Trong thực tiễn sáng tác, cách định danh trên các ấn phẩm hiện hành cũng thiếu sự đồng nhất: Nhà văn Nguyễn Khải gọi là tạp văn; nhà văn Mạc Can, Nguyễn Quang Lập gọi là t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận án đảm bảo tính chính xác, nghiêm túc, tin cậy và trung thực
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7
1.1 Quan niệm về tản văn hiện đại 7
1.1.1 Vấn đề thuật ngữ và bản chất thể loại tản văn 7
1.1.2 Tản văn là một thể loại của văn xuôi hiện đại Việt Nam 12
1.1.3 Diễn trình tản văn hiện đại Việt Nam 18
1.2 Tình hình nghiên cứu 25
1.2.1 Các công trình nghiên cứu lý thuyết tản văn 25
1.2.2 Các công trình nghiên cứu tác giả, sáng tác tản văn Việt Nam hiện đại 33
Chương 2: TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI TRONG DÒNG CHẢY TẢN VĂN HIỆN ĐẠI 40
2.1 Sự nở rộ của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI 40
2.1.1 Môi trường sinh thái văn hóa – tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI 40
2.1.2 Sự thích ứng của tản văn trong môi trường sinh thái văn hóa đầu thế kỷ XXI 42
2.1.3 Tản văn mạng- bộ phận không tách rời của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI 45
2.2 Diện mạo chung của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI 47
2.2.1 Đội ngũ sáng tác 47
2.2.2 Số lượng sáng tác 49
2.2.3 Một số cây bút tiêu biểu 51
2.3 Sự kế thừa và cách tân của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI 70
2.3.1 Sự kế thừa 70
2.3.2 Những cách tân 73
Chương 3: HỆ CHỦ ĐỀ TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 79
3.1 Tản văn về cảnh sắc vùng miền 79
3.1.1 Cảnh sắc chốn làng quê 79
Trang 53.1.2 Cảnh sắc nơi thành thị 85
3.2 Tản văn về văn hóa, phong tục 90
3.2.1 Phong tục, truyền thống 90
3.2.2 Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 94
3.2.3 Tập tục, sinh hoạt 96
3.3 Tản văn thế sự 101
3.3.1 Văn hóa ứng xử 101
3.3.2 Các vấn đề cập nhật của đời sống đương đại 105
3.4 Tản văn chân dung 109
3.4.1 Chân dung nghệ sĩ, danh nhân 109
3.4.2 Chân dung “những người sống quanh ta” 113
Chương 4: NGUYÊN TẮC GIAO TIẾP VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 119
4.1 Nguyên tắc giao tiếp 119
4.1.1 Nguyên tắc đối thoại những vấn đề của đời sống 119
4.1.2 Chiến lược khơi gợi 127
4.2 Phương thức thể hiện 133
4.2.1 Đa dạng hóa ngôn ngữ 133
4.2.2 Đa dạng hóa giọng điệu 142
4.2.3 Đa dạng hóa phương thức thể hiện 148
KẾT LUẬN 158
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, tản văn Việt Nam là thể loại “bùng nổ” ở nhiều phương diện Nhìn vào thực tế thị trường phát hành sách, lượng tiêu thụ của độc giả, sự phát triển đa dạng ở lực lượng sáng tác, sự thu hút giới nghiên cứu phê bình … có thể nói tản văn đã và đang phát triển dồi dào, phong phú Sự phát triển
đó đã và đang tích cực góp phần làm nên diện mạo mới của văn học Việt Nam hiện đại Trong bối cảnh truyền thông phát triển, tản văn được đại đa số người đọc ưa thích, thỏa mãn nhu cầu đọc trong điều kiện quỹ thời gian hạn hẹp Độc giả chọn tản văn bởi đó là thể loại văn học có dung lượng ngắn, cấu tứ độc đáo, thể hiện sắc nét cá tính người viết, nội dung tác phẩm thường bắt đầu từ sự giản dị đời thường để dẫn tới tiếp cận trực diện các vấn đề của đời sống xã hội Sự “bùng nổ” của thể tản văn không chỉ thể hiện qua những cảm quan chung về người đọc và người viết, hiện tượng này được định lượng thuyết phục hơn qua những con số được chia sẻ của các đơn vị xuất bản sách (nhà xuất bản Trẻ, Phụ nữ, Văn học, Nhã Nam, Quảng Văn, Liên Việt, Kim Đồng…), các đơn vị kinh doanh sách (Nhã Nam, Tiki Trading, Vietbooks, Alpha Books, Fahasa, Phương Đông books, Gold Books…) Trong khi sự phát triển nhanh về số lượng gợi lên sự hoài nghi về chất lượng thì thể loại tản văn đầu thế kỷ XXI đã thuyết phục bạn đọc bằng sức hấp dẫn riêng và bắt đầu được ghi nhận bằng những giải thưởng có uy tín của đời sống văn học trong nước (tác phẩm của nhà văn Đỗ Chu, Nguyễn Việt Hà), thậm chí có cuộc thi sáng tác tản văn
(Chill Books với Hành trình xanh lam - Thử tài viết tản văn)…
Xuất phát từ thực tiễn đời sống văn học nói chung, thực tiễn phát triển thể loại tản văn nói riêng, chúng tôi nhận thấy cần có một nghiên cứu hệ thống, khái quát, chuyên sâu về tản văn nhằm đáp ứng một số đòi hỏi cấp thiết về góc độ văn học sử, lý thuyết thể loại, tư liệu bổ trợ trong giáo dục
Trước hết, nghiên cứu về tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI nhằm cập nhật,
mô tả văn học sử Mặc dù có lúc bị lấn lướt bởi những thể loại khác nhưng tản văn
đã song hành cùng các thể loại văn học đương đại, góp phần tạo nên diện mạo văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, việc nghiên cứu chưa cập nhật tốc độ phát triển
Trang 7của thể loại tản văn Một loạt các tuyển tập tản văn Việt Nam ra đời trong hai thập
kỷ đầu của thế kỷ XXI được bạn đọc nhiệt tình đón nhận Sự “nở rộ” các đầu sách tản văn kéo theo sự “nở rộ” các bài viết về thể loại, song những bài viết chỉ dừng lại
ở lời giới thiệu sách, thể hiện cảm nhận chủ quan về một tác giả hay đánh giá nội dung, nghệ thuật một đầu sách mới xuất bản Một trong những mục đích của luận án là nghiên cứu khái quát tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI, cập nhật sự chuyển biến của tản văn khi đặt nó trong diễn trình thể loại Xác định các đặc điểm nổi bật dựa vào kết quả khảo sát, luận án sẽ bước đầu tổng kết về một giai đoạn phát triển của thể loại tản văn Việt Nam hiện đại
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu thể loại tản văn ở hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI còn
có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung, phát triển lý thuyết thể loại Thực tế sáng tác cho thấy bản thân thể loại tản văn vẫn luôn vận động, biến đổi Dựa trên thực tiễn tản văn đầu thế kỉ XXI, có thể khái quát những biến động thể loại, mô tả tính chất thể loại trong thời điểm đương đại, bổ sung cách nhìn về đặc trưng thể loại
Thêm nữa, một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại văn học sẽ góp phần bổ trợ
tư liệu cho giảng viên khối Cao đẳng, Đại học Đặc biệt, lý thuyết về thể loại tản văn Việt Nam hiện đại có ý nghĩa thiết thực với giáo viên giảng dạy Ngữ văn khối phổ thông Trong chương trình Ngữ văn phổ thông, xu hướng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại đòi hỏi giáo viên phải nắm vững lí thuyết thể loại, đồng thời hình dung được sự vận động của thể loại trong lịch sử văn học
Với những lý do căn bản nêu trên, chúng tôi chọn “Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn thể loại” làm đề tài nghiên cứu cho luận án Luận án mong muốn sẽ góp phần nghiên cứu một giai đoạn phát triển của một thể loại văn học đang càng ngày càng chứng tỏ được vị trí quan trọng trong đời sống văn học nghệ thuật dân tộc đầu thế kỷ XXI
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu sau:
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ đặc trưng thể loại; khảo sát các sáng tác nổi bật trong hai mươi năm đầu thế kỷ XXI nhằm khẳng định
Trang 8sức sống và sự sinh tồn của thể loại tản văn trong bối cảnh đương đại Từ đó, luận án có cái nhìn đầy đủ và bao quát về đóng góp của thể loại tản văn đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhiệm vụ khái quát tình hình nghiên cứu (chủ yếu là các nghiên cứu trong nước) về thể loại tản văn nói chung, tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI nói riêng; xác định quan niệm về thể loại nhằm hình thành các tiêu chí lựa chọn tác giả, tác phẩm phục vụ khảo sát, nghiên cứu; khái quát diễn trình tản văn hiện đại Việt Nam; nhận diện vị trí, đặc điểm của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI,
từ đó đánh giá sự kế thừa và những cách tân của tản văn Việt Nam ở chặng đường này; khảo sát tác phẩm, tác giả được chọn để thấy các đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật, làm nên sắc diện riêng của tản văn Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tản văn Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn thể loại, xem xét cấu trúc thể loại, sự biểu hiện cấu trúc thể loại qua thực tiễn sáng tác, những nguyên tắc thiết lập diễn ngôn thể loại trong bối cảnh đương đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chọn khảo sát 462 tác giả cá nhân với 163 đầu sách Trong 462 nhà văn viết tản văn được chọn khảo sát, có những cây bút đã thành danh từ thế kỷ XX, tới nay họ vẫn tiếp tục sáng tác (Băng Sơn, Nguyễn Quang Lập, Y Phương, Cao Huy Thuần, Nguyễn Quang Thiều, Phan Vàng Anh, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Nhật Ánh, Lê Giang, Dạ Ngân ); có những cây bút nổi danh trên văn đàn đầu thế
kỷ XXI và được độc giả biết tới bởi sáng tác tản văn hấp dẫn, được tái bản nhiều lần (Mai Lâm, Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy ); có các cây bút mới đem tới sức sống tươi trẻ cho thể loại (Uông Triều, Mạc Thụy, Ubee Hoàng, Anh Khang, Hamlet Trương, Iris Cao, Phan Ý Yên, Gào, Minh Nhật, Phan Ngọc Thạch, Hạ Vũ, Dung Keil…) Không chỉ các tác giả, tác phẩm trong nước, luận án còn chọn khảo sát một số tác phẩm của các tác giả người Việt Nam
Trang 9hiện đang sinh sống tại nước ngoài (Cao Huy Thuần, Thái Kim Lan, Mai Lâm, Lê Minh Hà, Hoàng Hồng – Minh v.v )
Trong bối cảnh số lượng tản văn ra đời theo phương thức xuất bản truyền thống hoặc đến với bạn đọc bằng con đường mạng internet tăng lên từng ngày, việc lựa chọn ngữ liệu không đơn giản Luận án đã căn cứ đặc trưng thể loại (dung lượng, cấu tứ, cá tính tác giả, đề tài ) và những dấu hiệu về chất lượng nghệ thuật (phản ứng của độc giả, giải thưởng, được quan tâm như một hiện tượng, lượt tái bản ) nhằm xây dựng tiêu chí lựa chọn tác phẩm khảo sát
Về nguồn tác phẩm, 163 tập tản văn được đưa vào khảo sát đều là văn bản in, trong số đó, có một số tản văn được giới thiệu trên mạng internet trước khi tập hợp
để xuất bản dưới dạng sách in (Bạn văn của Nguyễn Quang Lập, Tạp văn của Phan
Vàng Anh, các tập tnar văn của Trang Hạ, một số bài viết của Nguyễn Quang Thiều, Đinh Vũ Hoàng Nguyên v.v ) Có một số ít các trích dẫn được lấy từ các bài tản văn đăng tải trên trang mạng cá nhân (trang cá nhân của nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh, tác giả Chu Văn Sơn ) Quá trình xây dựng tổng quan nghiên cứu các sáng tác tản văn đầu thế kỷ XXI, luận án có mở rộng liên hệ, so sánh với các thể ký khi cần thiết
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tản văn từ góc độ lý thuyết thể loại, làm rõ các đặc trưng
thể loại thông qua các sáng tác tản văn Việt Nam những thập niên đầu của thế kỷ XXI Trên tinh thần đó, luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử:
Vận dụng phương pháp nghiên cứu này, luận án có thể mô tả diễn trình tản văn Đó là sự vận động, những đặc điểm riêng của tản văn ở mỗi giai đoạn trong dòng lịch sử Đồng thời, cái nhìn xuyên suốt về thể loại là điều kiện để luận án xác định những quy luật đặc thù của thể loại tản văn
- Phương pháp loại hình học:
Phương pháp loại hình được sử dụng với mục đích xác định, khái quát những đặc điểm chung về thể loại của tản văn; chứng minh rằng tản văn đã xuất hiện, tồn tại với đầy đủ đặc điểm cần có của một thể loại ở thế kỷ XX và tiếp tục phát triển trong
Trang 10lịch sử văn học đầu thế kỷ XXI Phương pháp loại hình còn được sử dụng để lựa chọn và phân loại các nhóm tản văn có nét tương đồng cao từ vấn đề cấu trúc tới nội dung,
từ đó xác định một số chủ đề được tản văn đầu thế kỷ XXI quan tâm khai thác
- Phương pháp hệ thống
Luận án sử dụng phương pháp hệ thống nhằm nghiên cứu bản thân thể loại tản văn như một hệ thống gồm các loại hình có mối liên hệ nội tại; đặt tản văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại nhằm nhận diện các đặc trưng của tản văn, đặc biệt là tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI; xem xét vai trò của thể loại tản văn khi đặt nó trong hệ thống giá trị văn hóa – xã hội nhằm đánh giá vị trí, số phận của thể loại trong đời sống xã hội
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
So sánh, đối chiếu là phương pháp xuyên suốt luận án, nhằm nhận diện mối liên hệ giữa các đặc điểm của tản văn khi xem xét nó với tư cách một thể loại văn học gồm hệ thống các đặc điểm riêng Cách nhìn nhận khái quát, có sự đối chiếu sẽ
dễ dàng chỉ ra sự thay đổi của thể loại trong mỗi chặng đường phát triển, trong đó
có những yếu tố ổn định và những yếu tố biến đổi của thể loại tản văn trong hai thập
kỷ đầu thế kỷ XXI Bên cạnh đó, việc đối chiếu, so sánh tản văn với các thể văn gần gũi còn làm nổi bật những đặc điểm cơ bản của thể loại, từ đó có sự định danh, định tính chính xác cho thể loại vốn chưa tìm được sự thống nhất trong quan niệm
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Đây là phương pháp giúp luận án tiếp cận đối tượng tản văn Việt Nam bằng nhiều cách thức Trong quá trình khảo sát các sáng tác tản văn đầu thế kỷ XXI, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề nổi bật về phương diện nội dung gần gũi với văn hóa, có thể quy về mã văn hóa hoặc tập hợp thành những biểu tượng văn hóa; một số đặc điểm nghệ thuật có thể cắt nghĩa dựa trên lý thuyết diễn ngôn hoặc những lý thuyết mới (phê bình sinh thái, văn hóa truyền thông…)
5 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình khoa học chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu tản văn những năm đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn thể loại, trong sự vận động và tiếp biến
Trang 11Tổng quan tình hình nghiên cứu tản văn và xác định quan niệm về thể loại, luận án đã cho thấy sự phát triển của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI ở các bình diện tác giả và tác phẩm
Luận án đã khẳng định thành tựu của thể loại tản văn Việt Nam nhìn từ hệ chủ đề cùng các nguyên tắc giao tiếp và phương thức biểu hiện
Luận án cũng đã khẳng định vị trí và đóng góp đáng kể của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI trong đời sống thể loại nói riêng và đời sống văn học Việt Nam đương đại nói chung
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài còn mở ra hướng nghiên cứu thể loại tản văn Việt Nam trong các chặng đường kế tiếp
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được sắp xếp thành bốn chương:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI trong dòng chảy tản văn Việt
Nam hiện đại
Chương 3 Hệ chủ đề trong tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Chương 4 Nguyên tắc giao tiếp và phương thức biểu hiện của tản văn Việt
Nam đầu thế kỷ XXI
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Quan niệm về tản văn hiện đại
Cho đến nay, cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác, khái niệm tản văn vẫn là một vấn đề phức tạp bởi những quan niệm khác nhau chưa dẫn tới sự thống nhất sau cùng Do đó, rất cần một sự giới thuyết về thể loại và xác lập lý thuyết
Trong thực tiễn sáng tác, cách định danh trên các ấn phẩm hiện hành cũng
thiếu sự đồng nhất: Nhà văn Nguyễn Khải gọi là tạp văn; nhà văn Mạc Can, Nguyễn Quang Lập gọi là tạp bút; nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân xem đó là nhàn đàm, tùy bút; nhà thơ Y Phương, Nguyễn Quang Thiều đề tản văn;
một số cây bút khác như Bùi Minh Quốc, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà khi
dùng tạp văn, khi đề tản văn…
Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, sự phức tạp trong định danh thể loại tản văn đồng thời với sự phức tạp trong việc xây dựng một khái niệm về nó Trước khi được các nhà nghiên cứu ghi nhận như một thể văn học độc lập, khái niệm tản văn được nhìn nhận theo ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch và tản văn theo nghĩa là một thể loại văn học
Đầu thế kỷ XX, tản văn vẫn được hiểu theo nghĩa là “văn xuôi” Hầu như tất cả các thể loại văn xuôi đều được gọi chung là “tản văn” để phân biệt với “văn vần” (vận văn), gồm “những bài không cần phải vần, không cần phải đối nhau, cứ ý mình
thế nào thì tả ra thôi” [6/tr79] Theo ý kiến của tác giả Bùi Kỷ, trong cuốn Quốc văn cụ
thể, ông cho rằng tản văn không chỉ là “lối văn không đối nhau và không có vần”
[22/tr118] mà tản văn còn là thể loại lớn bao gồm tựa, truyện, kí, bi, luận Quan niệm tản văn đồng nhất với văn xuôi cũng được thể hiện trong Văn tâm điêu long, tác giả
Lưu Hiệp chia toàn bộ thư tịch thành “văn” và “bút”, trong đó văn là “vận văn” (văn vần), còn bút là tản văn (văn xuôi) So sánh với một số định nghĩa về tản văn sau này, quan niệm của Lưu Hiệp gần với những đặc trưng của tản văn hiện đại Tuy nhiên, tản văn được dùng theo nghĩa chỉ văn xuôi nói chung không còn thông dụng, nó được xếp vào nhóm nghĩa cổ, ít dùng do cách hiểu đó không đúng với thực tế sáng tác
Trang 13Bên cạnh cách hiểu tản văn là văn xuôi nói chung, ở một số từ điển đưa ra
cách hiểu tản văn là tập hợp các thể loại ngoài truyện, thơ, kịch Bộ Đại từ điển
tiếng Việt phát hành năm 2011 tách thể tản văn khỏi truyện và dần nghiêng về phía
xác định tản văn như một thể loại đứng bên cạnh những thể loại lớn khác Quan niệm này ảnh hưởng từ việc văn học Trung Quốc chia tản văn thành hai loại: Tản văn truyền thống (những sáng tác văn xuôi, là văn học chính tông xếp ngang hàng với thơ từ) và tản văn hiện đại (một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự, tạp văn…) [50/tr106] Tóm lại, mặc dù không đánh đồng tản văn với văn xuôi nói chung nhưng cấp độ thứ hai của quan niệm về tản văn cũng bộc lộ hạn chế cơ bản: chưa chỉ ra được những đặc trưng của thể loại, mới dừng lại ở việc nhìn nhận khái quát theo phương pháp loại trừ để thấy tản văn gồm những thể loại không thuộc truyện, thơ, kịch Tuy nhiên quan niệm này lại ngầm công nhận tản văn tồn tại như một thể loại lớn - ngang hàng với những thể loại có bề dày lịch sử trong văn học nói chung Như vậy, văn học Trung Quốc nhìn nhận “tản văn” với ý nghĩa bao quát nhiều thể loại: ban đầu nó được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, về sau, khái niệm thể loại biến đổi theo hướng thu hẹp dần nội hàm, “tản văn” được hiểu là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch (các thể văn xuôi còn lại như tùy bút, bút ký,
phóng sự, tạp văn… gọi chung là tản văn) Ở Việt Nam, Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “trong nghĩa hẹp (tản văn) chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch,
thơ”; trong văn xuôi “bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu phẩm chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn” [2/tr294], quan niệm này vừa dùng phương pháp loại trừ để khu biệt tản văn với những thể loại có đầy đủ đặc trưng cơ bản (kịch, thơ) vừa lấy tiêu chí hiện thực để phân loại nó với các thể loại của văn xuôi
Khi xếp tản văn vào văn xuôi nhưng là thể loại văn xuôi “không bao gồm các loại truyện hư cấu”, có nghĩa tản văn cũng là những tác phẩm chứa đựng yếu tố chân thực, vậy tản văn có mối quan hệ thế nào với thể ký? – một thể loại văn xuôi
có sự giao thoa giữa văn học với khu vực cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép
Trang 14tư liệu…) Xem tản văn như một thể loại văn học nhưng trong văn học Việt Nam từng có hai xu hướng quan niệm: một mặt cho rằng tản văn chỉ là một phụ lưu của ký; mặt khác cho rằng tản văn bao hàm ký
Về quan niệm tản văn nằm trong ký, tác giả Nguyễn Đăng Na xác định rõ về mặt từ nguyên trong công trình giới thiệu về thể ký Ông cho rằng, thoạt đầu ký thuộc động từ, mang nghĩa là ghi chép Khi được danh từ hóa, ký chỉ chính “những sản phẩm ghi chép đó” Nếu hiểu những văn bản được ghi chép ra là sản phẩm sau cùng của ký thì “ký bao gồm trong nó rất nhiều loại hình ghi chép, từ thường thức đến chức năng, khoa học rồi văn chương nghệ thuật…” [16/tr7] Ký mang những đặc tính cụ thể khi xét từ các phương diện Về biểu hiện hình thức “những tác phẩm thuộc thể ký thường mang hai yếu tố là người ghi chép và cái được ghi chép Như vậy, đã là ký thì phải mang dấu ấn trực tiếp của cái tôi và sự kiện can dự đến cái tôi ấy” [16/tr7] Trong ký, cái tôi chỉ hiện diện khi ghi chép sự kiện Còn ở tản văn, tạp văn hay tùy bút, cái tôi của nhà văn được thể hiện một cách tự do hơn Điều đó lý giải một thực tế, so với ký, tản văn thường giàu chất thơ hơn
Ký xuất hiện sớm trong lịch sử thể loại văn học dân tộc Trong thời kỳ văn học
trung đại, ký thực hiện nhiệm vụ ghi chép mọi phương diện đời sống Lam Sơn thực
lục, Trung Hưng thực lục, Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác viết lời tựa) đều cho
thấy ký là ghi chép sự thực mắt thấy tai nghe, mục đích là để răn dạy, nêu gương, giáo hóa Nhưng “thực chất, thời kỳ trung đại, người ta mới chỉ có ý thức phân loại các thể loại chứ không phải khảo cứu lịch sử các thể loại nên những quan điểm bàn
về ranh giới phân định thể loại mang tính chủ quan, tiên nghiệm” [47/tr88] Phải tới đầu thế kỷ XX, ký mới được quan tâm phân loại một cách có ý thức, chia thành hai
hướng: hoặc kế thừa những hình thức ký đã có trong văn học truyền thống (ký sự nhân
vật, ký sự lịch sử) hoặc vẫn duy trì một số hình thức luận bàn (tản văn, tùy bút…) Về
cơ bản, tản văn hay tạp văn, tạp bút mang những yếu tố đặc trưng của thể ký, đó là một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất Điểm đặc thù của ký là tôn trọng tính xác thực của người và việc trong tác phẩm, sự hư cấu không được sử dụng một cách tùy tiện ảnh hưởng đến tính xác thực của nội dung mà trái lại phải làm tăng thêm ý nghĩa
Trang 15xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm Như thế tản văn sinh thành từ ký, tản văn là một phụ lưu của ký được xem là quan điểm logic
Khi nghiên cứu về đặc trưng của thể loại ký, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh
đã làm công việc khảo sát tư liệu trên phạm vi rộng: Văn học trung đại (ký, lục, chí
tạp ký, ký sự), văn học Trung Quốc (văn học báo cáo, tạp văn, tản văn), văn học tư
liệu của Liên Xô (phóng sự, bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ký, du ký, truyện ký )
Phạm vi khảo sát cho thấy quan điểm ký là “gốc” lớn của nhiều tiểu loại, trong đó
có tạp văn, tản văn hay tạp bút… Đặc biệt, tính chất ký cũng thể hiện rõ ở một loạt tản văn xuất hiện vào đầu thế XXI, khi các tác giả là những cây bút trẻ nhưng không
né tránh phản ánh nhiều hiện tượng được cho là “nhạy cảm” của đời sống xã hội và bộc lộ thẳng thắn quan điểm, tình cảm trước những hiện tượng đó Sức hút của thể văn này được tạo ra do bản lĩnh, lập trường người viết ký Trước một hiện thực phức tạp, đa chiều, người viết ký phải tỉnh táo để không nhầm lẫn bản chất và hiện tượng, đồng thời cũng là người “đứng mũi chịu sào”, lên tiếng cho sự thực giữa không ít sự bủa vây của định kiến, tiêu cực trong xã hội Lập trường người viết ký chính là sự mạnh dạn khẳng định bản lĩnh nhà văn trong thời đại mới, lập trường dân chủ và bình đẳng đối thoại Nhờ vậy, “từ một thể loại mang tính nghệ thuật, ký
đã bước sang các lĩnh vực ngoài văn học và tác động sâu sắc, tạo nên sự thức tỉnh mạnh mẽ trong đời sống xã hội”[47/tr12] Như vậy, giá trị thức tỉnh đời sống của ký
là một trong số những dấu hiệu chức năng để nhiều nhà nghiên cứu xếp tản văn thuộc về thể loại này
Tiêu biểu cho nhóm ý kiến tản văn là tiểu loại của ký, trong Năm bài giảng
về thể loại, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng tản văn là một tiểu loại ký
có một số đặc điểm như: ngắn gọn, hàm súc; tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình hay nghị luận; lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá; chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ; tất cả những gì được thể hiện và biểu hiện trong bài tản văn đều mang đậm dấu ấn,
cách cảm nhận và cảm nghĩ rất riêng của tác Thuật ngữ essay trong văn học
phương Tây nghiêng theo hướng này, nó được hiểu như một kết cấu văn học để nhà văn thể hiện góc nhìn riêng của cá nhân về phương diện nào đó của một chủ đề;
Trang 16essay thường ngắn gọn và thoải mái về phong cách, cho phép diễn tả phong phú và
triệt để những cảm nhận có liên quan đến cá nhân Người viết essay nhằm biểu đạt
quan điểm, góc nhìn của cá nhân tác giả trước một vấn đề (chủ đề) nào đó, vấn đề ấy xuất phát từ đời sống xã hội Thực chất đó là sự kết hợp giữa nét riêng của tản
văn với tính chất ghi chép của thể ký nói chung Theo đó, tạm hình dung essay là
một nhánh bắt ra từ ký
Lý luận văn học Việt Nam hiện đại cũng cho rằng ký bao gồm cả phóng sự,
hồi ký, nhật ký, ký sự, tùy bút, tản văn, tạp bút… Như vậy, ký (nói chung) là thể loại
có tính co giãn, linh hoạt Nguồn gốc ra đời của hình thức ký đa dạng, nó có thể là
kết quả của sự kết hợp giữa văn học và báo chí (phóng sự…); cũng có khi ký ra đời
do sự hợp lưu giữa văn học và chính luận xã hội (tạp văn, tạp bút, tản văn…) Dựa
vào phương thức biểu đạt, ký được xếp vào nhóm thiên về nghị luận hay thiên về trữ tình hoặc tự sự… tất nhiên việc phân loại đó chỉ mang tính tương đối vì sự “xâm nhập” thường xuyên của các tính chất, khó xác định đâu là hạt nhân cốt lõi của thể loại Việc nhìn nhận thể ký như trên cho thấy tản văn chỉ là một biến thể nhỏ trong dãy dài nhiều thể cùng loại của ký nói chung
Về quan điểm cho rằng tản văn là văn xuôi nói chung, bao hàm ký, giáo sư Trần Đình Sử quan niệm “ký chỉ bao gồm phạm vi hẹp hơn tản văn”, nói cách khác,
ký là một kiểu/một cách ghi chép của tản văn Các tản văn là những sáng tác văn xuôi mang những đặc điểm của thế ký với ý nghĩa văn học thuần túy, chú trọng việc ghi lại những gì đã trải qua, đã nghe thấy, cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặc ghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tình hoài niệm; là loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tình, rộng rãi về đề tài… Quan điểm này xuất phát từ một số học giả Trung Quốc (Lưu Hiệp, Tiêu Thống, Phùng Văn Mẫn, Tạ Sở Phát, Đàm Gia Kiện…), họ cho rằng thể tản văn có biên độ tương đối rộng, nó bao gồm các sáng tác “ít bị câu thúc vào thể thức, có hình thức khá tự do và đa dạng, có khả năng bộc lộ tư tưởng, tình cảm người viết một cách phong phú” [16/tr11] Vậy xét đến cùng, ngoài việc ghi chép đời sống thì điểm đến của ký chính
là bộc lộ tình cảm, tư tưởng của người viết Khi “cấp” cho tản văn một nội hàm rộng, không có những đặc tính cụ thể thì đương nhiên những thể văn xuôi khác dễ trở thành “tập con” nằm trong nó
Trang 17Phạm Thành Hưng, tác giả bài viết Thuật ngữ báo chí – truyền thông cũng
cho rằng tản văn là thể loại lớn, gồm nhiều tiểu loại: “Thuật ngữ tản văn được hiểu theo quan niệm của người Trung Quốc cận đại Theo đó, tản văn là văn xuôi nghệ thuật nói chung, bao gồm nhiều thể: tạp bút, tùy bút, tiểu phẩm, tiểu luận Các tiểu thể loại với những cách định danh khá ngẫu hứng, tự do (nhàn đàm, phiếm đàm, thời đàm, phiếm luận, tạp trở, đoản văn) cũng được xếp vào phạm trù tản văn Với quan niệm này thì tản văn đã được hiểu trên một phạm vi rộng, nó là một thể loại lớn mà trong đó bao gồm nhiều thể loại nhỏ (…)” [41/tr211] Cách nhìn nhận tản văn như vậy quay trở về sự đồng nhất tản văn với văn xuôi nói chung (nhằm phân biệt với văn vần), đồng thời đánh giá thể tản văn xuất hiện với tư cách là một thể loại lớn bao gồm nhiều tiểu loại
Trước hai xu hướng khác nhau trong cách nhìn nhận về mối quan hệ giữa tản văn – ký, chúng tôi cho rằng về cơ bản, tản văn (hay tạp văn, tạp bút) mang những yếu tố đặc trưng của thể ký - một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất Điểm đặc thù của ký là tôn trọng tính xác thực của người và việc trong tác phẩm, sự
hư cấu không được sử dụng một cách tùy tiện ảnh hưởng đến tính xác thực của nội dung mà trái lại phải làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm Như thế tản văn sinh thành từ ký, tản văn là một phụ lưu của ký phản ánh đúng với thực tế sáng tác
1.1.2 Tản văn là một thể loại của văn xuôi hiện đại Việt Nam
Văn học Việt Nam hiện nay nhìn nhận “tản văn” là một thuật ngữ dùng để chỉ một thể loại văn học xác định trong hệ thống các thể loại văn học hiện đại Trên
thực tế, rất nhiều ấn bản đang có mặt trên thị trường sách hiện nay được đề tản văn,
tạp văn, tạp bút… Việc phân biệt tản- tạp văn không dễ vì ranh giới giữa chúng khá
mờ nhạt Trước hết, Từ điển thuật ngữ văn học nhìn nhận “tạp văn” như một thể
loại nhỏ có đặc điểm riêng, nó “là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị,
có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội “ [29/tr294] Nếu hiểu như vậy, tạp văn có nghĩa hẹp hơn tản văn bởi tạp văn
Trang 18chỉ là những “áng văn tiểu phẩm” thỏa mãn hai yêu cầu: nội dung chính trị, tính
chiến đấu mạnh mẽ Song trong nghiên cứu Ký trên hành trình đổi mới, tác giả Đỗ
Hải Ninh cho rằng tản văn bao gồm cả tạp văn: “Tản văn là loại văn ngắn gọn, hàm súc, với khả năng khám phá đời sống bất ngờ thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm tác giả, bao gồm cả tạp văn, tùy bút, văn tiểu phẩm” [65/tr72] Ngược lại, tác giả Đoàn
Lê Giang cho rằng tản văn chỉ là tên gọi thức thời của thể tạp văn trước đây: “Mươi năm trở lại đây người ta hay gọi “tản văn” – văn ghi chép tản mạn về đời sống, nhưng thực ra người xưa gọi nó là “tạp văn” (ví dụ tạp văn Lỗ Tấn)”, sở dĩ gọi “tản
văn” thay cho “tạp văn” là vì “nhiều người không thích bị ám ảnh bởi chữ tạp”
[43/tr5]… Dù tên gọi khác nhau song nếu so sánh các thuật ngữ và nội dung văn bản, dễ nhận thấy những tên gọi khác nhau chỉ là cách phân lượng mức độ (đậm, nhạt) các đặc trưng của tản văn Mỗi cách gọi là một tín hiệu khẳng định văn bản nghệ thuật đó chứa đặc trưng nào của tản văn đậm nét hơn Do đó, chúng tôi thống nhất lựa chọn khảo sát các đầu sách có dán nhãn tản văn, tạp bút, tạp văn… với điều kiện các tập sách này thỏa mãn các đặc trưng của tản văn Vậy, với tư cách là một thể loại của văn xuôi hiện đại, tản văn Việt Nam có những đặc điểm gì?
Từ điển thuật ngữ văn học xác định tản văn là một thể loại văn học có đặc
trưng riêng Trong đó, nhóm các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã xác định rõ các vấn đề căn bản của thể loại [29/tr293]:
- Hình thức: Tản văn “Nghĩa đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi”;
- Vị trí: Tản văn “là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiểu thuyết”;
- Mối quan hệ với thể kí: Tản văn “có nội hàm rộng hơn khái niệm kí, vì nội dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể văn xuôi khác như thư, tựa, bạt, du kí…”
- Đặc trưng: tản văn là loại văn xuôi hàm súc; có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật; thể hiện đời sống mang tính chất chấm phá; cấu tứ độc đáo; có giọng điệu, cốt cách cá nhân; tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội; bộc lộ trực tiếp tình cảm, mang đậm bản sắc
cá nhân
Trang 19Trong toàn bộ nghiên cứu này, chúng tôi đồng tình với định nghĩa của Từ điển thuật
ngữ văn học, thống nhất sử dụng khái niệm tản văn để chỉ loại văn ngắn gọn, hàm
súc, tự do, linh hoạt, với khả năng khám phá đời sống nhanh nhạy, mang tính chất chấm phá, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm, cảm xúc riêng của người viết Các tập sách được lựa chọn khảo sát trong công trình này có thể đề “tạp bút”, “tạp văn”,
“tản văn” – chúng tôi đều coi đó là ngữ liệu tản văn
Từ sự đồng tình quan niệm về thể loại nêu trên, đối chiếu với thực tiễn sáng tác thể loại tản văn đầu thế kỷ XX tới nay, có thể xác định tản văn Việt Nam hiện đại mang những đặc điểm cụ thể ở các bình diện sau: dung lượng, hình tượng tác giả, đề tài, phương thức biểu đạt, kết cấu, hành văn
Về quy mô, dung lượng: Mặc dù tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tùy ý
xong về cơ bản, đó là thể văn ngắn gọn, hàm súc Dung lượng khiêm nhường nhất
co lại trong một, hai trang sách (khoảng 200 đến 400 chữ) nhưng cũng có thể lên tới hơn 20 trang sách, trên 5000 chữ (sáng tác của nhà văn Cao Huy Thuần, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Quang Thiều); phổ biến là những tản văn trên dưới 1.000 chữ So với truyện ngắn, tiểu thuyết thì tản văn có thể được xem là thể loại dễ “bỏ túi” vì phần lớn tản văn hiện nay có dung lượng nhỏ, giúp độc giả đón nhận trọn vẹn một tác phẩm trong những “kẽ hở” thời gian của nhịp sống hiện đại
Ở phương diện hình tượng tác giả: Cái tôi tác giả là điều khác biệt lớn nhất
của tản văn so với các thể loại văn xuôi khác Cái tôi trong thể trữ tình thường không còn nguyên vẹn là con người đời thường bởi nó phải “chuyển hóa thế giới nội tâm vào một nhân vật có tính hư cấu – nhân vật trữ tình” Cái tôi trong truyện ngắn hay tiểu thuyết phải “nhờ” lăng kính, góc nhìn, tâm lý nhân vật hư cấu để gửi gắm những suy nghĩ, thông điệp về con người và cuộc đời Còn ở tản văn, nhà văn tự cấp cho mình quyền được tuyên ngôn trực tiếp về những điều người viết quan tâm và vì thế hình tượng nhân vật (thường xưng là tôi) trùng khít với tác giả, đem đến cho người đọc cảm giác được tương tác, đối thoại trực tiếp với nhà văn về các vấn đề của đời sống Với đặc điểm này, người viết còn thể hiện được nhân cách, bản lĩnh, tầm vóc tư duy, phong thái một cách chân thực vì hai lý do: nhà văn “cứ
Trang 20nguyên hình nguyên dạng mà bước vào trang sách” [48/tr45] và có nhiều vấn đề của đời sống sẽ không được nói ra nếu người viết thiếu bản lĩnh
Về đề tài: Tản văn “có thể ghi chép lại một cuộc thảo luận chính thức hoặc
không chính thức; tập trung vào một chủ đề nhưng cũng có thể khai thác một loạt các chủ đề” [97/tr12]; “theo tùy hứng tác giả có thể bộc lộ trữ tình hay nghị luận”;
“có thể tự sự, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật” [29/tr293]… Điều này có nghĩa biên độ đề tài của tản văn thực sự rộng Tản văn đầu thế kỷ XXI đã cho thấy mọi vấn đề lớn – nhỏ của đời sống xã hội đều được quan tâm, suy ngẫm Từ quá khứ, hiện tại tới tương lai; tự nhiên và xã hội, nhân sinh; các yếu tố ngoại hiện (sự kiện, cảnh vật, ngôn luận) đến nội cảm (tình cảm, tinh thần); từ các vấn đề khoa học
xã hội và nhân văn (lịch sử, tôn giáo, văn hóa, triết học) cho tới các vấn đề thời sự (biển cả, môi sinh) v.v… đều có thể trở thành đề tài của tản văn Sự năng động trong đề tài của tản văn dường như vượt trội so với thể loại văn học khác Đặc điểm này có thể bắt nguồn từ những bộ phận cấu thành tản văn: bộ phận thứ nhất là các hiện tượng đời sống xã hội; va đập vào cảm quan nhà văn làm nảy sinh bộ phận thứ
hai là quan điểm, thái độ, đánh giá chủ quan Hiện tượng và suy ngẫm trở thành hai
bộ phận cốt lõi của một tản văn Trong khi đó, hiện tượng đời sống là nguồn chất liệu đa dạng muôn nghìn sắc màu, vậy không thể “kiểm soát” vấn đề trở thành cảm hứng trong tản văn, càng không thể mặc định hay giới hạn cảm xúc, suy ngẫm xuất phát từ hiện thực đó
thì “lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá, tuy vậy, ngòi bút tản văn chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ”[25]; ưa dùng lối “chấm phá” trong cách biểu đạt, mỗi hiện tượng bình thường của đời sống được chọn đưa vào tản văn đều là khoảnh khắc nhà văn phát hiện ra một điều đáng suy ngẫm, gợi lên trong người đọc sự vỡ lẽ cần thiết Khác với truyện và tiểu thuyết, tản văn không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng nó nhất định phải tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu riêng Sự đòi hỏi cao nhất và cũng là đòi hỏi sau cùng về phương thức biểu đạt tản văn là “cái tôi” người viết Có
Trang 21thể viết về bất cứ câu chuyện gì, chọn dung lượng tùy thích, bắt đầu từ một khởi điểm không khuôn phép, sử dụng đa dạng các phương thức nghệ thuật, lan tỏa những suy ngẫm ngẫu hứng… nhưng điều quan trọng nhất là tản văn phải bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính tác giả; thể hiện nổi bật chính kiến người viết, đánh dấu trong trí nhớ độc giả một “cái tôi” của nhà văn Bên cạnh
đó, tản văn còn có khả năng dung hòa các đường biên thể loại Nhà nghiên cứu J Cuddon cũng nhận ra essay là “một trong những thể loại linh hoạt và dễ thích nghi nhất trong số các thể loại văn học” [97/tr12] - sự dễ thích nghi ở đây được hiểu như trong quá trình biểu đạt, tản văn bộc lộ khả năng giao hòa một số đặc điểm của thể loại các thể loại khác (thơ ca, báo chí, tùy bút, bút ký …)
Về kết cấu: Được coi là chiến lược của nhà văn trong việc chuyển tải ý
tưởng tới bạn đọc, kết cấu là nhân tố quan trọng thể hiện năng lực của người viết Nếu lý luận về thể loại truyện và tiểu thuyết có thể định hình được một số khung kết cấu cơ bản (kết cấu theo logic nhân quả; kết cấu đa tầng bậc); kết cấu lắp ghép; kết cấu liên hoàn … thì với tản văn, rất khó xác định khung kết cấu ổn định, nó là hệ quả tất yếu của phương thức biểu đạt, những suy ngẫm, liên tưởng tự do Ở những sáng tác có chất lượng, một tản văn có thể bắt đầu từ một “tứ”, sự chuyển động của những suy ngẫm xuất phát từ sự kiện, hiện tượng của đời sống được nhà văn chọn; quá trình lan tỏa có thể loang rộng nhưng cũng có thể tụ xoáy; quan trọng là sự chuyển động đó có trật tự và thần thái, đó là trạng thái “hình tản mà thần tụ” Những ngẫm ngợi, liên tưởng có thể “tản” nhưng thông điệp, triết lý, lại “tụ”, chắt lọc nên vừa thuyết phục, vừa khơi gợi những suy ngẫm ở người đọc
Về ngôn ngữ, hành văn: Tản văn chấp nhận ngôn ngữ, lối diễn đạt năng
động, tự do để thể hiện chân thực về đời sống Trong văn học chữ Hán, vì sự đồng nhất tản văn với văn xuôi nên so với văn vần và văn đối, tản văn không đòi hỏi
ngôn ngữ cầu kỳ, tinh tuyển Tới các văn nhân thời Nguyễn, khi tản văn là bi, ký, tự,
bạt, luận thuyết, ngôn ngữ cầu kỳ, dùng nhiều điển cố nên có phần trang trọng, bác
học Càng về sau, các quan niệm về thể loại tản văn càng thống nhất hơn ở việc ghi nhận tản văn phản chiếu đời sống rộng lớn, phải thể hiện được dấu ấn cá người viết Không thể dùng thứ ngôn ngữ “một màu” để thể hiện được muôn mặt đời sống sinh
Trang 22động, càng không thể quy định ngôn ngữ tản văn “phải” đi theo một hành lang có sẵn trong khi cá tính, cái tôi của người cầm bút cũng sinh động và phức tạp như chính đời sống Rốt cuộc, ngôn ngữ tản văn chưa được đề cập một cách rõ nét, cụ thể trong các quan niệm trước đó Nhưng đặc điểm về đề tài, kết cấu, phương thức biểu đạt, cái tôi tác giả đã quy định ngôn ngữ của tản văn cũng năng động, tự do, tươi mới và biến hóa như vấn đề được chọn để khai thác; đồng thời nó cần được chọn lựa, sử dụng “vừa” với dung lượng của loại tác phẩm thiên về gợi hơn tả
Các đặc điểm cơ bản đã khẳng định tản văn thực sự là một thể loại văn học trong hệ thống các thể loại văn học Việt Nam hiện đại Trong tương quan với các thể loại văn xuôi Việt Nam hiện đại, tản văn có một vai trò đặc biệt Một mặt, tản văn góp phần làm phong phú diện mạo văn học dân tộc Đặc biệt ở đầu thế kỷ XXI, tản văn là một thanh âm đem lại sự sôi động, mới mẻ cho đời sống văn học Việt Nam Mặt khác, tản văn cũng là thể loại đặt ra những vấn đề quan trọng cho nghiên cứu, lý luận văn học hiện đại bởi lẽ đặc tính giao thoa giữa các thể loại khiến cho việc phân loại văn học gặp khó khăn Những nét đặc trưng của tản văn về mặt lí luận cũng như các đặc điểm hiện diện trong các sáng tác tản văn hôm nay cho thấy bản thân thể loại vừa có dấu hiệu của văn chương hư cấu, vừa có dấu vết của thể ký, văn chính luận; có cả trạng thái tinh thần điển hình của thể trữ tình… Tuy nhiên, nhờ có một số đặc điểm nổi bật, nhất quán trong các sáng tác nên khi đặt tản văn bên cạnh những thể loại văn xuôi khác, chúng ta vẫn nhận diện tản văn, xác nhận vị trí tản văn rõ hơn Tóm lại, việc phân loại văn học nhằm định vị tản văn trong hệ thống thể loại văn học vẫn là một vấn đề mở và “giải quyết vấn đề này phụ thuộc vào nhãn giới thể loại ở tầm vĩ mô (…) tìm đến một sự ghi khắc và phân lập tuyệt đối là một điều không tưởng, mọi sự đóng khung về mặt lí luận đều không thể dung chứa được thực tế sáng tác luôn có xu hướng phá tung mọi giới hạn” [49/tr59] Nhận định này càng xác đáng với thể loại tản văn đầu thế XXI vì sự bổ trợ của công nghệ, mạng xã hội đã giúp người sáng tác có những sáng tạo không ngừng về phương thức biểu đạt Đến một lúc nào đó, người đọc sẽ được tiếp nhận những sáng tác tản văn có sự giao thoa rộng mở tới những thể loại văn học và các bộ môn nghệ thuật hiện đại khác
Trang 231.1.3 Diễn trình tản văn hiện đại Việt Nam
Đến nay, tản văn hiện đại Việt Nam đã đi qua hơn một thế kỷ Cũng như nhiều thể loại văn học khác, quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tản văn gắn với các giai đoạn lịch sử của dân tộc Đặc điểm riêng của từng giai đoạn ấy tác động trực tiếp tới sự biến chuyển của văn học nói chung, tản văn nói riêng Nhìn lại hơn một trăm năm, có thể thấy sự chuyển động của tản văn qua ba giai đoạn sau: Tản văn Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975, sau năm 1975 đến hết thế kỷ
XX và tản văn Việt Nam hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Tản văn Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX
“Nếu tính từ thời điểm xuất hiện những bài tản văn viết bằng chữ quốc ngữ của một
số tác giả như Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Đà đăng trên Đông Dương tạp chí, Nam
Phong tạp chí thập kỉ thứ hai thế kỉ XX (những năm từ 1913 đến 1917)”[51] Như
vậy, so với các thể loại văn học hiện đại khác xuất hiện từ đầu thế kỷ XX (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ ca, phóng sự…), tản văn Việt Nam hiện đại ra đời muộn hơn chừng hai mươi năm,
Từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX đến năm 1945, tản văn Việt Nam hình thành và phát triển trong môi sinh văn hóa có sự giao lưu với văn hóa phương Tây Khi phong trào viết văn xuôi bằng chữ quốc ngữ được cổ súy, tản văn được các nhà văn, nhà báo (xuất thân từ Nho học) thử nghiệm sáng tác bằng thứ văn tự mới Song yếu tố cơ bản nhất ở giai đoạn này tạo điều kiện để tản văn xuất hiện chính là sự phát triển sôi nổi của đời sống báo chí Một mặt báo chí tạo cơ hội để người sáng tác thể nghiệm những bài viết nhỏ bằng chữ quốc ngữ; mặt khác, báo chí là con đường lan truyền rộng rãi có hiệu quả nhất lúc bấy giờ Ở góc độ người viết, “sự tiếp xúc văn minh phương Tây, mở rộng nhãn quan văn hóa, tiếp thu tư tưởng dân chủ, đề cao ý thức cá nhân đã thôi thúc những nhu cầu biểu hiện mới của chủ thể sáng tạo” [51], sự bộc lộ trực tiếp cá tính người viết qua hình thức biểu hiện tự do, ngẫu hứng, phóng khoáng là một trong những nét mới nổi bật ở chủ thể sáng tạo
Có thể nói, khi so sánh với các thể loại khác cùng thời, tản văn bộc lộ sự phong phú
về diện mạo, cá tính sáng tạo và bước đầu có những thành quả cần được ghi nhận,
Trang 24đó là “sự đa dạng các khuynh hướng: tả thực, lãng mạn - tượng trưng, học thuật” và
“thu hút được khá đông đảo các cây bút tham gia sáng tác mà nhiều người trong số
đó là những nhà văn tên tuổi, có vị trí nổi bật trên văn đàn” [51] Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX ghi nhận vai trò khai mở, khả năng sáng tác năng động, phong cách độc đáo của một số cây bút Nếu Tản Đà được coi là “người mở đường đầy ngoạn mục” thì sau đó là một loạt phong cách: “Tản văn Chế Lan Viên giàu chất suy tưởng, triết lí, đậm màu sắc tượng trưng Tản văn Xuân Diệu tinh tế, nồng nàn, đượm chất thơ Tản văn Phùng Tất Đắc đậm chất phiếm luận ” [51] Như vậy, chặng đường thứ nhất của tản văn ít nhiều đã có những định hướng để thể loại tiếp tục phát triển ở giai đoạn sau
Trong bối cảnh đời sống chiến tranh, khi văn học trở thành thứ vũ khí tư tưởng, nhà văn thực hiện sứ mệnh bám sát và phản ánh kịp thời thành tựu của cách mạng thì chỉ có một số thể loại văn học (truyện kí, kí sự, thơ ca…) có khả năng thích nghi với yêu cầu của nghệ thuật Hơn nữa, không khí xã hội ở miền Bắc trong giai đoạn này không có nhiều điều kiện cho một thể loại có tính tự do (đặc biệt là sự tự do
về tư tưởng) khuôn mình lại để phù hợp với yêu cầu về phản ánh, cổ vũ, tuyên truyền Trong khi đó, không gian văn hóa xã hội thời kỳ người Mỹ chiếm đóng khu vực miền Nam khác biệt miền Bắc do lối sống, nếp nghĩ hình thành từ sự ảnh hưởng phương tây Sự khác biệt cơ bản của sinh thái văn hóa dẫn tới tản văn Việt Nam giai đoạn 1945 -
1975 phân hóa thành hai xu hướng: sử thi hóa (xu hướng nổi trội của tản văn miền Bắc) và phi sử thi (chủ yếu tập hợp một số cây bút ở miền Nam)
Xu hướng sử thi hóa trong tản văn thể hiện ở tâm thế hướng về cộng đồng,
ưu tiên cho đề tài chiến tranh cách mạng, say mê với những tình cảm lớn, những suy tưởng về dân tộc, thời đại; là tinh thần lạc quan, niềm tin vào tương lai tốt đẹp
và ngợi ca là giọng điệu chủ đạo (Bác về quê ta của Chế Lan Viên…) Đặc điểm
của tản văn theo xu hướng sử thi hóa ở giai đoạn này là sự giao hòa với các thể loại
khác như tùy bút, bút ký, ký sự (Bay theo đường dân tộc đang bay của Chế Lan Viên, Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành, Tre Việt Nam của Thép
Mới…) Đối tượng chính mà tản văn hướng tới lúc này là các vấn đề thuộc về đời sống cách mạng, về chiến tranh vệ quốc, sinh mệnh dân tộc (lực lượng quần chúng,
Trang 25anh bộ đội, lãnh tụ Hồ Chí Minh, đất nước, nhân dân…), cái tôi cá nhân của người viết tản văn thường là cái tôi công dân, điều tác giả nói không hẳn là điều họ muốn nói, mà đó là những gì tác giả hòa mình để cất tiếng về những điều cả dân tộc hướng tới và “để củng cố niềm tin, giai đoạn này người ta dị ứng với những biểu hiện có tính chất phê phán hay khơi vào những thói xấu, những sai lầm của những con người trong hàng ngữ cách mạng Người ta cũng né tránh nói đến những mất mát hi sinh, hay nói đúng hơn mất mát hi sinh được nói tới là để khơi dậy niềm căm thù” [49/ tr151] Đặc trưng làm nên giá trị của thể loại tản văn là chính kiến độc đáo của người viết, là cái tôi tự do trong bộc lộ cá tính sáng tác song để “hợp lực” với các thể loại khác trong việc thực hiện các nhiệm vụ lịch sử của dân tộc, tản văn Việt Nam đã không chứng minh được những phong cách riêng
Xu hướng phi sử thi bao gồm các tản văn phản ánh tâm tư, tình cảm mang tính cá thể, thường đề cập những vấn đề mang tính văn hóa, câu chuyện sinh hoạt đời thường, sự quan tâm tới các vấn đề cá nhân… nhằm bày tỏ suy ngẫm, tâm trạng, cảm xúc, cách nhìn, cách đánh giá riêng của người viết Xu hướng này xuất hiện chủ yếu trong văn học đô thị miền Nam trước năm 1975 (tạp bút, tạp luận, tùy bút
của Võ Phiến; tạp văn Gốc cây – Cục đá và Ngôi sao hay Thú chơi cây kiểng non
bộ của Sơn Nam…) Đây là cách gọi có ý đối lập với xu hướng sử thi hóa đồng thời
gợi mở sự khác biệt cơ bản về đề tài, cảm hứng, hệ giá trị của hai xu hướng sáng tác tản văn Trong đó, bộ phận tản văn được sáng tác trong lòng đô thị miền Nam những năm trước 1975 khá tiêu biểu cho xu hướng phi sử thi “Trong một hoàn cảnh đặc biệt, tản văn là một cách để các nhà văn phát biểu những trăn trở, suy ngẫm, hoài nghi, có khi là bế tắc, thất vọng của cá nhân con người trước sự đổi thay của cuộc sống đô thị, trước những biến động của thời đại, nhất là trước cơn bão táp của cuộc chiến đang đi tới hồi khốc liệt nhất” [49/ tr156] Họ hoài niệm, chiêm nghiệm về thân phận con người, quan niệm về nghệ thuật, có khi gợi lại truyền thống văn hóa xưa cũ, những thú chơi, nét đẹp sinh hoạt thường ngày (Võ Phiến, Sơn Nam, Vũ Bằng…); họ cũng đại diện cho một thế hệ bày tỏ thực trạng đời sống tinh thần con người Việt Nam những năm trước 1975 bởi những tác động to lớn của lịch sử, đó là nỗi chán chường, tuyệt vọng, hoang mang trước những bất an, sự vô
Trang 26nghĩa do chiến tranh đem lại (Mai Thảo, Tạ Tỵ, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Thy Dã Tràng …) Cũng như xu hướng sử thi hóa, tản văn theo xu hướng phi sử thi có khi
hòa lẫn với thể bút ký, tùy bút (Thư nhà, Ảo ảnh, Phù thế, Đất nước quê hương của
Võ Phiến; Món ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai của Vũ
Bằng v.v…) Tóm lại, xu hướng phi sử thi “là một dấu hiệu tồn sinh dẫu thưa thớt nhưng hết sức đáng quý bởi trên một phương diện nào đó nó thừa tiếp đặc điểm tản văn giai đoạn trước năm 1945, nối tiếp vào tản văn Việt Nam giai đoạn đổi mới, tạo thành những đặc thù của tản văn Việt Nam” [49/ tr155]
Có thể nói hai xu hướng tản văn trên đã phản ánh những đặc điểm cơ bản của thể tản văn Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ Nó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hiện thực và văn học, giữa chính trị và văn chương thời đại cách mạng Song chính sự chi phối của lịch sử khiến tản văn Việt Nam giai đoạn này “thiếu sinh khí, đơn điệu về đề tài và phương thức biểu hiện, một bộ phận rơi vào dập khuôn, thiếu đa dạng, hạn chế những tiếng nói cá nhân độc đáo…” [49/tr160] Nhìn chung, trong tương quan với các thể loại khác, tản văn ít có thành tựu nên chưa có được tiếng nói riêng trên văn đàn
* Sau năm 1975 đến hết thế kỷ XX
Từ sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế trên mọi phương diện, trong đó có văn hóa, văn học nghệ thuật Sự chuyển đổi mô hình kinh tế xã hội, mở rộng giao lưu với nước ngoài, sự đổi mới tư duy đã kiến tạo một sinh thái văn hóa phong phú – nền tảng để thể loại tản văn Việt Nam được phát triển theo chiều hướng tích cực
Về đề tài, văn học thời kỳ này hướng vào đạo đức, thế sự, đời tư; nhìn nhận con người ở nhiều chiều, nhiều khía cạnh (ý chí và tâm linh, bản năng, vô thức và ý thức…), nhiều mâu thuẫn phức tạp Về nội dung phản ánh, các nhà văn ý thức sâu sắc giá trị của thái độ tôn trọng sự thật và bản lĩnh cần thiết để bày tỏ thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá hiện thực “Nhiều vấn đề được khẳng định tuyệt đối ở giai đoạn trước, nay được soi nhìn lại dưới góc độ mới Chưa có bao giờ như lúc này, bản lĩnh
cá nhận con người được đề cao, bản thể con người được coi trọng” [49/tr161] Từ phía độc giả, sự thay đổi toàn diện của đời sống xã hội ảnh hưởng tới sự chuyển
Trang 27biến lớn trong thị hiếu Độc giả quan tâm tới điều gì mới? Ngoài những tấm gương anh hùng cách mạng của giai đoạn trước, những vấn đề lớn lao của cộng đồng, vấn
đề sinh mệnh của dân tộc v.v…, người đọc bắt đầu quan tâm tới những câu chuyện đời thường, gần gũi, thiết thực với cuộc sống cá nhân (ăn, mặc, thú chơi, cảnh sắc thiên nhiên xung quanh…) Đặc biệt, quá trình giao lưu với văn hóa quốc tế đã tác động tới phía tác giả lẫn độc giả, khơi gợi những suy ngẫm về các vấn đề văn hóa dân tộc – mảng đề tài có tính xuyên suốt của tản văn qua các giai đoạn
Sự cộng hưởng những yếu tố đổi mới lại được tạo điều kiện bởi sự sôi động của đời sống báo chí khiến tản văn Việt Nam ở giai đoạn này có sự phát triển đáng
kể Nếu đầu thập niên 70 mới có 36 nhật báo ra hàng ngày thì sau 1986, có tới 706
tờ báo và tạp chí được phép xuất bản Nhiều tờ báo có chuyên mục riêng cho thể
loại này, phải kể tới mục Nhàn đàm trên tờ Thanh Niên, mục Tạp văn Hà Nội trên
tờ Hà Nội mới cuối tuần, chuyên mục Nhàn đàm trên báo Văn Nghệ, chuyên mục
Thú chơi người Hà Nội trên báo Người Hà Nội v.v… Những số báo Tết trở thành
món ăn tinh thần đặc sắc của người đọc, trong mỗi số báo Tết, tản văn là món ăn thực sự thú vị vì các bài viết thường tập trung trạng thái tinh thần phổ biến của con người trước một khoảnh khắc quan trọng nhất trong một năm; phản ánh bản sắc văn hóa phong phú, độc đáo khắp các vùng miền trên đất nước Việt Nam khi trải nghiệm lễ hội lớn nhất trong năm của cộng đồng người Việt, nhờ đó, tản văn thường “chạm” tới cảm xúc người đọc sâu sắc, chân thực hơn những sáng tác ở giai đoạn trước đó Cuối thế kỷ XX, sự xuất hiện của các trang báo điện tử và thói quen đọc báo mạng cũng là một cú “click” để số lượng tản văn bắt đầu tăng nhanh Có thể nói nhờ sự truyền đạt rộng rãi của báo chí mà tản văn đến với độc giả gần gũi, tự nhiên trở thành một nhu cầu tinh thần trong đời sống hàng ngày Một số cây bút lớn của văn học Việt Nam đã thành danh ở các thể loại khác, nay tiếp tục ghi dấu ấn bằng tản văn và tiếp tục giữ vị trí vững chắc trong việc sáng tác thể loại tản văn ở giai đoạn tiếp theo (Băng Sơn, Vương Trí Nhàn, Lý Lan, Nguyễn Quang Lập, Phan Thị Vàng Anh, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Quang Thiều v.v…)
Trang 28* Hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Cuối thế kỷ XX, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống xã hội Đối với đời sống văn học nghệ thuật, công nghệ hay mạng internet trở thành kênh xuất bản, giới thiệu tác phẩm tới bạn đọc bằng con đường ngắn, nhanh nhất Về phía độc giả, cũng nhờ có sự trợ giúp của công nghệ hiện đại, họ không chỉ tiếp cận văn học và tương tác với tác giả một cách dễ dàng mà còn có
cơ hội trở thành người viết Đó là một trong số những lý do cơ bản để tản văn, tạp văn có điều kiện phát triển, bộc lộ được những thế mạnh của thể loại, do đó “tản văn hồi sinh mạnh mẽ, bắt đầu có những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội,
có sự vượt trội của số lượng sáng tác, sự mở rộng về đề tài, chủ đề, cách thức biểu hiện” [49/tr9]
Từ “hồi sinh”, “bùng nổ”, “nở rộ” được sử dụng để mô tả sự phát triển của thể loại tản văn trong giai đoạn này Sau một thế kỷ tạm nép mình bên cạnh những thể loại văn học khác, các sáng tác tản văn đầu thế kỷ XXI nhận được sự quan tâm
từ độc giả, giới nghiên cứu, phê bình văn học tới sự ưu ái của các nhà xuất bản Đặc biệt, tản văn trở thành thể loại có lực lượng sáng tác đông đảo và đa dạng nhất, họ
có thể là các nhà văn, làm công việc liên quan nghệ thuật (họa sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn…) và cả những công việc không liên quan tới nghệ thuật (bác sĩ, nhà khoa học, sinh viên, kiến trúc sư, nhân viên văn phòng…); họ thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau; họ có thể là tác giả trong nước và có nhiều cây bút người Việt Nam sinh sống tai nước ngoài Song các nhà văn có tên tuổi chính là bộ phận sáng tác quan trọng làm nên chất lượng nghệ thuật của tác phẩm và họ chứng minh rằng tản văn không chỉ là thể loại “tạt ngang” hay “chiếu nghỉ” (Cao Huy Thuần, Y Phương, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Nhật Ánh, Huỳnh Như Phương, Lý Lan, Dạ Ngân, Hoàng Việt Hằng, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Phấn, Lê Minh Quốc, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý, Uông Triều…) Việc các cây bút có kinh nghiệm sáng tác nghiêm túc đầu tư nghệ thuật cho tác phẩm giúp vị trí của tản văn Việt Nam được “thăng hạng” đáng kể, các hội đồng chuyên môn quan tâm xem xét đưa vào cơ cấu giải thưởng Kết quả là giải thưởng
Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội dành cho hai tập tản văn Đi ngang Hà Nội và
Trang 29Đi dọc Hà Nội của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến đoạt năm 2012, tạp bút A đây rồi Hà Nội 7 món của nhà văn trần Chiến năm 2015, tập sách Thú lang thang người Hà Nội
và Thú ăn chơi người Hà Nội của nhà văn Băng Sơn vào năm 2017; tập tản văn
Tháng giêng, tháng giêng… một vòng dao quắm của nhà thơ Y Phương đạt giải B
của Hội văn học thiểu số Việt Nam năm 2014 Nếu xem Tản mạn trước đèn của nhà
văn Đỗ Chu là tạp văn thì tập sách đã được trao Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam
năm 2005 và tới năm 2012, Tản mạn trước đèn cùng tập truyện ngắn Một loại chim
trên sóng của nhà văn Đỗ Chu tiếp tục đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học –
Nghệ thuật Ngoài ra, năm 2005, tập tản văn Nhân trường hợp của chị Thỏ bông
(Phan Thị Vàng Anh) cũng nằm trong danh sách đề cử xét giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam…
Đồng thời với sự phát triển của lực lượng sáng tác là trạng thái mở rộng góc nhìn- đề tài được phản ánh Tản văn, tạp văn giai đoạn này không dừng lại ở vẻ đẹp thiên nhiên, hương vị quê hương, phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa dân tộc… như chặng đường trước đó Đầu thế kỷ XXI, tản văn có xu hướng phản ánh trực diện và mạnh mẽ các vấn đề mang tính xã hội (y tế, giáo dục, môi trường), các vấn
đề của đời sống được xã hội quan tâm, các vấn đề về văn học nghệ thuật Trong đó, các tác giả thể hiện sự trăn trở nhiều về mặt trái của nền kinh tế thị trường, tâm lý thực dụng, sự xói mòn những giá trị đạo đức và nhân văn tốt đẹp, đáng nói là những biểu hiện tiêu cực đó tiềm ẩn trong văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường sống thường nhật của chúng ta (Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Cao Huy Thuần, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân, Y Phương, Huỳnh Như Phương…) Ngay cả với những đề tài quen thuộc như cảnh sắc thiên nhiên, văn hóa phong tục – tản văn cũng mang một sắc thái mới khi các tác giả miêu tả đối tượng nghệ thuật từ góc nhìn khách quan nhất: cái tốt đẹp và cả những hạn chế, xấu xí; cái được và cái mất Giá trị nội dung đáng kể nhất của tản văn giai đoạn này là phía sau mỗi bài viết, người đọc hình dung một đời sống phức tạp và các nhà văn đang dùng tác phẩm “bóc” trần tiêu cực, góp phần thay đổi và xây dựng một xã hội nhân văn Nhờ nội dung phong phú nhưng giàu tính nhân văn và hiện thực, tản văn thu hút được độc giả hiện đại, nói cách khác, bạn đọc hiện nay có xu hướng chọn đọc tản văn nhiều hơn giai đoạn
Trang 30trước bởi tản văn dễ đọc, dễ cảm nhận, gần gũi với cuộc sống, có sự đồng cảm và tương tác hiệu quả giữa tác giả với độc giả, dung lượng phù hợp quỹ thời gian của nhịp điệu sống tốc độ
Nắm bắt thị hiếu độc giả, nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm tản văn, các nhà xuất bản (đặc biệt nhà xuất bản Trẻ) liên tục phát hành các tập tản văn Có nhà văn sáng tác được tái bản nhiều lần, có nhà văn liên tục công bố các tập sách trong thời gian ngắn (Nguyễn Ngọc Tư, Y Phương, Dạ Ngân, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý v.v…) Mục tản văn, tạp văn, tạp bút cũng được đăng tải trên
nhiều báo Các báo như Hà Nội mới cuối tuần, Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Người lao
động, Thanh Niên, Giáo dục và thời đại, Đại đoàn kết, Văn nghệ Quân đội… có
riêng chuyên mục tản văn, tạp bút Không chỉ báo viết (giấy) truyền thống, tản văn
còn đến với bạn đọc qua các trang báo điện tử, các trang cá nhân (blog,
facebook…) Có thể nói tản văn đã cho thấy đó là thể loại văn học năng động, thích
nghi nhanh chóng với môi sinh văn hóa hiện đại, nó thực sự góp phần đáng kể trong việc xây dựng diện mạo mới cho văn học Việt Nam hiện đại
1.2 Tình hình nghiên cứu
1.2.1 Các công trình nghiên cứu lý thuyết tản văn
Khác với sinh mệnh của những thể loại văn xuôi khác (tiểu thuyết, truyện ngắn…), trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tản văn tồn tại mờ nhạt Trong một giai đoạn dài, trong ý thức sáng tạo và nghiên cứu, tản văn có vị trí bất bình đẳng với các thể văn xuôi khác Vì vậy, tản văn không phải đối tượng được quan tâm của người viết, người đọc và giới nghiên cứu Mặc dù tản văn của văn học Việt Nam hiện đại có lịch sử trên dưới một trăm năm, nhưng lịch sử nghiên cứu về nó mới được bắt đầu
Về mặt lý luận, văn học Việt Nam thế kỷ XX thiếu hụt những công trình nghiên cứu chuyên biệt về thể loại tản văn song trong một số bài nghiên cứu các thể loại văn học nói chung, tản văn vẫn được nhắc tới như một thể loại văn học hiện
đại Ở góc độ tổng quan, nhóm các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học xem xét
và định nghĩa tản văn với tư cách một thể loại độc lập mà điểm nổi bật là dấu ấn của tác giả được thể hiện trong sáng tác; tản văn được nhìn nhận ngang hàng với thơ,
Trang 31kịch, tiểu thuyết; có kết cấu, cách thức miêu tả, cách khắc họa nhân vật Tuy nhiên, việc xây dựng khái niệm về tản văn trong từ điển vẫn chưa khái quát được hết những đặc điểm độc đáo khác của thể loại mà các tác giả, tác phẩm tản văn gần đây bộc lộ rõ
Năm 1999, trong công trình nghiên cứu Năm bài giảng về thể loại, tác giả
Hoàng Ngọc Hiến đặt tản văn về đúng vị trí một thể loại độc lập Nhà nghiên cứu đề cập tới những bài ký được gọi bằng tản văn, ông nhấn mạnh đó là một tiểu loại ký ngắn gọn, hàm súc, có những đặc điểm riêng cụ thể: “tản văn là một tiểu loại của thể
ký Lối thể hiện đời sống mang tính chấm phá; chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu, bất ngờ; mang đậm dấu ấn, cách cảm nhận và cảm nghĩ rất riêng của tác giả” [30] Dù chưa đi sâu cắt nghĩa và phân tích cụ thể những đặc điểm chuyên biệt của thể loại, nhưng việc tác giả chỉ ra những nét cơ bản trên là sự định hướng cách nhận biết tản văn khi đặt nó bên cạnh những thể loại khác
Trong Văn học Việt Nam hiện đại- Sáng tạo và tiếp nhận, tác giả Bích Thu
đem đến cho độc giả một cái nhìn khái quát và về văn học Việt Nam từ những thập niên đầu thế kỷ XX tới đương đại Các bài viết tập trung xem xét “các bình diện sáng tạo và tiếp nhận qua các hiện tượng văn học, các vấn đề thể loại… đồng thời người viết cũng phản ánh “những chuyển biến, ngữ cảnh sáng tạo và góp một cách nhìn về sự vận động, phát triển của quá trình văn học” [80/tr18] Trong đó, bài nghiên cứu về sự giao thoa giữa truyện và ký xếp tản văn, tạp bút như một biến thể nhỏ của ký Tác giả cho rằng “Ký: Một loại hình văn học bên cạnh thơ, tiểu thuyết và kịch, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi, bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, ký sự, tùy bút, tự truyện, tạp văn, bút ký chính luận” [29/tr35] Tương tự, nhóm
soạn giả trong Tuyển tập Ký – Tản văn Thăng Long – Hà Nội chia Ký thành các
nhóm: có Ký văn học (màu sắc chủ quan của người viết nổi bật); Ký báo chí (bảo đảm tối đa sự khách quan của các sự kiện) và Ký – tản văn, gồm các tác phẩm
“được viết bằng văn xuôi, vừa dành sự chú ý cho ít nhất một sự kiện được ghi chép lại theo một chủ đề hay mục đích nhất định, vừa ít nhiều bày tỏ cái tôi của người sáng tác như là người trực tiếp can dự đến sự kiện đó” [16/tr12] Như vậy, thể ký được xem là cái gốc châu tỏa thành nhiều tiểu loại, trong đó, hàm lượng hiện thực
Trang 32khách quan và chủ quan tác giả là yếu tố quyết định màu sắc “ký” và cách gọi tên tiểu loại, tản văn cũng chỉ là thuật ngữ định lượng sức nặng của cái tôi tác giả của một tiểu loại ký
Ngoài Từ điển thuật ngữ văn học xuất bản năm 2004 xây dựng khái niệm về
tản văn, phải kể tới nghiên cứu của tác giả Lê Trà My (năm 2008) - công trình đầu tiên ở miền Bắc xem xét tản văn Việt Nam thế kỷ XX từ cái nhìn thể loại Ở đó, tác giả Lê Trà My cung cấp thông tin khái quát về thể loại: từ sự hình thành, đặc trưng,
vị trí của tản văn trong hệ thống thể loại tới việc xác định một số loại hình tản văn hiện đại; bước đầu đánh giá sự phát triển của thể loại khi đặt tản văn trong diễn tiến môi trường sinh thái văn hóa thế kỷ XX Ở thời điểm đó, có thể xem công trình của tác giả Lê Trà My là cơ sở lý thuyết về thể loại ít được quan tâm nghiên cứu, khởi đầu xác lập sự tồn tại độc lập của tản văn trong một trăm năm Sau đó, tác giả còn cho ra đời một loạt những bài viết có tính chất bổ trợ, mở rộng các góc nhìn về tản văn đương đại Khảo sát sáng tác tản văn Việt Nam thuộc ba giai đoạn: đầu thế kỷ
XX đến trước thời kỳ Đổi mới; sáng tác tản văn in trên báo, tạp chí trong nước thời kỳ từ 1986 trở lại (chủ yếu tác phẩm đăng tải trên báo Văn nghệ, Hà Nội mới, Thanh niên hay tạp chí Văn nghệ Quân đội); các sáng tác tản văn của một số tác giả được xuất bản từ năm 1986 trở về sau đã giúp tác giả Lê Trà My nhận diện sự biến đổi của thể loại qua các giai đoạn Không dừng lại ở những đánh giá ban đầu về diện mạo của tản văn từ đầu XX tới thời kỳ Đổi mới, tác giả đồng thời chỉ ra đặc thù của thể loại tản văn Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa cuối thế kỷ
XX Ngoài việc khái quát lịch sử tản văn thế kỷ XX, tác giả Lê Trà My còn thực hiện tuyển tập Tản văn Việt Nam hiện đại (2011) bao gồm cả tản văn của một số tác giả trong vùng đô thị miền Nam trước giải phóng năm 1975 Những nghiên cứu trước đó và tuyển tập sau đó phần nào đáp ứng được sự đòi hỏi hiểu biết bao quát
về thể loại của những người sáng tác và những độc giả yêu thích tản văn Tinh thần của cuốn sách được Giáo sư Trần Đình Sử khẳng định: “tản văn hiện đại Việt Nam là một thể loại có thành tựu và không thể bỏ qua” và “tập sách cho ta thấy diện mạo tản văn Việt Nam của hơn một thế kỉ Đất nước đã thống nhất ba mươi lăm năm rồi” [49/tr5]
Trang 33Chúng tôi đặc biệt quan tâm những bài viết tìm hiểu về lịch sử, sự phát triển, cấu trúc của tản văn với tư cách một thể loại văn học độc lập Tiêu biểu xu hướng này là các bài viết của tác giả Lê Trà My với những thông tin khảo cứu, khái quát lịch sử tản văn Việt Nam trong suốt thế kỷ XX và sự kết nối với tản văn của thế kỷ
tiếp theo (Tình hình nghiên cứu tản văn ở Việt Nam và Trung Quốc; Tản văn - một
thể loại của văn xuôi hiện đại; Một dòng chảy của tản văn đương đại; Tản văn Việt hành trình một thế kỷ, Tản văn hiện đại Việt Nam – Lí thuyết và Lịch sử ) Trong
loạt bài viết nêu trên, người đọc có thể tìm thấy các thông tin về lý thuyết cấu trúc, diễn trình lịch sử của thể loại tản văn; diện mạo riêng của tản văn Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa; những đánh giá về các yếu tố truyền thông, môi trường văn hóa truyền thông, tính cộng sinh của thể loại tản văn với văn hóa nghệ thuật trong môi trường văn hóa truyền thông ấy Bên cạnh đó, đã xuất hiện những bài viết bước đầu quan sát, đánh giá khái quát về tản văn đầu thế kỷ XXI Những bài viết này không tiếp cận thể loại bằng cách khảo sát tác phẩm, tác giả, mà từ góc
độ thể loại để xem xét quan niệm, sinh mệnh, sự biến đổi cấu trúc tản văn trong một
chặng đường mới (bài viết Bản sắc văn hóa trong tản văn thời đổi mới và hội nhập của tác giả Nguyễn Bích Thu; Lỗi tại … tạp văn đăng trên trang văn hóa của trang
báo điện tử tiasang.com…) Những bài viết nhìn nhận tản văn ở giai đoạn mới đều ý thức giải thích hiện tượng “bùng nổ” của tản văn bằng cách đặt thể loại trong không gian văn hóa, lịch sử đương đại; xác định mức độ tương tác, ảnh hưởng của môi trường văn hóa truyền thông, môi trường sống hiện đại tới sự phát triển của tản văn; chỉ ra đặc trưng và khẳng định tản văn là thể loại ngang hàng với các thể loại khác,
nó đủ dấu hiệu để chứng minh ưu thế của mình trong xu hướng kiếm tìm và chọn lựa của độc giả, đặc biệt là người đọc trẻ tuổi Tuy nhiên, dựa trên những gì chúng tôi thu thập được, có thể nhận thấy phần lớn sự quan tâm thể loại tản văn mới dừng lại ở những bài viết, nghiên cứu cụ thể một tác giả, tác phẩm hay một phương diện của thể loại, thiếu nhiều những nghiên cứu bao quát và sâu sắc về lý thuyết thể loại; càng thiếu các nghiên cứu khái quát về thể loại từ khi hình thành cho tới đầu thế kỷ XXI Đó là một khó khăn cho người nghiên cứu trong việc tìm kiếm một tài liệu có hệ thống về thể loại tản văn Việt Nam hiện đại
Trang 34Có thể nói ở thời điểm hiện tại, trong nghiên cứu văn học nói chung chưa có những công trình chuyên biệt nghiên cứu về thể tản văn Thuật ngữ, thể loại này
được đề cập như một phần nhỏ của đời sống văn học trong các tập Từ điển Văn học,
Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển thể loại… Để có cái nhìn rộng mở về lý thuyết
thể loại, ở phần nghiên cứu này, chúng tôi muốn kiếm tìm những thông tin về lý thuyết thể loại trong văn học hiện đại Trung Quốc và văn học phương Tây vì thể tản văn hiện đại Việt Nam được định hình trên thực tiễn sáng tác ở Việt Nam nhưng có những nét tương đồng với tản văn hiện đại Trung Quốc và phần nào đó có nét tương
đồng với essay của phương Tây
Bản thân thuật ngữ tản văn (tiếng Pháp: essai, tiếng Anh: essay; tiếng Nga: exxe) tồn tại khá khiêm nhường trong một số từ điển văn học phương Tây và được
sử dụng với hàm nghĩa linh hoạt, các ấn phẩm có gắn “essay/essai” có thể dịch là tiểu luận, ký, hoặc thí luận (theo cách dịch của giáo sư Đặng Thai Mai) Trong Từ điển Penguin về các vấn đề thuật ngữ văn học, tác giả J.A.Cudden cho biết người đầu tiên đặt ra khái niệm “essay” vào năm 1580 là nhà văn Montaigne, khi ông đặt tiêu đề Essais cho cuốn sách xuất bản lần đầu của mình Theo đó, tản văn là thuật ngữ chỉ một tác phẩm thường được viết bằng văn xuôi; tự do về dung lượng, chủ đề;
đó là một thể loại “linh hoạt và dễ thích nghi nhất” trong số các thể loại văn học Năm 1597, nhà văn Bacon viết nhiều những tác phẩm có dung lượng vài trăm từ theo cách thức này và ông cho rằng tản văn giống như những hạt muối nhỏ, nó giống một thứ gia vị của cảm xúc Ngoài Montaigne và Bacon tiên phong khai thác thể văn xuôi này, thế kỷ XVII còn có W Cornwallis, N Breton, Thomas Overbury, J.Earle, A.Cowley sử dụng tản văn như một phương tiện diễn đạt những ngẫm ngợi chủ quan về nhiều vấn đề của đời sống phương Tây đương thời Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, hai nhà văn – nhà phê bình là A.Cowley và S.Evermond khơi lại sự ảnh hưởng của tản văn theo phong cách Montaigne Tiếp đó, nhà thơ J.Dryden và các nhà văn R.Steele, R.L’Estrange, E.Ward, Tom Browne, J.Dunton không những duy trì lối viết của Montaigne mà còn phổ biến và đem lại màu vị mới cho tản văn, đó là sự gia tăng chất hiện thực và tính đối thoại Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, tản văn ở phương Tây được phổ biến rộng rãi song các nhà phê bình nhận
Trang 35thấy đây là thể loại “khó kiểm soát” về đặc trưng Nghĩa của từ “essay” đã mặc định bản chất của phương thức sáng tác: một thể loại sáng tác vừa dễ, vừa khó Dễ là vì
“phóng bút, tùy bút, tự do viết” nhưng chính vì tự do trong giới hạn ý thức nghệ thuật mà trở nên khó Đặc tính “khó kiểm soát” khiến tản văn ở phương Tây có nét thú vị riêng nhưng vẫn không được coi là thể loại văn học chính thức và quen thuộc (như các thể loại khác) Những lý do lịch sử khiến văn học Việt Nam có cơ hội sớm được tiếp xúc, ảnh hưởng văn học Pháp nói riêng, văn học phương Tây nói chung Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của tư duy thể loại tản văn ở phương Tây với thực tiễn sáng tác tản văn ở Việt Nam không đáng kể
Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới quan niệm về tản văn của Trung Quốc bởi đây là quốc gia tập trung nhiều nghiên cứu sâu nhất về thể tản văn Việc xem xét tình hình nghiên cứu tản văn ở Trung Quốc là sự đối sánh cần thiết để đi tìm những đặc trưng của tản văn Việt Nam Khái niệm về thể loại mà văn học Trung Quốc xác lập có thể không trùng với thực tiễn sáng tác tản văn tại Việt Nam nhưng ở một số giai đoạn nhất định, tản văn Trung Quốc có ảnh hưởng tới tư duy thể loại ở Việt Nam “Ảnh hưởng này chủ yếu rơi vào thời điểm một số tác phẩm tản văn Trung Quốc được dịch ở Việt Nam những năm chín mươi, kèm theo đó là lời giới thiệu ngắn gọn về thể loại” [51] Trong văn học hiện đại Trung Quốc, mặc dù việc xây dựng quan niệm về thể tản văn được quan tâm song quan điểm của một số nhà nghiên cứu, phê bình, lý luận văn học tiêu biểu của Trung Quốc vẫn chưa tìm được
tiếng nói chung Ở tập Tản văn giám thưởng nghệ thuật thám vi của tác giả Phùng
Văn Mẫn, tản văn được mô tả là những sáng tác gồm bốn đặc điểm: “Chuộng sự chân thực về đối tượng miêu tả và cảm xúc (không phải mô phỏng thực tại một cách máy móc); tính chất hiển lộ, biểu hiện ở khả năng thu hút quảng đại người đọc; lối viết tự do, ý theo ngòi bút, ít bị câu thúc; ngôn ngữ sinh động” [dẫn lại, 16/tr10] Nghiên cứu đặc trưng thể tản văn của tác giả Tạ Sở Phát cũng xem xét thể loại ở các phương diện: nội dung phản ánh, tính chất, hành văn, ngôn từ song bốn đặc điểm của tản văn ông nêu khác hoàn toàn Phùng Văn Mẫn: “Tính chất thực dụng; lối viết sáng gọn, tinh giản; tính phức tạp về nội dung phản ánh; tính ổn định về mặt lý luận” [dẫn lại, 16/tr10] Năm 2006, tác giả Đàm Gia Kiện nghiên cứu tản văn Trung
Trang 36Quốc cổ đại “gói” bốn đặc điểm tản văn trong tám chữ: “tính tản, thực dụng, cầu giản, pháp cổ” [dẫn lại, 16/tr10] Trong đó, ông cho rằng “tính tản” là đặc điểm cơ bản nhất của tản văn: tự do; đối lập sự quy định chặt chẽ nhưng vẫn tuân thủ trật tự
do ý tưởng kết cấu nhà văn chủ động xác lập – một thứ tự do trong khuôn khổ để
“tản mà không loạn”; giống các thể loại văn học khác ở chỗ coi trọng sự tinh tế của nghệ thuật nhưng khác các thể loại có quy phạm (thơ, từ, hí kịch, khúc…) ở sự khước từ các khuôn mẫu kết cấu để được tự do “truy cầu sự cân chỉnh, truy cầu cái đẹp” Người viết “chỉ cần suy nghĩ ra sao đều có thể phóng bút mà thành” Đàm Gia Kiện cũng là người chia tản văn cổ đại thành bốn nhóm dựa trên tiêu chí nội dung:
- Nhóm tản văn ghi về con người và sự vật (truyện ký, bi ký…)
- Nhóm tả cảnh, tả vật (các tác phẩm du ký, tiểu phẩm…)
- Nhóm trữ tình và ngôn chí (văn tế, tự, tùy bút…)
- Nhóm thuyết lý luận đạo (tản văn nghị luận, tạp văn…)
Giới nghiên cứu văn học ở Trung Quốc những thập kỷ đầu của thế kỷ XX có
xu hướng giới định một đường biên cho tản văn, tách tản văn ra khỏi tập hợp các sáng tác văn học ngoài tiểu thuyết, thơ và kịch Trong phần đối chiếu tản văn Trung Quốc với tản văn Việt Nam, tác giả Lê Trà My có nhắc đến quan niệm của Thẩm Nghĩa Trinh, xem tản văn là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt được “hợp lưu từ tùy bút của người Anh (essay) và văn tiểu phẩm đời Minh” [48]
Để dung hòa quan niệm có sự thay đổi qua những giai đoạn lịch sử văn học, lí luận hiện đại của Trung Quốc chia tản văn thành hai loại: tản văn truyền thống và tản văn hiện đại, tản văn trong văn học truyền thống của người Trung Quốc, trong đó
“chỉ những sáng tác văn xuôi, là văn học chính tông xếp ngang hàng với thơ từ” Còn trong văn học Trung Quốc hiện đại, tản văn được coi là “một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự, tạp văn v.v… để phân biệt với khái niệm “văn xuôi” cổ đại, nên cũng gọi là văn xuôi văn học” [50/tr18] Có thể nói, tản văn là thể loại có lịch sử lâu đời, có vai trò quan trọng không kém các thể loại khác Vai trò này được khẳng định bởi ý thức xây dựng định nghĩa, khái niệm thể loại của những tên tuổi lớn trong văn học Trung Quốc
Trang 37Bước vào thời kỳ văn học hiện đại, để phù hợp với xu thế phát triển chung của đời sống văn hóa xã hội, đặc trưng tản văn của Trung Quốc có thay đổi nhiều về hình thức thể hiện cũng như nội dung So với các thể loại khác, tản văn chân thực
về nội dung, sinh động và gần gũi đời sống về ngôn ngữ, tự do và triệt để trong việc bộc lộ xúc cảm của người viết, nhỏ gọn về dung lượng, thực dụng trong chức năng, lại có sức tác động mạnh vào nhận thức và lan tỏa nhanh về xúc cảm… nên nó thỏa mãn và hấp dẫn đông đảo độc giả trong xã hội hiện đại, vì vậy lực lượng sáng tác cũng tăng nhanh, đời sống của báo chí dành cho mảng tản văn ở Trung Quốc tương đối nhộn nhịp Một số cây bút nổi bật đầu thế kỷ XX phải kể tới là: Trần Độc Tú,
Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân Lớp nhà văn sau đó tiếp tục tạo tiếng vang trên văn đàn thế giới, đó là Mạc Ngôn - giải Nobel văn học danh giá vào năm 2012, Đinh Linh, Từ Trì, Viên Ưng, Giả Bình Ao v.v… Trong phần nghiên cứu về tản văn Trung Quốc, tác giả Lê Trà My cho rằng “gần một thế kỷ qua, song song với thực tế sáng tác vô cùng phong phú, rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về việc xác định phạm trù, đặc trưng, về việc sáng tác và tiếp nhận tản văn đã cùng tranh biện Cho đến nay vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất về tản văn…” [50/tr42] Ở hai khuynh hướng định nghĩa về thể loại, trong khi quan niệm tản văn truyền thống xây dựng nội hàm gồm hầu như các thể loại văn xuôi, “bao gồm các loại ngoài tiểu thuyết, thơ ca, hý kịch”; thì quan niệm tản văn hiện đại cho rằng đó là một thể loại độc lập, không thể nhập vào với văn chương nói chung vì nó hoàn toàn xây dựng được một phong cách riêng “Xu hướng coi tản văn là một thể loại văn học độc lập được nhiều sự đồng thuận ở Trung Quốc, đồng thời nó cũng đi sát với thực tiễn sáng tác của nhiều cây bút lớn như Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Băng Tâm, Thẩm Tùng Văn, Lương Thục Thu, Uông Tăng Kỳ, Dư Thu Vũ, Giả Bình Ao…” [51]
Sự phân biệt khái niệm tản văn truyền thống và hiện đại trong văn học Trung Quốc bắt đầu trở nên rạch ròi từ khi tản văn có được những thành tựu trong phong trào Ngũ Tứ (1919) – một phong trào có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử Trung Quốc, tác động mạnh tới tiến độ phát triển khoa học, dân chủ Tản văn ra đời thời kỳ này thúc đẩy các học giả Trung Quốc bước đầu khái quát và xác định khái niệm tản văn hiện đại trong thế đối lập tản văn truyền thống Có thể hình dung đường đi
Trang 38của việc khẳng định thể loại, xây dựng nội hàm cho tản văn trong văn học Trung Quốc bằng một số mốc thời gian và bằng những con người cụ thể Không thể không nhắc tới học giả Lưu Bán Nông, người xây dựng khái niệm tản văn (hiện đại) vào năm 1917 Tuy nhiên lúc đó “khái niệm mà Lưu Bán Nông đưa ra còn chưa phân định rõ biên giới thể loại, tản văn vẫn bao gồm cả tiểu thuyết và các thể loại văn xuôi khác Năm 1921, một tác giả có bút danh Tư Sản đã xác nhận vị trí độc lập của tản văn, chỉ ra tính nghệ thuật của nó khi cho rằng tản văn là “một loại mỹ văn” Sau đó Vương Thống Chiếu cũng dựa trên quan điểm này và gọi tản văn là thuần tản văn” [51] Bắt đầu từ đây, tản văn dần được khẳng định như một thể loại văn học độc lập, có những tác động tích cực khiến “người đọc phát sinh mỹ cảm”- nghĩa là nó có giá trị riêng và chức năng nghệ thuật cụ thể
Có thể nói văn học Trung Quốc không chỉ mạnh ở phương diện sáng tác tản văn mà còn chú trọng và phát triển mảng lý luận thể loại văn học Từ những học giả
ở thế kỷ V như Lưu Hiệp, Tiêu Thống tới những nhà nghiên cứu hiện đại như Phùng Văn Mẫn, Tạ Sở Phát, Đàm Gia Kiện, Lưu Bán Nông, Vương Chiêu Thống… đều chú tâm làm công việc phân loại, xác định vị trí, phạm vi của tản văn và chỉ ra những đặc trưng cơ bản của tản văn Mỗi nhà nghiên cứu đều có sức thuyết phục riêng, cho nên các quan điểm không mâu thuẫn mà chỉ có sự khác biệt Nếu Lưu Hiệp xếp tản văn vào nhóm văn xuôi, Tiêu Thống giới hạn lại ở những tác phẩm văn xuôi có nghệ thuật; Phùng Văn Mẫn, Tạ Sở Phát, Đàm Gia Kiện đều lượng hóa đặc điểm tản văn từ các phương diện nội dung, hành văn, ngôn ngữ, xúc mặc dù sự lượng hóa ở mỗi tác giả
có khác biệt Sự phong phú trong những quan niệm khác nhau đem tới sự phức tạp trong việc xây dựng quan niệm nhưng lại chứng tỏ rằng từ góc nhìn thể loại, tản văn đã được xem xét như một hiện tượng văn học sử
1.2.2 Các công trình nghiên cứu tác giả, sáng tác tản văn Việt Nam hiện đại
Thế kỷ XXI được xem là “thời của tản văn” khi các tập sách dán tem tản văn, tạp bút, tạp văn được các nhà xuất bản ưu ái vì số lượng sách bán ra vượt trội
so với các thể loại khác Một loạt cây bút mới xuất hiện bên cạnh những tên tuổi quen thuộc được “hâm nóng” lại nhờ sự đón nhận nồng nhiệt của người đọc Hệ quả của hiện tượng tản văn “bùng nổ” là vô số những bài viết đăng tải trên các báo (báo
Trang 39chí truyền thống, báo điện tử) đánh giá về các tập tản văn, các cây bút sáng tác tản văn Cũng vậy, rất nhiều bài báo, nghiên cứu phê bình văn học, đề tài khoa học, khóa luận, luận văn trong khối khoa học xã hội chọn tản văn làm đề tài nghiên cứu Nhìn chung, thể loại tản văn được quan tâm nghiên cứu theo ba xu hướng sau:
Một số bài viết chỉ ra điểm đặc sắc, giá trị nội dung của tập sách cũng như
giới thiệu cá tính nghệ thuật, cái tôi tác giả Trước hết là các bài nghiên cứu tiếp cận những gương mặt nổi bật của thể loại ở thế kỷ XX Tên tuổi các nhà văn xuất hiện nổi bật là Lãng Nhân, Võ Phiến, Tản Đà, Vương Trí Nhàn, Băng Sơn, Mai Văn Tạo, Nguyễn Khắc Phê… Ban đầu, người nghiên cứu và cả đối tượng được nghiên cứu chưa tìm được tiếng nói chung về việc định danh thể loại Tản văn hay tạp bút, tùy bút, phiếm luận, nhàn đàm, ký thường được hiểu không có sự khác biệt lớn Rất ít người nghiên cứu và tác giả văn học khẳng định nhất quán cho sáng tác của mình
duy danh là tản văn Bên cạnh đó, khi tìm hiểu tản văn của các cây bút nêu trên, các
bài viết mới dừng lại ở việc phân tích các tác phẩm cụ thể trên các phương diện nội dung, hình thức mà chưa có sự khái quát những đặc điểm về thể loại Sau đó, sự phát triển nhanh chóng của số lượng ấn bản tản văn cho thấy thị hiếu độc giả nghiêng về phía một số cây bút sáng tác tản văn nổi bật, kéo theo cơn “sốt” nhẹ trong nghiên cứu Những bài viết liên quan tới thể loại, quan tâm tới sáng tác tản văn của các tác giả trong phạm vi hai mươi năm đầu thế kỷ XXI dần xuất hiện nhiều hơn Đó có thể là phần lời tựa trong những đầu sách tản văn được xuất bản hoặc tái bản nhiều lần; những bài viết đăng tải trên mạng Internet đem lại cái nhìn khái quát
về thể tản văn thế kỷ XX Nổi bật là một loạt bài của tác giả Lê Trà My (Tình hình
nghiên cứu tản văn ở Việt Nam và Trung Quốc; Tản văn - một thể loại của văn xuôi hiện đại và Một dòng chảy của tản văn đương đại; Tản văn Việt hành trình một thế kỷ…) Tương tự, có không ít bài viết khẳng định vị thế của tản văn Việt Nam hiện
đại (Tản văn hiện đại- một thể loại bị lãng quên của tác giả Trần Đình Sử; tác giả Ngô Thục Miên với bài viết Tản văn tìm vị thế riêng; nhà thơ Y Phương và Đi tìm
thể tản văn) hoặc bày tỏ sự tin tưởng vào sự khởi sắc của tản văn ở đầu thế kỷ XXI
(Sự nở rộ thể tản văn trong văn học thời đổi mới và hội nhập của tác giả Nguyễn Bích Thu; Tản văn từ một cái nhìn lướt của tác giả Hoài Nam…) Nhiều bài viết
Trang 40khẳng định môi trường xã hội đương đại là thế đắc địa để tản văn phát triển và
chiếm lĩnh độc giả (Thời của tản văn của tác giả Mai Anh Tuấn; Một sự công nhận
dành cho thể loại tản văn của tác giả Tuy Hòa; Tản văn đang “hot” của tác giả
Phúc Nghệ và Nhìn thấu tâm tính người Việt qua tản văn của tác giả Ngọc Bi; Thời
của tản văn, tạp bút… của tác giả Thành Nguyên…) Một số bài viết phán đoán xu
hướng phát triển của tản văn sau đó (Tản văn nữ: Diện mạo và triển vọng của tác giả Lê Thị Hường; Tản văn- lấp lánh sắc màu của tác giả Kim Quyên; tác giả Hoàng Niềm với bài viết Cảm xúc từ tản văn; tác giả Thanh Nga đặt tản văn của Phạm Mai Chiên trong dòng chảy của tản văn của các nhà văn nữ đương đại …) Sự
phát triển của đội ngũ sáng tác trẻ và sự đột phá số lượng đầu sách tản văn cũng đặt
ra vấn đề về người viết và chất lượng sáng tác (bài viết Tản văn – thể loại không
dành cho người viết trẻ của tác giả Nguyễn Hồng Nga; tác giả Đức Tiến có bài viết Tản văn tình yêu: xuất bản nhiều nhưng thiếu chất lượng; Tản văn: dễ viết, khó hay
của tác giả Lê Thủy; tác giả Huy Huỳnh với bài viết Tại sao hiếm thấy nhà văn Việt
Nam thử mình với tiểu luận; Ai sẽ chọn tản văn cho nghiệp viết? của tác giả Hà
Anh…) Qua một số bài phỏng vấn những cây bút sáng tác tản văn tiêu biểu, người
đọc cũng thâu nhận được vài điểm đáng chú ý về đặc điểm thể loại (Nguyễn Trương
Quý: Không có giới hạn cho tản văn, bài phỏng vấn do tác giả Dương Tử Thành
thực hiện; Nguyễn Đình Tú: “Tạp tản văn không đại diện cho văn học trẻ”, tác giả
Lê Quang Đức phỏng vấn…) Điểm gặp gỡ của các bài viết trên là sự đánh giá chung về tản văn từ một góc nhìn cụ thể: hoặc là đánh giá tình hình nghiên cứu thể tản văn tại Việt Nam trong thời gian gần đây, hoặc cắt nghĩa sự phát triển nhanh về số lượng tác giả, số đầu sách tản văn, vấn đề chất lượng tác phẩm; bước đầu xác định nguyên nhân cho sự hấp dẫn đột ngột của thể tản văn với độc giả hiện đại hay khái quát những xu hướng nội dung phản ánh trong tản văn Việt Nam đương đại
Bên cạnh đó, có nhiều bài viết cảm nhận, đánh giá về sáng tản văn của một cây bút nổi lên như một hiện tượng của thể loại Tản văn của nhà văn Nguyễn Việt
Hà được quan tâm trong các bài viết: Tản văn Nguyễn Việt Hà: Phác thảo (Nguyễn Việt Hà); Nguyễn Việt Hà – Con giai phố cổ (Dương Phương Vinh và Đỗ Hoàng Diệu); Con giai phố cổ: Góc nhìn thẳng về Hà Nội (Nguyễn Thị Thanh Huyền);