thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2001; “Giới, việc làm và đời sống gia đình”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2007;… Một số luận văn
Những khái niệm cơ bản về hôn nhân và gia đình
Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hôn nhân
Con người ngay từ khi được sinh ra đời đã hình thành những tình cảm, tình yêu thương như: tình mẫu tử, tình phụ tử,… Khi phát triển lớn lên trong mỗi chúng ta sẽ dần dần xuất hiện thêm nhiều thứ tình cảm khác, như là: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình (tình yêu con cái đối với cha mẹ, tình yêu của anh chị đối với các em,…) Đặc biệt có một thứ tình cảm rất đặc trưng cần phải nói đến là tình yêu đôi lứa – tình yêu nam nữ Tình yêu nam nữ chính là tiền đề cho quan hệ hôn nhân và gia đình sau này
“Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, hiểu theo nghĩa thông thường thì hôn nhân chính là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau
Theo Từ điền Tiếng Việt: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”.[17]
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại khoản 1 Điều 3 như sau:
“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”
Như vậy, theo pháp luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và
8 bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Từ khái niệm trên có thể thấy hôn nhân có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà:
Hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là hôn nhân dựa trên sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà, đó là hôn nhân một vợ một chồng được quy định tại các Điều 2, 4 và 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Thứ hai, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện:
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, việc kết hôn của nam và nữ là hoàn toàn do họ tự nguyện quyết định, không bị chi phối bới ý chí của bất kỳ ai và không ai có quyền thực hiện các hành vi gây cản trở cho việc kết hôn đó Việc kết hôn cũng không bị chi phối bởi vấn đề kinh tế, mà nó được xây dựng dựa trên cơ sở là tình cảm, tình yêu chân chính của nam và nữ
Thứ ba, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa vợ và chồng:
Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Kế thừa quy định trên của Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng tại Điều 17 như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi
9 mặt trong gia đình, trong vi các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”
Thứ tư, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng nhằm sống chung suốt đời với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc:
Tính chất “bền vững suốt đời” là đặc trưng của hôn nhân thời kỳ xã hội chủ nghĩa Khi yêu nhau, vợ chồng đều hướng tới mục tiêu sống chung suốt đời, gắn bó, hòa thuận với nhau
Thứ năm, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình:
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định một cách đầy đủ, chi tiết về điều kiện kết hôn Nam, nữ có quyền tự do kết hôn, tuy nhiên khi thực hiện quyền này thì phải nằm trong khuôn khổ các điều kiện về kết hôn mà pháp luật đề ra.
Khái niệm và các chức năng cơ bản của gia đình 9 1.2.Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 11 1.3.Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng13 1.3.1.Khái niệm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp người sống chung thành đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường bao gồm: vợ chồng, cha mẹ và con cái”.[17]
Theo Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản Khoa học: “Gia đình là một hình thái cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ”.[18]
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về gia đình tại khoản 2 Điều 3 như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”
Như vậy, có thể thấy khái niệm gia đình được hiểu dưới những góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ xã hội: Gia đình chính là tế bào nhỏ nhất hình thành nên xã hội, là một bộ phận không thể tách rời của xã hội;
- Dưới góc độ pháp lý: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay là quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Gia đình được hình thành khi một trong các sự kiện sau đây xảy ra: sự kiện kết hôn, sự kiện sinh con hay sự kiện nhận nuôi con nuôi,…
Với vai trò là một tế bào cấu thành nên xã hội nên gia đình sẽ thực hiện các chức năng xã hội của mình: chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế và chức năng giáo dục
Thứ nhất, gia đình có chức năng sinh đẻ: Đây là một chức năng rất quan trọng của gia đình, giúp tái sản xuất ra con người, quyết định đến sự tồn tại cũng như phát triển của toàn xã hội Chức năng này của gia đình sẽ đảm bảo duy trì và phát triển nòi giống, đồng thời đầu tư sức lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội
Thứ hai, gia đình có chức năng kinh tế: Đất nước ta với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế gia đình chiếm một tỷ trọng đáng kể và có vai trò quan trọng
11 trong việc duy trì và phát triển gia đình Do đó, chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng và chủ yếu của gia đình
Thứ ba, gia đình có chức năng giáo dục: Đây là một chức năng quan trọng, có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người Gia đình chính là cái nôi, là trường học đầu tiên giáo dục mỗi con người chúng ta Gia đình là nơi đào tạo cho con người chúng ta biết yêu thương, biết cư xử, biết lao động và rèn luyện nhân cách, đạo đức
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 với
9 chương, 133 điều đã thể hiện được những điểm tiến bộ rõ nét và tính nhân văn sâu sắc so với các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình những năm về trước, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới nhằm nâng cao chất lượng, sự bền vững của hôn nhân và gia đình, các quy định mới thể hiện sự tiến bộ rõ nét của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 gồm: Tăng cường bảo vệ quyền con người, Áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình, Nâng độ tuổi kết hôn của nam và nữ, Không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, Quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, Quy định thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn, Quy định bạo lực gia đình là căn cứ để ly hôn, Vấn đề chia tài sản phải xét yếu tố lỗi, Hạ độ tuổi hỏi ý kiến của con khi bố mẹ ly hôn, Cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo,…
Bất kì một ngành luật nào cũng đều có một hệ thống những nguyên tắc cơ bản ứng với mỗi ngành luật đó, nó đóng vai trò là một khung pháp lý chung được
12 pháp luật ghi nhận, có tác dụng nhằm định hướng, chỉ đạo cho toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật của ngành luật đó
Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đó là những nguyên tắc sau:
1 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
2 Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
3 Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con
4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
5 Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình
1.3 Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
1.3.1 Khái niệm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng 15 1.4.Sơ lược về địa vị pháp lý của vợ và chồng qua các thời kỳ lịch sử của đất nước
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 có quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Như vậy, Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận nguyên tắc bình đẳng của nam nữ Kể từ đó, nguyên tắc này đã được các bản Hiến pháp sau này của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa và ghi nhận
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận quyền bình đẳng của công dân tại Khoản 1 Điều 16: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” và được cụ thể hóa tại Điều 26 như sau:
- Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới
- Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội
- Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới
Trong mối quan hệ hôn nhân thì nguyên tắc bình đẳng nam nữ sẽ được xem xét và ghi nhận dưới góc độ bình đẳng giữa vợ và chồng Chính vì lẽ đó, Khoản 1 Điều 36 Hiến pháp 2013 cũng đã có quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”
Nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình không chỉ được Hiến pháp quy định và bảo vệ mà còn được điều chỉnh trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: pháp luật dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình,
Văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên đề cập đến vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 Ngay tại lời nói đầu của Tuyên ngôn đã tuyên bố rằng:
Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế [12]
Khoản 1 Điều 16 Bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định: “Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn”
Quy định nêu trên là một trong những quyền tự do cơ bản của con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Các Quốc Gia Hội Viên cam
17 kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu mà Bản tuyên ngôn đề ra (Điều 56)
Một văn bản pháp lý quốc tế tiếp theo phải kể đến là Công ước Cedaw về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 Công ước này đã thừa nhận một cách rõ ràng:
Sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vẫn đang tồn tại ở nhiều nơi và nhấn mạnh rằng: “Sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vi phạm các nguyên tắc bình đẳng về các quyền và tôn trọng nhân phẩm, là một trở ngại với sự tham gia của phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với đàn ông, vào đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội và chính trị của quốc gia họ, làm ảnh hưởng tới sự thịnh vượng của xã hội và gia đình, và gây nhiều khó khăn cho sự phát triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người [13] Điều 1 Công ước đã nêu ra định nghĩa về sự phân biệt đối xử như sau:
Vì những mục đích của Công ước này, thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ" sẽ có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính, mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào, được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác, trên cơ sở bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ [13]
Bản Công ước khẳng định tại Điều 2 và Điều 3 rằng Các quốc gia thành viên Công ước lên án sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ thể hiện dưới mọi hình thức,
18 đồng ý áp dụng tất cả những biện pháp thích hợp và không chậm trễ để thực hiện một chính sách xoá bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, và nhằm mục đích đó, cam kết:
- Thể hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp nước mình, hoặc vào các văn bản pháp luật thích hợp khác, nếu như việc này chưa được thực hiện, và bảo đảm, thông qua pháp luật và các biện pháp khác, việc thực hiện các nguyên tắc này trên thực tế;
Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
Xã hội thời kỳ phong kiến ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, địa vị của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng rất thấp kém, hoàn toàn phụ thuộc vào người đàn ông
Sớm nhận thức được sự bất bình đẳng giữa người đàn ông và người đàn bà trong xã hội nên vấn đề bình đẳng giới đã được nhà nước phong kiến Việt Nam quan tâm, thể hiện qua tư duy pháp lý mà đỉnh cao là những quy định tại Bộ luật Hồng Đức Bộ luật này gồm 13 chương và 722 điều ban hành vào thời vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497) Trong Bộ luật này, bên cạnh những quy định thể hiện sự phân biệt đối xử khá rõ ràng về sự bình đẳng giữa vợ và chồng, như quy định tại Điều 481 người vợ phải “phục tùng chồng và chịu sự dạy dỗ của người chồng” thì Bộ luật cũng có hẳn một nội dung lớn bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ, thể hiện quan điểm bình đẳng giới mà đến nay vẫn mang tính thời sự và cần kế thừa, học tập Cụ thể là các quy định sau:
Thứ nhất, quyền được Nhà nước bảo vệ hôn nhân:
Quyền này được thể hiện ở các quy định như sau:
- Điều 338: "Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ”,
- Điều 315 quy định việc trừng trị tất cả những ai đã gả con gái rồi mà lại thôi không gả nữa thì bị phạt “80 trượng” và đem gả cho người khác mà đã thành hôn
25 rồi thì bị xử tội “đồ”, người sau biết thế mà cứ lấy thì cũng bị xử tội “đồ”, người con gái đó phải gả cho người hỏi trước, nếu người đó không lấy nữa thì nhà người con gái phải bồi thường đồ sính lễ gấp đôi cho người đó;
- Điều 321 quy định vợ cả và vợ lẽ nếu tự tiện bỏ nhà chồng cũng như đi lấy chồng khác đều bị xử tội “đồ” và họ cùng gia sản phải trả về cho nhà chồng cũ;
- Điều 333 ghi rõ: Đã gả con gái rồi mà về sau vì thấy người chồng nghèo khổ, lại bắt con gái về thì bị xử phạt “60 trượng”, biếm hai tư, người con gái đó phải bắt trở về nhà chồng
Tất cả những người đàn ông nào biết mà vẫn lấy họ làm vợ đều bị xử tội “đồ”
- Điều 308, 309,… yêu cầu người chồng phải luôn thương yêu người vợ, phải chăm lo hạnh phúc cho gia đình
Thứ hai, quyền ly hôn của phụ nữ được thể hiện ở các quy định:
- Điều 308 quy định: Phàm chồng bỏ lững vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình quan sở tại, quan xã làm chứng) thì chồng đó mất vợ Nếu đã có con thì gia hạn 1 năm Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử “biếm”;
- Điều 309 quy định: Người nào mà quá say đắm với nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì bị xử tội “biếm” Bên cạnh đó, tất cả những hành vi gian dâm đều bị nghiêm trị với khung hình phạt rất nặng
Thứ ba, bình đẳng trong sở hữu tài sản: Điều 374, 375 và 376 tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng (phu điền sản); tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ (thê điền sản) và tài sản do hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân (tần tảo điền sản) Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do cha mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời
Bên cạnh đó, Bộ Luật Hồng Đức cũng có quy định bảo vệ phụ nữ như xử nặng đối với trường hợp xâm phạm thân thể của người vợ Điều 404 quy định nếu người chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc hay trong Điều 309 buộc người chồng phải tôn trọng thứ bậc của người vợ trong gia đình: “Ai lấy nàng hầu lên làm vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm” [2]
Bộ luật Gia Long được ban hành dưới Triều Nguyễn vào năm 1812, dù được ban hành sau Bộ Luật Hồng Đức tới hơn 300 năm nhưng Bộ luật này lại không kế thừa được tư tưởng tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức trong việc công nhận nguyên tắc bình đẳng giới cũng như bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Bộ Luật phủ nhận hoàn toàn vai trò của người phụ nữ và số phận của người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng của mình
Địa vị pháp của của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Thực dân Pháp đã đô hộ đất nước ta gần 80 năm, chúng đã thực hiện chính sách chia để trị đối với Việt Nam nhằm biến nước ta thành thuộc địa của chúng, cụ thể chúng chia đất nước ta làm 3 miền và mỗi miền lại có một chế độ pháp luật riêng biệt, đó là: Bộ luật dân sự Bắc kì năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung kì năm
1936, Bộ luật Dân sự Nam kì giản yếu năm 1883
Quan hệ vợ chồng khi được ba Bộ luật trên điều chỉnh đều thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc giữa người vợ và người chồng Tuy nhiên, bên cạnh các quy định thể hiện sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử với phụ nữ, pháp luật thời kì này cũng có những quy định thể hiện sự tiến bộ, đáng ghi nhận Cụ thể:
- Điều 76 Bộ luật Dân sự Bắc kì năm 1931 quy định việc kết hôn phải do hai bên nam nữ tự nguyện và bằng lòng;
- Điều 118 Bộ luật Trung Kì 1936 quy định cho phép người vợ có thể xin ly hôn trong những trường hợp sau đây:
+ Chồng không làm những nghĩa vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi dưỡng con tùy theo kế sinh nhai;
+ Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng con cái;
+ Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ con ra khỏi nhà
- Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Bắc kì và Bộ luật Dân sự Trung kì đã thừa nhận quyền sở hữu của người vợ trong khối tài sản chung là ngang bằng với người chồng,
Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công vang dội, xóa bỏ được ách thống trị suốt hàng ngàn năm của chế độ phong kiến lạc hậu, cổ hủ, mà ở đó có sự bất bình đẳng năm nữ, sự phân biệt đối xử một cách nặng nề đối với người phụ nữ Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Như vậy, nguyên tắc bình đẳng nam nữ đã được Nhà nước thừa nhận và coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng pháp luật Bằng việc quy định quyền bình đẳng nam nữ, Hiến pháp năm 1946 đã tạo lập cơ sở pháp lý để đấu tranh nhằm xóa bỏ dần sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Quyền bình đẳng giữa nam và nữ cũng như sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với quyền lợi của người phụ nữ tiếp tục được thể hiện ở các bản Hiến pháp về sau của nước ta như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 [22]
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam – Bắc Miền Bắc được giải phóng, bước vào xây dựng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Miền Nam tiếp tục cuộc Cách mạng đấu tranh, thống nhất đất nước Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi nhận quyền bình đẳng của vợ chồng trên mọi phương diện Ngay trong năm
29 đó cũng ra đời văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình của Nhà nước ra ta, đó là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 mà một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật này chính là nguyên tắc vợ chồng bình đẳng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng tại Điều 3, và được cụ thể hóa tại các Điều 12, 14, 15 và 16 Ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thế chân Thực dân Pháp xâm lược nước ta và có ba văn bản pháp luật được ban hành và áp dụng là: Luật Gia đình ngày 02 tháng 01 năm 1959 của chính quyền Ngô Đình Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 của chính quyền Nguyễn Khánh; Bộ Dân luật Sài Gòn ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Theo quy định của 3 văn bản pháp luật này thì phụ nữ phần nào đã có thêm những quyền lợi tương đương với người chồng: quyền có tài sản riêng, vợ chồng thỏa thuận vấn đề tài sản chung, quyền tự do lập hôn ước,
- Luật Gia đình năm 1959 đánh dấu mốc đầu tiên trong nền pháp chế Việt Nam bãi bỏ chế độ một chồng nhiều vợ bằng quy định: “Chế độ đa thê từ nay bị bãi bỏ hẳn” Quy định này thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo chế độ hôn nhân một vợ một chồng Bên cạnh đó, Luật còn quy định về ly thân tại Điều 55: “Cấm ly hôn, chỉ được phép ly thân”, quy định xử phạt đối với hành vi ruồng bỏ vợ hay chồng là có thể bị phạt tiền hay phạt giam tới 1 năm,
- Sắc luật số 15/64 năm 1964 quy định vợ hoặc chồng có thể yêu cầu ly hôn khi có một trong các căn cứ sau đây: Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu; Vì sự phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội; Sự ngược đãi, bạo hành hay ngục mạ, có tính chất thâm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể chung sống
30 với nhau được nữa; Vì có án văn xác định sự biệt tích của người phối ngẫu đã thất tung; Vì người phối ngẫu bỏ phế gia đình, sau khi có án văn nhất định xử phạt người phạm tội (Điều 63, Sắc luật số 15/64)
- Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 quy định tại Điều 136: “Vợ chồng có nghĩa vụ thủy chung với nhau và giúp đỡ nhau cùng chung lo xây dựng hạnh phúc gia đình và dưỡng dục con cái”; Điều 143: “Dưới mọi chế độ, vợ có quyền thay mặt chồng về những nhu cầu gia vụ và dùng tiền bạc của chồng vào những nhu cầu ấy Mọi hành vi của vợ trong phạm vi này đều có hiệu lực ràng buộc chồng, trừ phi người chồng đã tước quyền vợ và người đệ tam kết ước với người vợ đã biết có sự tước quyền”,
Về quyền được ly thân hoặc ly hôn, Điều 170 quy định về các trường hợp vợ hay chồng có thể xin ly hôn hoặc ly thân:
+ Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu;
+ Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;
+ Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ, có tính chất thậm từ và tái diễn khiến vợ chồng không thể ăn ở với nhau nữa
Tuy nhiên, cả ba văn bản này vẫn đề cao quyền gia trưởng trong gia đình của người chồng, quyền lợi của người vợ không được đảm bảo, do đó sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại trong xã hội niềm Nam thời kì bấy giờ
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu mốc lịch sử thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước thống nhất, cả nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiến pháp 1980 ghi nhận nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân gia đình Năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình mới ra đời thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã không còn phù hợp với xu thế phát triển đất nước Nhìn chung, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã kế thừa những điểm tích cực trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 trong việc đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong mối quan hệ hôn nhân gia đình
Sau đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng, tiếp tục ghi nhận nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, trong phạm vi gia đình, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt Đồng thời cũng đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc lựa chọn chỗ ở, việc làm, trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, thừa nhận vợ chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản chung, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn kịp thời bổ sung các quy định mới, sửa đổi, loại bỏ các quy định cũ đã lạc hậu, không theo kịp xu hướng phát triển của xã hội nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh tron thực tiễn ở lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình
Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Vợ chồng bình đẳng trong quan hệ nhân thân
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện chưa có quy định thế nào là quyền nhân thân, tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình với tư cách là một ngành luật chuyên ngành thuộc lĩnh vực dân sự nên có thể chiếu theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân được quy định trong
Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (khoản 1 Điều
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định khái quát nhất về quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng tại Điều 17 như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”
Như vậy, sau khi nam nữ kết hôn hình thành quan hệ vợ chồng thì sẽ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi vấn đề liên quan đến gia đình mình, từ việc quyết định các công việc của gia đình, việc chăm sóc, giáo dục con cái, hay trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật Đây chính là một điểm mới đáng chú ý của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, khẳng định quan điểm của Nhà nước về sự bình đẳng giữa vợ và chồng không chỉ gói gọn trong quan hệ gia đình mà còn trong các
33 quan hệ khác của đời sống xã hội được thể hiện qua những quyền công dân được Hiến pháp quy định
1.5.1.1 Bình đẳng qua nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau
Khoản 1 điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”
Theo Từ điển Tiếng Việt, “chung thủy” trong mối quan hệ vợ chồng là “tình cảm trước sau như một, không thay đổi” [17]
Trong thời kì phong kiến Việt Nam trước kia đã xuất hiện bài ca dao “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” Sở dĩ có câu ca dao đó là xã hội
Việt Nam thời phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, vì vậy nghĩa vụ chung thủy trong quan hệ vợ chồng chỉ đước đặt ra đối với người phụ nữ, còn người đàn ông thì có quyền đa thê Điều này thể hiện sự phân biệt đối xử đối với người phụ nữ cũng như thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc giữa người vợ và người chồng trong quan hệ hôn nhân gia đình
Trong xã hội hiện đại, tình yêu là nền tảng xây dựng nên quan hệ hôn nhân, là sợi dây vô hình gắn kết người vợ và người chồng, và chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là những biểu hiện của tình yêu đó Điều đó có nghĩa là vợ chồng cần yêu thương, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhau; đồng thời giữ gìn danh dự, uy tín, nhân phẩm; quan tâm, động viên lẫn nhau và tạo điều kiện cho đối phương phát huy những điểm mạnh của bản thân Có như
34 vậy thì mới tạo ra một gia đình bền vững, hạnh phúc, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại
Chính vì vậy pháp luật Hôn nhân và Gia đình đặt ra nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là nghĩa vụ bình đẳng của cả vợ và chồng, đòi hỏi người vợ và người chồng cần cố gắng thực hiện để bảo vệ hạnh phúc gia đình
1.5.1.2 Bình đẳng trong việc lựa chọn nơi cư trú Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính”
Vấn đề phát sinh đầu tiên sau khi quan hệ vợ chồng được hình thành có lẽ là việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng, do đó pháp luật Hôn nhân Gia đình thừa nhận vợ chồng bình đằng với nhau trong việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng bằng cách quy định nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận để lựa chọn, sự lựa chọn này không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán của địa phương, vào địa giới hành chính Vì vậy, vợ chồng cần thỏa thuận và lựa chọn thế nào để phù hợp với điều kiện sinh sống và làm việc của gia đình mình
1.5.1.3 Bình đẳng trong quyền lựa chọn tự do tín ngưỡng, tôn giáo Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân như sau:
- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật;
- Nhà nước tôn trọng và bảo hộquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
- Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật Để kế thừa quy định của Hiến pháp 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định tại Điều 22 về tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo trong quan hệ vợ chồng Quy định này như sau: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau”
Trong thời kỳ hôn nhân, có thể sẽ phát sinh vấn đề người vợ hoặc người chồng muốn thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo của chính bản thân mình Khi đó, bên còn lại cần tôn trọng ý muốn của người vợ hoặc người chồng của mình trong việc lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo mà không có quyền gây cản trở, áp đặt ý chí của mình cho người vợ hoặc chồng mình
1.5.1.4 Bình đẳng trong vấn đề học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, phụ nữ cũng như nam giới cần phải được học tập và nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đảm bảo cho cuộc sống của bản thân mình, của gia đình mình cũng như đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của toàn xã hội
55 ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 – THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN 55 2.1 Thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 55 2.1.1.Áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong thực tiễn xã hội ở nước ta hiện nay
Áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay
Trong nhiều năm trở lại đây, Đảng và nhà nước ta đang rất quan tâm, chú trọng xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và đặc biệt là pháp luật hôn nhân và gia đình Quan trọng nhất phải kể đến là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 với nhiều nội dung mới được quy định đã khắc phục phần nào những hạn chế, thiếu xót của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 trong việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng, và đặc biệt Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 dự liệu được nhiều tình huống có thể xảy ra trong đời sống hôn nhân, gia đình nhưng không làm mất đi giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống vốn có của dân tộc Việt Nam ta
Cụ thể, việc Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chế độ tài sản theo thỏa thuận có những ưu điểm sau:
- Bảo đảm quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản mình: Về nguyên tắc chung, chế độ tài sản theo thỏa thuận cho phép vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng
Do đó, sẽ bảo đảm cho vợ, chồng có quyền tự định đoạt đối với tài sản chung và tài sản riêng của mình Đồng thời, quy định này sẽ giúp vợ chồng có thể tự bảo
62 toàn tài sản riêng của mình, qua đó làm giảm hoặc tránh được những xung đột, tranh chấp về tài sản khi vợ, chồng ly hôn;
- Việc ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận góp phần làm giảm chi phí khi ly hôn và giúp Tòa án xác định được tài sản riêng, tài sản chung nhanh chóng và dễ dàng hơn
Ngoài Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có vai trò chủ đạo, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn, giải thích cụ thể bên cạnh Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
+ Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
+ Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (sửa đổi, bổ sung bằng nghị định 98/2016);
+ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP giữa Tòa Án nhân dân tối cao và Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình;
+ Văn bản hướng dẫn giải quyết vụ án, xử phạt hành chính về hôn nhân, gia đình: Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, hôn nhân và gia đình (Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung); Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình,
+ Văn bản hướng dẫn về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:
Chỉ thị 03/2005/CT-TTg về tăng cường quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Thông tư về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký, công nhận kết hôn, nhận con ngoài giá thú, đăng ký nuôi con nuôi giữa công dân VN và người nước ngoài; Thông báo 133/TB-VPCP ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng tại Hội nghị toàn quốc về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Quyết định 288/QĐ-BTP về Quy chế hoạt động của Tổ công tác liên ngành về vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
Bên cạnh việc chú trọng ban hành các văn bản quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình thì Nhà nước ta cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, góp phần không nhỏ nâng cao ý thức pháp luât của người dân trong việc gìn giữ hạnh phúc gia đình, hiểu và bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình trong lĩnh vực hôn nhân gia đình đặc biệt trong vấn đề bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội
Các cơ quan ban ngành đoàn thể đã hỗ trợ rất tích cực cho Nhà nước bằng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, các kênh thông tin như: Hộp thư truyền hình, đường dây nóng, email, để tiếp nhận, nhận phản ánh những vụ việc liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, góp phần không nhỏ bảo vệ quyền và lợi ích của người phụ nữ
Nhằm thể chế hóa các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Tòa Án nhân dân tối cao đã xây dựng thành công “Đề án thành lập Tòa Gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam” trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương; đã thể hiện trong dự án Luật Tổ chức Tòa án và được Quốc hội khóa XIII thông qua Theo
64 quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, trong cơ cấu tổ chức của Tòa Án nhân dân cấp cao, Tòa Án nhân dân cấp tỉnh và Tòa Án nhân dân cấp huyện có Tòa Gia đình và Người chưa thành niên
Việc thành lập Tòa Gia đình và Người chưa thành niên trong tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân, là dấu ấn quan trọng, đồng thời là một trong những thành tựu của tiến trình cải cách tư pháp Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai có hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình Việt Nam; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng
Một số giải pháp về đảm bảo áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồn
2.2.1 Hoàn thiện các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 liên quan đến nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
- Cần công nhận và có sự quy định rõ ràng chế độ ly thân trong pháp luật hôn nhân gia đình, bởi lẽ tình trạng này đang diễn ra rất phổ biến trong xã hội, trước khi ly hôn thì hầu hết các cặp vợ chồng sẽ sống ly thân một thời gian, tuy nhiên nhiều trường hợp sau khi ly thân vợ chồng lại trở về sống chung với nhau, trong thời gian ly thân vợ chồng có thể tạo ra tài sản riêng của mình Như vây, theo nguyên tắc thì tất cả tài sản được tạo ra kể cả trong thời gian ly thân thì vẫn là tài sản chung của vợ chồng, như vậy sẽ là không công bằng cho bên nào tạo ra tài sản
Việc luật hóa chế độ “ly thân” sẽ là cơ sở pháp lý bởi vệ quyền lợi của mỗi bên vợ chồng Luật Hôn nhân và Gia đình cần quy định chế độ ly thân của vợ chồng với tư cách là một quyền mới của vợ chồng, theo đó vợ chồng có quyền thỏa thuận, quyết định việc có ly thân hay không Đồng thời, pháp luật sẽ quy định cụ thể về thủ tục đăng lý, chấm dứt ly thân, thời gian ly thân, nghĩa vụ của cha mẹ với con khi ly thân, từ đó là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình
- Cần có quy định cụ thể về hình thức thỏa thuận của việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, nếu hình thức thỏa thuận bằng văn bản thì có cần công chứng
77 hay không? Bởi tính chất phức tạp của việc nhập tài sản chung cũng giống với việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vậy tại sao Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định điều chỉnh việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung lại không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục
- Cần quy định thời hạn để tài sản riêng của vợ chồng sau một thời gian được đưa vào sử dụng, quản lý chung sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng, để đánh giá đúng thực trạng quan hệ tài sản của vợ chồng và đảm bảo quyền, lợi ích của các thành viên trong gia đình Theo đúng tinh thần của Bộ Luật Dân sự năm
2015 tạiĐiều 236 quy định về việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
- Liên quan đến chế độ tài sản do vợ chồng thỏa thuận, như đã trình bày ở trên, để những cặp vợ chồng kết hôn trước ngày 01/1/2015 và những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn sau ngày 01/1/2015 nhưng chưa thỏa thuận chế độ tài sản được đảm bảo quyền tự thỏa thuận, định đoạt về chế độ tài sản của vợ chồng thì pháp luật cần quy định quyền thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ và chồng không phụ thuộc vào thời điểm trước kết hôn hay sau kết hôn
- Điều 47, Điều 49 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng và vợ, chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản; hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa
78 thuận đó là bằng văn bản có công chứng và chứng thực nhưng lại không có quy định về việc hủy bỏ thỏa thuận về chế độ tài sản đã xác lập Do đó, Luật Hôn nhân và Gia đình nên có quy định về vấn đề hủy bỏ thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bởi nó hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế, xuất phát từ ý chí, mong muốn của các mỗi bên vợ chồng sau khi đã có thỏa thuận về chế độ tài sản trước đó
2.2.2 Đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình
- Nhìn chung các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn khá xa lạ và mới mẻ đối với đại bộ phận nhân dân, do đó việc áp dụng luật vào đời sống còn khá khó khăn Vì vậy, để các quy định của luật được thi hành trong đời sống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tích cực phối hợp với nhau trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật nhằm hướng dẫn thi hành các quy định về quyền bình đẳng vợ chồng từ đó đưa luật gần gũi với cuộc sống, nhằm xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc bình đẳng trọn vẹn
- Cần đảm báo sự thống nhất, toàn diện, không ngừng nâng cao năng lực, kỹ thuật lập pháp Khi bộ phận cấu thành nên pháp luật mà không có sự thống nhất, đồng bộ, quy định của văn bản này mâu thuẫn với quy định của văn bản kia thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực hiện pháp luật Vì vậy để pháp luật hôn nhân và gia đình được hoàn thiện thì công tác lập pháp là yếu tố có vai trò rất quan trọng
- Nguyên nhân khiến tình trạng xét xử các vụ việc về hôn nhân gia đình nói chung, liên quan đến vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng nói riêng còn hạn chế thì có rất nhiều, tuy nhiên nguyên nhân chủ quan là do thiếu thẩm phán và trình độ của thẩm phán các cấp tòa án còn chưa cao Ngành tòa án cần xây dựng chiến
79 lược phát triển, nâng cao trình độ cán bộ đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền khác nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử Cụ thể, toà án các cấp cần tích cực tổ chức nhiều lớp đào tạo nhiệp vụ và triển khai kịp thời các văn bản pháp luật, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao trong hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến bình đẳng giữa vợ và chồng Có như thế mới góp phần nâng cao trình độ của đội ngũ thẩm phán, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các đương sự Để giải quyết án hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả cao, tránh được những sai sót và bảo đảm quyền lợi cho các đương sự, các thẩm phán, thư ký tòa án còn cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm ngay từ bước thu thập chứng cứ, tài liệu làm cơ sở giải quyết vụ án Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung, thẩm phán, thư ký tập trung xác định, thẩm định chính xác tài sản chung, riêng của vợ chồng; xác định vai trò, đóng góp của mỗi bên trong việc duy trì, phát triển tài sản chung
Khi đưa ra quyết định về quyền nuôi con cho cha hay mẹ, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, điều kiện vật chất, tinh thần để xem xét, phán quyết giao con chung cho bên nào nuôi Các nội dung này được thể hiện rõ trong bản án, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em; phòng ngừa các hành vi bạo lực gia đình
Cùng với đó, các cấp TAND cần quan tâm, chú trọng đến công tác kiện toàn tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; quán triệt, giáo dục cán bộ, thẩm phán thực hiện nghiêm quy chế văn hóa công sở và quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức TAND; làm tốt công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, trao đổi nghiệp vụ và rút kinh nghiệm công tác xét xử