành để giải thích các hiện tượng tự nhiên cũng như các hiện tượng trong cơthể của con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Đây là quanđiểm hoàn chỉnh và là một điển hình phép biện chứng thô sơ
Có thể khẳng định rằng: Bất cứ một học thuyết nào cũng được đánh giá,nhìn nhận ở nhiều góc độ Khi luận bàn mối quan hệ học thuyết Âm dương -Ngũ hành cũng không nằm ngoài quy luật ấy Có cái nhìn biện chứng, khoahọc về mối quan hệ học thuyết Âm dương - Ngũ hành nhưng cũng có cái nhìnphiến diện, siêu hình mang tính chất một chiều Việc xem xét nghiên cứu haikhuynh hướng trên đã làm rõ vấn đề đó Điều cốt lõi chúng ta thấy được nộidung, tính chất cũng như quá trình vận hành của hai học thuyết như thế nào
để từ đó xác định mối quan hệ giữa hai học thuyết trên lập trường chủ nghĩaduy vật Mác xít
Thực tiễn cho thấy: Học thuyết Âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượngtrong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là Âm và Dương
Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỷ cương của vạn vật, là khởi đầucủa sự sinh trưởng biến hoá Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biếnhoá, phức tạp của vật chất Khi đó nó phải dùng thuyết Ngũ hành để giải thích
Vì vậy, kết hợp học thuyết Âm dương và Ngũ hành mới có thể giải thích mọihiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý
Hai học thuyết này luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thểtách rời Muốn nhìn nhận con người một cách hoàn chỉnh, đòi hỏi phải vận
Trang 20dụng kết hợp cả hai học thuyết Âm dương và Ngũ hành Vì học thuyết Âmdương mang tính tổng thể có thể nói lên được tính độc lập thống nhất, tínhthiên lệch và cân bằng một bộ phận cơ thể con người Còn học thuyết Ngũhành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận cơthể con người và giữa con người với tự nhiên Có thể khẳng định Âm dương -Ngũ hành là một hệ thống hoàn chỉnh, giữa chúng có mối quan hệ với nhaukhông thể tách rời.
Âm dương - Ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của ngườiTrung Quốc cổ đại Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên củangười xưa để giải thích sự hình thành, biến hoá của vũ trụ Đến thời chiếnquốc, học thuyết Âm dương - Ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao
và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên Song học thuyết
Âm dương - Ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại làthế giới quan của người Trung Hoa vào một thời kỳ lịch sử với sự phát triểnkhoa học còn thấp Vì vậy học thuyết còn mang dấu ấn của tính trực quan vàtính kinh nghiệm
Tuy nhiên, học thuyết đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâusắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận dẫn đường cho một số ngành khoa học
cụ thể
Trang 21
CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH TỚI ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA TÂM LINH Ở VIỆT NAM
2.1 Những giá trị của thuyết Âm dương - Ngũ hành đối với đời sống con người.
Triết học là hệ thống lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của conngười trong thế giới ấy Lý luận và thực tiễn đã minh chứng rằng: Để chiếmlĩnh tri thức triết học, có thể mỗi học thuyết, mỗi triết gi ``a hay một cá nhânnào đó có đường đi, phương thức, hoạt động khác nhau Song tất cả đều cómột điểm chung là muốn nhận thức thế giới để từ đó cấu phục vụ cuộc sốngcon người Học thuyết Âm dương - Ngũ hành cũng không nằm ngoài mụcđích ấy
Với tư duy biện chứng duy vật sơ khai nhưng độc đáo học thuyết Âmdương - Ngũ hành đã khái quát quy luật biến đổi, phát triển của tự nhiên, xãhội Ngay từ khi ra đời và trải qua hàng nghìn năm phát triển học thuyết đã cóảnh hưởng sâu rộng trên tất cả mọi lĩnh vực từ thiên văn học, địa lý học, vật lýhọc cho đến những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người như:Đông y, tâm lý, tình cảm Sự ảnh hưởng của học thuyết không chỉ có ở TrungHoa mà còn tác động tới nền văn minh nói chung trong đó có Việt Nam
Những giá trị của học thuyết Âm dương - Ngũ hành có thể khái quáttrên một số nội dung khá rộng lớn
Hiện nay có nhiều cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau trongviệc nhận định chân giá trị phổ biến của những tư tưởng triết học Âm dương -Ngũ hành Song khó có thể bác bỏ những nhận định sau:
- Thuyết Âm dương - Ngũ hành đã thể hiện trình độ tư duy triết họckhái quát rất cao của người Trung Hoa cổ đại Họ luôn đặt vấn đề truy tìm cộinguồn khởi nguyên của vạn vật và cuối cùng đã đạt tới sự khái quát thống
Trang 22nhất, tính đa dạng của vạn vật ở 64 trạng thái quy về 8 quẻ (Càn, khôn, chấn,cấn, tốn, khảm, ly, đoài ), rồi lại quay về tứ tượng, Âm dương và cuối cùng làthái cực.
- Trên bình diện triết học, có thể quan niệm: Thái cực, lưỡng nghi, tứtượng và Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là những khái niệm, những phạm trùtriết học, khái quát những thuộc tính thống nhất, bản chất của tồn tại Giá trịcủa những khái niệm, phạm trù ấy còn là ở chỗ đạt đến một hệ thống, mộtchỉnh thể
- Giá trị lịch sử cũng như giá trị phổ biến của thuyết Âm dương - Ngũhành đã thể hiện rõ qua những ứng dụng rõ nét của học thuyết trong các lĩnhvực chuyên sâu như: Thiên văn học, lịch pháp, xã hội học của Trung Hoatrong thời cổ đại và đặc biệt giai đoạn sau Trong các ngành chuyên sâu nhưvậy Trung Hoa đã đạt tới phán đoán chính xác đôi khi vượt thời đại
- Các luận điểm của quy luật Âm dương - Ngũ hành từ xưa đến nay đã
và đang ứng dụng khá phổ biến trong một số lĩnh vực trong đời sống Sau đây
là một vài ví dụ điển hình ứng dụng học thuyết liên quan đến giới tự nhiên,sức khoẻ và bệnh tật con người
Ví dụ 1: Khi xem xét vòng đời của con người cũng được quy về Ngũ
hành: kể từ lúc mới sinh ra đó là thời kỳ của Kim Cha mẹ nuôi dưỡng, chohọc hành là quá trình tích luỹ năng lượng, quá trình hình hành một đối tượngmang tính Kim Học được thành tài bắt đầu vào đời đó là trạng thái Thuỷ.Làm được một việc gì đó là Mộc Nhân rộng nó ra là Hoả Qua công việc conngười có danh tiếng, địa vị, đó là lúc bừng lên của Hoả Nếu gặp rủi ro trongcông việc “thân bại danh liệt” con người gặp vận Thổ
Như vậy, một đời người có thể phân thành nhiều vòng ngũ hành
Ví dụ 2: Sự hình thành của phóng điện sét là một ví dụ điển hình về ngũ
hành tự nhiên
Trang 23Nắng nóng làm hơi nước bốc lên tạo thành mây Có điều kiện nhiệt độ,
độ ẩm, gió làm cho các phần tử nhỏ bé trong đám mây cọ xát nhau tạo thànhcác điện tích Lúc đó là quá trình tích tụ điện tích của đám mây - hành Kim.Khi Kim (điện tích đám mây) đã tích tụ đủ lớn thì có sự cảm ứng điện tích tráidấu đáng kể ở mặt đất bên dưới đám mây Các tia trên đạo phóng điện nhỏ lẻdần dần hình thành và vươn dài ra - hành Thuỷ Khi nghe thấy tiếng sét nổ -hành Mộc hình thành Nếu sự bảo vệ chống sét không tốt, cú sét đánh lại rơitrúng vào một mái nhà gỗ, thì căn nhà sẽ bốc lửa cháy Đó là hành Hoả Giả sửcăn nhà bị cháy rụi hoàn toàn - hành Thổ Tro tàn sẽ sinh ra từ Hoả
Qua hai ví dụ trên cho thấy thuyết Âm dương ngũ hành được vận dụngvào quy luật tự nhiên, xã hội cũng như cuộc sống con người
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay bên cạnh mặt được của cơ chế thịtrường vẫn tồn tại những yếu tố trái ngược ảnh hưởng đến sự sinh tồn, pháttriển của con người, một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu hiện nay
đó là sự bùng nổ dịch bệnh hiểm nghèo như: HIV, ung thư, tim mạch, laophổi Trên cơ sở nghiên cứu học thuyết Âm dương - Ngũ hành con người đã
áp dụng để chữa trị bệnh tật khôi phục sức khoẻ như sau: Con người là mộtđối tượng Âm dương vô cùng phức tạp biến đổi tinh vi Trong con người tồntại cặp âm dương điển hình như: Hít ra - thở vào, dị hoá - đồng hoá, tĩnhmạch- động mạch Tài sản đầu tiên, quý nhất của con người là sức khoẻ “Cósức khoẻ là có tất cả”, “sức khỏe là vàng” Tiêu chuẩn để đánh giá sức khoẻcủa mọi người trong độ tuổi lao động bao gồm các điểm sau: Hầu như khôngmệt mỏi khi thực hiện công việc, ngon miệng trong bữa ăn, ngon giấc và khingủ dậy thấy tỉnh táo, sảng khoái; vẻ mặt luôn tươi tắn trong mọi hoàn cảnhkhó khăn; khả năng giới tính bình thường Khi ai đó có một số vấn đề nêutrên không được duy trì thường xuyên thì sức khoẻ có vấn đề Người ta tinrằng, mọi bệnh tật của con người đều là hậu quả mất cân bằng Âm dương củathân thể và tâm lý Nếu sự cân bằng đó ở mức cùng cực sẽ dẫn đến các loại
Trang 24bệnh nan y, đặc biệt là bệnh ung thư - dấu hiệu cho thấy cơ thể tính chất âm.Phương pháp chữa trị tự nhiên và triệt để nhất là khôi phục lại sự quân bình
âm dương của cơ thể và tâm lý bằng cách ăn uống hợp lý và nghỉ ngơi thoảimái Điều này đòi hỏi sự kiên trì và niềm tin nhất định
Thực tế cho thấy rằng: Con người đang sử dụng nhiều loại thức ăn,nước uống với tính chất Âm dương khó xác định Bởi vậy cách đơn giản đểđạt tới quân bình trong Âm dương trong chế độ ăn uống dùng vài loại lươngthực đã qua kiểm nghiệm Theo khuyến cáo của Giáo sư Ohsawa (Nhật Bản)khi cần có thể áp dụng chế độ dinh dưỡng “Gạo nứt + muối vừng” và uống ítnước để đảm bảo sự quân bình Âm dương cho cơ thể ở mức ổn định lâu dài.Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới trong đó có Nhật, Pháp, Mỹ và ViệtNam đã chứng minh đây là chế độ ăn uống có hiệu quả để chữa bệnh từ gốc vàcải thiện sức khoẻ
Ở Việt Nam trong các bữa ăn truyền thống và hiện đại đều chú ý tới cácyếu tố không chỉ đảm bảo dinh dưỡng mà còn đảm bảo hài hoà Âm dương củathức ăn, bảo đảm sự quân bình Âm dương trong cơ thể và đồng thời bảo đảm
sự cân bằng Âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên Khi chế biếnthức ăn phải tuân thủ nghiêm ngặt luật Âm dương bù trừ và chuyển hoá khikết hợp các loại lương thực, thực phẩm, gia vị với nhau tạo thành các món ăn
có sự cân bằng Âm dương, Thuỷ - Hoả Có như vậy thức ăn mới ngon miệng
và có lợi cho sức khoẻ
Ví dụ như: Rau răm là nhiệt (dương) được ăn với trứng lộn là hàn (âm)mới dễ tiêu hoá Hoặc gừng là gia vị nhiệt (dương) có tác dụng thanh hàn, giảicảm khi nấu với các loại thực phẩm như: Cá, rau cải thì ăn rất thơm, ngon
Hay khi đau ốm người Việt Nam quan niệm là do mất quân bình âmdương thức ăn chính giúp cơ thể khỏi bệnh là cân bằng âm dương Nếu ngườibệnh ốm do quá âm thì cần phải ăn đồ ăn dương (đau bụng uống nước gừng sẽ
Trang 25khỏi) ngược lại nếu người bệnh ốm do quá dương thì phải ăn đồ âm (bệnh kiết
lị ăn trứng gà rán với là mơ )
Trong ngày lễ, tết truyền thống người Việt luôn quan niệm: Cuộc sốngphải đạt tới sự hài hoà Âm dương Chính vì vậy chúng ta thường thấy trongđám cưới Việt Nam vợ chồng trẻ thường tặng cho nhau một nắm đất và mộtnắm muối như lời thề nguyền gắn bó với nhau “Gừng cay muối mặn xin đừngquên nhau” Để cho tình cảm vợ chồng ăn đời ở kiếp với nhau ngày cướingười ta còn làm bánh phu thê: Hình tròn bọc trong khuôn hình vuông (dươngtrong âm) Bánh có ruột dừa nhân trắng, nhân đậu vàng, rắc vừng đen, khuôn
lá xanh, buộc lá đỏ - Đó là biểu tượng cho triết lý Âm dương - Ngũ hành cho
sự vẹn toàn hoà hợp của đất trời và con người
Vào ngày tết truyền thống một món ăn truyền thống trở nên quen thuộcđối với người Việt Nam đó là Bánh chưng - Sản phẩm cảu nền văn minh nôngnghiệp lúa nước Bánh chưng vừa bình dị thân thiết với người Việt, vừa thểhiện tính tư duy sâu sắc của người xưa vừa thấm đượm triết lý âm dương, tamtài, và ngũ hành Chẳng hạn như: Trong cách bố trí bánh chưng thể hiện rõtriết lý âm dương Bánh hình vuông (là âm) bên trong nhân bánh hình tròn (làdương) Cùng bao bọc nhân đậu, thịt heo (âm- dương)
Như vậy,yếu tố âm dương và ngũ hành chính là sản phẩm tiếp xúc với
tự nhiên và được con người khái quát, trừu tượng trở thành cơ sở triết lý đểkhái quát tất cả mọi sự vật và lấy đó làm quy luật căn bản của giới tự nhiên
Từ đó ứng dụng vào cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống của con người trong
Trang 26mang tính chất tương đối bởi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Đặc biệt là amhiểu đặc trưng quy luật vận hành Âm dương - Ngũ hành.
Ảnh hưởng của Âm dương - Ngũ hành không chỉ ở trong tự nhiên, sứckhoẻ con người mà thông qua học thuyết này chúng ta sẽ có cách nhìn kháchquan hơn về những vấn đề đã và đang diễn ra hiện nay Cụ thể hơn là vấn đềchính trị - xã hội Đã có rất nhiều ý kiến quan điểm khác nhau thậm chí có lúctrở nên mâu thuẫn khi luận bàn về vấn đề chế độ Tư bản chủ nghĩa và Xã hộichủ nghĩa
Vậy thông qua học thuyết Âm dương – Ngũ hành chúng ta sẽ “giải mã”vấn đề này như thế nào trên quan điểm lập trường duy vật?
Trên thế giới hiện nay người ta phân biệt các nước Tư bản chủ nghĩa vàcác nước Xã hội chủ nghĩa dựa trên tiêu chí: Các nước Tư bản chủ nghĩa nhằmthu lợi nhuận tối đa, bóc lột sức lao động Còn các nước Xã hội chủ nghĩa lạinhằm đạt được hạnh phúc tối đa cho nhân dân Thực tế cho thấy, các nước Tưbản chủ nghĩa muốn tồn tại buộc phải có nhiều chính sách phúc lợi cho nhândân của họ và các nước Xã hội chủ nghĩa để đảm bảo quyền lợi đem hạnhphúc cho nhân dân thì phải phát triển kinh tế thị trường Điều này chứng tỏcho dù là chế độ nào muốn ổn đinh phát triển nhịp nhàng thì phải đi bằng haichân Một mặt phải dùng cơ chế thị trường để giàu lên càng nhanh càng tốt,mặt khác phải chú trọng nâng cao phúc lợi cho nhân dân Trong hai mặt này,bất cứ mặt nào bị lãng quên đều dẫn đến bế tắc trì trệ, khủng hoảng Còn nếuhai mặt được chú ý đúng mức thì Tư bản chủ nghĩa hay Chủ nghĩa xã hội đều
có thể tồn tại và phát triển được Bởi vậy việc phân biệt các nước Tư bản chủnghĩa và Xã hội chủ nghĩa về khía cạnh nào đó có tính chất chủ quan Từ đóĐảng và Nhà nước ta đã xác định trong đường lối chiến lược cụ thể: “Xâydựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” Có nhưvậy mới có thể đem lại hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng một nhà nước:
Trang 27“Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ ,văn minh”, một nhà nước
“do dân và vì dân”
Qua một số ví dụ về lĩnh vực tự nhiên, con người, chính trị như trêncho thấy học thuyết Âm dương - Ngũ hành có vai trò to lớn đối với con người.Trải qua hàng nghìn năm thì học thuyết này còn nguyên giá trị và được ứngdụng rộng rãi Tiêu biểu và thiết thực nhất là sự vận dụng học thuyết tronglĩnh vực Đông y Các thầy thuốc Đông y đã vận dụng có hiệu quả trong lâmsàng từ hàng ngàn năm nay khi quy con người về các hành, ứng với mỗi hành
là các quẻ Ví dụ người hành Mộc (quẻ chấn, quẻ tốn); người hành Hoả (quẻly); người hành Thổ (quẻ khôn, quẻ cấn); người hành Kim (que càn); ngườihành Thuỷ (quẻ khảm) Từ đó xác định hình trạng, sinh lý, bệnh lý thậm chí cảvới sự thọ yếu của một người
Như vậy, thuyết Âm dương – Ngũ hành đã thực hiện đúng “Thiênchức” của mình trong quá trình nhận thức thế giới để đi tới phục vụ cuộc sốngcon người Chúng ta tin tưởng và hi vọng rằng với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật hiện nay học thuyết sẽ được ứng dụng nhiều hơn, sâu rộnghơn trên cơ sở khoa học để hưởng tới một xã hội cân bằng trên mọi mặt: Kinh
tế, chính trị, xã hội Một xã hội phát triển bền vững: Hiện tại – tương lai
2.2 Đặc điểm tình hình đời sống văn hóa tâm linh người Việt Nam
2.2.1 Khái niệm văn hóa, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng
Trước khi tìm hiểu khái niệm văn hóa tâm linh, tín ngưỡng chúng tatìm hiểu định nghĩa về văn hóa Bởi văn hóa tâm linh, tín ngưỡng là một bộphận nhỏ trong tổng thể giá trị văn hóa
Văn hóa: Đã có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau khi bàn về khái
niệm văn hóa Song dù tiếp nhận đánh giá ở góc độ, phương diện nào các nhànghiên cứu, khoa học đều thống nhất quan điểm: Văn hóa là giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động “Văn hóa là hệthống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người tích lũy qua quá