1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu học tập Quản trị kinh doanh quốc tế: Phần 1

82 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Học Tập Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Tài Liệu Học Tập
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Nội dung Tài liệu gồm có 5 chương và được chia thành 2 phần. Phần 1 trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản sau: Chương 1 tổng quan về quản trị kinh doanh quốc tế; chương 2 quản trị marketing quốc tế; chương 3 quản trị chiến lược kinh doanh quốc tế. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

TÀI LIỆU HỌC TẬP

QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ

Hà Nội - 2019

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU 1

Chương 1 2

TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ 2

1.1 Các vấn đề cơ bản về kinh tế quốc tế 2

1.1.1 Khái niệm kinh tế quốc tế 2

1.1.2 Vai trò của kinh tế quốc tế 3

1.1.3 Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế 4

1.1.4 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế 6

1.1.5 Xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay 8

1.2 Tổng quan về quản trị kinh doanh quốc tế 14

1.2.1 Kinh doanh quốc tế 14

1.2.2 Quản trị kinh doanh quốc tế 27

Chương 2 35

QUẢN TRỊ MARKETING QUỐC TẾ 35

2.1 Nghiên cứu và lựa chọn thị trường quốc tế 35

2.1.1 Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu 36

2.1.2 Xây dựng kế hoạch nghiên cứu 36

2.1.3 Thu thập thông tin 36

2.1.4 Phân tích thông tin - Lựa chọn thị trường mục tiêu 36

2.1.5 Lập báo cáo kết quả nghiên cứu 38

2.2 Các quyết định về chiến lược marketing quốc tế 38

2.2.1 Chiến lược sản phẩm quốc tế 38

2.2.2 Chiến lược giá quốc tế 48

2.2.3 Chiến lược phân phối sản phẩm quốc tế 61

2.2.4 Chiến lược xúc tiến và truyền thông quốc tế 69

Chương 3 79

QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ 79

3.1 Khái niệm và vai trò của chiến lược kinh doanh quốc tế 79

3.1.1.Khái niệm chiến lược kinh doanh quốc tế 79

3.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh quốc tế 80

3.2 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh quốc tế 80

3.2.1 Xác định sứ mệnh và mục tiêu của công ty 81

3.2.2 Đánh giá môi trường kinh doanh quốc tế 81

3.2.3 Xác định khả năng vượt trội và hoạt động tạo ra giá trị 87

3.2.4 Hình thành các chiến lược 89

3.3 Các tiếp cận chiến lược phát triển quốc tế 90

3.3.1 Chiến lược quốc tế (International strategy) 90

3.3.2 Chiến lược đa quốc gia (Multinational strategy) 90

3.3.3 Chiến lược toàn cầu (global strategy) 91

3.3.4 Chiến lược xuyên quốc gia (transnational strategy) 91

3.4 Chiến lược cạnh tranh trong môi trường quốc tế 93

3.4.1 Chiến lược nhấn mạnh về chi phí 93

3.4.2 Chiến lược khác biệt hóa 93

3.4.3 Chiến lược trọng tâm hóa 94

3.5 Liên minh chiến lược và sáp nhập, mua bán toàn cầu 94

3.5.1 Liên minh chiến lược toàn cầu 94

3.5.2 Sáp nhập và mua lại toàn cầu 102

Trang 3

Chương 4 111

QUẢN TRỊ CÁC YẾU TỐ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ 111

4.1 Quản trị nhân lực 111

4.1.1 Tuyển chọn và hồi hương nhân lực 111

4.1.2 Đánh giá và th lao cho nhân lực 116

4.1.3 Đào tạo phát triển nhân lực 119

4.1.4 Quan hệ lao động quốc tế 120

4.2 Quản trị nguyên vật liệu 121

4.2.1 Khái niệm 121

4.2.2 Lựa chọn địa điểm sản xuất 122

4.2.3 Lựa chọn việc tự sản xuất hoặc mua bán thành phẩm 124

4.2.4 Quản lý cung ứng vật tư 127

4.3 Quản trị tài chính quốc tế 129

4.3.1 Tỷ giá hối đoái 129

4.3.2 Các điều kiện đảm bảo trong thanh toán quốc tế 133

4.3.3 Các phương tiện và phương thức thanh toán quốc tế 135

Chương 5 143

HỢP ĐỒNG KINH DOANH QUỐC TẾ 143

5.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng kinh doanh quốc tế 143

5.1.1 Khái niệm hợp đồng kinh doanh quốc tế 143

5.1.2 Đặc điểm hợp đồng kinh doanh quốc tế 143

5.1.3 Các loại hợp đồng kinh doanh quốc tế thường gặp 144

5.2 Ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế 145

5.2.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế 145

5.2.2 Nội dung hợp đồng kinh doanh quốc tế 146

5.2.3 Một số yêu cầu khi soạn thảo, ký két hợp đồng kinh doanh quốc tế 156

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BOT Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao

BT Hợp đồng xây dựng - chuyển giao

CEPT Hiệp định thuế quan ưu đãi

CIF Tiền hàng - Bảo hiểm - Phí vận chuyển

CLMV Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam

CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương EEC Cộng đồng kinh tế Châu Âu

EMU Liên minh tiền tệ Châu Âu

EURO Đồng tiền chung Châu Âu

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FOB Giao hàng trên tàu

FTA Hiệp định thương mại tự do

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

GATT Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại

MNC Công ty đa quốc gia

Trang 5

1

LỜI GIỚI THIỆU

C ng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu Mỗi quốc gia đều tìm cách thâm nhập vào thị trường nước ngoài nhằm tận dụng những lợi thế so sánh để mở rộng hoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế Hơn nữa, kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực rộng lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề như con người, văn hoá phong tục tập quán, địa lý, luật pháp Do vậy, kinh doanh quốc tế là lĩnh vực rất nhạy cảm đối với mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Từ nhiều năm qua, hoạt động kinh doanh quốc tế đã được doanh nghiệp của nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu và thực hiện Việc đưa học phần quản trị kinh doanh quốc tế vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, đặc biệt là ngành quản trị kinh doanh ở hầu hết các trường trong và ngoài nước đã chứng tỏ tầm quan trọng của lĩnh vực kinh doanh này

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, sự thành công ít hay nhiều trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc rất lớn vào việc nhận thức và mức độ hiểu biết của các doanh nghiệp

về môi trường kinh doanh quốc tế và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, quản trị kinh doanh quốc tế là học phần cần thiết cho những sinh viên sau khi ra trường làm việc cho những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế

Để đáp ứng với yêu cầu học và dạy theo phương pháp mới, Trường Đại học Kinh

tế - Kỹ thuật công nghiệp tổ chức biên soạn tài liệu học tập “Quản trị kinh doanh quốc tế” Học phần Quản trị kinh doanh quốc tế góp phần trang bị những kiến thức về kinh tế quốc tế, môi trường kinh doanh quốc tế, quản trị marketing quốc tế, quản trị chiến lược kinh doanh quốc tế, quản trị nguồn nhân lực quốc tế cho cán bộ hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế, đặc biệt là những nhà kinh doanh để có thể đưa ra những quyết định tác nghiệp hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận, sử dụng và phát huy tối ưu các lợi thế

về nguồn nhân lực cũng như thỏa mãn các yêu cầu khác trong quan hệ kinh doanh quốc

tế Hoạt động kinh doanh quốc tế gắn liền với việc đưa ra các quyết định về lựa chọn chiến lược, chính sách và các hình thức kinh doanh

Tài liệu học tập được biên soạn theo đúng đề cương chi tiết của học phần Quản trị kinh doanh quốc tế trong chương trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh cho sinh viên

hệ Đại học và các quy định về việc biên soạn của Nhà trường Nội dung của tài liệu bao gồm 5 chương, trong mỗi chương bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:

- Mục đích của chương

- Nội dung của chương

- Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, thảo luận chương

- Bài tập ứng dụng chương

Do thời gian và trình độ có hạn nên tài liệu học tập khó có thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi luôn mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để tài liệu học tập được tái bản hoàn thiện hơn trong những lần sau

Trang 6

2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG

Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên cần nắm được:

- Khái niệm kinh tế quốc tế, các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế, các hình thức liên kết kinh tế quốc tế và xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay

- Khái niệm, vai trò của kinh doanh quốc tế, cơ sở hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc trưng của kinh doanh quốc tế, các hình thức kinh doanh quốc tế

- Khái niệm, vai trò của quản trị kinh doanh quốc tế và những yêu cầu đối với nhà quản trị kinh doanh quốc tế, từ đó phấn đấu trở thành một nhà quản trị kinh doanh quốc

tế thành công trong tương lai

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG

1.1 Các vấn đề cơ bản về kinh tế quốc tế

1.1.1 Khái niệm kinh tế quốc tế

Như chúng ta đã biết, thế giới gồm nhiều quốc gia riêng lẻ Mỗi quốc gia đều có những mặt mạnh và hạn chế riêng trong quá trình phát triển Vì vậy, xu hướng chung của thế giới là các quốc gia mở cửa để hội nhập với nhau, tức là tăng cường mối quan hệ kinh

tế gắn bó, ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia thông qua hoạt động thương mại và đầu

tư quốc tế nhằm phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Sự kết nối và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành khái niệm kinh tế quốc tế

Kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế với nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế [trang 6; 5]

Như vậy, kinh tế quốc tế thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia trong quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ và di chuyển các nguồn lực sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và thanh khoản giữa các quốc gia để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người

Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh

mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt tới vị trí thuận lợi trong nền kinh tế của thế giới Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ lĩnh vực, bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và di chuyển quốc tế về lao động, hợp tác về kinh tế và khoa học - công nghệ, các dịch vụ thu ngoại tệ

Kinh tế quốc tế có lịch sử phát triển khá lâu dài từ đầu thế kỷ 18, những cuộc tranh luận về chính sách thương mại và tiền tệ quốc tế đã nổ ra nhưng chưa bao giờ việc nghiên cứu kinh tế quốc tế lại quan trọng như ngày nay Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa

Trang 7

3

học, công nghệ phát triển như vũ bão thì đời sống kinh tế thế giới càng có sự biến đổi mạnh mẽ cả về mặt chất và mặt lượng Thông qua mua bán hàng hoá dịch vụ và trao đổi tiền tệ, nền kinh tế của các nước trở nên gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau hơn bao giờ hết Với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay thì bất kỳ một chính sách kinh tế nào, một sự biến động chính trị xã hội nào xảy ra ở bất kỳ một nước nào cũng đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với mức độ lớn nhỏ khác nhau đến nền kinh

tế của các nước khác Chính vì vậy, việc nắm bắt kịp thời sự thay đổi của môi trường quốc tế đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược kinh doanh và chính sách kinh tế của tất cả các nước

Kinh tế quốc tế ngày nay nghiên cứu dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và các yếu

tố sản xuất như lao động, công nghệ, đặc biệt là vốn trên quy mô quốc tế Những dòng chảy này đều gắn với các giao dịch tiền tệ Ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến tiền

tệ có tác động đến dòng chảy quốc tế của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất

Nền kinh tế thế giới là tổng thể nền kinh tế của các quốc gia trên trái đất có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế

c ng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng

Nền kinh tế thế giới ngày nay là tổng thể nền kinh tế của hơn 230 quốc gia và

v ng lãnh thổ với sự biến đổi sâu sắc, nhanh chóng và toàn diện trên các mặt cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu sản phẩm cũng như việc hình thành những liên minh kinh

tế mới, những tổ chức kinh tế quốc tế thậm chí cả về phạm vi quản lý hành chính của các quốc gia

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế Nền kinh

tế thế giới do nhiều bộ phận cấu thành có liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau với các mức độ và những chiều hướng khác nhau về cả mặt lượng và mặt chất Nền kinh tế thế giới gồm 2 bộ phận cơ bản đó là các chủ thể kinh tế quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế

1.1.2 Vai trò của kinh tế quốc tế

Trước hết, nhời có hoạt động kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh

tế có thể thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến

Kinh tế quốc tế giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu Thị trường thế giới

có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển các quốc gia Hoạt động kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới,

Trang 8

4

biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu

ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế

Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, đạt quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư

từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân

Hoạt động kinh tế quốc tế được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua các lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc

tế tăng thu ngoại tệ để tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trong nước; bằng hình thức hợp tác đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; thông qua các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối để tăng thêm nguồn thu bằng ngoại tệ thông qua lượng khách du lịch vào thăm quan; thông qua các nguồn vốn vay từ các nước, các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên thế giới để bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước trong khi nguồn vốn tích lũy từ nội

bộ của chúng ta còn thấp; tăng thêm nguồn vốn bằng ngoại tệ bằng cách xuất khẩu lao động và chuyên gia cho các nước thiếu lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế

Mở rộng các hoạt động kinh tế quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ, giúp cho các nước có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồn lực trong nước và thu hút các nguồn lực bên ngoài vào việc phát triển các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển đất nước như vốn, nhân lực có trình

độ cao, công nghệ hiện đại, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới Thông qua hoạt động kinh tế quốc tế, phân công lao động quốc tế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được đẩy mạnh, đảm bảo đầu vào đầu ra cho các doanh nghiệp trong nước một cách ổn định và ph hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho việc hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới và khu vực

1.1.3 Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế

Đây là những người đại diện cho nền kinh tế thế giới và giữa họ có sự tách biệt về

sở hữu cũng như địa vị pháp lý trong quan hệ kinh tế quốc tế Các chủ thể này bao gồm:

- Các nền kinh tế quốc gia độc lập Hiện nay, có hơn 230 quốc gia và v ng lãnh thổ tham gia vào nền kinh tế thế giới Theo số liệu của Liên Hiệp quốc, trên thế giới có

194 quốc gia độc lập Điều 1, Công ước Montevideo năm 1933 chỉ ra rằng một quốc gia độc lập có chủ quyền phải có những đặc điểm sau: (a) dân số ổn định, (b) lãnh thổ xác

Trang 9

5

định, (c) chính phủ và (d) khả năng quan hệ với các quốc gia khác Có một vài nước trên thực tế là độc lập nhưng không được quốc tế công nhận (không đáp ứng điểm d) Ngược lại có vài nước đã được công nhận rộng rãi (chính danh) nhưng chính phủ không có đủ quyền hạn (điểm c bị hạn chế) Danh sách này gồm: 192 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, 1 quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc: Thành Bang Vatican, 1 quốc gia được Tòa Thánh và 24 quốc gia công nhận, có quan hệ quốc tế thực tế với nhiều quốc gia khác: Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), 6 quốc gia thực tế độc lập nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận: Abkhazia, Bắc Kibris (riêng nước này được duy nhất Thổ Nhĩ

Kỳ công nhận), Nagorno - Karabakh, Nam Osetia, Somaliland và Transnistria, 2 quốc gia được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhưng thực tế không độc lập: Palestine và Tây Sahara

Quan hệ giữa các chủ thể được bảo đảm thông qua các hiệp định quốc tế được ký kết theo các điều khoản của công pháp quốc tế

- Các chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia Các chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia bao gồm những cá nhân, tổ chức tham gia vào nền kinh tế thế giới như công ty, xí nghiệp, tập đoàn và đơn vị kinh doanh Các chủ thể chủ thể này tham gia vào nền kinh tế thế giới thường ở mức độ thấp, phạm vi hẹp cả về khối lượng hàng hoá trao đổi và thường dựa trên những hợp đồng buôn bán thương mại hoặc đầu tư được thoả thuận giữa các bên trong khuôn khổ những hiệp định ký kết giữa các quốc gia độc lập

- Các chủ thể kinh tế ở cấp độ cao hơn quốc gia Các chủ thể kinh tế ở cấp độ cao hơn quốc gia hoạt động với tư cách là những thực thể độc lập, địa vị pháp lý rộng hơn chủ thể quốc gia Hoạt động của các chủ thể này thường đòi hỏi có sự điều tiết của liên quốc gia thậm chí có tính toàn cầu Các tổ chức quốc tế xuất hiện do quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phát triển của các liên kết kinh tế, bao gồm: Liên hiệp quốc và các tổ chức chuyên môn của nó (Ngân hàng Thế giới - WB, Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF…), Các liên kết kinh tế quốc tế khu vực (Liên minh Châu Âu - EU, Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN…) và Hiệp hội các ngành hàng (Hiệp hội chè, hiệp hội tơ tằm…)

Ngoài 3 chủ thể nêu trên, trong nền kinh tế thế giới còn tồn tại một loại chủ thể đặc biệt đó là các Công ty đa quốc gia Có thể hiểu đây là một công ty có vốn thuộc sở hữu của các doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau Ngoài ra, có thể hiểu về công ty đa quốc gia là một công ty có trụ sở chính ở quốc gia nào đó và cơ sở kinh doanh (chi nhánh, công ty con ) của nó có mặt ở trên 6 quốc gia Đồng thời, phải thoả mãn điều kiện trên 60% doanh số thu được từ hoạt động quốc tế Có thể nói, đây là một loại chủ thể kinh tế quốc tế quan trọng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế & chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, khi tiến hành phân nhóm chúng ta không thể coi các công ty này là chủ thể có cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia và đồng thời cũng không thể khẳng định nó là chủ thể có cấp độ cao hơn phạm

vi quốc gia

Trang 10

6

1.1.4 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế là xóa bỏ các sự khác biệt kinh tế giữa các nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau theo quan niệm đơn giản và phổ biến trên thế giới là việc nền kinh tế gắn kết lại với nhau

Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua 5 hình thức từ thấp đến cao có thể chia thành:

1.1.4.1 Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area)

Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hoặc nhiều nước nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó thông qua các biện pháp:

- Bãi bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng đối với các loại sản phẩm và dịch vụ khi trao đổi, mua bán giữa các nước thành viên

- Tiến tới tạo lập một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ

- Mỗi nước thành viên vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các quốc gia ngoài khối, tức là vẫn có thể thi hành chính sách ngoại thương độc lập đối với các nước ngoài liên minh

Ví dụ như AFTA là những liên kết tiêu biểu thuộc hình thức này Khu vực Mậu

dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là

một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa thủ tục hải quan giữa các nước.Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan Sau đó hiệp định về AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6) Các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung là CLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này Liên kết khu vực mậu dịch tự do (AFTA) trong ASEAN nhằm mục tiêu loại bỏ hoàn toàn các hàng rào cản trở thương mại đối với hàng hoá nhập khẩu trong nội bộ các nước c ng khối Sự liên kết đó được thực hiện trong Hiệp định về thuế quan

ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết năm 1992 Theo CEPT các nước thành viên của AFTA phải giảm mức thuế quan xuống 0-5% và loại bỏ các giới hạn về định lượng và các rào cản phi thuế quan khác trong vòng 10 năm kể từ năm 1993

1.1.4.2 Liên minh thuế quan hay đồng minh thuế quan (Customs Union)

Đây là một liên minh quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp tác giữa các nước thành viên Theo thỏa thuận hợp tác giữa các quốc gia, bên cạnh việc bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch giữa các nước thành viên còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các quốc gia ngoài liên minh Điểm khác biệt so với hình thức Khu vực mậu dịch tự do là hình thức này thiết lập một biểu thuế quan

Trang 11

1.1.4.3 Thị trường chung (Common Market)

Đây là một liên minh quốc tế ở mức độ cao hơn liên minh thuế quan Hình thức liên kết này áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một bước là hình thành thị trường thống nhất cho phép

tự do di chuyển tư bản và lao động giữa các nước thành viên với nhau

Ví dụ Cộng đồng kinh tế Châu Âu trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 1980, tiến trình xây dựng thị trường chung bị chậm lại do khủng hoảng kinh tế và sự sụp đổ của

hệ thống Bretton Woods Từ năm 1980 đến năm 1982 đây là giai đoạn hoàn thành việc thành lập thị trường chung xóa bỏ đường biên giới nội bộ, đưa ra nguyên tắc công nhận lẫn nhau và tạo điều kiện cho sự lưu thông tự do của hàng hóa, dịch vụ, sức lao động, và vốn đầu tư

1.1.4.4 Liên minh tiền tệ (Monetary Union)

Đây là một liên minh quốc tế chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ trong đó các nước thành viên thực hiện thống nhất các giao dịch tiền tệ, thống nhất về đồng tiền dự trữ và phát hành đồng tiền tập thể cho các nước trong liên minh Đây là một hình thức liên kết kinh

tế tiến tới phải thành lập một quốc gia kinh tế chung với những đặc trưng sau:

- Xây dựng chính sách kinh tế chung trong đó có chính sách ngoại thương chung

- Hình thành đồng tiền chung thống nhất thay cho đồng tiền riêng của các nước thành viên

- Thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ

- Xây dựng hệ thông ngân hàng chung thay cho các ngân hàng trung ương của các nước thành viên

- Xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng chung đối với các nước ngoài liên minh và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Một ví dụ rõ nét để minh họa cho hình thức liên kết này chính là liên minh Châu

Âu (EU) sau khi hiệp ước Maastricht , các nước tiến hành thành lập Liên minh tiền tệ Châu Âu (EMU) Ngày 1/1/1999 chính thức cho ra đời đồng EURO Ngày 1/1/2002, đồng EURO tiền mặt được đưa vào lưu hành và việc đổi tiền EURO diễn ra trong 6 tháng Từ ngày 1/7/2002, các đồng tiền của các nước thành viên thay thế bằng đồng EURO

Trang 12

8

1.1.4.5 Liên minh kinh tế (Economic Union)

Đây là hình thức liên kết kinh tế quốc tế với mức độ cao hơn về sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, sức lao động và tư bản giữa các nước thành viên, đồng thời có biểu thuế quan chung áp dụng với các nước không phải là thành viên Liên minh kinh tế thực hiện thống nhất, hài hòa các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ giữa các nước thành viên

Liên minh Châu Âu là một mô hình liên kết khu vực ở mức độ cao với đồng tiền chung, chính sách kinh tế chung, chính sách ngoại giao và an ninh chung EU có các thể chế siêu quốc gia như uỷ ban Châu Âu, nghị viện Châu Âu, Toà án Châu Âu, Ngân hàng Châu Âu

1.1.5 Xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay

Nền kinh tế thế giới ngày nay chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như kinh tế, kĩ thuật, xã hội, chính trị cũng như các nhân tố tự nhiên Vì vậy, sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng diễn ra theo nhiều xu thế nhưng trong đó có 3 xu thế giữ vai trò chủ đạo trong định hướng sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng là:

1.1.5.1 Xu thế chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế tri thức

Từ trước đến nay nền kinh tế thế giới vẫn đang hoạt động chủ yếu dựa vào những

cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới thì cơ

sở này ngày càng không đáp ứng được Tại các nước công nghiệp phát triển, kỹ thuật cơ khí hoá đã đạt trình độ cao và các nguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng nguyên liệu rắn - lỏng, các vật liệu kim khí đều đã được tận dụng cao độ và nguồn cung cấp chúng ngày càng hạn chế

Bước sang thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới và nhân loại đang từng bước đi vào sử dụng tri thức cho phát triển và đang hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức, sử dụng nhanh và gần như trực tiếp các thành tựu của khoa học công nghệ vào phục vụ đời sống sản xuất Theo đánh giá của các nhà tương lai học, thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, trong đó khả năng hiểu biết của con người đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã được ứng dụng ngày càng nhiều trong các mặt của đời sống xã hội Đó là người máy công nghiệp sẽ thay thế những người lao động, thậm chí là quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế Các nguồn năng lượng mặt trời và nhiệt hạch sẽ phổ biến và thay thế cho những nguồn năng lượng hiện

có Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền sẽ thay thế các vật liệu truyền thống Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển Không gian của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại Dương và vũ trụ Khi đó, nền sản xuất sẽ đảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuất vật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé

so với các khu vực sản xuất dựa trên tri thức

Trang 13

9

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Nền kinh tế này là đặc trưng của cách mạng khoa học và công nghệ mới trên thế giới Từ cuối thế kỷ XX được đặc trưng bởi những phát minh khoa học trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ mới làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần về mặt công cụ sản xuất, làm nổi bật tầm quan trọng của trí lực, tri thức và thông tin Trong nền kinh tế này, ngành nông - công nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nên chủ yếu phát triển ngành công nghiệp có hàm lượng KHCN cao Do vậy, có thể nói nền kinh tế tri thức đã khắc phục được những hạn chế của nền kinh tế vật chất như tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Đồng thời, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu d ng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Để có thể thực hiện bước quá độ sang nền kinh tế tri thức, các nước trên thế giới

d thuộc chế độ chính trị nào cũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc thượng tầng, nhưng theo cách riêng của mình Bất cứ quốc gia nào, muốn đạt được sự phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá đều phải giải quyết hai vấn

đề cơ bản: Một là, tạo ra phát minh mới trên các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao (vi điện

tử, năng lượng, vật liệu, công nghệ) hoặc du nhập chúng và áp dụng nhanh chóng vào sản xuất Hai là, chuyển nhượng sang nơi khác các kỹ thuật trung gian và truyền thống

Hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết và đòi hỏi có sự phối hợp toàn cầu nếu không chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian truyền thống sang các nước kém phát triển hơn thì các tiến bộ kỹ thuật d có đạt được cũng không có nơi sử dụng hoặc việc áp dụng

có nhiều hạn chế Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao nên họ áp dụng nhiều biện pháp để dành được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện kế hoạch đầu tư cho nghiên cứu khoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, thành lập các trung tâm khoa học kỹ thuật cao Ngược lại, ở các nước đang phát triển thì để xây dựng những ngành công nghiệp hiện đại cho nền kinh

tế của mình đa số các quốc gia đi theo hai hướng Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian

và truyền thống của các nước phát triển trên cơ sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế giới Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào sản xuất để tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại

1.1.5.2 Xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

Mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh về kinh tế thì không thể tồn tại một cách “độc lập” về kinh tế, không thể thực hiện chính sách “đóng cửa” nền kinh tế mà phải tham gia hợp tác c ng các quốc gia khác Việc mở cửa được thực hiện bằng hoạt động giao lưu kinh tế thương mại, trao đổi khoa học công nghệ, phân công lao động quốc tế và tham gia vào các tổ chức quốc tế của các quốc gia Khi đó, nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu

Trang 14

10

biệt lập sang đối thoại hợp tác Trước năm 1990, do có sự mâu thuẫn về mặt chính trị giữa các nước TBCN và XHCN nên nền kinh tế thế giới ở trạng thái đối đầu biệt lập tức chỉ có các nước TBCN phát triển mới mở cửa còn các nước đang và kém phát triển thực hiện đóng cửa nền kinh tế (tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu d ng chứ không phụ thuộc vào bên ngoài) Sau năm 1990, xu hướng chung của thế giới là mở cửa nền kinh tế tức có quan hệ hợp tác với bên ngoài Và cơ sở khách quan cho việc hình thành chính sách mở cửa của nền kinh tế mỗi quốc gia đó là:

- Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ nên phải coi thị trường thế giới vừa là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho nền kinh tế mỗi quốc gia

- Do sự tác động mạnh của khoa học công nghệ, của sự phân công lao động quốc

tế, do vai trò và tầm hoạt động của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn bề sâu Thể chế kinh tế thế giới chuyển biến theo hướng thị trường hóa nền kinh tế của từng quốc gia, quốc tế hóa thể chế kinh tế giữa các nước theo hướng mở cửa với sự xuyên suốt của

cơ chế thị trường, theo hướng nhất thể hóa và tập đoàn hóa kinh tế khu vực

Thực tế chỉ ra rằng, mọi quốc gia đều có sự phụ thuộc vào các quốc gia khác ở mức độ khác nhau về sản phẩm, công nghệ, khoa học kỹ thuật, lao động, vốn đầu tư nên

mở cửa nền kinh tế của mình là một xu hướng tất yếu bởi sự khép kín trong một quốc gia không còn ph hợp nữa

Việc một quốc gia thực hiện mở cửa nền kinh tế của mình thực chất là quá trình

mở rộng giao lưu kinh tế thương mại, khoa học công nghệ với nước ngoài Đồng thời, tham gia sâu rộng vào sự trao đổi và phân công lao động quốc tế nhằm thúc đẩy nền kinh

tế quốc gia phát triển Nhận thức được điều này, các quốc gia tiến hành mở cửa nền kinh

tế nhằm tận dụng ngoại lực để phát huy sức mạnh nội lực Từ đó, nền kinh tế quốc gia phát triển năng động, tiếp thu nhanh công nghệ mới để áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm thu năng suất cao hơn và nâng cao khả năng cạnh tranh Đồng thời, giải quyết tốt các vấn đề xã hội

Bên cạnh những lợi ích mà việc mở cửa nền kinh tế mang lại cho một quốc gia thì không tránh khỏi những hạn chế như nền kinh tế không ổn định do phải phụ thuộc vào bên ngoài Đồng thời, cơ cấu kinh tế của quốc gia dễ bị mất cân đối và sự phân hoá giàu - nghèo sẽ ngày càng rõ rệt Thêm vào đó, dễ gây tình trạng bất ổn định xã hội do có sự du nhập nhiều nền văn hoá khác nhau Chính vì vậy, mỗi quốc gia khi thực hiện xu hướng này cần xây dựng cho mình một hệ thống kinh tế mở ph hợp sao cho sự kết hợp giữa nội lực và ngoài lực trở thành sức mạnh tổng hợp để phát triển vững mạnh nền kinh tế đất nước

Trang 15

11

1.1.5.3 Xu thế toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa là quá trình nền kinh tế thế giới tiến tới hợp nhau và phụ thuộc lẫn nhau là quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia

Mặc d Chính phủ các nước đều đang duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với hàng hóa, nhân công và luồng vốn lưu chuyển trên thị trường của mình, nhưng nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất Quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia được gọi là toàn cầu hóa, gồm 2 khía cạnh: Toàn cầu hóa thị trường (nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ ) - thị trường riêng lẻ các nước hợp thành thị trường toàn cầu và toàn cầu hóa sản xuất - phân bổ chi nhánh sản xuất và cung ứng ở nhiều nơi trên thế giới nhằm khai thác lợi thế các quốc gia Ngày nay nhiều hoạt động sản xuất đang biến thành những hoạt động mang tính toàn cầu Công nghệ cho phép một sản phẩm bất kỳ có thể được sản xuất ở nơi nào mà việc sản xuất được coi là rẻ nhất Chính phủ và chính quyền các địa phương đều đưa ra rất nhiều quy định nhằm khuyến khích các công ty xây dựng các nhà máy ở đất nước hoặc địa phương của mình

Trong tình hình hiện nay, các nước muốn mở rộng thị trường, nguồn vốn đầu tư, địa bàn cũng như chuyển giao công nghệ và hình thành phân công lao động quốc tế thì phải mở rộng những quan hệ kinh tế quốc tế c ng có lợi Một quốc gia không thể phát triển nếu duy trì một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong nước và thậm chí một nhóm nước

Toàn cầu hóa là khái niệm d ng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các

tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, xã hội trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được d ng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá

Như vậy, toàn cầu hoá có mức độ hợp tác giữa các nước chặt chẽ hơn so với quốc

tế hoá Quá trình toàn cầu hóa gia tăng với biểu hiện mới về vai trò ngày càng lớn của hoạt động tài chính - tiền tệ, sự gia tăng của mậu dịch quốc tế nhanh hơn nhiều tốc độ tăng trưởng kinh tế, vai trò ngày càng quan trọng của tri thức và sự phát triển của kinh tế tri thức…một mặt đưa tới cơ hội cho sự phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như toàn thế giới mặt khác cũng đưa đến những thách thức lớn ở nhiều góc độ khác nhau như khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, sự phụ thuộc quá mức vào các trung tâm kinh tế lớn gây nên những mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị…

Tóm lại, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế quốc tế, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động

và phát triển hướng tới một nền kinh tế toàn cầu thống nhất Toàn cầu hóa có biểu hiện cụ

Trang 16

12

thể là nền Kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó các quốc gia có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Xu thế toàn cầu hoá gia tăng với các biểu hiện mới về vai trò ngày càng lớn của hoạt động tài chính tiền tệ; sự gia tăng của mậu dịch quốc tế; việc gia tăng làn sóng sát nhập các công ty xuyên quốc gia; vai trò ngày càng quan trọng của tri thức và sự phát triển của loại hình kinh tế tri thức Công nghệ thông tin phát triển làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và đời sống Trong số đó có lưu thông quốc tế ngày càng tăng đối với hàng hoá, tiền tệ, thông tin và người; c ng với việc phát triển các công nghệ, tổ chức, hệ thống luật lệ và cơ sở hạ tầng cho việc lưu thông này Bao gồm:

- Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới

- Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

- Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại

- Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá phẩm như phim ảnh hay sách báo

- Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố, buôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo

- Gia tăng du lịch và di cư quốc tế

- Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia

- Sự gia tăng về số lượng và quy mô của các tổ chức quốc tế và các liên kết kinh

tế quốc tế

- Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu như luật bản quyền

Toàn cầu hóa nền kinh tế cho phép các quốc gia thu được nhiều lợi ích như tạo khả năng khai thác hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế Điều này có nghĩa, các nước phát triển sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và công nghệ tức thực hiện tái công nghiệp hoá để từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức Bên cạnh

đó, các nước đang phát triển cũng phát huy lợi thế về tài nguyên và con người Đồng thời, tận dụng vốn và kĩ thuật của nước ngoài để thực hiện công nghiệp hoá rút ngắn Ngoài ra, toàn cầu hóa giúp mỗi quốc gia thúc đẩy cải cách và cơ cấu lại nền kinh tế của mình theo hướng hiệu quả cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế

Từ đó, tránh tình trạng tụt hậu nền kinh tế quốc gia

Tuy nhiên, song song với những cơ hội kể trên là các thách thức nên mỗi quốc gia cần phải chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa như quá trình toàn cầu hoá tạo ra sự phân cực giàu - nghèo giữa các quốc gia ngày càng lớn tức dẫn đến các quốc gia đang và kém phát triển rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển Hơn thế nưa, mức độ cạnh tranh khu vực và toàn cầu gay gắt hơn Chẳng hạn khi Việt

Trang 17

13

Nam tham gia vào WTO phải chịu sức ép cạnh tranh với bên ngoài cũng như sự tác động mạnh mẽ của thị trường thế giới khi có sự biến động Ngoài ra, nó còn làm mất dần quyền lực của Nhà nước và chủ quyền lãnh thổ của từng quốc gia và nguy cơ xảy ra các tác động dây chuyền giữa các quốc gia khi có bất kì một sự rối loạn nào đó của nền kinh

tế thế giới

Nói một cách cụ thể, quá trình toàn cầu hóa diễn ra cả về bề rộng lẫn chiều sâu, một mặt đưa tới cơ hội phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như toàn thế giới, giúp cho việc hợp lý các nguồn tài nguyên hiện có trên trái đất cũng như gây tác động ngược lại đối với sự phát triển của khoa học - công nghệ và đối với việc phân công lao động quốc tế Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa kinh tế cũng đưa đến những thách thức lớn ở nhiều góc độ khác nhau như sự gia tăng của rủi ro kinh tế cũng như gây ra mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị - xã hội Trong quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia có tiềm lực lớn, có thế mạnh về kinh tế, có điều kiện thuận lợi hơn trong cạnh tranh quốc tế sẽ tìm cách khai thác quá trình toàn cầu hóa và thường thu được lợi ích nhiều hơn Vấn đề đặt ra

là các nước phát triển cần có trách nhiệm hơn nữa và cố gắng giảm bớt những gánh nặng cho các nước đang phát triển Có như vậy, toàn cầu hóa mới thực sự mang lại lợi ích cho

cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, góp phần tạo nên một thế giới công bằng hơn, an toàn hơn

1.1.5.4 Gia tăng hợp tác song phương và đa phương

Trong một thời kỳ phát triển của nền kinh tế thế giới sau chiên tranh có một su hướng phát triển có thể dễ dàng nhận ra ngay đó là xu hướng hợp tác giữa các nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực hay trên phạm vi toàn thế giới Biểu hiện rõ nét nhất của

xu hướng này là sự hình thành và phát triển của những tổ chức thương mại, tổ chức kinh

tế mang tính chất quốc tế Ngoài ra các hiệp định song phương hay đa phương (các hiệp định AFTA) giữa các chính phủ các nước đóng vai trò quan trọng kịch thích và góp phần đẩy mạnh xu hướng hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế - nhân tố cơ bản của tiến trình toàn cầu hoá Những ví dụ cơ bản nhất cho xu hướng này có thể thấy ngay ở các tổ chức, các hiệp hội kinh tế hay thương mại như uỷ ban Châu Âu EEC - tiền thân của EU, hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với khu mậu dịch tự do AFTA hiệp ước chung

về thuế quan và thương mại GATT tiền thân của tổ chức thương mại thế giới WTO Ngoài ra còn có một số các tổ chức và các diễn đàn hợp tác kinh tế khác như WP, IMF, OPEC, APEC, NAFTA… Mặc d các tổ chức hay các hiệp ước kinh tế này được lập ra với các mục đích có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng chúng c ng có một điểm chung đó là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, c ng có lợi và mục đích chính là để thúc đẩy

và phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân bằng cách triệt để khai thác các lợi thế so sánh và tranh thủ các nguần lực từ bên ngoài hay đẩy mạnh thu hút và khai thác các nguồn lực nội sinh

Trang 18

14

Có thể nói nguyên nhân cơ bản của tiến trình toàn cầu hoá nói chung và xu hướng hội nhập hợp tác nói riêng đó là sự phát triển với trình độ ngày càng cao của phân công lao động xã hội, là quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, là tiến trình lịch sử, nó đang và sẽ cuốn hút hầu hết các nước trên thế giới vào guồng máy của nó

1.2 Tổng quan về quản trị kinh doanh quốc tế

1.2.1 Kinh doanh quốc tế

1.2.1.1 Khái niệm kinh doanh quốc tế

“Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế” [trang 3; 4]

Hoạt động kinh doanh quốc tế bao gồm mọi giao dịch kinh tế liên quan từ hai quốc gia trở lên Để đạt được mục tiêu kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức kinh doanh ph hợp và các hoạt động này có thể khác nhiều so với hoạt động trong nước So với hoạt động kinh doanh trong nước thì kinh doanh quốc tế có sự phức tạp hơn bởi lẽ: Chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế thuộc các quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ và văn hóa khác nhau; Do liên quan đến nhiều quốc gia và chính phủ nên phải chịu trách nhiệm tuân thủ những luật lệ, tập quán khác biệt nhau; Có sự khác biệt về đơn vị tiền tệ để tính toán và thanh toán nên chịu tác động bởi tỷ giá hối đoái; Không gian giao dịch rộng nên có sự khác nhau về khí hậu, thời tiết Điều này có thể tạo ra sự phức tạp trong quá trình vận chuyển, bảo quản sản phẩm

Việc tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế t y thuộc vào các mục tiêu cũng như các phương tiện mà doanh nghiệp sử dụng, nó sẽ tác động và bị tác động bởi môi trường cạnh tranh của quốc gia mà công ty hướng đến

Kinh doanh quốc tế đã xuất hiện từ rất sớm c ng với quá trình giao lưu, trao đổi, mua bán hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia C ng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển Với những lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đã và đang nâng cao vị thế và tăng cường thị phần của mình trong khu vực và trên thế giới nói chung

Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa, đối với nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và trở thành một trong những nội dung quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại

1.2.1.2 Cơ sở hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế

Các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia ra đời là một tất yếu khách quan và

Trang 19

15

cơ sở của sự phát triển các quan hệ này không chỉ là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển, nguồn lực mà còn ở sự đa dạng hoá trong nhu cầu tiêu d ng cũng như

sự chuyên môn hoá trong sản xuất

Thứ nhất, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên: Các quốc gia có nhu cầu trao đổi sản phẩm cho nhau bởi mỗi quốc gia có lợi thế nhất định về điều kiện tự nhiên (tài nguyên, đất đai, địa hình, vị trí địa lý, con người ) nên sẽ tập trung vào sản xuất những sản phẩm mà quốc gia khác không có hoặc không có điều kiện thuận lợi bằng, sau đó đem đi trao đổi để thu lợi ích Điều kiện tự nhiên tác động đến nhiều mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

Thứ hai, do sự khác biệt trong điều kiện sản xuất và tái sản xuất (vốn, lao động, khoa học công nghệ ): Sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất của các quốc gia xuất phát

từ sự chênh lệch về trình độ phát triển Khi đó, xuất hiện sự khác biệt về tỷ lệ các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia, từ đó xuất hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Chẳng hạn, ở Mỹ

có số lao động trình độ cao nhiều nên chi phí lao động sẽ cao và ngược lại ở Việt Nam có

số lượng lao động trình độ thấp nhiều hơn nên chi phí lao động sẽ thấp Vì thế, Mỹ có xu hướng sử dụng những lao động nhập cư từ Việt Nam

Thứ ba, do sự phát triển của phân công lao động quốc tế và chuyên môn hóa sản xuất nhằm đạt được qui mô tối ưu: Không phải mỗi nước đều tự mình sản xuất ra mọi thứ hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của mình ngay cả khi họ có đầy đủ nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất những sản phẩm đó mà phải tiến hành chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế nhất, sau đó đem đi trao đổi với các quốc gia khác bởi điều này

sẽ mang lại lợi ích cao hơn cho các quốc gia Chuyên môn hóa sản xuất ngày nay được thực hiện sâu tới từng bộ phận (chi tiết) của sản phẩm, nghĩa là có những sản phẩm mà mỗi quốc gia chỉ sản xuất một bộ phận chứ không phải sản xuất cả sản phẩm hoàn chỉnh

Thứ tư, do sự đa dạng trong nhu cầu tiêu d ng của các quốc gia: Khi đời sống vật chất ngày càng nâng cao thì nhu cầu của con người ngày càng đa dạng Đây là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của các hoạt động kinh doanh quốc tế bởi người tiêu d ng có xu hướng lựa chọn sản phẩm nào ph hợp với thị hiếu cũng như khả năng chi trả của mình Chính điều này đã lý giải tại sao Việt Nam vừa sản xuất hàng may mặc và giầy da để xuất khẩu sang các nước khác nhưng đồng thời vẫn tiến hành nhập khẩu mặt hàng này

1.2.1.3 Đặc trưng của kinh doanh quốc tế

Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia và được thực hiện trong môi trường kinh doanh mới so với kinh doanh ở trong nước Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh không thể lấy kinh nghiệm kinh doanh trong nước để thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế Các doanh nghiệp muốn kinh doanh ở môi trường nước ngoài một cách có hiệu quả phải nghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh ở nơi mà doanh nghiệp mình muốn thâm nhập Sự khác nhau giữa kinh doanh trong nước và kinh doanh quốc tế thể hiện qua những đặc trưng chủ yếu như sau:

Trang 20

16

Thứ nhất, kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau, còn kinh doanh trong nước là hoạt động kinh doanh chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và giữa các tế bào kinh tế của quốc gia đó Sự khác biệt về chủ thể, đòi hỏi các doanh nghiệp phải vượt qua những rào cản về ngôn ngữ, tập quán, thói quen…

Thứ hai, kinh doanh quốc tế được thực hiện ở nước ngoài với môi trường có nhiều khác biệt, thậm chí là xa lạ so với môi trường kinh doanh ở trong nước nên các doanh nghiệp thường gặp phải nhiều rủi ro hơn so với kinh doanh trong nước, nhất là những rủi

ro liên quan tới văn hóa, pháp luật Do đó, các doanh nghiệp phải luôn tìm hiểu để tuân thủ và thích ứng thì mới có thể đem lại hiệu quả

Thứ ba, kinh doanh quốc tế có phạm vi thị trường rộng lớn, thậm chí là toàn cầu Không gian rộng lớn dẫn đến thời tiết, khí hậu có sự khác biệt nên cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề vận chuyển và bảo quản sản phẩm sao cho vừa đảm bảo an toàn cho sản phẩm, vừa tiết kiệm được chi phí

Thứ tư, nếu như kinh doanh trong nước phải d ng đồng tiền nội tệ của quốc gia để tính giá hoặc thanh toán thì đối với kinh doanh quốc tế, các bên c ng thống nhất lựa chọn đồng tiền ph hợp Trong trường hợp đồng tiền tính giá và đồng tiền thanh toán có sự khác biệt thì cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề tỷ giá

Thứ năm, kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận bằng cách mở rộng phạm vi thị trường Điều này khó có thể đạt được nếu như doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động kinh doanh ở trong nước

1.2.1.4 Các hình thức kinh doanh quốc tế

a Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm trung gian, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế

và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy là bởi vì kết quả các quan hệ kinh tế quốc tế cuối c ng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hóa - tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Hoạt động thương mại quốc tế gồm xuất nhập khẩu hàng hoá (hữu hình, vô hình); Gia công quốc tế; Tái xuất khẩu và chuyển khẩu; Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức kinh tế quốc tế ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vị trí trung tâm bởi lẽ bất cứ một quan hệ kinh tế quốc tế nào cũng cho kết quả cuối c ng tập trung ở hoạt động thương mại quốc tế Hiện nay, thương mại quốc tế mang một số đặc điểm chính sau:

- Thương mại quốc tế có xu hướng tăng với tốc độ cao hơn so với tốc độ tăng

Trang 21

17

trưởng của nền sản xuất Điều đó đã dẫn đến tỷ trọng kim ngạch xuất - nhập khẩu trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới

- Tốc độ tăng trưởng của thương mại vô hình nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại hữu hình thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế mỗi quốc gia

- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với xu hướng giảm tỷ trọng của nhóm hàng lương thực - thực phẩm và tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp chế biến

- Phạm vi phát triển của thương mại thế giới ngày càng mở rộng Phương thức cạnh tranh ngày càng đa dạng với nhiều công cụ khác nhau, không chỉ cạnh tranh về chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng…

- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết

bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới

Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Nội dung của thương mại quốc tế bao gồm các hoạt động cụ thể sau:

Đối tượng để xuất khẩu hoặc nhập khẩu bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình

- Xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, lương

thực phẩm, các loại hàng tiêu d ng… Đây là bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

- Xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình: bí quyết công nghệ, bằng sáng chế phát minh,

phần mềm máy tính, dịch vụ du lịch…Đây là bộ phận có tỷ trọng ngày càng gia tăng trong hoạt động thương mại quốc tế, ph hợp với sự b ng nổ của cách mạng khoa học công nghệ và việc phát triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân

Trang 22

Quá trình giao dịch trực tiếp phải trải qua các giai đoạn: (1) Nghiên cứu tiếp cận thị trường: Nhận biết mặt hàng, lựa chọn thị trường, tìm kênh tiêu thụ, lựa chọn bạn hàng giao dịch (2) Người mua hỏi hàng (3) Người bán chào hàng (thông thường sau khi người mua hỏi hàng thì người bán chào hàng - gọi là chào hàng bị động, nhưng cũng có những trường hợp thì người bán chào hàng trước khi người mua hỏi hàng - gọi là chào hàng chủ động) (4) Các bên hoàn giá (5) Các bên chấp nhận/không chấp nhận (6) Xác nhận (ký kết hợp đồng nếu như các bên chấp nhận)

 Giao dịch gián tiếp:

Nếu trong giao dịch trực tiếp, các bên trực tiếp thoả thuận và quy định những điều kiện mua bán, trao đổi thì trong giao dịch qua trung gian, mọi việc thiết lập quan hệ giữa người bán và người mua trong việc quy định các điều kiện mua bán đều phải thực hiện thông qua một bên thứ ba Bên thứ ba này được gọi là người trung gian mua bán Người trung gian buôn bán trên thị trường phổ biến là đại lý và môi giới Giao dịch qua trung gian hiện còn chiếm khoảng 52 % kim ngạch buôn bán trên thị trường thế giới

- Đại lý là một thương nhân (có thể là một pháp nhân hay một cá nhân) được người khác (người ủy thác - principa) giao cho thực hiện một hoặc một số hành vi pháp

lý nhất định trong hoạt động thương mại Đại lý là người đại diện cho quyền lợi của người ủy thác Quan hệ giữa người uỷ thác với đại lý là quan hệ hợp đồng đại lý

Trong thực tế hoạt động kinh doanh, t y theo từng tiêu chí mà người ta phân loại

và đưa ra nhiều tên gọi cho các dạng đại lý khác nhau Một số tiêu thức phân loại chính

và ứng với mỗi tiêu thức sẽ có các tên gọi cụ thể là:

+ Căn cứ vào phạm vi quyền hạn được uỷ thác, người ta chia ra ba loại đại đại lý: Đại lý toàn quyền (universal agent): Là người được phép thay mặt người uỷ thác làm tất

cả các công việc mà người uỷ thác làm; Tổng đại lý (general agent): Là người được uỷ quyền làm một phần việc nhất định của người uỷ thác nhiệm và đó là đại lý duy nhất của người ủy nhiệm về phần công việc đó trên một v ng lãnh thổ nhất định, ví dụ: Ký kết những hợp đồng thuộc một nghiệp vụ nhất định; Đại lý đặc biệt (special agent): Là người được uỷ thác chỉ làm một việc cụ thể, ví dụ: Mua một máy tiện cụ thể với giá cả xác định

Trang 23

19

+ Căn cứ vào nội dung quan hệ giữa người đại lý với người uỷ thác, người ta phân

ra ba loại đại lý: Đại lý thụ uỷ (mandatory): Là người được chỉ định để hành động thay cho người uỷ thác, với danh nghĩa và chi phí của người uỷ thác Th lao của người đại lý này có thể là một khoản tiền hay một mức % tính trên kim ngạch của công việc; Đại lý hoa hồng (commision agent): Là người được uỷ thác tiến hành hoạt động với danh nghĩa của mình, nhưng với chi phí của người uỷ thác, th lao của người đại lý hoa hồng là một khoản tiền hoa hồng tuỳ theo khối lượng và hiệu quả của công việc được uỷ thác; Đại lý kinh tiêu (Merchant agent): Là người đại lý hoạt động với danh nghĩa và chi phí của mình Th lao của người đại lý này là khoản chênh lệch giữa giá bán với giá mua

+ Trên thị trường thế giới người ta còn có thể gặp những đại lý sau: Phắc tơ (factor): Là người đại lý được giao quyền chiếm hữu hàng hoá hoặc chứng từ sở hữu hàng hoá, được phép đứng tên mình bán hay cầm cố hàng hóa với giá cả mà mình cho là

có lợi nhất cho người uỷ thác, được trực tiếp nhận tiền hàng của người mua; Đại lý gửi bán (consignee hoặc agent carrying stock ): Là người đại lý được uỷ thác bán ra, với danh nghĩa của mình và chi phí, rủi ro do người uỷ thác chịu, những hàng hoá do người uỷ thác giao cho để bán ra từ kho của người đại lý; Đại lý đảm bảo thanh toán (del credere agent): Là người đại lý đứng ra đảm bảo sẽ bồi thường cho người uỷ thác, nếu người mua hàng (người thứ ba) ký kết hợp đồng với mình không thanh toán hoặc không thanh toán hết tiền hàng; Đại lý độc quyền (sole agent) là người đại lý duy nhất cho người uỷ thác để thực hiện một hành vi nào đó như bán hàng, mua hàng, thuê tàu tại một khu vực và trong một thời gian do hợp đồng quy định; Distributor là người làm việc không phải vì người xuất khẩu mà vì bản thân mình và tự mình chịu trách nhiệm mọi việc từ nhận hàng

của người xuất khẩu, nhập kho, giao dịch, bán hàng cho người tiêu d ng đến việc thanh toán và bảo hiểm Chỉ được bán một số mặt hàng và ở một số khu vực nhất định

- Môi giới: Là loại thương nhân trung gian giữa người mua và người bán, được người bán hoặc người mua uỷ thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ Khi tiến hành nghiệp vụ, người môi giới không được đứng tên của chính mình, mà đứng tên của người uỷ thác, không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng Quan hệ giữa người uỷ thác

và người môi giới dựa trên sự uỷ thác từng lần, chứ không dựa vào hợp đồng dài hạn

 Mua bán đối lưu

Mua bán đối lưu còn gọi là xuất nhập khẩu liên kết, là phương thức giao dịch trong đó: Xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, cân bằng giữa mua và bán, người bán đồng thời là người mua, mục đích không phải là nhằm thu về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương

Đây là phương thức đặc trưng cho giao dịch kinh doanh xuất nhập khẩu của các nước đang phát triển nhất là khi mà dự trữ ngoại tệ chưa cao, chưa đủ mạnh để nhập khẩu những mặt hàng quan trọng cho quốc kế dân sinh

Trang 24

20

- Yêu cầu về cân bằng Các bên tham gia buôn bán đối lưu luôn luôn phải quan tâm tới sự cân bằng trong trao đổi hàng hoá, sự cân bằng đó thể hiện ở những khía cạnh như: Cân bằng về mặt hàng: Mặt hàng quý đổi lấy mặt hàng quý, mặt hàng tồn kho khó bán đổi lấy mặt hàng tồn kho khó bán; Cân bằng về giá cả: So với giá quốc tế nếu giá hàng nhập cao thì khi xuất cho đối phương cũng phải được tính cao tương ứng và ngược lại; Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau: Do không có sự di chuyển tiền tệ nên hai bên thường quan tâm sao cho tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ trao cho nhau phải tương đối cân bằng nhau; Cân bằng về điều kiện giao hàng: Nếu xuất khẩu với giá CIF thì nhập khẩu CIF còn nếu xuất khẩu FOB thì nhập khẩu cũng phải với giá FOB

- Các hình thức buôn bán đối lưu: Khi tiến hành buôn bán đối lưu có thể lựa chọn một trong các hình thức cơ bản như sau:

+ Hàng đổi hàng (barter): Hai bên trao đổi trực tiếp cho nhau những hàng hoá có giá trị tương đương.Việc giao dịch hầu như diễn ra đồng thời

Ngày nay đôi lúc có thể d ng tiền để thanh toán một phần thiếu hụt, hơn nữa lại

có thể thu hút tới 3 - 4 bên tham gia

+ Trao đổi b trừ (Compensation): Còn gọi là trao đổi bồi hoàn Một mặt hàng này (hay nhiều mặt hàng) trao đổi với một (hay nhiều mặt hàng) khác trên cơ sở tổng trị giá giao Đến cuối kỳ hai bên so sánh đối chiếu giữa trị giá hàng giao và trị giá hàng nhận Số tiền chênh lệch được giữ lại chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về các khoản của họ tại nước bị nợ, không được rút tiền về nước chủ nợ

Đây là hình thức phát triển mạnh nhất của buôn bán đối lưu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thiếu ngoại tệ Hợp đồng b trừ có thể ký kết cho một thời gian dài (có thể từ 10 - 20 năm )

+ Mua bán đối lưu: Hai bên ký hợp đồng mua hàng của nhau Một bên giao thiết

bị cho khách hàng của mình và đổi lại mua sản phẩm của công nghiệp chế biến, bán thành phẩm và nguyên vật liệu cho họ

Việc mua bán hàng hoá trong khuôn khổ mua bán đối lưu được thực hiện trong một thời gian không dài (thường từ 1- 5 năm) còn giá trị hàng giao để thanh toán thường không đạt 100% giá trị hàng mua về

+ Giao dịch bồi hoàn (offset): Người ta đổi hàng hoá hay dịch vụ để lấy những dịch vụ ân huệ (như ân huệ trong đầu tư hoặc giúp bán sản phẩm) Giao dịch bồi hoàn hiện nay chiếm khoảng 25 % số hợp đồng buôn bán đối lưu Nó thường được sử dụng trong lĩnh vực buôn bán những mặt hàng kỹ thuật quân sự đắt tiền

+ Mua lại sản phẩm (buy - backs): Là một bên cung cấp thiết bị toàn bộ, sáng chế hay bí quyết kỹ thuật cho bên kia, đồng thời mua lại những sản phẩm do thiết bị hay kỹ thuật đó sáng chế ra

 Gia công quốc tế

Trang 25

21

Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận th lao (gọi là phí gia công)

Gia công quốc tế có thể là gia công thuê cho nước ngoài hoặc thuê nước ngoài gia công: Hoạt động này xuất hiện trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế

do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia Gia công thuê cho nước ngoài thường là hoạt động của các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường Còn thuê nước ngoài gia công thường là hoạt động của các nước phát triển Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thường ngắn, đầu vào và đầu ra gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi

là một bộ phận của hoạt động ngoại thương

Gia công quốc tế ngày nay được sử dụng khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên vật liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ công ăn việc làm cho nhân dân lao động và có thể nhận được công nghệ mới về nước mình

- Các hình thức gia công quốc tế T y theo cách tiếp cận mà có các hình thức gia công quốc tế khác nhau:

+ Nếu xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể được tiến hành dưới các hình thức: (1) Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công (2) Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu thuộc về bên nhận gia công (3) Ngoài hai hình thức trên, người ta còn

có thể d ng hình thức kết hợp, trong đó bên được gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ

+ Nếu xét về mặt giá cả gia công, người ta chia làm hai hình thức: (1) Hợp đồng thực chi thực thanh (cost plus contract) trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền th lao gia công (2) Hợp đồng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức (target price) cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và th lao định mức

 Tái xuất khẩu

Tái xuất là xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hoá đã được nhập khẩu nhưng chưa qua chế biến của nước tái xuất

Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn số đã bỏ ra ban đầu

Trang 26

22

Giao dịch tái xuất còn có tên gọi là giao dịch tay ba hay giao dịch tam giác (triangular transaction) vì trong giao dịch này luôn có ba nước tham gia: Nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu

- Các hình thức tái xuất: Có hai loại tái xuất là tái xuất khẩu có chở hàng về nước tái xuất và chuyển khẩu

+ Tái xuất khẩu có chở hàng về nước tái xuất là trường hợp hàng hóa được chuyển

từ nước xuất khẩu sang nước tái xuất rồi từ đó chuyển cho nước nhập khẩu, ngược dòng

di chuyển hàng hóa là tiền tệ Nói cách khác, tái xuất khẩu là nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang một nước thứ ba Điều này có nghĩa là nước trung gian bỏ tiền ra mua hàng hoá từ nước xuất khẩu đem về nước mình sau đó bán lại cho nước muốn nhập khẩu và thu tiền với điều kiện hàng hoá đó không được gia công hay chế biến gì thêm Khi đó, nước trung gian hưởng lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tiền thu vào và tiền bỏ ra Ở đây có hành vi kinh doanh nên lợi nhuận cao gắn liền với mức rủi ro lớn

+ Chuyển khẩu là trường hợp hàng hóa được chuyển thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu nhưng việc thanh toán vẫn được thực hiện qua nước tái xuất Trong một

số trường hợp, chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản nên không có rủi ro Chẳng hạn, Việt Nam nằm trên tuyến đường giao thông quốc tế Băng Cốc -Việt Nam - Trung Quốc nên thuận lợi trong việc thực hiện vận tải quá cảnh

Trong hai cách trên thì chuyển khẩu có lợi hơn vì nó giảm được chi phí vận chuyển và các chi phí khác về việc xuất nhập cảnh ở nước tái xuất Nhưng trong một số trường hợp cần thiết vẫn phải sử dụng hình thức tái xuất có chở hàng về nước tái xuất

 Giao dịch tại sở giao dịch

Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt tại đó thông qua những người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán các loại hàng hoá có khối lượng lớn,

có tính chất đồng loại, có phẩm chất có thể thay thế được cho nhau

Các trung tâm giao dịch lớn trên thế giới là: London, New york về kim loại màu; London, New york, Rotterdam, Amsterdam về cà phê; Bombay, Chicago, New york về bông; Winnipeg, Rotterdam, Milan, New york về lúa mỳ

- Các loại giao dịch ở sở giao dịch :

+ Giao dịch giao ngay (spot transaction): Là giao dịch trong đó hàng hoá được giao ngay và trả tiền ngay vào lúc ký kết hợp đồng Hợp đồng giao ngay được ký trên cơ

sở hợp đồng mẫu của sở giao dịch giữa những người có sẵn hàng muốn giao ngay và người có nhu cầu được giao ngay Vì vậy, đó là hợp đồng hiện vật Giá cả mua bán ở đây gọi là giá giao ngay (spot price hoặc spot quotation) Giao dịch này chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 10 %) trong các giao dịch tại sở giao dịch

Trang 27

23

+ Giao dịch kỳ hạn (forward transaction): Là giao dịch trong đó giá cả được ấn định vào lúc ký kết hợp đồng nhưng việc giao hàng và thanh toán đều được tiến hành theo một kỳ hạn xác định nhằm mục đích thu lợi nhuận do chênh lệch giá giữa lúc ký kết hợp đồng và lúc giao hàng Giao dịch này được gọi là giao dịch khống

Trong trường hợp giá cả biến động không đúng như dự đoán của mình, bên dự đoán không đúng có thể đề nghị đối phương hoãn ngày thanh toán đến kỳ hạn sau và trả đối phương một khoản tiền b

Giao dịch này hiện nay chiếm khoảng 90 % trong các khoản giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá

+ Nghiệp vụ tự bảo hiểm (hedging): Là một biện pháp kỹ thuật thường được các nhà kinh doanh sử dụng nhằm tránh những rỏi ro do biến động giá cả làm thiệt hại đến số lãi dự tính bằng cách lợi dụng giao dịch khống trong sở giao dịch

- Cách thức tiến hành: Gồm các bước sau: (1) Khách hàng uỷ nhiệm cho sở giao dịch mua hoặc bán hộ mình và nộp một số tiền bảo đảm ban đầu; (2) Nhân viên sở giao dịch ghi lên bảng yết giá cả, số lượng giao hàng và thời hạn giao hàng (3) Cuối ngày khi có người đồng ý mua, hoặc bán, người môi giới trao hợp đồng đã thảo sẵn và có chữ

ký của người mua hoặc bán cho khách hàng Khách hàng ký vào phần cuống của hợp đồng và trả phần này cho người môi giới, còn khách hàng giữ lại phần hợp đồng Nếu không có người mua hoặc bán, người môi giới ghi lên bảng giá công bố chữ " N " (chữ đầu của tiếng Anh "Nominal" có nghĩa là "danh nghĩa") (4) Đến thời hạn, khách hàng trao lại hợp đồng cho người môi giới để thanh toán b trừ (nếu có)

 Đấu giá quốc tế

Đấu giá quốc tế là một phương thức bán hàng đặc biệt được tổ chức công khai tại một nơi xác định, tại đó sau khi xem xét hàng hoá, những người đến mua tự do cạnh tranh giá cả và cuối c ng hàng hoá được bán cho người nào trả giá cao nhất

Trong buôn bán quốc tế, những mặt hàng được đem ra đấu giá thường là những mặt hàng khó tiêu chuẩn hoá (như da lông thú, chè, hương liệu ) và những trung tâm đấu giá nổi tiếng là: London, New york, Sydney, Amsterdam, Calcutta

- Cách thức tiến hành: (1) Chuẩn bị đấu giá: Chuẩn bị hàng hoá, xây dựng thể lệ đấu giá, In cotaloge về những lô hàng sẽ đem ra đấu giá, đăng quảng cáo về những cuộc bán đấu giá (2) Trưng bày hàng hoá để người mua có thể xem (3) Tiến hành đấu giá:

Có hai phương pháp: Phương pháp nâng giá: Nhân viên đấu giá nâng giá khởi điểm thấp nhất, sau đó khách hàng có mặt nâng giá dần theo một mức mặc cả quy định Lô hàng sẽ được bán cho người nào trả giá cao nhất sau khi người phụ trách gõ búa xuống bàn để thực hiện hành vi kết luận; Phương pháp hạ giá (hay cũng gọi là phương pháp đấu giá kiểu Hà lan): Nhân viên đấu giá nêu giá khởi điểm cao nhất rồi hạ dần cho tới khi người mua đồng ý mua (4) Ký hợp đồng và giao hàng: Sau cuộc đấu giá người thắng cuộc đến

Trang 28

24

ban tổ chức ký hợp đồng và phải trả một phần tiền hàng Sau một thời gian (từ 3 đến 14 ngày) người mua phải trả nốt tiền và lấy hàng đi

 Đấu thầu quốc tế

Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc bịêt, trong đó người mua (người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người bán (người dự thầu) báo giá và các điều kiện trả tiền, sau đó người mua sẽ chọn mua của người báo giá rẻ nhất và điều kiện tín dụng ph hợp nhất so với những điều kiện đã nêu

Đấu thầu quốc tế có hai hình thức: Đấu thầu mở rộng: Thu hút tất cả những ai tham gia; Đấu thầu hạn chế: Chỉ một số người được tham gia

- Cách thức tiến hành: (1) Chuẩn bị đấu thầu: Xây dựng bản " điều lệ đấu thầu " (bidding document ), thông báo gọi thầu (call for tender) (2) Sơ tuyển người dự thầu (3) Tạo điều kiện thuận lợi cho người dự thầu tìm hiểu các điều kiện đấu thầu (4) Thu nhận báo giá: Những người dự thầu căn cứ vào những điều kiện đấu thầu để lập và gửi cho người gọi thầu (người mua) trong thời gian ấn định bản báo giá và các tài liệu cần thiết đựng trong một phong bỡ được niêm phong kỹ (5) Khai mạc đấu thầu và lựa chọn người cung cấp: Vào thời gian ấn định, cuộc đấu thầu khai mạc với sự có mặt của người

dự thầu Người gọi thầu mở các phong bì, công bố nội dung các báo giá để người gọi thầu có thời gian nghiên cứu, so sánh các điều kiện báo giá, đồng thời để người dự thầu

có điều kiện giải thích thêm hoặc thương lượng thêm, người gọi thầu thường không công

bố ngay kết quả lựa chọn mà sau một thời gian nhất định (thường là vài tuần) sau khi bế mạc đấu thầu mới thông báo cho người thắng cuộc trong đấu thầu (6) Ký kết hợp đồng: Sau khi được thông báo người thắng cuộc ký hợp đồng với người gọi thầu và nộp tiền bảo đảm hợp đồng sẽ được thực hiện theo quy định của bản điều lệ đấu thầu

 Giao dịch tại hội chợ, triển lãm quốc tế

Hội chợ: Là một thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian và địa điểm xác định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký hợp đồng mua bán

Triển lãm: Là việc trưng bày, giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế hoặc một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học v.v Ngày nay triển lãm không những là nơi trưng bày giới thiệu hàng hoá mà cũng là nơi thương nhân tổ chức kinh doanh, tiếp xúc, giao dịch ký kết hợp đồng mua bán

- Trình tự tiến hành tham gia hội chợ và triển lãm ở nước ngoài: (1) Khi nhận được lời mời của ban tổ chức hội chợ (hoặc triển lãm) của nước ngoài, phòng thương mại

và công nghiệp Việt Nam có trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề sau: Mục đích, ý nghĩa của hội chợ (triển lãm) đó; Tính chất, vị trí và thời gian; Điều kiện thể thức trưng bày hàng hoá; Thành phần tham dự và khách tham quan (2) Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam báo cho các Công ty xuất nhập khẩu hoặc các tổ chức kinh tế có thể tham dự để họ lập kế hoạch tham dự, dự tr kinh phí (3) Các doanh nghiệp, tổ chức kinh

Trang 29

25

tế quan tâm chuẩn bị các hoạt động mua bán tại hội chợ (triển lãm): Nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, thương mại của nước đăng cai hội chợ (triển lãm) để biết nước đó quan tâm xuất nhập khẩu những gì, điều kiện vận tải, thuế quan, luật pháp và tập quán thương mại nước đó; Tìm hiểu tính chất hội chợ (triển lãm), điều lệ của nó, thành phần, số lượng nước tham gia, hàng hoá sẽ trưng bày và mua bán tại đó; Nghiên cứu tình hình giá cả các mặt hàng dự dịnh mua bán tại hội chợ (triển lãm ); Chuẩn bị và kịp thời phân phát các tài liệu quảng cáo; Chuẩn bị những vật lưu niệm; Xây dựng các mẫu đơn, chào hàng, hợp đồng; Kịp thời phân phát giấy mời đến thăm gian hàng của mình; Thao diễn thử máy móc, mặt hàng cần thiết; Chuẩn bị những vật lưu niệm dự định bán tại chỗ; Chuẩn bị điều kiện vật chất để đàm phán thương mại

b Đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh doanh, trong đó vốn đầu tư được di chuyển

từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích kiếm lời

Đây là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội

Như vậy, hoạt động đầu tư quốc tế có các đặc điểm: Thứ nhất, hoạt động đầu tư quốc tế chứa đựng những yếu tố quốc tế, ví dụ: tính đa quốc tịch, đa ngôn ngữ, đa văn hóa… Thứ hai, chủ đầu tư (mang vốn ra nước ngoài đầu tư) có thể là chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế, các công ty, tập đoàn hoặc các cá nhân Thứ ba, vốn đầu tư (phương tiện đầu tư) có thể biểu hiện dưới các hình thức: Tiền: nội tệ hoặc ngoại tệ; Tài sản hữu hình: thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu, dây chuyền công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, mặt bằng sản xuất ; Tài sản vô hình: bí quyết công nghệ, các đối tượng của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, phát minh, sáng chế ; Các tài sản đặc biệt: cổ phiếu, trái phiếu, vàng bạc, đá quý Thứ tư, mục đích đầu tư có thể là kinh tế (lợi nhuận) hoặc mục đích chính trị, mục đích xã hội, mục đích môi trường Thứ năm, về quyền sở hữu: Nếu như trong xuất khẩu hàng hoá có

sự di chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua thì trong xuất khẩu vốn, hay trong đầu tư, vốn vẫn thuộc quyền sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài, nếu có

sự di chuyển thì đó cũng chỉ là sự di chuyển tạm thời quyền sử dụng mà thôi

Đầu tư quốc tế có vai trò to lớn đối với cả hai phía: Bên đầu tư và bên tiếp nhận vốn đầu tư:

- Đối với nước đầu tư vốn (chủ đầu tư - xuất khẩu vốn): Giảm chi phí sản xuất, tăng tỷ suất lợi nhuận vốn; Các nước chủ đầu tư thường là nước phát triển, nơi tỷ suất lợi nhuận ngày càng giảm và có hiện tượng thừa tương đối tư bản; Giảm chi phí sản xuất ở nước nhận đầu tư do: Tận dụng nguyên liệu đầu vào và giá thuê nhân công rẻ; Khắc phục tình trạng lão hoá sản phẩm, kéo dài tuổi thọ các loại máy móc thiết bị, chuyển giao công

Trang 30

26

nghệ lạc hậu trong nước ra nước ngoài một cách hiệu quả nhất; Mở rộng và chiếm lĩnh thị trường ở nước ngoài do: Tránh được sự kiểm soát của hàng rào thuế quan và phi thuế quan, giảm chi phí vận chuyển và bảo hiểm hàng hoá, bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế Tuy nhiên, đầu tư vốn ra nước ngoài có thể dẫn đến hậu quả: Giảm sản lượng hàng hoá trong nước; Mất vốn đầu tư do gặp rủi ro ở nơi nhận đầu tư: chiến tranh, thiên tai, thay đổi chính sách và luật pháp, thể chế chính trị…

- Đối với nước nhận vốn đầu tư (Nước sở tại - nhập khẩu vốn): Là điều kiện để bổ sung nguồn vốn, giải quyết khó khăn về kinh tế xã hội trong nước; Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Tạo công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế nạn thất nghiệp trong nước; Tiếp nhận công nghệ tiên tiến với giá rẻ (cũ người mới ta); Tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến và nâng cao chất lượng nguồn lao động; Tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì nước nhận đầu tư có thể chịu những tác động tiêu cực như: Tạo ra sự phân hoá thiếu hợp lý về cơ cấu kinh tế ngành, v ng lãnh thổ và cơ cấu xã hội; Làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; Có thể dẫn tới sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước và

sự phá sản hàng loạt của doanh nghiệp nôị địa; Nếu chủ đầu tư nước ngoài tiến hành tổ chức lại sản xuất ở các doanh nghiệp họ đầu tư hoặc mua lại sẽ dẫn đến sa thải công nhân, tăng thêm nạn thất nghiệp cho nước sở tại

Đầu tư quốc tế có thể được thực hiện bằng hình thức chủ yếu là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp

- Đầu tư gián tiếp nước ngoài: là hình thức chủ đầu tư nước ngoài mang vốn sang nước khác để đầu tư nhưng không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đối tượng bỏ vốn đầu tư, hoặc thông qua việc mua cổ phiếu ở nước ngoài hoặc cho vay

Đặc điểm của loại đầu tư này là phạm vi đầu tư có giới hạn (Chủ đầu tư chỉ quyết định mua cổ phần của các doanh nghiệp có lãi và có triển vọng trong tương lai Số lượng

cổ phần bị khống chế ở mức độ nhất định để không có cổ phần nào chi phối doanh nghiệp (từ 10 - 25% vốn pháp định.) Đồng thời, chủ đầu tư không tham gia điều hành, nước nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong sản xuất và kinh doanh Chủ đầu tư thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định phụ thuộc kết quả kinh doanh Mặc d đầu

tư gián tiếp không có cơ hội như FDI nhưng có cơ hội phân tích rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước khác để đầu tư kinh doanh và trực tiếp quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn, đồng thời chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh dự án

Trang 31

27

Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về mặt chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế Chủ đầu tư tham gia điều hành nếu góp nhỏ hơn 100% vốn và trực tiếp tham gia điều hành mọi hoạt động nếu góp 100% vốn (công ty 100 % vốn đầu tư nước ngoài) Thông qua FDI, nước chủ nhà tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được Về nguồn vốn: ngoài vốn pháp định, còn bao gồm cả vốn vay trong quá trình triển khai hoạt động, hoặc tái đầu tư từ lợi nhuận thu được

Khi có hai hay nhiều hơn các tổ chức c ng phân quyền sở hữu của đầu tư trực tiếp thì hoạt động này gọi là liên doanh Loại đặc biệt của liên doanh gọi là hợp doanh, ở đó chính phủ hợp tác kinh doanh với tư nhân

1.2.2 Quản trị kinh doanh quốc tế

1.2.2.1 Khái niệm quản trị kinh doanh quốc tế

Khi quyết định tham gia vào kinh doanh quốc tế thì một doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức Khi đó, các yếu tố nội tại của công ty phải đương đầu với các yếu tố mới bên ngoài về văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh tế và cạnh tranh Các yếu tố nội tại của công ty là những nhân tố công ty có thể kiểm soát được Các yếu tố này bao gồm: Chính sách phân bổ nguồn nhân lực, chương trình đào tạo và phát triển nhân lực; Xây dựng văn hóa tổ chức; Tìm kiếm và phân bổ nguồn tài chính; Xác định phương pháp

và xây dựng kế hoạch sản xuất; Đưa ra các quyết định marketing; Đưa ra các chính sách đánh giá nhà quản trị và hoạt động của công ty

Hoạt động quản trị kinh doanh quốc tế sẽ phức tạp hơn rất nhiều so với quản trị kinh doanh nội địa khi bình diện tác động của các yếu tố đến kinh doanh quốc tế đã vượt qua biên giới các quốc gia, v ng lãnh thổ, châu lục nhưng về bản chất chức năng quản trị nó vẫn đự trên 4 trụ cột: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát Do đó:

Quản trị kinh doanh quốc tế là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động của những con người làm việc trong một tổ chức hoạt động trên phạm

vi quốc tế nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức

1.2.2.2 Vai trò của quản trị kinh doanh quốc tế

Các nhà quản trị kinh doanh quốc tế đều muốn hoạt động quản trị của mình đạt được các mục tiêu và phải thấy rằng các mục tiêu đo luôn đan xen, bổ trợ cho nhau trong một tổng thể các lợi ích mà hoạt động kinh doanh quốc tế đem lại thông qua vai trò của hoạt động này Cụ thể:

- Gia tăng doanh số bán hàng Doanh số bán hàng bị hạn chế do số người lưu ý đến sản phẩm hay dịch vụ của công ty và khả năng tiêu thụ của người tiêu d ng Các công ty có thể tăng tiềm năng doanh số bán hàng của họ bằng cách xác định thị trường tiêu thụ trên phạm vi quốc tế, vì số lượng người tiêu d ng và sức mua của họ đối với sản

Trang 32

28

phẩm của công ty sẽ cao hơn ở phạm vi toàn thế giới nếu so với chỉ tiêu thụ trên phạm vi quốc gia riêng lẻ

Thông thường, lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm bán được sẽ tăng lên khi doanh

số bán hàng tăng lên Nhiều công ty hàng đầu trên thế giới đã thu được hơn một nửa doanh số bán hàng của họ từ nước ngoài

- Tiếp cận các nguồn lực nước ngoài: Các nhà sản xuất và phân phối tìm thấy các sản phẩm, dịch vụ cũng như các bộ phận cấu thành sản phẩm được sản xuất từ ngoại quốc có thể giảm chi phí cho họ Điều này có thể làm cho doanh thu biên tăng lên hoặc việc tiết kiệm chi phí có thể chuyển sang người tiêu thụ, như thế sẽ cho phép công ty cải tiến chất lượng sản phẩm, hay ít ra cũng làm tăng tính khác biệt so với đối thủ cạnh tranh,

từ đó tạo điều gia tăng thị phần và lợi nhuận của công ty

Đối với mỗi quốc gia, các nguồn tiềm năng sẵn có không phải là vô hạn mà chỉ có giới hạn Do vậy, để có thêm nguồn lực mới, buộc các doanh nghiệp phải vươn tới các nguồn lực ở bên ngoài Các nguồn lực ở nước ngoài như: nhân công dồi dào và giá rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn và đa dạng, nguyên vật liệu phong phú, Đây là những nguồn lợi lớn mà các doanh nghiệp đang hướng tới nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, ngày nay nhiều nhà sản xuất, nhà phân phối cố gắng tiến hành sản xuất hay lắp ráp sản phẩm ngay

ở nước ngoài và tiêu thụ ngay tại đó, tức là áp dụng rộng rãi hình thức xuất khẩu tại chỗ

- Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh: Các công ty thường tìm cách tránh sự biến động bất thường của doanh số bán và lợi nhuận qua việc tiêu thụ hàng hóa ra thị trường nước ngoài Thí dụ: Hãng phim Lucasfilm đã có thể giảm bớt sự thất thường về doanh số bán hàng hàng năm qua giải pháp này vì thời kỳ nghỉ hè (lý do chính để trẻ em đi xem phim) khác nhau giữa Bắc và Nam bán cầu

Nhiều công ty khác lợi dụng thực tế để điều chỉnh thời gian của chu kỳ kinh doanh không giống nhau giữa các quốc gia khác nhau mà giữ vững doanh số bán Trong khi doanh số bán sẽ giảm đi ở một quốc gia đang bị suy thoái kinh tế thì sẽ lại tăng lên ở một quốc gia khác đang trong thời kỳ phục hồi

Các doanh nghiệp thường mong muốn làm thế nào tránh được sự biến động thất thường của doanh số mua, bán và lợi nhuận Cho nên, họ đã nhận thấy rằng thị trường nước ngoài và việc mua bán hàng hoá ở đó như là một biện pháp quan trọng giúp họ tránh được những đột biến xấu trong kinh doanh Chính việc đa dạng hoá hình thức và phạm vi kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực trong khuôn khổ một quốc gia Đa dạng hoá các hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài cho phép doanh nghiệp khắc phục những rủi ro trong kinh doanh (phân tán rủi ro), cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trong hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận

- Mở rộng phạm vi thị trường kinh doanh: Số lượng hàng hoá và trị giá hàng hoá (doanh số) được cung ứng và tiêu thụ tuỳ thuộc vào số người quan tâm đến sản phẩm hay

Trang 33

29

dịch vụ của doanh nghiệp Thị trường nội địa luôn bị giới hạn về sức mua, về nhu cầu Nếu doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh ở thị trường nước ngoài sẽ khắc phục được sự chật hẹp của thị trường nội địa do số lượng khách hàng, sức mua và khả năng cung ứng của khách hàng trên thị trường thế giới luôn lớn hơn thị trường ở từng quốc gia Nếu doanh nghiệp luôn mở rộng hoạt động kinh doanh ra nhiều khu vực thị trường khác nhau sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao doanh số kinh doanh của mình

Việc vươn ra thị trường nước ngoài, mở rộng phạm vi tiêu thụ hàng hoá còn có tác dụng giúp cho các doanh nghiệp mở rộng khối lượng cung ứng hoặc tiêu thụ, từ đó sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn Vì vậy, chính việc mở rộng cung ứng hoặc tiêu thụ là một động cơ chủ yếu đối với một doanh nghiệp khi tham gia thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế Mặt khác, khi phải đứng trước một thị trường nội địa

đã bão hoà, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bắt đầu tìm kiếm các thị trường nước ngoài Tuy nhiên, khi mở ra những thị trường mới, các tổ chức kinh doanh quốc tế lại chịu áp lực phải tăng doanh số bán và lợi nhuận cho tổ chức của mình Họ thấy rằng sự gia tăng thu nhập quốc dân đầu người và sự tăng trưởng dân số của các quốc gia đã tạo ra những thị trường đầy hứa hẹn cho hoạt động của họ

- Cuối c ng, bằng cách cung cấp c ng chủng loại sản phẩm hoặc các bộ phận cấu thành trên các quốc gia khác nhau, công ty cũng có thể tránh được hoàn toàn ảnh hưởng của sự biến động giá cả thất thường và sự thiếu hụt ở bất kỳ quốc gia nào

1.2.2.3 Yêu cầu đối với nhà quản trị kinh doanh quốc tế

Nhà quản trị kinh doanh quốc tế là người thực hiện các chức năng quản trị của việc lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động của công ty quốc tế trên

cơ sở nhận thức những vấn đề phức tạp của hoạt động kinh doanh quốc tế

Ngày nay, để có thể thành công trong lĩnh vực kinh doanh, nhà quản trị cần phải biết cách phát triển tư duy toàn cầu Nhà quản trị cần hiểu được toàn cầu hóa đã thắt chặt mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, thị trường, con người và thông tin giữa các quốc gia như thế nào Kinh doanh quốc tế luôn đóng một vai trò vô c ng quan trọng đối với những công ty muốn mở rộng thị trường ra nước ngoài, công ty đa quốc gia hay các tổ chức quốc tế

Nhà quản trị cần nắm bắt được những cơ hội trong môi trường kinh doanh quốc tế

và từ đó vạch ra những chiến lược để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất

Để trở thành nhà quản trị giỏi trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế phải có một vốn kiến thức nhất định về hệ thống luật và thuế trong kinh doanh, về marketing, tài chính doanh nghiệp, dây chuyền sản xuất, công nghệ …Đây là yêu cầu tiên quyết vì nó gắn liền với hiệu quả của quá trình ra quyết định Ngoài ra nhà quản trị phải có kỹ năng

cơ bản để ứng phó sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế

• Kỹ năng lãnh đạo: Đây là một kỹ năng không thể thiếu của một nhà quản lý

Lãnh đạo giỏi được thử thách qua sự thành công trong việc thay đổi hệ thống và con

Trang 34

30

người Thuật ngữ “lãnh đạo” đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn khi nhắc đến vai trò của người quản lý vì chức năng của lãnh đạo là xử lý thay đổi Người quản lý cần phải lãnh đạo giỏi để thay đổi sản phẩm, hệ thống và con người một cách năng động Nhà lãnh đạo giỏi phải là người thúc đẩy quá trình quyết định một vấn đề và trao cho nhân viên của

họ quyết định vấn đề đó Nếu bạn là một nhà lãnh đạo giỏi, quyền lực sẽ tự đến với bạn, nhưng bạn cũng phải biết khai thác quyền lực của những người khác Bạn phải thúc đẩy quá trình quyết định và làm cho quá trình đó hoạt động Đó là một bài toán khó

• Kỹ năng lập kế hoạch: Nhà quản lý là người ra quyết định và toàn bộ bộ máy

của công ty sẽ hành động theo quyết định đó Nghĩa là quyết định của nhà quản lý ảnh hưởng rất lớn tới vận mệnh của doanh nghiệp Một kế hoạch sai lầm rất có thể sẽ đưa đến những hậu quả khó lường.Vì vậy kỹ năng lập kế hoạch rất quan trọng để đảm bảo cho nhà quản lý có thể đưa ra những kế hoạch hợp lý và hướng toàn bộ nhân viên làm việc theo mục tiêu của kế hoạch đã định Khi kế hoạch được hoàn thành, nhà quản lý phải chuyển tải thông tin kế hoạch cho cấp trên và cấp dưới để tham khảo ý kiến Trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch, người quản lý sẽ cần đến những công cụ giải quyết vấn đề

và khi cần thiết, phải ra và thực thi các quyết định trong quyền hạn của mình

• Kỹ năng giải quyết vấn đề: Quá trình giải quyết vần đề có thể được tiến hành

qua các bước sau: nhận diện vấn đề, tìm nguyên cớ của vấn đề, phân loại vấn đề, tìm giải pháp và lựa chọn giải pháp tối ưu

• Kỹ năng giao tiếp tốt: Càng ngày người ta càng nhận ra sức mạnh của các mối

quan hệ, cái mà có được từ một kỹ năng giao tiếp tốt Bạn phải thành thạo giao tiếp bằng văn nói và cả văn viết Bạn phải biết cách gây ấn tượng bằng giọng nói, ngôn ngữ cơ thể, đôi mắt và cách diễn đạt dễ hiểu, thuyết phục Các bản hợp đồng ngày nay có được phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thương thuyết Khả năng giao tiếp tốt cũng phát huy tác dụng trong quản lý nhân sự Một chuyên gia về nhân sự đã từng kết luận rằng tiền có thể mua được thời gian chứ không mua được sự sáng tạo hay lòng say mê công việc Mà mức độ sáng tạo hay lòng say mê công việc lại phụ thuộc vào khả năng tạo động lực cho nhân viên để khẳng định lòng trung thành và sự cam kết của người lao động không thể có được bằng việc trả lương cao

Bên cạnh những yêu cầu trên, một nhà quản trị kinh doanh quốc tế còn phải hiểu khách hàng; Biết cách khuyến khích, tạo động lực cho nhân viên; Biết cách phân tích vấn đề; Hiểu biết ở mức độ nhất định về công nghệ; Biết cách quyết định để đưa ra những sản phẩm tầm cỡ thế giới; Luôn theo sát tỷ giá hối đoái; Tập trung vào nhận thức toàn cầu

Tóm lại, để trở thành nhà quản trị kinh doanh quốc tế hiệu quả, chúng ta cần xác định được công việc của một người quản trị phải làm để đạt được các mục tiêu của tổ chức đặc biệt trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt ngày nay

Trang 35

31

CÂU HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN Câu 1: Trình bày các khái niệm: Kinh doanh, quốc tế, kinh doanh quốc tế, quản trị kinh

doanh quốc tế

Câu 2: Nêu sự khác biệt giữa kinh doanh trong nước và kinh doanh quốc tế Từ sự khác

nhau này, cần phải lưu ý những gì khi thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế

Câu 3: Trình bày vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua những ví dụ cụ thể Câu 4: Trình bày các hình thức kinh doanh quốc tế Liên hệ với thực tế hiện nay ở nước

ta

Câu 5: Trình bày các hình thức liên kết kinh tế quốc tế của một quốc gia

Câu 6: Trình bày các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế quốc tế

Câu 7: Phân tích xu hướng phát triển của hoạt động kinh tế quốc tế hiện nay

Câu 8: Trình bày cơ sở hình thành hoạt động kinh tế quốc tế

Câu 9: Phân tích những yêu cầu cơ bản của một nhà quản trị kinh doanh quốc tế

Câu 10: Cho biết những nhận định dưới đây là đúng hay sai và giải thích tại sao?

1 Một trong những nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế là tìm kiếm các nguồn lực bên ngoài?

2 Vai trò chủ yếu của hoạt động kinh doanh quốc tế là giúp các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thoả mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến?

3 Điều kiện phát triển kinh tế là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế?

4 Sự hình thành các liên minh kinh tế quốc tế làm gia tăng hoạt động kinh doanh quốc tế của các nước thành viên và các nước không phải là thành viên?

5 Các công ty chè của Việt Nam hiện nay cần phải gia tăng xuất khẩu vào Irắc, Syria?

6 Các doanh nghiệp Việt Nam nên hướng vào thị trường các nước Đông Nam Á trước tiên trong hoạt động kinh doanh quốc tế của họ?

7 Công ty đa quốc gia sản xuất hàng hoá bằng việc huy động nguồn cung cấp toàn cầu?

8 Công ty đa quốc gia chủ yếu sử dụng phương thức vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không?

9 Xem xét các điều kiện tài chính của các quốc gia là vấn đề quan trọng khi đánh giá thị trường quốc tế của các công ty đa quốc gia?

Câu 11: Hãy lựa chọn phương án đúng hoặc đúng nhất cho những câu sau đây:

1 Phương án nào không ph hợp với lý thuyết về thương mại quốc tế:

A Thương mại quốc tế mang đến lợi ích cho tất cả các quốc gia

Trang 36

D Thương mại quốc tế làm cho sản xuất có hiệu quả hơn

2 Lợi ích từ thương mại quốc tế của quốc gia thể hiện bằng điểm tiêu d ng nằm:

A Trong đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó

B Trên đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó

C Ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó

D Cả 3 câu đều sai

3 Lợi ích của một quốc gia thu được từ thương mại quốc tế là do:

A Sử dụng nguồn lực trên mức tiềm năng của quốc gia

B Trao đổi mang lại

C Chuyên môn hoá mang lại

D Tất cả các phương án trên đều đúng

5 Mậu dịch quốc tế là một xu hướng tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới vì :

A Mậu dịch quốc tế mang lại lợi ích như nhau cho tất cả các quốc gia

B Giúp sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên thế giới nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu d ng

C Mậu dịch quốc tế quyết định chế độ chính trị của các quốc gia tham gia

D Tất cả các phương án trên đều sai

6 Kinh doanh thương mại quốc tế là hình thức kinh doanh có sự tham gia của:

A Hai quốc gia, hai doanh nghiệp

B Hai quốc gia, hai doanh nghiệp và hai hàng hoá

C Nhiều quốc gia, nhiều doanh nghiệp và nhiều hàng hoá

D Tất cả các phương án trên đều đúng

7 Đấu giá quốc tế là phương thức mua bán trên thị trường thế giới mà người bán sử dụng

để đạt các mục tiêu sau:

A Bán với giá cao nhất

Trang 37

33

B Thoả mãn mong muốn của người mua là mua với giá thấp nhất

C Khai thác sự cạnh tranh của người mua để bán với giá cao nhất

D Tất cả các phương án trên đều đúng

8 Đấu thầu quốc tế là phương thức mua bán mà người mua sử dụng trên thị trường thế giới để đạt các mục tiêu sau đây:

A Mua với giá thấp nhất

B Thoả mãn mong muốn của người bán là bán với giá cao nhất

C Mua với giá thấp nhất và điều kiện thanh toán ph hợp nhất

D Lợi dụng sự cạnh tranh của người bán để mua với giá thấp nhất

9 Khi có tranh chấp trong thực hiện hợp đồng thì phương pháp giải quyết tốt nhất là:

A Hai bên thương lượng để giải quyết

B Sử dụng người trung gian hoà giải

C Đưa ra trọng tài kinh tế quốc tế

D Tất cả các phương án trên đều đúng

BÀI TẬP ỨNG DỤNG Bài 1: Tình huống về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Trên trang dau-tu-moi-135568.html ngày thứ bảy, 28/11/2015 có bài viết “Việt Nam chuẩn bị đón làn sóng đầu tư mới” Nội dung bài viết có đoạn: “…Báo cáo về tình hình thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố cho thấy, nhiều dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn vào một số lĩnh vực trọng yếu cũng như sự quan tâm đến các lĩnh vực này của nhà đầu tư ngoại càng tăng

http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/viet-nam-chuan-bi-don-lan-song-Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến đầu tháng 11/2015, tổng vốn đầu tư nước ngoài cấp mới và tăng thêm vào Việt Nam đạt 19,29 tỷ USD, tăng 40,8% so với c ng kỳ năm ngoái Tổng vốn đầu tư nước ngoài giải ngân đạt 11,8 tỷ USD, tăng 16,3% so với c ng kỳ

Những ngành nghề có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ

gỗ, gạo, cà phê, nuôi trồng thủy sản, dược phẩm, du lịch giải trí, cơ sở hạ tầng, logistics… sẽ là đích nhắm của giới đầu tư nước ngoài trong thời gian tới”

Trang 38

4 Từ năm 2016 AEC bắt đầu đi vào hoạt động, ASEAN trở thành một thể thống nhất hơn làm cho các nguồn lực trong khối được di chuyển một cách tự do hơn Điều đó cũng đồng nghĩa với việc người lao động sẽ vừa đứng trước cơ hội, vừa phải đối mặt với những thách thức khó khăn trong tìm kiếm việc làm ngay trên đất nước ta (phải cạnh tranh với cả lao động trong nước và lao động của các nước khác trong khối đến Việt Nam tìm kiếm việc làm) Vậy bạn có suy nghĩ gì về vấn đề này? Bạn sẽ làm gì để tồn tại trong điều kiện cạnh tranh tìm kiếm việc làm ngày càng trở lên gay gắt hơn?

Bài 2: Tình huống về đầu tư kinh doanh gia công xuất khẩu

Tại một công ty cổ phần may có năng lực sản xuất hàng năm là 10.000 áo sơ mi Thông qua giới thiệu, một doanh nghiệp nước ngoài đến đặt vấn đề ký kết một hợp đồng sản xuất áo sơ mi với công ty theo khối lượng là 15.000 chiếc, giao hàng trong 6 tháng, đơn giá gia công (thiết kế do phía nước ngoài cung cấp) được trả là 8 USD / áo

Đứng trước hợp đồng này, có hai luồng quan điểm:

- Theo Phó giám đốc và trưởng phòng kinh doanh thì đây là cơ hội tốt để mở rộng quy mô kinh doanh, tuyển thêm lao động, mua thêm máy móc thiết bị Vì vậy, đề nghị công ty nên ký hợp đồng này

- Theo Giám đốc thì hiện tại vẫn chưa phải là thời điểm thích hợp để công ty nhận đơn đặt hàng này vì năng lực hiện tại của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế

Bạn hãy bình luận về hai luồng quan điểm trên Nếu bạn ở địa vị là người có thẩm quyền quyết định thì bạn sẽ giải quyết việc trên như thế nào? Tại sao?

Trang 39

35

Chương 2 QUẢN TRỊ MARKETING QUỐC TẾ

MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG

Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên cần nắm được:

 Việc xác định nguồn thông tin và các phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường quốc tế

 Qui trình nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu, tạo cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược marketing quốc tế

 Các chiến lược marketing quốc tế, từ đó đưa ra các quyết định ph hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG

2.1 Nghiên cứu và lựa chọn thị trường quốc tế

“Nghiên cứu thị trường thế giới là một quá trình thu thập tài liệu và các thông tin

về thị trường, so sánh và phân tích các thông tin đó, rút ra kết luận về xu hướng biến

động của thị trường thế giới trong từng ngành hàng, nhóm hàng tạo cơ sở xây dựng các chiến lược marketing của các công ty quốc tế” [trang 4; 2]

Mọi quyết định marketing đều bắt nguồn từ yêu cầu của thị trường, nên có thể nói nghiên cứu thị trường là động tác đầu tiên trong quá trình ra quyết định marketing Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô c ng quan trọng, nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó cung cấp đầy đủ thông tin chính xác để giúp nhà quản trị công

ty quốc tế đưa ra quyết định marketing ph hợp và mang lại hiệu quả cao Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thu thập thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động marketing sẽ không

hiệu quả, lãng phí

Đối với các công ty quốc tế, trước khi quyết định thâm nhập một thị trường, tung ra một sản phẩm mới, hoặc thực hiện một chiến dịch quảng bá truyền thông, hay quyết định điều chỉnh một trong các yếu tố chiêu thị như tăng giảm giá, thay đổi bao bì sản phẩm, tái định vị họ đều phải thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi xây dựng

kế hoạch chi tiết

Nhiều công ty quốc tế Việt Nam, hoặc do đánh giá không đúng tầm mức về ngân sách, đã không chú tâm đúng mực đến công tác nghiên cứu thị trường trước khi tung một sản phẩm mới, kết quả là họ đã gặp phải những khó khăn trong quá trình triển khai thâm nhập thị trường thế giới

Trang 40

36

2.1.1 Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu marketing quốc tế là bước đầu tiên và khó nhất trong qui trình nghiên cứu Đôi khi giám đốc marketing biết công ty đang gặp phải một số khó khăn nhưng có thể không biết được cụ thể những khó khăn đó xuất phát từ những nguyên nhân cụ thể nào Ví dụ doanh số bán của công ty ở thị trường nước ngoài sụt giảm có thể do các nguyên nhân như chọn phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu không đúng, hoặc các nguyên nhân từ sản phẩm, giá cả, hệ thống phân

phối, chương trình xúc tiến được xác định không ph hợp với thực tế

Sau khi xác định được vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu marketing phải xác định rõ mục tiêu nghiên cứu cần đạt được

2.1.2 Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

Một là, xác định thị trường nước có triển vọng nhất cho việc xuất khẩu hàng của công ty quốc tế hoặc nước nào đáp ứng được việc nhập khẩu với những điều kiện thuận lợi nhất

Hai là, xác định mức độ cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, đặc điểm mạnh yếu của đối thủ

Ba là áp dụng những phương thức mua bán cho ph hợp với yêu cầu từng thị trường

Bốn là, thu thập thông tin chính xác, đầy đủ kịp thời về tình hình thị trường

Năm là, tiến hành tìm sự vận động của thị trường, dự báo được dung lượng của thị trường, mức độ biến động của giá cả, trên cơ sở đó xử lý các nguồn thông tin, đề ra các chiến lược marketing ph hợp

2.1.3 Thu thập thông tin

- Tuỳ theo vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu cần phải liệt kê các thông tin cần thu thập

- Trên cơ sở xác định nguồn thông tin thứ cấp, sơ cấp người nghiên cứu sử dụng các phương pháp để tìm kiếm các thông tin thứ cấp ở các cơ quan tổ chức khác nhau; sử dụng phương pháp quan sát, thực nghiệm điều tra để thu thập thông tin sơ cấp

- Tiến hành thu thập thông tin Đây là khâu dễ xảy ra sai sót nhất, do đó cần phải được

2.1.4 Phân tích thông tin - Lựa chọn thị trường mục tiêu

2.1.4.1 Phân tích thông tin

Sau khi thu thập thông tin, người nghiên cứu phải xử lý, phân tích số liệu bằng phương pháp phân tích thống kê, mô hình và hệ thống thông tin marketing để từ đó đưa

ra những kiến nghị Người nghiên cứu cần phải kiểm tra xử lý số liệu và mã hóa nó để tính toán các chỉ tiêu thống kê Có nhiều phần mềm giúp người nghiên cứu xử lý thông

Ngày đăng: 13/07/2021, 08:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w