TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC======== LƯU THỊ HƯỜNG ĐÁNH GIÁ NHU CẦU SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DỰA TRÊN CƠ CHẾ CH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC
========
LƯU THỊ HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
DỰA TRÊN CƠ CHẾ CHIA SẺ LỢI ÍCH
Ở KHU BTTN PÙ HUỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Vinh - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC
========
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
DỰA TRÊN CƠ CHẾ CHIA SẺ LỢI ÍCH
Ở KHU BTTN PÙ HUỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : Ths Đào Thị Minh Châu Sinh Viên thực hiện : Lưu Thị Hường
Sinh viên lớp : 48B - KHMT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, vì đây là đề tài mới mẻ lại ít kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nên em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và quan tâm để hoàn thành đề tài.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm Khoa Sinh học, các thầy cô giáo trong Khoa cùng như toàn thể thầy cô ở các khoa dạy các môn đại cương đã nhiệt tình dạy dỗ, tạo điều kiện cho em được học tập tốt trong suốt khóa học.
Cho em gửi lời cảm ơn tới BQL KBT thiên nhiên Pù Huống, các anh chị kiểm lâm tại trạm Nga My, UBND xã Nga My cùng với toàn thể bà con tại 4 bản: Xốp Kho, Na Kho, Na Ngân và Na Ka đã tạo điều kiện, giúp đỡ
em để em hoàn thành đề tài.
Và đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học Th.s Đào Thị Minh Châu đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo
em trong suốt quá trình thực hiện làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Nhân đây, cho em gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè em đã cổ vũ, động viên và tạo điều kiện để em hoàn thành tốt đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Lưu Thị Hường
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình trạng đói nghèo ở các xã vùng đệm 27
Bảng 3.2: Các chỉ số đánh giá phát triển nông nghiệp 2005 – 2009 31
Bảng 3.3: Diện tích đất đai, dân số, dân tộc của 4 bản nghiên cứu 33
Bảng 3.4: Tình hình khai thác và sử dụng lâm sản của người dân các bản 38
Bảng 3.5: Mục đích sử dụng một số loại lâm sản chính 39
Bảng 3.6: Giá trị thu nhập của các loại lâm sản/hộ/năm (VNĐ) ở các bản 41
Bảng 3.7: Các nguồn thu nhập và thu nhập trung bình năm của các hộ
phỏng vấn ở các bản nghiên cứu (triệu đồng) 46
Bảng 3.8: Mức độ đồng thuận của người dân các bản vùng lõi đối với
cơ chế quản lý hiện nay 58
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lý của khu BTTN Pù Huống 24
Hình 3.2: Gỗ trong nhà dân và gỗ được kéo theo khe về ở bản Xốp Kho 43
Hình 3.3: Những người phụ nữ ở bản Na Kho đi lấy măng về 44
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ từ các hoạt động thu nhập ở 3 bản vùng lõi 48
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ từ các hoạt động thu nhập ở bản Na Ka 49
Hình 3.6: Người dân bản Xốp Kho tạo dòng điện nhờ sức nước ở khe 52
Hình 3.7: Hoạt động đốt rừng làm rẫy của người dân bản Na Ngân 53
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề 1
2.Tính cấp thiết 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 7
1.1.1 Khái niệm cơ chế chia sẻ lợi 7
1.1.2 Rừng đặc dụng 8
1.1.3 Các văn bản pháp luật về quản lý RĐD dựa vào cộng đồng 9
1.1.4 Lâm sản ngoài gỗ 11
1.1.5 Một số chính sách liên quan đến quản lý lâm sản ngoài gỗ 13
1.2 Kết quả nghiên cứu liên quan 14
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 16
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 22
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở khu BTTN Pù Huống 24
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
Trang 73.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở khu vực nghiên cứu 29
3.1.2.1 Huyện Tương Dương 29
3.1.2.2 Xã Nga My – Huyện Tương Dương 30
3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và đời sống 4 bản nghiên cứu 32 3.2.1 Bản Xốp Kho 33
3.2.2 Bản Na Kho 34
3.2.3 Bản Na Ngân 35
3.2.4 Bản Na Ka 36
3.3 Khai thác và sử dụng tài nguyên rừng ở địa phương 37
3.3.1 Các loại tài nguyên rừng mà người dân khai thác 37
3.3.2 Các loại tài nguyên rừng được sử dụng và gắn bó lâu đời 40
3.3.3 Các loại tài nguyên rừng trở thành hàng hóa 41
3.4 Mức độ phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng 45
3.4.1 Tài nguyên rừng và mức thu nhập của người dân 45
3.4.2 Tài nguyên rừng với sinh hoạt hàng ngày của người dân 50
3.4.3 Tài nguyên rừng với các hoạt động sản xuất và văn hóa, y tế 52
3.4.3.1 Tài nguyên rừng với hoạt động sản xuất 52
3.4.3.1 Tài nguyên rừng với văn hóa, y tế 53
3.5 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích 55
3.5.1 Một số mô hình quản lý dựa vào cộng đồng chưa thành công 55
3.5.2 Sự hiểu biết và mức độ tham gia của người dân vào bảo vệ rừng 57 3.5.3 Phân tích SWOT - Đánh giá khả năng thực hiện mô hình mới 59
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
4.1 Kết luận 62
4.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Như ông cha ta từ xa xưa từng nói: “Rừng là vàng, biển là bạc” để nóiđến giá trị to lớn của rừng Rừng là tài sản có giá trị rất lớn mà sự tạo hóa của
tự nhiên đã ban tặng cho con người, nó mang tới cho con người giá trị rất lớn
mà không gì có thể thay thế Rừng cho chúng ta sinh cảnh, môi trường sống,cho không khí để thở, cho chúng ta thực phẩm, dược liệu, cho vật liệu, khoángsản,…Rừng giữ đất, giữ nước, giữ độ ẩm và nhiều giá trị khác rừng mang lạicho con người
Từ khi loài người xuất hiện lần đầu tiên trên trái đất, họ đã phải dựa vàorừng để sống sót, để tồn tại và phát triển Họ hái lá cây, quả, bắt động vật từrừng để ăn, làm nơi ở từ cây rừng, sử dụng các vật dụng từ rừng,… Và cho tớibây giờ, thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa nhu cầu sử dụng các loại tàinguyên từ rừng vẫn không hề giảm sút, thậm chí ngày càng cao
Đặc biệt, đối với người dân bản địa sống gần rừng, đời sống của họ gầnnhư phụ thuộc hoàn toàn vào rừng Họ khai thác các loại lâm sản từ rừng đểphục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày, từ củi đun, thức ăn, thuốc chữabệnh hay gỗ để làm nhà,…Các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp của họ cũnggắn liền với rừng Việt Nam với 2/3 diện tích là vùng đồi núi, đây là nơi sinhsống của hơn 24 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc, mà chủ yếu là các cộng đồngdân tộc ít người đang có cuộc sống gắn bó với rừng cao Đời sống của các cộngđồng dân cư này đang gặp nhiều khó khăn bởi tình trạng gia tăng dân số, đấtcanh tác bị thu hẹp, khai thác tài nguyên rừng thì bị hạn chế
Với thực trạng diện tích rừng tự nhiên đang ngày càng giảm sút nghiêmtrọng, suy giảm đa dạng sinh học cao nên nhà nước và các bộ ngành có liênquan sẽ phải tìm ra giải pháp phù hợp để khắc phục tình hình Thời gian tới, sẽ
có các chính sách pháp luật nghiêm khắc hơn, trừng phạt mạnh tay hơn đối vớinhững hành vi phá rừng Nhưng nếu như thế thì sẽ có một số vấn đề bất cập đối
Trang 9xung đột giữa quyền lợi sinh tồn của người dân địa phương với với những quyđịnh và thực thi quản lý RĐD, nhất là người dân sống trong khu vực vùng lõicủa RĐD Bởi từ lâu đời họ đã có cuộc sống gắn bó với rừng, rừng cho họ sựsống Nếu như cấm hoàn toàn họ không được khai thác các loại lâm sản thì đờisống của họ hết sức khó khăn, sẽ sinh ra nghèo đói, như vậy vô tình lại biến họthành “lâm tặc” Trong khi đó, Việt Nam đã và đang xây dựng nhiều chínhsách, chương trình để xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng rừng núi nhưngvẫn không giảm bớt được áp lực vào rừng Vậy phải tìm giải pháp nào để khắcphục được tình trạng trên? Giải pháp nào để vừa bảo vệ được rừng tốt vừa đảmbảo được đời sống người dân miền núi?
Trong những năm trở lại đây, ở nước ta cũng như trên thế giới, các cụm
từ như “Lâm nghiệp cộng đồng”, “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng”, “Xã hội hóa nghề rừng” hay “Chia sẻ lợi ích” được người ta chú ý nhiều, đã có nhiều
nghiên cứu và thử nghiệm được tiến hành “Cơ chế chia sẻ lợi ích” (BSM Benefit Sharing Management) là một trong các hình thức quản lý rừng dựa vàocộng đồng đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên nó đangcòn mới mẻ ở Việt Nam Đây là hình thức chia sẻ về trách nhiệm, quyền hạn
-và lợi ích trong việc người dân tiếp cận với rừng, nó giải quyết được các mâuthuẫn trong quản lý rừng, vừa phát triển kinh tế - xã hội cho người dân địaphương vừa bảo vệ rừng và phát triển độ đa dạng sinh học Chính vì vậy, hiện
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đang xây dựng “cơ chế chia sẻ sẻ lợiích” chuẩn bị trình Quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo đó cho phép thiếtlập các mô hình thí điểm giữa BQL các KBT và cộng đồng địa phương về việc
sử dụng bền vững và bảo vệ tài nguyên rừng
Khu BTTN Pù Huống được thành lập theo quyết định của UBND tỉnhNghệ An năm 2002, nhằm bảo tồn các giá trị đặc hữu miền Tây Nghệ An nóiriêng và Bắc miền Trung nói chung Từ khi BQL KBT được thành lập thì cáctình trạng như: chặt phá rừng, phát rừng làm nương, nạn “lâm tặc” và một sốngười dân về khai thác gỗ được giảm đi rất nhiều Song hiện tại và tương laiBQL KBT sẽ gặp không ít khó khăn trong công tác bảo tồn Bởi số người dân
Trang 10phụ thuộc vào rừng ở đây rất lớn, hơn 90% số dân vùng lõi và vùng đệm ởKBT phụ thuộc vào rừng Hiện tại tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp ở vùngđệm của KBT đã gần như cạn kiệt, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vùng lõicủa KBT BQL của khu BTTN Pù Huống hiện đang tìm giải pháp hợp lý đểgiải quyết những khó khăn này.
Vì những vấn đề nêu trên nên tôi đã quyết định lựa chọn và tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương và khả năng quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích ở khu BTTN Pù Huống”.
2 Tính cấp thiết
Mỗi con người chúng ta sinh ra trong tự nhiên đều có quyền được sống,tồn tại và phát triển Bất kể là người thuộc dân tộc, tầng lớp nào, giàu haynghèo đều có quyền được hưởng lợi từ những điều kiện môi trường tự nhiên,các loại tài nguyên như: khoáng sản, rừng, đất, nước,… Hiện nay trên toàn cầucũng như ở Việt Nam đang có những chính sách hỗ trợ để nhằm giảm bớt tỷ lệgiàu – nghèo, đem đến nhiều quyền lợi cho người nghèo Đặc biệt ở Việt Namđang xây dựng các chương trình, chính sách phát triển vùng sâu, vùng xa, vùngdân tộc thiểu số Mặc dù những năm qua tỷ lệ nghèo đói đã giảm sút đáng kểtuy nhiên tỷ lệ đó đang còn cao, nhiều vùng nhất là những vùng dân tộc thiểu
số trong cả nước có đời sống bấp bênh, thiếu ăn, thiếu mặc, …
Hiện nay, trước tình hình những biến đổi thất thường của khí hậu (ViệtNam là một trong những nước chịu hậu quả lớn nhất), mưa axit, sự nóng lêncủa trái đất, cùng với nhận thức chưa đúng của con người đã làm cho diện tíchrừng nguyên sinh trên toàn cầu bị phá hủy một nửa, 30% trong tình trạng bịsuy thoái Còn ở Việt Nam, thật khó để ước lượng những tổn thất về rừng vàlâm sản hàng năm Theo báo cáo của hiện trạng môi trường Việt Nam thì cóthể ước định rằng tỷ lệ mất rừng của nước ta hiện nay là 120.000 đến 150.000ha/năm Trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, chiều hướng biến động rừng cơ
Trang 11môi trường Tuy diện tích rừng có tăng lên hàng năm nhưng với số lượng rấtkhiêm tốn và phần lớn rừng lại được trồng với mục đích kinh tế, sản xuất câylấy gỗ, ngắn ngày, mọc nhanh, mà chưa ưu tiên phát triển rừng phòng hộ, rừngnguyên sinh ĐDSH ở nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng mà chưa cóhướng giải quyết Cho nên chúng ta cần phải triển khai nhanh chóng biện phápbảo tồn hợp lý.
Một cuộc hội thảo quốc tế có quy mô lớn gồm 150 đại biểu đến từ 33quốc gia được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh từ 03 đến 06/10/2010 với
chủ đề “Quản lý rừng phục vụ xóa đói giảm nghèo” đã đưa ra con số là hiện
nay trên toàn cầu có 1,2 tỷ người sống chủ yếu dựa vào rừng Do đó việc cộngđồng tham gia vào quản lý lâm nghiệp là rất quan trọng, để có thể sử dụng hiệuquả nguồn tài nguyên rừng, đồng thời duy trì được những lợi ích về sinh thái.Hội thảo cũng đưa ra quan điểm rằng sở dĩ lâu nay công cuộc bảo vệ rừng chưahiệu quả vì công tác bảo vệ rừng chưa chú trọng đến cuộc sống người dântrong khu vực gắn với rừng Chuyên gia văn phòng FAO, khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, ông Patrik Durst cho rằng, lâm nghiệp là một nguồn lợi rấtlớn song lâu nay việc khai thác, sử dụng chưa hợp lý, không hiệu quả Sở dĩđiều này vì chính phủ các quốc gia chưa quan tâm đến cuộc sống người dân,chưa quan niệm rằng “lâm nghiệp phải phục vụ con người”
Bà Katherine Warner, trưởng đại diện văn phòng IUCN Việt Nam vàLào nói rằng chính phủ các quốc gia còn nửa vời trong việc xác định vai tròcủa lâm nghiệp tham gia vào xóa đói giảm nghèo, chưa quan tâm đến việc tạođiều kiện để người dân sống dựa vào các sản phẩm từ rừng Tại Việt Nam, ôngNguyễn Ngọc Bình, cục trưởng Cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cũng côngnhận rằng thời gian qua công việc bảo vệ rừng của Việt Nam chú trọng nhiềuđến mệnh lệnh hành chính, sử dụng nhiều biện pháp cưỡng chế để chống phárừng mà chưa thực sự quan tâm đến xây dựng những cơ chế quản lý phù hợpvừa bảo vệ rừng vừa đem lại lợi ích cho người dân
Phần lớn các Khu BTTN đều có dân sinh sống xung quanh hoặc bêntrong ranh giới Tại hầu hết các nơi trên thế giới, kết quả của việc thành lập và
Trang 12bảo vệ các khu BTTN phụ thuộc vào sự hợp tác của cộng đồng địa phương vàcác ban quản lý khu BTTN Các khu BTTN đều có dân sinh sống xung quanh
sẽ không đạt kết quả mong muốn nếu những mối quan tâm của cộng đồng địaphương không đáp ứng một cách phù hợp, người dân địa phương là nhữngngười hiểu biết rõ về vấn đề quan trọng và sống còn đối với KBT TN Vì vậyphải coi cộng đồng là những nhóm đặc biệt trong khi thành lập và quản lýKBT Các khu BTTN không thể tách rời khỏi nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội
và tinh thần của người dân địa phương
Cũng đã có nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng được triển khai ởViệt Nam nhưng các mô hình đó còn ít đề cập đến quyền lợi của người dân mà
đó là yếu tố rất cần thiết với người dân địa phương sống phụ thuộc vào rừngcao Nếu chúng ta không quan tâm thỏa đáng đến lợi ích của người dân vùng
có rừng, không tập trung đầu tư có hiệu quả và bền vững vào nông lâm nghiệpthì nông thôn có nguy cơ tăng thêm độ chêch lệch về thu nhập giữa nông thôn
và thành thị Thì sẽ có nguy cơ phá hủy môi trường, tài nguyên và hơn thế nữa
đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Chính vì vậy quản lý rừng dựa trên
“cơ chế chia sẻ” nguồn lợi từ rừng có thể là một giải pháp hữu hiệu để phát
triển người dân nghèo vừa bảo vệ rừng hiệu quả
Thực tế ở Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Pù Huống đã rất khó khăn trongviệc bảo vệ rừng vì dân cư không chỉ sinh sống xung quanh ranh giới khu bảotồn mà còn sống sâu trong vùng lõi của khu bảo tồn Cách mà Ban Quản Lý(BQL) thực hiện từ trước đến nay là cấm nghiêm ngặt các hành động khai thác
và thu hái trong rừng hầu như không có hiệu quả bởi lực lượng kiểm lâm thìmỏng trong khi nhu cầu khai thác của nhân dân thì lớn, thậm chí là việc sốngcòn với người dân bản địa Vì thế, để có thể bảo vệ rừng chỉ còn cách là dựavào dân, vào cộng đồng sống trong rừng và gần rừng Vì vậy mô hình quản lýdựa vào cộng đồng dựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích cần được nghiên cứu và ápdụng ở đây
Trang 133 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương vàkhả năng thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích vào quản lý RĐD ở khu BTTN PùHuống
Với các nội dung cụ thể như sau:
- Đánh giá việc sử dụng và mức độ phụ thuộc vào TNR của người dânđịa phương ở 3 bản vùng lõi của KBT TN Pù Huống
- Đánh giá việc sử dụng và mức độ phụ thuộc vào TNR của người dân
địa phương ở 1 bản vùng đệm của KBT TN Pù Huống Từ đó so sánh mức độ
sử dụng và phụ thuộc TNR giữa người dân vùng đệm và vùng lõi
- Đánh giá khả năng thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồngdựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích ở KBT TN Pù Huống
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan
1.1 Khái niệm cơ chế chia sẻ lợi ích
Khi đặt vấn đề về cụm từ “chia sẻ lợi ích” thì đa số chúng ta đều nghĩđây là cụm từ có tính định lượng, một số ít cho rằng nó vừa mang tính địnhlượng vừa mang tính định tính, bởi vì tuỳ thuộc vào một điều kiện hoàn cảnhnào đó thì nó sẽ có thuộc tính phù hợp với bản chất mà nó có thể đáp ứng Cụm
từ “chia sẻ lợi ích từ rừng” là một cụm từ có thể nói rằng trong xu hướng hiệnnay, ở bất kỳ quốc gia, khu BTTN hoặc bất kỳ dự án làm nghiệp nào cũng đềcập đến
Vấn đề khó khăn nhất hiện nay, đó là chia sẻ lợi ích từ rừng cho ai? Chia
sẻ cái gì? và chia sẻ như thế nào? cho đảm bảo đúng tên gọi của nó, vì mộtkhi đã sử dụng tài nguyên rừng nói chung thì cần phải có sự trao trả lại để rừngđược tiếp tục phát huy ưu thế, kể cả người làm công tác lâm nghiệp, ngườitham gia bảo vệ rừng Một vấn đề cần quan tâm nữa đó là người dân địaphương sẻ được chia sẻ lợi ích gì khi tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp
Ở đây nói đến người dân chia sẻ cái gì? Chia sẻ bao nhiêu? Đơn vị giám sát?Thẩm quyền phân định chia sẻ lợi ích? Các chế tài trong qua trình thực hiện?
Cơ chế Chia sẻ Lợi ích (BSM) là thuật ngữ được Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn và VCF ưu tiên sử dụng, là một sự sắp xếp cộng tác dựatrên cơ sở chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích Theo Borrini- Feyerabend(2000), một học giả nổi tiếng, người ủng hộ khái niệm này, BSM là sự tiếp cận
đa chiều đối với quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ghi nhận và hợp tácchặt chẽ giữa các đối tác khác nhau trong các vai trò khác nhau, để đạt đượcmục tiêu cuối cùng là bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên thiênnhiên, chia sẻ công bằng nguồn lợi và trách nhiệm có liên quan đến các nguồntài nguyên Tuy nhiên, như tác giả đã chỉ ra, quá trình đồng quản lý cần một sốđiều kiện cơ bản để có thể phát triển, bao gồm đánh giá đầy đủ các thông tin về
Trang 15bày tỏ nhu cầu và các mối quan tâm, môi trường xã hội không phân biệtnguyện vọng của các đối tác trong việc thương lượng và tin cậy đối với cácthỏa thuận.
Hay BSM về cơ bản có thể hiểu là một thỏa thuận đồng quản lý giữa các
tổ chức nhà nước (ở đây là BQL KBT) và những người dân địa phương (ở đây
là những người sử dụng rừng) về việc sử dụng quản lý và bảo vệ bền vững củacác KBT Dự tính cơ chế chia sẻ lợi ích sẽ được xây dựng với sự tham gia caonhư là khung tổ chức nhằm giải quyết các mâu thuẫn về tài nguyên thiên nhiên
và là một sự nỗ lực nhằm cân bằng giữa những ưu tiên bảo tồn đa dạng sinhhọc với nhu cầu về thực phẩm và thu nhập của người dân địa phương
Một quy luật tất yếu được nhiều quốc gia trên Thế Giới phải công nhận
và áp dụng đó là "Quyền hưởng dụng cây", hay "một tập hợp những quyền hạn
mà tổ chức hay cá nhân nào đó được pháp luật cho phép hưởng lợi và sử dụng
có mức độ với những loài cây mà họ bảo vệ" (Bruce, 1998) Như vậy muốnngười dân tham gia tự nguyện vào việc bảo vệ và phát triển rừng thì buộc phảicho họ thấy và hưởng những lợi ích mà rừng mang lại và ngoài môi trườngtrong lành ra họ còn được hưởng những lợi ích hữu hình, mang lại không chỉtinh thần mà cả vật chất cho họ Những nguồn lợi từ rừng mà họ có thể khaithác để vừa có giá trị kinh tế lại vừa có thể đảm bảo chức năng cơ bản của rừngchính là LSNG Bên cạnh đó, lâm sản phi gỗ còn mang lại cho người dânnguồn thu nhập thường xuyên hơn, không đòi hỏi đầu tư, hoặc đầu tư ít, ngắnngày dễ dàng để người dân các vùng miền núi, vùng sâu kinh tế đang nghèokhó có thể có cơ hội để phát triển và khai thác tốt các loại sản phẩm này
1.2 Rừng đặc dụng
Ở Việt Nam, Rừng đặc dụng (RĐD) được ra đời vào những năm cuốithập niên 80, đến 1991, khi luật bảo vệ và phát triển rừng ra đời thì cụm từtrên mới được thể chế bằng văn bản pháp luật Hệ thống RĐD Việt Nam ra
đời với đứa con đầu lòng là vườn Quốc Gia Cúc Phương (07/07/1962), (Lê Huy Bá – Tài nguyên rừng và Phát triển bền vững) Vào thời gian đó RĐD
Trang 16được gọi là “rừng cấm”, đây là cách gọi không sát với bản chất của RĐD Bởi
vì, những khu rừng này TNTN được bảo vệ là để sử dụng cho mục đích nàyhay mục đích khác chứ không hề bị cấm tuyệt đối Trên thế giới người ta gọicác khu RĐD là các “khu được bảo vệ”, cách gọi này có vẻ đúng với bản chấtcủa RĐD
Rừng đặc dụng là loại rừng được xác lập theo quy định của Luật Bảo
vệ và Phát triển rừng, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học;bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, dulịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường
Trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được chia thành cácphân khu chức năng sau đây
a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tựnhiên như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theodõi diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái
- Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô củaphân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chíbảo tồn và điều kiện thuỷ văn
b) Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh tháirừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết
c) Phân khu dịch vụ - hành chính: là khu vực để xây dựng các công trìnhlàm việc và sinh hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch
vụ du lịch, vui chơi giải trí
1.3 Khung pháp lý quản lý RĐD dựa vào cộng đồng
a) chính sách, quy định cho phép hoặc tạo điều kiện cho BQL RĐD dựa vào cộng đồng
Trang 17Các yếu tố của quản lý rừng dựa vào cộng đồng được quy định rải rác ởcác phần khác nhau của các chính sách và văn bản pháp luật với các mức độcho phép khác nhau.
- Đ13, Khoản 6, Điều 44 Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hànhLBVPTR; BQL khu RĐD được khoán công việc về bảo vệ rừng, gây trồngrừng, chăm sóc và làm giàu rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư thôn, lực lượng vũ trang tại chỗ để thực hiện việc bảo vệ và phát triển rừng
- Điều 15 Quy chế quản lý rừng ban hành theo Quyết định186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006: “Tổ chức, cộng đồng dân cư thôn đượcNhà nước giao RĐD mà cấp Bộ hoặc UBND cấp tỉnh không thành lập BQLkhu rừng, có trách nhiệm tổ chức việc quản lý khu rừng được giao”;
- Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn theo Quyết định106/2006/QĐ-BNN;
- Chương trình 327 theo quyết định 327 – CT ngày 15/09/1992 của Thủtướng Chính phủ và nối tiếp là Dự án 661 theo quyết định của Thủ tướng chínhphủ số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổchức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng: Sử dụng có hiệu quả diện tíchđất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phầnxóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thêm thu nhập cho dân cư sống ởnông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất làvùng biên giới
b) Chính sách, quy định pháp luật hạn chế RĐD dựa vào cộng đồng
- Thiếu khái niệm Quản lý KBT dựa vào cộng đồng
- Thiếu các quy định về việc giao, cho thuê, khoán quản lý RĐD chocộng đồng theo LBVPTR, 2004;
- Quyết định 186/QĐ-TTg của Thủ Tướng chính phủ ký ngày14/08/2006 về việc ban hành quy chế rừng: “ quy định rộng rãi chế độ nghiêmcấm sử dụng đối với RĐD”
Trang 18c) Chính sách, quy định pháp luật bắt buộc chính quyền cam kết với cộng đồng để tham gia quản lý RĐD
Về nguyên tắc chung, “Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan,
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân” theo Điều 9, Khoản 2 LBVPTR, 2004;
- Trách nhiệm của BQL để tái định cư khỏi khu vực bảo vệ nghiêm ngặtcủa RĐD và giao RĐD với hợp đồng ngắn hạn để bảo vệ rừng (Điều 54,LBVPTR);
- Trách nhiệm của UBND các cấp để giao và cho thuê rừng trong vùngđệm cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng (theo Điều 54, LBVPTR)
và lập quy chế về trách nhiệm của cộng đồng dân cư, từng hộ gia đình trongkhu RĐD để bảo vệ và bảo tồn (Điều 24, QC QLR);
d) Chính sách và văn bản pháp luật cho phép chia sẻ lợi ích từ việc quản lý KBT có cộng đồng sinh sống ở trong hoặc gần các khu RĐD
- Các quy định về hoạt động du lịch sinh thái trong các khu RĐD (Điều
23 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010)
- Tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tàinguyên thiên nhiên và sản phẩm rừng, các hoạt động du lịch sinh thái (Điều 24,
QC QLR);
- Cộng đồng là đối tượng của Quy định hướng dẫn rừng cộng đồng dân
cư thôn theo Quyết định 106/2006/QĐ-BNN quyền hưởng các lợi ích từ rừngđược thực hiện theo quy định tại Điều 19
1.4 Lâm sản ngoài gỗ (LSNG hay NTFPs)
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, lâm sản được quy vào hai loại: lâmsản chính - là những sản phẩm gỗ và “lâm sản phụ”- là bao gồm các sản phẩmngoài gỗ Từ năm 1961, lâm sản phụ được mang tên “đặc sản rừng” Ngày nay,thuật ngữ “lâm sản ngoài gỗ” được dùng thay cho “lâm sản phụ”
Tuy nhiên, ở nước ta cũng như ở nhiều quốc gia khác vẫn có những địnhnghĩa khác nhau về LSNG
Trang 19LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ,cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩanày là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm cây leo, thu gom nhựa và cáchoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này (FAO, 1995).
LSNG bao gồm tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghệ, gỗ làmdăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng đượcdùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, VHXH hoặc xã hội.Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lývùng đệm thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng (wickens, 1991)
Vậy “LSNG là bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ,được khai thác từ rừng, củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây, những dịch vụ trongrừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh, dịch vụ sinh thái”
LSNG có rất nhiều giá trị khác nhau, đặc biệt là trong đời sống củangười dân địa phương:
- LSNG là nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung của người dân miềnnúi, là nguồn thức ăn của gia súc, là nguồn dược liệu quý từ nhiều năm qua
- LSNG đóng vai trò quan trọng về mặt kinh tế, xã hội, môi trường, gắnliền với cuộc sống của gần 24 triệu đồng bào miền núi sống gần rừng và trongrừng
- Gây trồng LSNG trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc thu háiLSNG từ rừng tự nhiên đã thu hút hàng triệu lao động khu vực nông thôn miềnnúi
- Theo số liệu của FAO, ước tính khoảng 80% dân số trong các nướcđang phát triển sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ và dinhdưỡng
- Vài triệu hộ gia đình ở Việt Nam sống nhờ các sản phẩm này để đápứng các tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập
- Đối với nền kinh tế Việt Nam, năm 1990 tỉ trọng giá trị sản xuất LSNGchiếm khoảng 53% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp Từ đầu năm 2000 đến nay,
Trang 20kim ngạch xuất khẩu hàng hoá LSNG với tốc độ tăng trưởng khá cao từ 15 đến30% hàng năm.
- LSNG có vai trò trong cải thiện đời sống người nghèo: Các nước ĐôngNam Á có ít nhất 30 triệu người sống chủ yếu dựa vào LSNG LSNG đóng góptrung bình khoảng 40-50% vào tổng thu nhập hàng năm của các nông hộ, 70-80% thu nhập hàng năm của các hộ đói nghèo, 15-35% của các gia đình khágiả Những năm hạn hán, lũ lụt mất mùa thì đời sống của các hộ này dựa vàoLSNG là 85-90%
Ngoài ra LSNG còn có ý nghĩa cho môi trường sinh thái, tăng tính đadạng sinh học cho hệ sinh thái rừng, cung cấp dịch vụ giải trí, mỹ quan, dulịch,…Bảo vệ gián tiếp rừng, đất trồng và nguồn nước
1.5 Một số thể chế, chính sách liên quan đến quản lý LSNG
Hiện có 116 chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đều có liênquan đến LSNG nhưng chưa có chính sách cụ thể về LSNG
Một số chính sách, quyết định quan trọng như:
- Quyết định 661/QĐ-TTg ra ngày 29/07/1998 của thủ tướng chính phủ,
đề cập đến việc phát triển các loài lâm đặc sản/ lâm sản ngoài gỗ
- Quyết định số 664/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ra ngày18/10/1995 quy định về việc xuất khẩu một số loại LSNG có giá trị: nghiêmcấm xuất khẩu Tre, Mây, Song dạng nguyên liệu thô Được phép xuất khẩu cácsản phẩm chế biến từ Tre, Nứa, Giang, Vầu, Luồng, Trúc, Lồ ô, Song mây, lácây rừng
- Quyết định 132/TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng chính phủ (sửađổi) về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nông thôn đối vớiviệc phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có phát triển LSNG
Các chính sách về khai thác, sử dụng và hưởng lợi:
- Quyết định số 200-QĐ/KT ngày 31/03/1993 của Bộ Lâm nghiệp (nay
là Bộ NN & PTNT) quy định: rừng Tre, Nứa đều phải áp dụng phương thức
Trang 21khai thác chọn từng cây; được khai thác Măng làm thực phẩm vào cuối vụ sinhmăng.
- Quyết định 661/TTg ngày 29/07/1998: mọi sản phẩm khai thác từ rừngtrồng, Tre, Nứa và lâm sản phụ khai thác từ rừng tự nhiên được tự do lưu thôngtrên thị trường
2 Kết quả nghiên cứu liên quan
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hầu hết các quốc gia Asean đang có các chính sách phân cấp, phânquyền trong quản lý tài nguyên rừng Họ sử dụng khá thành công cách tiếp cận
có sự tham gia của người dân, chú ý đến tiến trình phát huy các kiến thức bảnđịa, nâng cao năng lực của các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hìnhquản lý rừng cộng đồng
Một số nước như Congo, Nepal, Bangladesh, Philippines, Thái Lan đãphát triển khá thành công các cách tiếp cận có sự tham gia và hình thành cácđịnh chế , phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng , nhóm sử dụng rừng( Forest User Group – FUG), RECOFTC – Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộngđồng trong khu vực châu á Thái Bình Dương đã hơn 20 năm phát triển cácphương pháp luận tiếp cận có sự tham gia để quản lý rừng cộng đồng
Theo trung tâm con người và thiên nhiên Việt Nam, tính đến hiện tại,Mêxico có trên 75% diện tích rừng được quản lý rừng bởi cộng đồng, chủ thể
là các Ejido – có thể hiểu là tổ hợp tác nông thôn và nhóm dân tộc thiểu số.Tiến trình chuyển đổi từ quản lý nhà nước sang nhóm đối tượng này đã diễn ra
từ những năm 20 của thập kỷ trước Với những thay đổi căn bản này, Mexicotrong con mắt các chuyên gia được xem là một ví dụ điển hình về quản lý cộngđồng, mặc dù tình trạng phá rừng trên thực tế vẫn còn tồn tại Bài học từ quốcgia Mỹ La Tinh cho thấy khi người dân đuợc giao rừng, họ sẽ có động lực quản
lý rừng bền vững Đây là giải pháp có lợi cả 3 bên: Nhà nước – Người dân –Rừng
Trang 22Người ta đã dần dà nhận thức hơn rằng hầu hết các chính phủ khôngkiểm soát rừng bằng người dân Điều này là lý do khiến cho chính phủGuatemala chấp nhận giao 450.000ha rừng nhiệt đới Maya cho 13 nhóm cộngđồng dân cư bản địa.
Trong hai thập kỷ qua diện tích rừng ở các nước đang phát triển do cộngđồng quản lý toàn bộ hay một phần cũng tăng gấp đôi So với diện tích rừngthế giới, tỷ lệ rừng do các nhóm cộng đồng quản lý nay chiếm 27%, hay hơn
400 triệu ha về con số tuyệt đối Luận thuyết của Gs Elinor Ostrom – ngườinhận giải Nobel kinh tế 2009 - đã một lần nữa khẳng định “cộng đồng quản lý
công sản tốt hơn chính quyền”, (thiennhien.net).
Tháng 9/2001 tại Chiang Mai – Thái Lan đã tổ chức một hội thảo quốc
tế về Lâm nghiệp cộng đồng, trong đó đã phản ánh nhu cầu phát triển phươngthức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam.Những vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng trong khu vựcnhư:
- Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên rừngcho cộng đồng
- Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liênquan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng
- Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâmnghiệp cộng đồng
- Phát triển các cách tiếp cận cả về kỹ thuật và xã hội để xây dựng các
kế hoạch quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng
Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khíacạnh cải tiến chính sách, thể chế, tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiếnthức bản địa, để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Một số quan điểm, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng được nghiên cứu trên thế giới:
Trang 23Gần đây các thuật ngữ về rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng đượcbàn cãi nhiều trong giới khoa học cũng như trong các dự án Cho đến nay chưa
có một thống nhất nào cho các thuật ngữ này
Theo FAO 1978, Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry), lâmnghiệp xã hội (Social Forestry) “là những thuật ngữ được dùng để chỉ việcquản lý rừng có liên quan chặt chẽ với người dân địa phương” Tuy vậy nóthường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn “như là các hoạt động lâm nghiệpđược tiến hành bởi cộng đồng hoặc một nhóm người dân địa phương” (J.E.Michael Arnold (1999)) Ở Nepal dùng thuật ngữ “Nhóm sử dụng rừng”(Forest User Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởicác nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng
Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) hay Comunity Based ForestManagement (CBFM) được hiểu là sự tham gia của người dân địa phương,nhóm hộ hay từng hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đấtrừng Cộng đồng quản lý rừng trực tiếp của cộng đồng hoặc tham gia quản lýrừng của các tổ chức khác như: rừng đặc dụng, rừng quốc gia, rừng lâm trường
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, quá trình chuyển hướng mang tính chiến lược của ngành lâmnghiệp từ lâm nghiệp thuần túy nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân - lâmnghiệp xã hội (xã hội hóa ngành lâm nghiệp) được thực hiện từ hơn 15 năm trởlại đây, đã tạo nhiều nhân tố tích cực mới, đa dạng hóa các hình thức quản lý
và phương thức tiếp cận mới đối với quản lý tài nguyên rừng Qua đó, ngoàilâm nghiệp quốc doanh còn phát huy được vai trò các thành phần kinh tế khác,đặc biệt là cộng đồng và hộ gia đình tham gia quản lý bảo vệ và phát triển vốnrừng
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển hướng này, lâm nghiệp cộng đồng(LNCĐ) mới chỉ dừng ở bước thí điểm và chưa được pháp lý công nhận, chođến ngày 03/12/2004, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội chínhthức thông qua, mới công nhận cộng đồng là một chủ thể được giao rừng với
Trang 24các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại các điều 29 và 30 Đây là mộtchủ trương đúng đắn, tăng cường xã hội hóa nghề rừng, tạo thêm sức mạnh choviệc quản lý và phát triển vốn rừng, góp phần ổn định và nâng cao đời sống củađồng bào dân tộc thiểu số miền núi, bảo đảm an ninh chính trị và quốc phòng.
Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa
có định nghĩa chính thức nào được công nhận Tuy nhiên, qua các cuộc hộithảo dường như mọi người thống nhất ở Việt Nam, có hai hình thức quản lýcộng đồng phù hợp với định nghĩa FAO như sau:
- Thứ nhất, quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ)
Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và
ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sửdụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng
Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyềnthống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước,…quản lý theo các luật lệtruyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng
tự nhiên giao cho hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặccác thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng vớitính chất thí điểm trong thời gian gần đây Ở Việt Nam ta, nhiều trường hợp làrừng được giao cho các tổ chức xã hội sở hữu và quản lý (có thời hạn), như:rừng Hội phụ nữ, rừng của Hội người cao tuổi, rừng của Đoàn thanh niên,Rừng của Hội cựu chiến binh,
- Thứ hai, quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộcquyền quản lý, sử dụng chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữucủa các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đếnviệc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích của cộng đồng Hìnhthức này bao gồm hai đối tượng:
+ Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộngđồng tham gia với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau
Trang 25trên cơ sở tự nguyện (tạo nên sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi côngcho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…).
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của tổ chức nhà nước (cácban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhànước, các trang trại,…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia cáchoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng,trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán vàhưởng lợi theo các cam kết trong cộng đồng
Từ những phân tích trên cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệmkhác nhau Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với nghĩa hẹp hơn để chỉ cộngđồng quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐhay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt độnggắn liền người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sảnphẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói các khác LNCĐ làmột hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cưthôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của thành phầnkinh tế khác
Với các hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này
vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng
góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng (Nguyễn Hồng Quân, 2006).
Khái niệm về cộng đồng: Cộng đồng là một tập hợp những người sống
gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những quan điểm đồng nhất về vănhóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ sản xuất
và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong thôn, bản
(Nguyễn Hồng Quân, 2006) Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn bản” (hiện có khoảng 50.000 thôn bản thuộc 9.000 xã) Tuy
Trang 26nhiên, trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng cảdòng họ, cộng đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản.
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớncác ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính làcộng đồng thôn bản Tại Điều 3 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã
định nghĩa: “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm tính đến tháng 6/2001, các cộng đồngdân cư thuộc 1.203 xã, 146 huyện của 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương đang tham gia quản lý 2.348.295 ha rừng, chiếm khoảng 15,5% diện tíchđất lâm nghiệp (đất có rừng và đất rừng) trên toàn quốc
Theo kết quả kiểm kê rừng đến 31/12/2003 thì rừng đã giao cho gia đình
và tập thể là 2.616.931 ha/tổng số 12.094.518 ha rừng toàn quốc tương ứng21,3%, trong đó rừng tự nhiên là 1.758.892 ha/tổng số 10.004.709 ha (tươngứng 17,6%), rừng trồng 858.039 ha/tổng số 2.089.0809 ha (tương ứng 41%)
Hiện trạng phân bố rừng cộng đồng theo vùng địa lý
- Vùng Tây Bắc với diện tích rừng cộng đồng là 1.057.585 ha, chiếm45,04% so với tổng diện tích rừng cộng đồng trong cả nước Trong đó, diệntích đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng là732.676,6 ha
- Vùng Đông Bắc với diện tích rừng cộng đồng là 472.376 ha, chiếm20,12% so với tổng diện tích rừng cộng đồng trong cả nước Trong đó, diệntích đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng là299.987 ha
- Vùng Tây Nguyên với diện tích rừng cộng đồng là 495.797 ha chiếm21,11% so với tổng diện tích rừng cộng đồng trong cả nước Trong đó, diệntích đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng là131.634,9 ha
Trang 27- Vùng Bắc Trung Bộ với diện tích rừng cộng đồng là 188.144,4 ha,chiếm 8,01% so với tổng diện tích rừng cộng đồng trong cả nước Trong đó,diện tích đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng là39.663,6 ha.
- Các vùng còn lại, diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng chỉchiếm một tỷ lệ nhỏ
Qua đây cho thấy, cộng đồng tham gia quản lý rừng chủ yếu là các cộngđồng cư trú tại khu vực miền núi cao, thuộc vùng sâu, vùng xa; sản xuất chủyếu là tự cung, tự cấp; số lượng và thành phần đồng bào các dân tộc thiểu sốchiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số; nơi còn duy trì nhiều phong tục, tập quáncủa dân tộc mình; cuộc sống của các thành viên cộng đồng gắn bó, chưa bị tácđộng nhiều bởi các trào lưu nếp sống của cơ chế thị trường; đồng thời, vai tròcủa già làng, trưởng bản còn có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức và chỉđạo các công việc của cộng đồng
Năm 2004, Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam (VCF) được thiết lậpnhư và là hợp phần bảo tồn của Dự án Hỗ trợ Phát triển ngành Lâm nghiệp doWB/GEF tài trợ với một cơ chế tài chính mới nhằm cung cấp viện trợ nhỏ đểcải thiện công tác quản lý các RĐD và huy động sự hỗ trợ từ trong nước vàquốc tế để tăng cường năng lực cho BQL các KBT và VQG và cộng đồng địaphương ở những vùng nhận được sự giúp đỡ viện trợ (BNN&PTNT 6/2004).Sau khi đã chọn được các tư vấn trong nước và quốc tế và thiết lập các vănphòng ở 3 miền Bắc –Trung – Nam vào cuối năm 2007, vào tháng 5 năm 2008,Ban thư ký VCF đã xác nhận rằng Cục Kiểm Lâm đã phê duyệt mô hình thíđiểm có tên gọi là Cơ chế Chia sẻ Lợi ích giữa BQL các KBT và cộng đồng địaphương như là một phương tiện nhằm giảm thiểu việc người dân có thể khôngđược tiếp cận các nguồn tài nguyên do các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh họctăng cường do VCF bảo trợ
Cơ chế chia sẻ lợi ích từ rừng được đề xuất thực hiện thí điểm tại 5 khurừng đặc dụng bao gồm: VQG Bạch Mã (Thừa Thiên Huế – Quảng Nam),VQG Núi Chúa (Ninh Thuận), VQG Lò Gò Xa Mát (Tây Ninh), Khu bảo tồn
Trang 28loài và sinh cảnh Mù Căng Chải (Yên Bái) và Khu BTTN Xuân Liên (ThanhHóa).
Nhận định quyết định xây dựng thí điểm quản lý rừng cộng đồng dựavào cơ chế chia sẻ là một cơ hội khi tạo ra cơ chế tiếp cận và hưởng lợi trựctiếp cho cộng đồng địa phương xung quanh và trong các khu RĐD, đồng thờicũng cho họ quyền tham gia vào các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng bền vững, góp phần cải thiện sinh kế và giảm nghèo
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở 4 bản: Xốp Kho, Na Kho, Na Ngân và Na
Ka thuộc xã Nga My, huyện Tương Dương
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
80 hộ dân được lựa chọn ngẫu nhiên để tìm hiểu, phỏng vấn, 97,5% số
hộ đều là dân tộc Thái và có 2,5% dân tộc Kinh
Bài nghiên cứu chỉ đánh giá sự phụ thuộc vào rừng dựa trên thu nhập,sinh hoạt, sản xuất, văn hóa, y tế của người dân địa phương vào tài nguyênrừng nhưng chủ yếu là đánh giá dựa vào mức thu nhập trong đời sống của họ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn hộ (Households interviews): Chọn ngẫu nhiên ra khoảng 20
hộ trong mỗi bản lựa chọn để tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi soạnsẵn (Questionnaires)
- Phỏng vấn những người chủ chốt, người cung cấp thông tin quan trọng(Key informant interviews): Bảng liệt kê các câu hỏi gợi mở (checklist) sẽ
Trang 30được sử dụng để phỏng vấn những thành viên đóng vai trò quan trọng trongcộng đồng địa phương; phỏng vấn ban quản lý khu BTTN, các cấp chínhquyền.
- Thảo luận nhóm (Group discussions): với nhóm dân địa phương để thuthập, đối chiếu số liệu và nắm bắt tình hình chung
- Quan sát (Fields Observation): Ngoài việc thu thập những thông tinqua cách phỏng vấn, thì người điều tra lấy số liệu còn phải quan sát các hoạtđộng sản xuất và khai thác TNR, các nguồn thu nhập, của các gia đình nơi họđến phỏng vấn để đối chiếu, bổ sung… làm chính xác hơn những số liệu mà họthu thập qua phỏng vấn
- Tìm hiểu và tổng hợp các thông tin về điều kiện tự nhiên và tình hìnhkinh tế, xã hội ở các địa phương thuộc phạm vi nghiên cứu từ các nguồn cósẵn
2.2.2 phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Phân tích định lượng: Sử dụng thống kê bằng Excel mô tả tóm tắt số
liệu nhằm có các giá trị trung bình, tần suất, phần trăm, bảng tra chéo, sơ đồ,biểu đồ nhằm làm thoả mãn những mục tiêu đã đặt ra Các loại xếp loại vàđánh giá định lượng sẽ được số hoá để dễ dàng trong việc thống kê
- Phân tích định tính: Các phương pháp sau sẽ được sử dụng: Trích dẫn,
Kết nối các vấn đề, phân tích SWOT (Strengths - Những điểm mạnh;Weakness - Những điểm yếu; Opportunities - Những cơ hội; Threats - Nhữngthách thức; Favorables – Thuận lợi; Difficults – Khó khăn)
- Phân tích thống kê: Phân tích phương sai, Hồi qui tuyến tính, Kiểm
định,… để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố được đưa vào đánh giá
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở KBT TN Pù Huống
Pù Huống có tên trong danh lục các khu rừng đặc dụng theo Quyếtđịnh 194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngày 9/8/1986 (BộNN&PTNT, 1997) Trong danh lục này Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
có diện tích là 5.000 ha, nhằm mục tiêu bảo tồn diện tích rừng tự nhiên còn
lại và loài cây gỗ quý là Pơ-mu Fokienia hodginsii (Cao Văn Sung, 1995).
Theo bản kế hoạch đầu tư mới, diện tích khu bảo tồn thiên nhiên là 49.806
ha, trong khi vùng đệm có diện tích 110.880 ha Ban Quản lý Khu Bảo tồnThiên nhiên Pù Huống được thành lập ngày 25/01/2002 theo Quyết định số342/QĐ-UB của UBND tỉnh
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lý của khu BTTN Pù Huống
Trang 32Khu BTTN Pù Huống nằm ở trung tâm của tỉnh Nghệ An và phía ĐôngBắc của dãy Bắc Trường Sơn, cách thành phố Vinh 150km về phía Tây bắc,cách quốc lộ 1A theo đường 48 đi vào từ huyện Diễn Châu 60km Khu BTTNnằm ở toạ độ địa lý: 19015’ – 19029’N; 104043’ – 105000’E.
- Địa hình và thuỷ văn
Khu BTTN Pù Huống nằm trên địa bàn các huyện Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Tương Dương và Con Cuông, tỉnh Nghệ An Khu bảo tồnthiên nhiên nằm cách 30 km về phía Bắc của dải núi Bắc Trường Sơn, bịngăn cách bởi thung lũng sông Cả Khu bảo tồn có địa hình đồi núi, dốc vàhiểm trở Độ cao trong vùng dao động trong khoảng từ 200 đến 1.447 m.Kiểu địa hình phổ biến là các ngọn núi chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, hình thành nên gianh giới giữa các huyện Quế Phong, Quỳ Châu vàQuỳ Hợp về phía Đông Bắc và các huyện Tương Dương, Con Cuông vềphía Tây Nam Điểm cao nhất trong khu bảo tồn là đỉnh Pu Lon (1.447 m) ởphần cuối phía Tây - Bắc của dãy núi
- Thảm thực vật và khu hệ động vật
Khu BTTN Pù Huống là một giải rừng nguyên sinh Đây là khu vực có
hệ động – thực vật đa dạng, có nhiều loài đặc hữu Đặc biệt nơi đây còn giữ
Trang 33được nét hoang sơ của thiên nhiên KBT có hơn 35.000ha được phân khunghiêm ngặt bảo vệ được các sinh cảnh nguyên sinh, đa dạng sinh học.
Có hai kiểu rừng chính ở vùng lõi của KBT:
- Rừng nhiệt đới mưa ẩm lá rộng thường xanh: Phân bố ở độ cao từ 200
m đến 800-900 m Các họ thực vật chiếm ưu thế là: họ Re, họ Dẻ, họ Dầu, tuy
ít loài nhưng số cá thể trong các tổ thành nhiều khu, nhiều nơi đã chiếm ưu thế
- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới: Phân bố ở độ cao trên 900 m, tạo
thành một dải dọc theo giông núi từ Pù Huống tới Pù Lon và một phần rất nhỏtrên núi Phu-Chay-Ngô ở phía Nam Kiểu rừng này chỉ chiếm dưới 10% diệntích – có 2 loài thực vật hạt trần điển hình là Pơ mu, và Sa mộc nhưng 2 loàinày chỉ phân bố tập trung ở đỉnh Pù Lon, phía Bắc Khu bảo tồn ở đai cao trên
1100 m, đôi chỗ cũng có các loài hạt trần khác là Thông tre và Kim giao lá bầu,
Pơ mu, Sa mộc, …
Cho đến nay, tổng cộng có 665 loài thực vật bậc cao có mạch đã đượcghi nhận ở KBT, trong đó có 43 loài có tên trong sách đỏ Ngoài ra có 291 loàithú trong đó có 45 loài có trong sách đỏ của Việt Nam Tổng cộng có 148 loàichim, trong đó có hơn 10 loài có trong sách đỏ Việt Nam Đặc biệt ở KBT có
sự hiện diện của nhiều loài đặc hữu, quý hiếm như: Vượn đen bạc má, Sao la(được ghi nhận vào 1995), Voọc xám, Hổ, Mang trường sơn, Mang lớn, Gà lôitrắng, Gà tiền mặt đỏ đã được xếp vào sách đỏ Việt Nam và thế giới
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Các hoạt động kinh tế
Các hoạt động sản xuất chủ yếu hiện nay ở 5 huyện vùng đệm Quỳ Hợp,Quỳ Châu, Con Cuông, Tương Dương và Quế Phong tập trung trong các lĩnhvực nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản; các hoạt động côngnghiệp, thương mại và dịch vụ còn rất hạn chế
Trong đó, sản xuất nông nghiệp chủ đạo nhưng đất canh tác lúa nước lạirất hạn chế, việc canh tác nương rẫy là thói quen của họ nhưng với điều kiệnđất đai khô hạn và cằn cỗi nên năng suất thấp, điều đó làm cho thu nhập của họ
Trang 34từ trồng trọt là rất thấp, phần lớn đều không đủ ăn, người dân sống trong vùngđệm chỉ có thể tự túc được khoảng 2/3 lượng lương thực Tình trạng thiếulương thực trầm trọng hơn ở các bản không hoặc ít diện tích ruộng làm lúanước Bên cạnh đó, tốc độ gia tăng dân số lại cao, khoảng 2,6% mỗi năm Tỷ lệ
nghèo còn rất cao, đặc biệt là ở các xã thuộc vùng đệm của KBT (Bảng 3.1).
Chăn nuôi ở đây khá phát triển, do có thuận lợi về diện tích rừng núi,đồng cỏ rộng lớn, thích hợp với chăn nuôi đại gia súc Gia cầm chủ yếu là Gà,Vịt được nuôi ở quanh vườn Bình quân mỗi hộ gia đình có nuôi từ 1- 2 conLợn, 1- 2 con Trâu hoặc Bò; mỗi xã có từ 150 đến 200 đàn Dê
Huyện Con Cuông 1 Xã Bình Chuẩn 55,2%
Huyện Tương Dương 1 Xã Nga My 73,3%
2 Xã Xiêng My 74,3%
Huyện Quế Phong 1 Xã Cắm Muộn 64,6%
2 Xã Quang Phong 66,6%
Nguồn: Biểu tổng hợp tình hình cơ bản của các xã năm 2008
Sản xuất lâm nghiệp là lợi thế lớn để phát triển kinh tế thông qua cácchương trình của Nhà nước như: Chương trình 327, 661, 147 Tuy nhiên, kinh
tế thu được từ sản xuất lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng
Sản xuất công nghiệp chưa phát triển, trong các xã vùng đệm chỉ có xãChâu Thành có cơ sở của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Kim loạimàu Nghệ Tĩnh đang khai thác quặng tại bản Trung Thành nhưng với quy mônhỏ, ngoài ra có một số cơ sở sản xuất thủ công, quy mô nhỏ như: Khai thác
đá, khai thác vàng, sản xuất bột giấy, nung gạch, sản xuất công cụ cầm tay, đan
Trang 35lát đồ thủ công mỹ nghệ,… Hoạt động dịch vụ thương mại chỉ mang tính chấtnhỏ lẻ, chủ yếu là buôn bán, trao đổi trong vùng.
- Dân số, dân tộc và văn hoá
Trong vùng đệm và lõi của KBT TN Pù Huống hiện nay có tới 43.283người dân sinh sống, thuộc 112 thôn bản, trên 98% số dân là người dân tộcthiểu số, phần lớn họ là người Thái, ngoài ra còn có dân tộc Ở Đu, Khơ Mú,chiếm một tỷ lệ nhỏ, cuộc sống đã quen với việc canh tác nương rẫy và lốisống phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng
Về văn hoá có thể nói Pù Huống thu hút khách du lịch bởi các phong tụcnơi đây Du khách đến với Pù Huống sẽ được thưởng thức nhưng vòm rượucần thơm, ngon; được ăn những món ăn nổi tiếng như canh Bồi (tiếng Thái gọi
là canh Ột) - canh được nấu trong ống nứa non; Hò Mọc thức ăn gói lá hôngchín; Môn nấu với thịt hoặc da Trâu Bò gác trên bếp đã khô; thịt chua ống Cácphong tục tập quán như làm vía; buộc chỉ cổ tay để làm bùa; tục uống rượu cầnkhi làm nhà mới, cưới hỏi, tang ma
- Y tế, giáo dục
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, Các chương trìnhtiêm chủng mở rộng cho trẻ em; phun tẩm màn chống muỗi; chăm sóc sứckhoẻ cho phụ nữ có thai, trẻ em sau khi sinh; chương trình phòng chống bệnhlao; công tác phòng chống AIDS… được phổ biến và thực hiện rộng rãi trongtoàn dân Mỗi huyện trên địa bàn vùng đệm đều có một bệnh viện đa khoađược đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị trang thiết bị tương đối tốtnhưng cơ sở vật chất y tế ở các xã còn nhiều thiếu thốn
Theo báo cáo của UBND các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Con Cuông,Tương Dương và Quế Phong thì 100% trẻ em đến tuổi đều đi học và các huyệnđều đã hoàn thành chương trình phổ cấp giáo dục tiểu học Tuy nhiên, do điềukiện về địa hình, giao thông đi lại khó khăn nên các lớp học tiểu học không tậptrung nên công tác quản lý giáo dục hạn chế và ảnh hưởng đến chất lượng giáodục ở cấp học này Hầu hết các xã vùng đệm của Khu BTTN Pù Huống đều ở
xa trung tâm huyện vì vậy không có trường PTTH nào nằm trên địa bàn Học
Trang 36sinh các xã vùng đệm khi học PTTH hầu hết phải ở trọ trong trung tâm củahuyện
3.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.2.1 Huyện Tương Dương
Tương Dương là một huyện miền núi vùng cao nằm ở phía Tây Namtỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh gần 200km và cách cửa khẩu Nậm Cắn90km, có quốc lộ 7A đi qua Huyện Tương Dương có đường biên giới dài58km tiếp giáp với nước Lào Vị trí địa lý của huyện có: Phía Bắc và Tây Bắcgiáp với huyện Quế Phong và nước Lào; phía Nam và Tây Nam giáp Lào; phíaĐông và Đông Nam giáp với huyện Con Cuông; phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn.Toàn huyện có 18 đơn vị hành chính xã, thị trấn, trong đó có một thị trấn là thịtrấn Hòa Bình
- Diện tích, địa hình:
Huyện có diện tích tự nhiên là 281.179,37ha (chiếm 17% diện tích toàntỉnh), trong đó diện tích đất nông nghiệp chỉ có 901,09ha (chiếm 0,32% diệntích tự nhiên của huyện), còn lại là đất lâm nghiệp và các loại đất khác Toàn
bộ huyện nằm trong vùng địa hình có độ cao trung bình từ 65 -75m so với mựcnước biển, địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn
- Dân số, dân tộc:
Tương Dương có tổng số dân là 75.993 người, gồm 6 dân tộc chủ yếu làThái: 54.815 nhân khẩu; Mông: 3.083 nhân khẩu; Tàypọong: 549 nhân khẩu; ƠĐu: 604 nhân khẩu; Kinh 7.805 nhân khẩu; Khơ Mú: 8.979 nhân khẩu; dân tộc
khác: 158 nhân khẩu ( Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009) Dân cư phân bố
không đều, chủ yếu tập trung ở dọc quốc lộ 7A, đặc biệt là ở thị trấn Hòa Bình.Mật độ trung bình là 27 người/km2 Trình độ dân trí không cao Huyện có cơcấu dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông,lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề ít
- Kinh tế - xã hội:
Trang 37+ Thu nhập bình quân đầu người: 8,9 triệu đồng
+ Thu ngân sách trên địa bàn: 189.000 triệu đồng
+ Tỷ trọng Nông nghiệp – Công nghiệp – Thương mại Dịch vụ: 43,49%
- 21,34% - 35,17% (số liệu thống kê cuối năm 2009).
Tính đến cuối năm 2009, toàn huyện còn 8500 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ57,8% so với tổng số hộ dân trên địa bàn huyện
- Văn hóa, giáo dục, y tế:
Với các chương trình của chính phủ như: Chương trình 135, Chươngtrình 134, Chương trình 30A đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục,
y tế của Tương Dương trong những năm gần đây 100% số trẻ được đếntrường, 100% trường học được kiên cố hóa, số lượng học sinh thi đỗ vào cáctrường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ngày càng cao Huyện có 1trường THPT, 1 trường THPT Dân tộc nội trú, 20 trường THCS, 37 trườngTiểu học, 21 trường Mầm non Các cơ sở y tế ngày càng được đầu tư, trang bị,100% số xã có trạm xã, 1 bệnh viện đa khoa với 50 dường bệnh, 1 trung tâm y
tế dự phòng, 3 cơ sở trạm xá đa khoa khu vực
3.1.2.2 Xã Nga My – Huyện Tương Dương
Xã Nga My là một xã vùng sâu, vùng xa thuộc diện xã khó khăn được
ưu tiên của nhà nước và của huyện Tương Dương nói riêng Từ trung tâm xãcách thị trấn Hòa Bình 60-70km Xã lúc mới thành lập có 14 bản, sau đó lênđến 15 bản do thêm một bản di dân đến Vì để tiện quản lý nên xã đã táchthành 2 xã: xã Nga My và xã Xiềng My Hiện tại, xã có 9 bản có 3 bản vùnglõi, bản có số dân đông nhất là bản Cộp có hơn 190 hộ
Xã Nga My có vị trí địa lý phía Bắc giáp huyện Quế Phong, phía Đônggiáp huyện Quỳ Châu, phía Tây giáp xã Yên Hòa, phía Nam giáp xã Xiềng
My, phía Tây Bắc giáp xã Yên Tĩnh và Tây Nam giáp xã Yên Thắng
- Về kinh tế
Về kinh tế toàn xã thực hiện mục tiêu Đại hội khóa XVIII đã đạt đượcmột số kết quả như: Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 5,5 triệu
Trang 38đồng; tổng lượng lương thực quy thóc 983,54 tấn/năm; Bình quân đạt lươngthực đầu người 226kg/người/năm; thu ngân sách trên địa bàn năm 2009 đạt 25triệu đồng
Thực hiện phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản đến
2009 toàn xã có: 1.398 con trâu, 1.208 con bò, 186 con dê, 1.749 con lợn vàtổng đàn gia cầm có 11.827 con Công tác thú y phòng chống và tiêm phònggia súc, gia cầm ngày càng được chú trọng hơn
Bảng 3.2: Các chỉ số đánh giá phát triển nông nghiệp 2005-2009
(
Báo cáo đảng bộ khoá 18 của Đảng bộ xã Nga My, 2005 -2010)
Thực hiện tốt khoanh nuôi, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng
tái sinh và duy trì thực hiện 2 chương trình kinh tế lớn của huyện đã đề ra;
Quản lý rừng đặc dụng: 6.002 ha Rừng phòng hộ: 2.126 ha Quy hoạch lâmnghiệp cộng đồng tại Bản Na Ka 107 ha Trồng keo theo chương trình 661:108ha Trồng theo chương trình 147: 13,3 ha Cây bản địa khác: 106,6 ha.Trồng cỏ: 17,7 ha
Công tác thương mại dịch vụ từ năm 2005 trở lại đây ngày càng đượcchú trọng nhiều hơn, lưu thông hàng hóa thuận lợi hơn, các loại hàng dịch vụnhư: bán hàng tạp hóa, xe khách, dịch vụ điện thoại ngày càng phát triển
Các loại hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhẹ đang được khôi phục
và hình thành, nghề truyền thống bản sắc dân tộc ngày càng được chú trọng vàphát triển như: dệt thổ cẩm, đan tre, may các thứ, tự đục mộc làm nhà,…đã tạo
4 Đàn trâu 1.124 con 1.398 con + 274 con
7 Đàn gia cầm 10.329 con 11.827 con +1.498 con
Trang 39- Văn hóa, dân tộc, giáo dục, y tế
Trường lớp Mầm non và tiểu học được khép kín 9/9 bản đáp ứng nhucầu học tập của các lứa tuổi, tỷ lệ huy động trẻ đến lớp ngày càng cao Nhờ sự
hỗ trợ của nhà nước trong các chương trình 134, 135 nên toàn xã đã có 9/9 bản
có trường mầm non kiên cố, xây dựng 1 trường chính 2 tầng của trường tiểuhọc và 8/9 bản có trường tiểu học cơ sở ổn định, 1 trường cấp 2 cho toàn xã,xây dựng nhà trạm xá tiêu chuẩn quốc gia, 9/9 có nhà cộng đồng thôn bản
Về chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng được chủ trọng nhiều hơn,công tác bảo hiểm y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhều tiến bộ, mạng lưới
y tế được khép kín từ xã đến bản, hoạt động có hiệu quả hơn Dân số kế hoạchhóa gia đình đã đi vào hoạt động tốt, tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2005 từ 12%;năm 2009 giảm xuống 8,0% Tuy nhiên toàn xã vẫn còn gặp nhiều khó khăntrong công tác y tế do thiếu vật chất, thiếu cán bộ, đường xá đi lại còn khókhăn nhất là ở các bản vùng trong
Thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá,đấu tranh bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu, tính đến nay đã có 2 bản đạtđơn vị văn hoá; Năm 2005 có: 203 hộ gia đình văn hoá đạt 24,32; năm 2009có: 520 hộ gia đình văn hoá đạt 56,32 %; có 9/9 bản xây dựng được hươngước, quy ước thôn bản;
3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và đời sống 4 bản nghiên cứu
Ba bản Xốp Kho, Na Kho, Na ngân là những bản nằm lọt hẳn trong KBT
TN Pù Huống Bản Xốp Kho là bản gần nhất, cách UBND xã Nga My 5kmđường đất đèo dốc khó đi và cách mốc phân giới giữa vùng đệm và vùng lõikhoảng 1km Đường đi bản Na Kho trải qua trên 10km đường đất, đường điuốn lượn theo khe Kho, nhỏ và cực kì khó đi, nhiều nơi qua suối nhưng chưa
có cầu, phải xuống dắt xe máy và lội qua Đi Bản Na Ngân là khó khăn nhất,con đường từ bản Xốp Kho đi Na Ngân khoảng 15km, đường nhỏ đi lên phíaBắc dọc theo khe Ngân, địa hình vô cùng hiểm trở và nguy hiểm, chỉ có thể điđược vào mùa khô, khi trời khô ráo, không có mưa
Trang 40Cả ba bản vùng trong đều có cuộc sống gặp nhiều khó khăn, đói nghèo,thiếu ăn thường xuyên, họ thu nhập chủ yếu từ các hoạt động: nông nghiệp,chăn nuôi, và thu hái các sản phẩm từ rừng Các hoạt động buôn bán, dịch vụtrong bản cực kỳ hạn chế Cả ba bản vùng trong đều chưa có điện, các hoạtđộng như y tế, giáo dục trong các bản còn gặp nhiều khó khăn.
Riêng bản Na Ka nằm ngoài vùng đệm của KBT, bản gần với UBND xã,các hoạt động và đời sống của bản gặp nhiều thuận lợi hơn so với 3 bản vùngtrong Nhưng nhìn chung thì cả 4 bản nghiên cứu có mức thu nhập còn thấp và
tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao
Bảng 3.3: Diện tích đất đai, dân số, dân tộc của 4 bản nghiên cứu
diện tích đất (ha)
Tổng diện tích đất rẫy (ha)
Tổng diện tích lúa nước (ha)
Tổng
số hộ gia đình
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Tỷ lệ dân tộc thiểu số (%)
Tỷ lệ biết tiếng kinh (%)
Tên dân tộc thiểu số