Mục tiêu của Khoá luận nhằm đánh giá thực trạng chương trình xây dựng nông thôn mới và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc xây dựng nông thôn mới tại xã Thanh Long theo những tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Mời các bạn cùng tham khảo!
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề liên quan đến thực trạng xây dựng NTM tại xã Thanh Long
- Hộ nông dân tại xã Thanh Long.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại xã Thanh Long, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian thực tập: từ 13/08 đến 23/12 năm 2018
+ Thời gian thu thập số liệu: Nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được lấy từ năm 2015 đến 2017; số liệu điều tra năm 2018
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, KT-XH tại xã Thanh Long
- Thực trạng xây dựng NTM tại xã Thanh Long
- Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình xây dựng NTM tại xã Thanh Long
- Đề xuất một số giải pháp xây dựng NTM của xã Thanh Long trong giai đoạn tới.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu
Xã Thanh Long bao gồm 11 xóm với điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau Để phân tích và đưa ra giải pháp cho từng vùng, nghiên cứu được thực hiện tại 4/11 xóm (Táp Ná, Bản Đâư, Lũng Vảy, Bản Tẩư) ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng Những xóm này đại diện cho đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và thực trạng xây dựng nông thôn mới của toàn xã Thanh Long.
Số lượng mẫu lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức Slovin (1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%:
(1+320×0,1 2 ) ≈ 76 (hộ) Trong đó: n là cỡ mẫu e là sai số cho phép
N là tổng thể Mỗi xóm chọn điều tra 19 hộ và tiến hành phỏng vấn 15 cán bộ công chức đang làm việc tại xã
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập thông tin từ sách báo, tài liệu, và báo cáo tổng kết của xã nhằm tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, văn hóa, môi trường và đời sống của người dân trong khu vực nghiên cứu.
* Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp quan sát trực tiếp được áp dụng để điều tra và đối chiếu thông tin từ bảng hỏi, nhằm đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới (NTM) tại xã Thanh Long.
Phương pháp thống kê là cách tổng hợp và phân tích số liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, giúp làm rõ các vấn đề cần tìm hiểu Thông qua việc phân tích số liệu thống kê, chúng ta có thể nhận diện thực trạng của vấn đề và đưa ra những nhận xét, kết luận chính xác.
Phương pháp SWOT được áp dụng để phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội của xã Thanh Long Qua đó, chúng ta có thể đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có của xã.
3.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
Sau khi thu thập thông tin thứ cấp, cần phân loại và sắp xếp chúng theo thứ tự ưu tiên và mức độ quan trọng Đối với các dữ liệu số, việc lập bảng biểu và phân tích tài liệu sẽ được thực hiện nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.
Sau khi hoàn thành, phiếu điều tra của các hộ và phiếu phỏng vấn cán bộ công chức sẽ được tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin bằng phần mềm Excel.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Xã Thanh Long, thuộc huyện Thông Nông, là một xã miền núi có tổng diện tích tự nhiên lên tới 2.149,88 ha Xã này nằm ở phía Nam huyện và tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính khác.
- Phía Bắc giáp với xã Ngộc Động, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;
- Phía Đông giáp với xã Bình Lãng, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;
- Phía Tây giáp với xã Yên Sơn, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;
- Phía Nam giáp với huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng;
Xã có tuyến đường liên xã chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH, giao thương với các xã khác trong và ngoài huyện
Xã Thanh Long có vị trí địa lý thuận lợi, chỉ cách trung tâm thị trấn Thông Nông 12km và giáp ranh với nhiều đơn vị hành chính, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao lưu buôn bán giữa xã và các khu vực lân cận.
4.1.1.2 Địa hình Địa hình xã Thanh Long là nơi hội tụ của các hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau tương đối phức tạp, địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, bình quân 26-30 o , diện tích núi đồi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chiếm khoảng 10% Địa hình phức tạp gây khó khăn cho giao thông đi lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là nguồn nước phục vụ cho công tác sản xuất, mùa khô gây ra hạn hán, mùa mưa hay gây ra ngập úng cục bộ Đất đồi núi chiếm 90% tổng diện tích đất tự nhiên, có độ cao trung bình từ 500-800m so với mặt nước biển, chủ yếu được hình thành trên cam kết, bột kết, phiến sét, đất Feralit đỏ vàng là nhóm đất chiếm phần lớn diện tích Đây là nơi xen kẽ đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp nên rất phù hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, đặc biệt là cây Sa Mộc và cây Xoan Hồi, cây Thông Đất bằng và đất ruộng chiếm 10% diện tích đất tự nhiên, được phân bố dọc theo các con suối, khe, những loại đất này được người dân chủ yếu trồng cây lúa và cây ngô [10]
Thanh Long thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực này dao động khoảng 22,8°C, với sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng khá lớn Tháng nóng nhất trong năm là từ tháng 6 đến tháng 8, khi nhiệt độ trung bình đạt khoảng 27,8°C.
12 đến tháng 1 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 16,5 0 C
Lượng mưa trung bình hàng năm ở khu vực này đạt khoảng 1662 mm, với sự phân bố không đồng đều giữa các tháng Mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 5, 6, 7 và 8, trong khi tháng 11 có lượng mưa rất ít Hàng năm, xã cũng ghi nhận hiện tượng mưa đá xảy ra từ 1 đến 3 lần.
Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.426,3 giờ, với tháng 8 có số giờ nắng cao nhất đạt 189,1 giờ, trong khi tháng 1 có số giờ nắng thấp nhất chỉ 26,3 giờ Độ ẩm không khí trung bình khoảng 86%, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 và 9 với mức từ 85-87%, và thấp nhất là 83% vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau Nhìn chung, độ ẩm không khí tại xã không có sự chênh lệch đáng kể giữa các tháng trong năm.
Lượng bốc hơi nước: Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm 854 mm, thấp nhất 65,4 mm vào tháng 2 và cao nhất là 77 mm vào tháng 4
Trên địa bàn xã, hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam, với tốc độ gió bình quân từ 1-3m/s Trong tháng 4, gió thổi liên tục cả ngày với vận tốc trung bình từ 2-3m/s Thời kỳ chuyển từ mùa Hạ sang mùa Đông là lúc tốc độ gió yếu nhất trong năm.