TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1 Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trong những năm qua trên địa bàn huyện Quảng Ninh; 2 Phân tích những thuận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ NGỌC HOÀNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THỰC VẬT RỪNG TẠI HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Dũng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của một số các tác giả, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường đại học Lâm Nghiệp không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo sau đại học cũng như thầy cô giáo Trường Đại học Lâm Nghiệp, các phòng ban UBND huyện Quảng Ninh và tập thể cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Xuân Dũng người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, nghiên cứu và xây dựng luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ còn những hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô và đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hoàng
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: (1) Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trong những năm qua trên địa bàn huyện Quảng Ninh; (2) Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh; (3) Tìm hiểu tình hình sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương và sự tham gia của họ trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và từ đó (3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn huyện Quảng Ninh
Nghiên cứu được bắt đầu bằng việc thu thập số liệu thứ cấp thông qua các hình thức khác nhau và thu thập thông tin sơ cấp bằng cách sử dụng một số công cụ của phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) Các phương pháp này được áp dụng nhằm điều tra, nghiên cứu, quan sát thực tế, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chính ở cấp tỉnh, huyện, xã Sau đó thông tin được kiểm chứng, kiểm tra chéo thông tin bằng các cuộc thảo luận nhóm Những thông tin thu được từ đánh giá thực địa sẽ được tổng hợp, phân tích tổng thể bằng phương pháp thống kê mô tả
Phạm vi nghiên cứu là tại 02 xã Trường Sơn và xã Trường Xuân thuộc huyện Quảng Ninh; cụ thể là Thôn Long Sơn, bản Thượng Sơn xã Trường Sơn và thôn Kim Sen xã Trường Xuân
Nghiên cứu đã chỉ ra được hiện trạng, đặc điểm tài nguyên tự nhiên, tài nguyên rừng của huyện Quảng Ninh; Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng bao gồm công tác phòng cháy chữa cháy rừng, công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản, công tác chống chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp, công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật
Nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, các vấn đề xã hội như phong tục, tập quán đều có những ảnh hưởng về cả tiêu cực và tích cực trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm
Trang 5nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng như: ngăn chặn hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kiểm soát, tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục
Ngoài ra, nghiên cứu còn đề xuất các giải pháp về ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng, các giải pháp về kinh tế, xã hội nhằm ổn định đời sống của người dân địa phương
Tóm lại hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại huyện Quảng Ninh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, hiệu quả thật sự cũng vẫn chưa cao do nhiều nguyên nhân cả về chủ quan lẫn khách quan Do vậy cần có những nỗ lực, giải pháp tổng hợp và liên ngành, cần khuyến khích để có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân địa phương để có thể thực hiện tốt hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng 4
1.1.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng 6
1.1.3 Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng 10
1.2 Ở Việt Nam 12
1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng 12
1.2.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng 13
1.2.3 Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng 16
1.3 Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 18
1.4 Thảo luận 19
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
2.1.1 Mục tiêu chung 20
Trang 72.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp luận nghiên cứu 21
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 23
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG NINH 28
3.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1 Vị trí địa lý 28
3.1.2 Điều kiện địa hình 29
3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 30
3.1.4 Khí hậu thủy văn 31
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33
3.2.1 Dân số 33
3.2.2 Thu nhập 33
3.2.3 Giao thông 33
3.2.4 Lâm nghiệp 34
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Hiện trạng và diễn biến tài nguyên thực vật rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 35
4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp 35
4.1.2 Diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 40
4.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh 48
4.2.1 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng 48
4.2.2 Công tác tổ chức lực lượng quản lý bảo vệ rừng 52
4.2.3 Công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản 53
Trang 84.2.4 Công tác phòng chống phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp 59
4.2.5 Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật 62
4.2.6 Sự phối hợp của chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng 64
4.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh 68
4.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến công tác quản lý bảo vệ rừng 68
4.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến công tác quản lý bảo vệ rừng 72
4.3.3 Ảnh hưởng của đặc điểm xã hội ( phong tục, tập quán, kiến thức bản địa) 81
4.3.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác quản lý bảo vệ rừng 82
4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh 85
4.4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng 85
4.4.2 Giải pháp về chính sách 92
4.4.3 Giải pháp về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân 93
4.4.4 Giải pháp về tổ chức thực hiện 95
4.4.5 Giải pháp về kỹ thuật 100
4.4.6 Kinh nghiệm thực tiễn 101
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ELCDP : Chương trình phát triển cộng đồng địa phương
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
ICIMOD : International Centre for Integrated Mountain Development KHCN : Khoa học công nghệ
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
PTNT : Phát triển nông thôn
QLBV & PTR : Quản lý bảo vệ và phát triển rừng
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 10
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân tích SWOT trong công tác quản lý bảo vệ rừng 27
Bảng 4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp 35
huyện Quảng Ninh năm 2018 35
Bảng 4.2 Diện tích (ha) và phân bố các loài cây trồng rừng chính theo đơn vị hành chính xã trên địa bàn huyện Quảng Ninh năm 2018 38
Bảng 4.3 Trữ lượng rừng trồng phân theo loài cây và theo cấp tuổi trên địa bàn huyện Quảng Ninh năm 2018 40
Bảng 4.4 Diễn biến diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng và độ che phủ rừng huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2018 [15] 41
Bảng 4.5 Diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 42
Bảng 4.6 Diện tích và phân bố các loài cây trồng rừng theo đơn vị hành chính xã trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 46
Bảng 4.7 Thống kê tình hình cháy rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh 49
giai đoạn 2014- 2018 49
Bảng 4.8 Tổ chức bộ máy và biên chế làm công tác QLBVR 52
huyện Quảng Ninh năm 2018 52
Bảng 4.9 Số vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 54
Bảng 4.10 Tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Quảng Ninh 55
giai đoạn 2014-2018 55
Bảng 4.11 Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 60
Bảng 4.12 Đặc điểm các yếu tố khí tượng tỉnh Quảng Bình trong 15 năm 69
(giai đoạn 2003 - 2018) [33] 69
Bảng 4.13 Phân loại nhóm hộ gia đình tại 2 xã Trường Sơn và Trường Xuân 73
Bảng 4.14 Các sản phẩm khai thác chủ yếu của người dân địa phương 76
Bảng 4.15 Phân bố diện tích đất nương rẫy theo đơn vị hành chính 77
Trang 11Bảng 4.16 Các loại mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên 79
ở khu vực nghiên cứu 79 Bảng 4.17 Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động tuyên truyền bảo vệ tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 80 Bảng 4.18 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác quản lý bảo
vệ rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh 83 Bảng 4.19 Một số kết quả đạt được và chưa đạt được trong công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 86
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ các bước thực hiện nghiên cứu của đề tài 23
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình 28
Hình 3.2 Bản đồ địa hình huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 29
Hình 4.1 Biến động diện tích có rừng, rừng tự nhiên và rừng trồng huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2018 (Đvt: ha) 41
Hình 4.2 Biến động diện tích các loại rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 43
Hình 4.3 Biến động diện tích các loại rừng và đất lâm nghiệp 44
theo điều kiện lập địa trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 44
Hình 4.4 Biến động diện tích các loại rừng và đất lâm nghiệp 45
theo trữ lượng trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 45
Hình 4.5 Phân bố diện tích cây Keo các loại, Bạch đàn bình quân/HGĐ 47
theo đơn vị hành chính xã trên địa bàn huyện Quảng Ninh năm 2018 47
Hình 4.6 Lớp thực bì cỏ rười, vật rơi rụng dưới các lâm phần rừng trồng Keo tại xã Hải Ninh 50
Hình 4.7 Cháy rừng tại lâm phần của BQL RPH ven biển Nam Quảng Bình 51
Hình 4.8 Kiểm tra phương tiện vận chuyển Lâm sản có dấu hiệu vi phạm 56
Hình 4.9 Gỗ tập kết tại khu vực Sắt , xã Trường Sơn 57
Hình 4.10 Khai thác gỗ trái phép tại TK 329, xã Trường Sơn 58
Hình 4.11 Gỗ do đầu nậu gửi nhà dân, Trường Sơn 58
Hình 4.12 Gỗ tập kết tại khu vực bến sông Long Đại 59
Hình 4.13 Phá và lấn chiếm rừng tại khoảnh 1, TK391B, xã Trường Xuân 61
Hình 4.14 Hiện trường vụ phá rừng Phòng hộ để trồng rừng kinh tế tại khoảnh 1, TK 391B, xã Trường Xuân 61
Hình 4.15 Diễn tập PCCCR tại xã Vĩnh Ninh 62
Hình 4.16 Bảng tin tuyên truyền và biển cảnh báo cháy rừng 64
đặt tại tuyến đường 11, xã Trường Sơn 64
Hình 4.17 Bản đồ phân bố nhiệt độ bề mặt đất tỉnh Quảng Bình vào tháng 4 năm 2016 [33] 70
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loài động vật, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu… mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác, duy trì tính ổn định, độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm mức ô nhiễm không khí, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sống… bên cạnh đó, rừng còn mang
ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng
Tuy nhiên, một sự thật đang diễn ra tài nguyên rừng ngày càng suy giảm về
số lượng, chất lượng và giảm khả năng tái tạo Ở Việt Nam, năm 1943 độ che phủ của rừng là 43% và đến năm 1995 thì diện tích rừng còn lại 25% Theo thống kê của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đến năm 2019 (QĐ 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 [20]), đến hết 31/12/2018 toàn quốc có tổng diện tích trên 14,49 triệu ha rừng, bao gồm 10,255 triệu ha rừng tự nhiên và 4,23 triệu ha rừng trồng So với năm 2010, tổng diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 1,103 triệu ha rừng, trong
đó rừng trồng tăng 1,152 triệu ha và rừng tự nhiên giảm 49,291 ngàn ha rừng, độ che phủ rừng tăng từ 39,5% (2010) lên 41,65% (2018) Qua con số trên, cho ta thấy diện tích rừng Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng về diện tích rừng nhưng chủ yếu là tăng diện tích các loại rừng trồng trong khi đó diện tích rừng tự nhiên vẫn đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm từng bước quản lý, bảo vệ và khôi phục lại nguồn tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ của rừng Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án 661, Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững theo quyết định 886/QĐ-TTg Tuy nhiên, công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn như: áp lực gia tăng dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, đời sống người dân sống ở gần rừng, liền rừng còn khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân
Trang 14trí khu vực vùng sâu, vùng xa còn thấp, kiến thức bản địa chưa được phát huy, công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương đang còn bị xem nhẹ, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chuyên trách lâm nghiệp còn hạn chế, chủ trương, chính sách, chương trình của Nhà nước về lâm nghiệp còn nhiều bất cập và chưa được phát huy tối đa hiệu quả của nó đem lại…
Như vậy, với hiện trạng tài nguyên rừng hiện nay là thành quả của việc thực hiện các giải pháp về công tác quản lý bảo vệ rừng và những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện thì việc tìm, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các việc thực hiện các giải pháp trong công tác quản lý bảo vệ rừng là một vấn đề cấp bách hiện nay Muốn như vậy, việc đề xuất các giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý bảo vệ rừng ở các cấp là rất quan trọng
Huyện Quảng Ninh được tái lập vào ngày 1/7/1990 theo Quyết định số 190/QĐ-HĐBT, ngày 1/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) sau khi chia tách huyện Lệ Ninh thành hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy Phía Bắc giáp Thành phố Đồng Hới, phía Nam giáp huyện Lệ Thủy, phía Tây giáp nước Lào, phía Đông giáp Biển Đông Tính đến hết 31/12/2018, huyện Quảng Ninh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp có 102.305,29 ha, chiếm 85,7% tổng diện tích tự nhiên (diện tích tự nhiên 119.418,49ha), trong đó, rừng tự nhiên có 78.427,03ha, chiếm 76,7% tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn huyện, rừng trồng 15.304ha và đất lâm nghiệp 8.375,48 ha, với 3 loại rừng gồm: rừng đặc dụng 127,56 ha, rừng phòng hộ 44.778,88 ha và rừng sản xuất 55.869,14 ha Độ che phủ rừng toàn huyện đạt 71% (Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh, 2018 [9]) Trong những năm qua công tác quản lý bảo
vệ rừng trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên số vụ phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép có xu thế ngày càng tăng theo số liệu báo cáo số vụ vi phạm đã xử lý của Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh (năm 2014 có
93 vụ vi phạm về lâm nghiệp; năm 2015 có 113 vụ vi phạm; năm 2016 có 99 vụ vi phạm; năm 2017 có 113 vụ vi phạm; năm 2018 có 105 vụ vi phạm) [9]
Bên cạnh đó diện tích rừng tự nhiên ngày càng giảm do tình trạng phá rừng đốt nương làm rẫy của đồng bào dân tộc; phá rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế;
Trang 15chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng cao su vv làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, chất lượng rừng càng giảm sút Đứng trước thực trạng đó, chính quyền địa phương, các
cơ quan chức năng và các đơn vị chủ rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm quản lý bảo vệ rừng và khôi phục tài nguyên rừng Tuy trong quá trình thực hiện đã và đang gặp không ít khó khăn
Nhằm tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng trện địa bàn huyện Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình, từ đó nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong lý thuyết và tiến tới áp dụng ngoài thực tiễn, nâng cao giá trị kinh tế từ rừng, góp phần quản lý bảo vệ hiệu quả
diện tích rừng hiện có trên địa bàn, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên thực vật rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình” là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học
và thực tiễn
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng
Trên thế giới phương thức quản lý rừng tập trung dưới dạng quản lý nhà nước hoặc tư nhân đã có lịch sử từ rất lâu đời (Westoby, 1987, 1989; Dixon và Sherman, 1991; Harrison, 1992; Peluso, 1992; Vandergeest và Peluso, 1995; Fay và Michon, 2003) Trong khi đó, quyền tiếp cận và sử dụng rừng lại thường bị lãng quên hoặc có sự đề cập một cách mờ nhạt (Peluso, 1992; Lynch và cs, 1995; Colchester, 2007) Những vấn đề đó đã gây ra những phản ứng tiêu cực của người dân vùng với những tác động không mong muốn vào rừng (Hyakumura, 2010) Vì vậy, xu hướng xung trong quản lý bền vững tài nguyên rừng trên thế giới ngày càng phân quyền và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương (Westoby, 1989; Fisher, 1999; Pei và cs, 2009; Tole, 2010) (dẫn theo Đoàn Tiến Vinh, 2013 [32])
Theo thống kê của FAO (2005), trong giai đoạn 1990 - 1995 ở các nước đang phát triển đã có hơn 65 triệu ha rừng bị mất Tính đến năm 2000, diện tích rừng toàn thế giới, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng chỉ còn 3.869,455 triệu ha, tỷ
lệ che phủ chỉ chiếm 29,6% lãnh thổ [39] Cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng như: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980, 1991); Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983); Chương trình hành động của tổ chức Nông lương thực (FAO, 1985); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Rio de Janeiro, 1992); Công ước về đa dạng sinh học (CBD, 1992); Công ước về chống sa mạc hóa (CCD, 1996); Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997)… (dẫn theo FAO, 2005 [38])
Ở các quốc gia trên thế giới, việc nghiên cứu và thực hiện các chính sách quản lý cũng như đất rừng được thực hiện một cách chặt chẽ và luôn gắn liền với môi trường sinh thái, phát triển con người và thể chế chính trị của đất nước
Các nghiên cứu về Chương trình phát triển cộng đồng địa phương (gọi tắt là ELCDP) thực hiện bởi sự tài trợ của FAO với một số nghiên cứu chuyên đề tại
Trang 17nhiều nước đã khẳng định rằng, nguồn lợi chủ yếu từ quản lý rừng hay các hoạt động từ rừng cần thuộc về các cá nhân hay nhóm của các cộng đồng tham gia Các nghiên cứu này đã tìm cách mô tả và phân tích các loại hình quản lý tài nguyên rừng
có sự tham gia của nhiều nước khác nhau Các vấn đề về tài liệu hóa, đào tạo đã được triển khai từ những năm 1985 Những trọng tâm về vấn đề xã hội liên quan đến quản lý rừng đã được nhấn mạnh, như: nếu những cây hoặc rừng không do người địa phương quan tâm và cơ chế hành chính (thể chế) không cho phép người dân tiếp cận lợi ích từ quản lý nó thì các dự án không bao giờ thực hiện được
Tại Philippin, năm 1997 chính phủ đã ban hành Điều luật quyền của người dân tộc bản địa (IPRA) - công nhận quyền của người dân tốc bản địa đối với đất đai
do tổ tiên để lại và cam kết thực hiện các bổn phận quốc tế Đến năm 2011, Philippin đã công nhận những quyền về đất đai theo phong tục tập quán (giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đã góp phần khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của người dân bản địa đối với bảo vệ rừng và môi trường sinh thái Nó cũng khuyến khích khai thác gỗ theo quy chế, thu hái lâm sản, những cố gắng của cộng đồng trong việc trồng những loài cây gỗ có giá trị và những loài thực vật khác trong việc bảo tồn và phân loại thực vật theo luật tục và tri thức truyền thống (Lương Thị Trường và Orlando M Genotiva, 2011 [26])
Ở Trung Quốc, trước những năm 1970 chính phủ đã chỉ đạo nhân dân trồng cây bằng biện pháp hành chính nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích cộng đồng
và lợi ích của người dân chưa có sự phối hợp chặt chẽ Từ khi có luật Luật Lâm nghiệp năm 1984, toàn xã hội tham gia vào công tác lâm nghiệp và được Nhà nước khuyến khích hỗ trợ; từng bước đưa sản xuất lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn (dẫn theo Hoàng Thế Hùng,
2013 [10]) Cũng tại Trung Quốc, các quyền sử dụng đất không rõ ràng và không ổn định trong thập niên 80 đã dẫn đến tính trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp không được quản lý bền vững Ở giai đoạn này, Luật pháp chưa phân biệt rõ khái niệm rừng và đất rừng, các quy định cũng
không xác định rõ ràng, dẫn đến xung đột về sự hưởng lợi, đặc biệt là rừng do HGĐ quản lý Bên cạnh đó, trách nhiệm của hình thức sở hữu tập thể cũng mập mờ, bởi định nghĩa thế nào là tập thể cũng khác nhau ở các thời kỳ và ở các địa phương
Trang 18(Romando và Reed, 2006b [45])
Ở Châu Âu, đất rừng chủ yếu thuộc 2 dạng sở hữu chính là sở hữu công và
sở hữu tư Rừng thuộc sở hữu tư là những khu rừng do các cá nhân, HĐG và tập thể quản lý Trong khi đó, đất rừng được xác định thuộc sở hữu công là những vùng thuộc Nhà nước quản lý, hoặc thuộc các cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã quản lý (Schmithusen, F và F Hirsch, 2010 [46])
Hiện nay, các nước trên thế giới đã xây dựng nhiều mô hình, chính sách về công tác quản lý bảo vệ rừng khác nhau phù hợp với tình hình thực tế trong nước và đem lại hiệu quả; các công trình nghiên cứu khoa học thì được tiến hành khá đồng
bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau và đều tập trung chú trọng tới các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng cộng đồng có sự tham gia của người dân, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong tổ chức quản lý rừng, đặc biệt chú trọng về hiệu quả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đều mang tính chất vĩ mô, chưa đưa ra được nhiều giải pháp cụ thể,
đa dạng để có thể áp dụng được với điều kiện thực tế của từng vùng, từng địa phương khác nhau trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng
1.1.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo
vệ rừng
* Ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình
Một trong những vấn đề phức tạp xuất hiện ở phần lớn các nước trên thế giới
đó là xung đột giữa sinh kế và tài nguyên rừng Theo Chandraskharan (dẫn theo FAO, 2005 [38]) xung đột tài nguyên là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác Thực chất, nguồn gốc phát sinh các xung đột này đều do sự hạn chế của kinh tế hộ gia đình (HGĐ), dẫn đến phần lớn sinh kế phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng trong KBT hay các VQG Điều này có nghĩa rằng, trong cùng một thời điểm tài nguyên rừng sẽ phải chịu nhiều áp lực từ nhiều cộng đồng khác nhau Sự gia tăng áp lực này luôn tỷ lệ thuận với sự hạn chế về kinh
tế của các HGĐ xung quanh (dẫn theo FAO, 2005 [39]) Xung đột giữa sinh kế và tài nguyên rừng cũng được tiếp cận ở các nhiều góc độ không thỏa đáng khác về: (i) Thể chế cộng đồng; (ii) Thành phần tham gia; (iii) Chính sách và thủ tục; (iv) Quản
Trang 19lý và các nhu cầu
Kinh tế HGĐ được xác định là nhân tố chính chi phối các hình thức và mức
độ tác động của người dân lên tài nguyên rừng và đất rừng Tổ chức nông lương thế giới (FAO, 2005 [39]) đã xác nhận rằng: phần lớn người dân vùng đệm các KBT hay các VQG sử dụng các sản phẩm lâm sản để phục vụ các nhu cầu sống của của mình Nhiều nơi có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ lâm sản ngoài gỗ Nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp giải quyết các vấn đề xung đột và bảo tồn tài nguyên đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới Sau nhiều nỗ lực, một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là gắn mục tiêu bảo tồn với phát triển sinh kế của các người dân địa phương và phát triển cộng đồng Mô hình bảo tồn văn hóa cộng đồng địa phương gắn bảo tồn ĐDSH đã được thực hiện rất thành công ở VQG Kakadu (Australia) Những người thổ dân không chỉ được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận
là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của
họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [38]
Ở Thái Lan, độ che phủ rừng giảm từ 60% (1954) xuống còn 26% (1995) với hơn 170.000 km2
rừng bị tàn phá Để khắc phục tình trạng này, chính phủ Thái Lan
đã tăng cường thành lập các KBT Tuy nhiên, quá trình này lại dẫn đến gia tăng mạnh mẽ các xung đột giữa các cộng đồng địa phương vùng đệm Nhận rõ sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế, xã hội xung quanh KBT, các nhà quy hoạch quản lý KBT đã bắt đầu đề xuất và thiết lập các vùng đệm để ngăn chặn sự xâm hại
từ bên ngoài vào các KBT [38]
Trong chiến lược Quốc gia của Philippines về bảo tồn ĐDSH chi ra rằng:
"Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và
quản lý đối với bảo tồn ĐDSH" [38]
Peluso (1986) cho biết, tại Indonesia đã công bố các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: Rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều được nghiên cứu Sản phẩm là những mặt hàng sinh lời được và khó quản lý đối với các cơ
Trang 20quan lâm nghiệp nhưng có giá trị to lớn đối với nhân dân địa phương Kế hoạch hành động ĐDSH ở Indonesia cũng ghi nhận rằng: "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính ĐDSH cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch” (dẫn theo FAO, 2006 [39])
Bink Man W.1988 trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về làng Ban Pong tỉnh S Risaket Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (dẫn theo Trần Ngọc Lân, 1999 [11])
Ở khu vực VQG bán đảo Paria - Vênêzuêla, Uỷ ban quốc gia của Vênêzuêla đã
đề xuất các chương trình phát triển cộng đồng, như hoạt động phát triển, giáo dục và nghiên cứu cho người lớn và trẻ em; đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng địa phương vùng đệm; triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho người dân như vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái; đồng thời thực hiện nhiều nghiên cứu khoa học tại VQG (dẫn theo Khuất Thị Lan Anh,
2009 [1])
Ở Niger, giải pháp để giải quyết xung đột vùng đệm trong khu dự trữ thiên nhiên Air - Tenere (diện tích 77.000ha) được đưa ra là: Tăng cường các dịch vụ xã hội; tạo việc làm mới; cho phép sử dụng có hạn chế, có kiểm soát một khoảng đồng cỏ nhất định, nguồn nước mùa khô; trích một phần thu nhập từ khu bảo vệ chuyển cho cộng đồng nhân dân địa phương (xây dựng trường học, bệnh viện…) giúp đỡ về chuyên môn và trang bị cho nhân dân thực hiện các đề án địa phương (dẫn theo Trần Ngọc Lân, 1999 [11])
Một cách giải quyết khác hơn ở Nepan trong vấn đề xung đột tại vùng đệm KBT Annpurna: từ năm 1986 chính phủ nước này đã có các chính sách tăng cường thực hiện các dự án bảo tồn nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; Chú trọng sự tham gia của người dân địa phương như là những người hưởng thụ dự án; thu hút nhân dân vào các khâu trong quá trình thực hiện từ việc lập quy hoạch, kế hoạch đến các quyết định và quá trình triển khai thực hiện trên cơ
sở áp dụng nguyên tắc bền vững Đồng thời tạo môi trường xúc tác, để thu hút
Trang 21những nguồn lực từ ngoài; thành lập Uỷ ban Bảo tồn và phát triển do nhân dân chủ trì, dưới có các tiểu ban như quản lý rừng, trung tâm sức khoẻ, quy định các điều lệ
và chỉ tiêu…[1]
Tóm lại, xung đột giữa sinh kế và tài nguyên rừng ở các nơi trên thế giới xảy ra ở
nhiều dạng khác nhau Tuy nhiên, có một điểm chung rằng: nguồn gốc dẫn dến hầu hết các xung đột này đều xuất phát từ sự bất đồng về lợi ích của người dân mà ở đây chủ yếu là lợi ích về kinh tế với các mục tiêu bảo tồn Giải quyết được mâu thuẫn này chính
là mấu chốt để giảm thiểu các xung đột Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nâng cao kinh tế HGĐ, phát triển cộng đồng địa phương trên cơ sở gắn với mục tiêu và nguyên tắc bảo tồn Tuy nhiên, giải pháp để phát triển kinh tế HGĐ vùng đệm ở mỗi nơi là rất khác nhau, bởi nó phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm KT-XH của từng vùng Do vậy, thực hiện việc nghiên cứu chuyên sâu để tìm ra giải pháp phù hợp ở từng nơi cụ thể là rất cần thiết
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Hennessy, Lucas và Nicholls (2005) đã tiến hành nghiên cứu về sự tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới nguy cơ cháy rừng ở 17 địa điểm thuộc khu vực Đông Nam Australia Kết quả cho thấy, sự gia tăng nguy cơ cháy rừng theo thời tiết ở khu vực nghiên cứu là rất rõ ràng Nghiên cứu sử dụng chỉ số nguy cơ cháy rừng và chỉ số nguy cơ cháy đồng cỏ Các chỉ số này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của các biến
về thời tiết, bao gồm: nhiệt độ hàng ngày, lượng mưa, độ ẩm, và vận tốc gió Đây có thể được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về mối liên hệ giữa BĐKH với nguy cơ cháy rừng [41], [42]
Ở Canada, các kịch bản của Trung tâm khí hậu GCM cho thấy, sự gia tăng nguy
cơ cháy rừng là 25% vào năm 2030 và 75% vào cuối thế kỷ 21 Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng, sự gia tăng nguy cơ cháy rừng trên khắp Canada là tương đồng với các nghiên cứu trong khu vực và các quốc gia khác về tác động của BĐKH đối với nguy cơ cháy rừng trong tương lai (Michael C Wimberly và cs, 2006 [43])
Tác động của BĐKH đến nguy cơ cháy rừng và đồng cỏ Australia xẩy ra theo hai kịch bản phát thải trong tương lai (tương đối cao và tương đối thấp) vào năm 2050
và 2100 Nghiên cứu tính toán hàm mật độ xác suất cho các nguy cơ cháy rừng ở New South Wales cho thấy xác suất nguy cơ cháy rừng vào năm 2050 tăng khoảng 25% so
Trang 22với hiện tại theo cả hai kịch bản phát thải tương đối thấp và tương đối cao, và tăng thêm 20% theo kịch bản phát thải tương đối thấp vào năm 2100 Nghiên cứu cho rằng nguy cơ cháy rừng sẽ tăng lên đáng kể trên toàn lãnh thổ Australia do tác động của các quá trình BĐKH [42]
Khí hậu ấm hơn đã gây ra các trận cháy rừng bằng cách làm khô đất Không khí
ấm hơn cũng có thể giữ ẩm nhiều hơn, vì vậy không khí hút hết độ ẩm của cây xanh, thảm thực vật, xác thực vật trên đất và đất Theo các nhà khoa học, từ năm 1970, nhiệt
độ trung bình ở các khu rừng ở miền Tây nước Mỹ đã tăng khoảng 1,50
C và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng [42]
1.1.3 Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ
và phát triển rừng
* Giao đất giao rừng
Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng, đối tượng hưởng lợi và các chính sách liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển
Tại Thái Lan, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt đầu từ
năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi, trong rừng dự trữ Quốc gia, theo chương này mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền
từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nhưng mà trước đây những người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi (dẫn theo Trần Đức Viên và
cs, 2005 [31])
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính Phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải quyết việc làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính Phủ, chủ đất và nông dân giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng đất Theo dự án này Chính Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo
Trang 23Tại Trung Quốc, đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính Phủ
Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, chưa có sự phối kết hợp giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích của người dân Để khắc phục tồn tại đó bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế Chính Phủ Trung Quốc quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp phát triển, bên cạnh đó coi trọng vấn đề bảo vệ rừng Hiến pháp đã quy định phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng [31]
Luật lâm nghiệp đã xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi Ých của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng
Tại Philipin, áp dụng chương trình lâm nghiệp xã hội tổng hợp theo đó Chính
phủ giao quyền quản lý đất lâm nghiệp cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý Người được giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì năm đầu tiên phải trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% diện tích và 7 năm phải hoàn thành trồng rừng trên diện tích được giao [31]
Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả hai
bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương Chính sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự phát triển và bảo vệ rừng và khẳng định một trong những điểm thiết yếu của quản lý rừng chính
là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự nhận biết vai trò của bản thân họ trong phát triển và bảo vệ rừng mà họ được hưởng lợi từ đó [31]
Hiện nay, các nước trên thế giới đã xây dựng nhiều mô hình, chính sách về công tác quản lý bảo vệ rừng khác nhau phù hợp với tình hình thực tế trong nước và đem lại hiệu quả; các công trình nghiên cứu khoa học thì được tiến hành khá đồng
bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau và đều tập trung chú trọng tới các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng cộng đồng có sự tham gia của người dân, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong tổ chức quản lý rừng, đặc
Trang 24biệt chú trọng về hiệu quả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đều mang tính chất vĩ mô, chưa đưa ra được nhiều giải pháp cụ thể,
đa dạng để có thể áp dụng được với điều kiện thực tế của từng vùng, từng địa phương khác nhau trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng
Trong những năm qua đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng theo quan điểm bảo tồn và phát triển, có thể kể đến các tác giả: Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) [14], Trần Đức Viên và cs (2005) [31], Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn (2006) [24] Cụ thể như sau:
Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) [14] tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại
3 tỉnh Hòa Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền sử dụng, các chính sách liên quan đến hình thức quản lý, bảo vệ rừng này Trong 5 mô hình quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Theo đó, tác giả đã đề ra quy định quản lý, sử dụng lâm sản cũng như hoạt động bảo vệ, phát triển rừng
Trần Đức Viên và cs (2005) [31] đã đưa ra 3 khuyến nghị quan trọng khi nghiên cứu về phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân ở Việt Nam, đó là: (i) Tăng cường phân quyền, giảm tiếp cận quản lý từ trên xuống; (ii) Tập trung nhiều hơn vào sinh kế người dân; và (iii) Nâng cao vai trò của tổ chức cộng đồng
Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn (2006) [24], đã tiến hành nghiên cứu phân tích các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống chính sách, chế độ quản lý và khuyến khích phát triển rừng cho các HGĐ nông dân Trên cơ sở tổng kết đánh giá hệ thống chính sách, chế độ hiện hành, bước đầu đề xuất các khuyến nghị về việc hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các HGĐ nông dân
Ở Việt Nam có 3 loại hình quản lý rừng cơ bản, bao gồm: (i) Rừng Nhà
Trang 25nước, (ii) Rừng cộng động, và (iii) Rừng của hộ gia đình nông dân Tuy nhiên, rừng cộng đồng tỏ ra có triển vọng tốt ở nhiều nơi Vì vậy, cần chú ý thực hiện tốt chính sách giao đất, khoán rừng đồng thời tăng cường các chính sách hưởng lợi cho người dân địa phương Ngoài ra, cần đẩy mạnh vai trò của lâm nghiệp cộng đồng, vài trò của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bố trí cụm dân cư hợp lý nhằm đảm bảo các diện tích phòng hộ cần thiết, nhất là các khu vực phòng hộ xung yếu (Ngô Đình Quế và cs, 2006 [22])
Phạm Xuân Phương và cs (2010) [17] cho biết, từ năm 2003 đến nay, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quản lý rừng Hệ thống văn bản phát luật đó đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, huy động các nguồn lực vào việc bảo vệ và phát triển rừng, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân vùng trung du và miền núi Tuy nhiên, quá trình vận vào thực tiễn, một số văn bản pháp luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, chậm được sử đổi, bổ sung, hoàn thiện Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, việc ban hành lại được thực hiện trong các hoàn cảnh, điều kiện, thời điểm khác nhau, do đó mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp là điều khó tránh khỏi và gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
1.2.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo
vệ rừng
* Ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình
Miền núi ở nước ta có diện tích trên 20 triệu ha, chiếm 3/4 diện tích cả nước, với khoảng 25 triệu người đang sinh sống thuộc 53 dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng, có nền văn hóa riêng, tuy nhiên nhìn từ góc
độ kinh tế HGĐ thì ở miền núi nước ta có những đặc điểm chung, đó là:
+ Cùng với sự phát triển toàn diện về KT-XH trên cả nước, kinh tế HGĐ miền núi nước ta hiện nay đã có rất nhiều thay đổi Những thay đổi diễn ra ngày càng nhanh và mạnh tác động lên nhiều mặt đã góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền KT-XH nông thôn miền núi
Trang 26+ Phần lớn mô hình gia đình miền núi hiện nay thường bao gồm hai thế hệ, những mô hình đại gia đình nhiều thế hệ trước đây còn lại rất ít Quy mô các HGĐ cũng ngày càng nhỏ đi Theo báo cáo tổng điều tra thống kê năm 2006, bình quân mỗi HGĐ miền núi có 6,5 nhân khẩu với 3,3 lao động (dẫn theo Chu Tiến Quang, Lưu Đức Khải, 2009 [21])
+ Do những khó khăn về nhiều mặt, hiện nay trình độ văn hóa nói chung của đồng bào miền núi còn thấp, tỷ lệ dân số biết đọc, biết viết chưa đến 40% Trình độ canh tác của người dân nhìn chung vẫn còn rất nhiều hạn chế, mặc dù các HGĐ miền núi hiện nay thường sử dụng một diện tích đất đai tương đối lớn; diện tích đất nông nghiệp có thể canh tác lại khá ít, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất lương thực của người dân Phần lớn khả năng tự đầu tư vốn của các HGĐ để phát triển sản xuất của các hộ còn hạn chế, hệ số sử dụng lao động cũng rất thấp, chỉ đạt khoảng 30% đến 40% tổng quỹ thời gian [21]
+ Trong cơ cấu thu nhập của HGĐ miền núi thì thu nhập từ nông nghiệp chiếm tới 85%, trong đó trồng trọt chiếm 70%, thu nhập từ lâm nghiệp chiếm khoảng 9%, từ thủ công nghiệp khoảng 3%, còn lại các khoản thu nhập từ nhiều nguồn khác Do mức thu nhập thấp, nên phần lớn chi phí của HGĐ dành cho sinh hoạt hàng ngày, chiếm tới 70% - 80% [21]
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình đến tài nguyên rừng có thể kể đến:
Đỗ Anh Tuân (1999) [23], cho biết, hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997)
đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBT
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
BĐKH làm gia tăng nguy cơ cháy rừng đã được nhiều tổ chức khoa học quốc
tế cảnh báo từ các năm trước Các nhà khoa học dựa trên các số liệu khí tượng từ thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20 và kịch bản BĐKH để nghiên cứu những thay đổi
Trang 27dịch chuyển về nguy cơ cháy rừng ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ
và Tây Nguyên Theo đó, các yếu tố chính ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng là nhiệt độ và độ ẩm Dưới tác động của BĐKH, trong mùa cháy rừng (mùa khô), nhiệt độ không khí tăng và lượng mưa giảm làm độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng giảm rõ rệt nên nguy cơ cháy rừng tăng lên
Theo Báo cáo của Cục Kiểm lâm, trong năm 2016 trên cả nước đã xảy ra 490
vụ cháy rừng, thiệt hại 3.374ha rừng các loại, tăng 13 vụ ứng với 1.314ha so với năm 2015 (năm 2015 thiệt hại 2.060ha) [5]
Quảng Bình là tỉnh có khí hậu khắc nghiệt Mùa hè thường đến sớm và kết thúc muộn nên tình trạng hạn hán thường xuyên xảy ra Các đợt gió Tây Nam khô nóng đã làm cho nhiệt độ không khí vào mùa hè của tỉnh gia tăng Từ năm 1961 đến
2017, nhiệt độ không khí đã tăng 0,40C BĐKH là một trong những nguyên nhân làm cho hiện tương El-Nino diễn ra ngày càng sâu sắc hơn với những ảnh hưởng ngày càng lớn hơn Sự tương tác này đã dẫn đến nhiệt độ không khí tại tỉnh Quảng Bình có thời điểm vượt trên 400C trong khoảng thời gian dài, gây nên tình trạng hạn hán nghiêm trọng Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Bình sau 50 năm (1964-2014) đã tăng lên 0,820
C Nhìn chung, nhiệt độ có xu thế tăng lên, trung bình nhiệt độ tăng khoảng 0,0440C/năm, biên độ dao động nhiệt giữa các năm là 23,4 - 25,50
C [27], [28]
Nhiệt độ tối cao có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 1991 - 2014 với tốc độ khoảng 0,250C Nhiệt độ tối thấp có xu hướng giảm khoảng 0,610C/năm; biên độ dao động giữa nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp từ 14,9 - 31,40C Lượng nước bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần Điều này đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, làm găng nguy cơ cháy rừng và cây chết hàng loạt [28]
Cây xanh rừng phòng hộ ven biển vốn có khả năng chống chịu và thích nghi với khí hậu nắng nóng trên cát, nhưng trong những đợt hạn hán vẫn không chống chịu nổi; cây trở nên úa vàng, khô héo Trong vòng 10 năm (từ năm 2000 đến năm 2010), tỉnh Quảng Bình có 310,7ha rừng bị thiệt hại do cháy Riêng từ năm 1999 -
2017, đã xảy ra gần 200 vụ cháy, với tổng diện tích rừng bị thiệt hại khoảng gần 850ha, trong đó, có rừng thông, keo, cao su, huê và tràm gió Như vậy, có thể nói
Trang 28BĐKH là một trong những nguyên nhân “góp phần” gây ra cháy rừng tại tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua [28]
1.2.3 Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ
và phát triển rừng
* Giao đất giao rừng
Giao đất giao rừng đã được coi là một trong những hình thức có tính hiệu quả, bền vững trong quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam, trong khi các nước trong vùng và thế giới có những hình thức đặc thù như rừng cộng quản, nhóm sử dụng, rừng làng bản Giao rừng và đất lâm nghiệp ở Việt Nam được phản ánh rõ nét trong 3 giai đoạn chủ yếu (giai đoạn năm 1968 - 1986; 1986 - 1994; 1994 - 2000 và giai đoạn từ năm 2000 đến nay), phù hợp với những thay đổi cơ bản về đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai
Công tác giao đất, giao rừng trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện theo Nghị định 02/CP; Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đính lâm nghiệp và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004
về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, đặc biệt là Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
Các nghiên cứu liên quan đến giao đất giao rừng và sử dụng rừng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, có thể kể đến: Nguyễn Xuân Quát (1996) [19], Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) [13], … Cụ thể như sau:
Nguyễn Xuân Quát (1996) [19] trên cơ sở “sử dụng đất tổng hợp bền vững”
đã đã giải quyết một số vấn đề mấu chốt về đất đai và đưa ra hệ thống sử dụng đất, cách tiếp cận, đồng thời bước đầu xác định được một số tập đoàn cây trồng thích hợp cho mô hình sử dụng đất tổng hợp, bền vững
Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) [13], đã đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trò trong quy hoạch sử dụng đất, các nguyên tắc bao gồm: Kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu nguyện vọng của nhân dân địa phương; Tiến hành trong khuôn khổ luật định và các nguồn
Trang 29lực hiện có tại địa phương; Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ; Đảm bảo tính bền vững; Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia; Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng
Tóm lại, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng rừng và đất rừng, tuy nhiên các nguyên cứu này phần lớn chỉ tập trung vào giải pháp kỹ thuật, vấn đề về quản lý sử dụng rừng và đất rừng sau khi giao còn ít, đặc biệt là những nghiên cứu đi sâu, trọng tâm, để tìm ra mối liên quan giữa hiệu quả, kết quả sử dụng
và quá trình giao nhận
* Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng
Trong những năm qua đã có nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng theo quan điểm bảo tồn và phát triển, có thể kể đến các tác giả: Nguyễn Bá Ngãi (2000) [15], Quách Đại Ninh (2003) [16], … Cụ thể:
Nguyễn Bá Ngãi (2001) [15], đã xác định được khả năng áp dụng, trình tự và phương pháp quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã cho vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam trên cơ sở quy hoạch phát triển nông thôn lâm nghiệp cấp xã
Quách Đại Ninh (2003) [16], cho biết, chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp
đã làm thay đổi nhận thức của người dân vào rừng Sau khi nhận đất, các hộ gia đình yên tâm sản xuất và sử dụng đất một cách hợp lý, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được một số mô hình sản xuất mà người dân
ưa thích, đồng thời với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu để
hộ gia đình tham khảo và phát triển sản xuất
Nhìn chung việc nghiên cứu xây dựng các chính sách, các công trình nghiên cứu khoa học và tổ chức quản lý bảo vệ rừng được nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều chủ trương chính sách, các công trình nghiên cứu, các dự án được phê duyệt
và triển khai Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc quản lý bảo vệ rừng ở nước ta Các công trình nghiên cứu mô hình quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia của người dân, mô hình nông lâm kết hợp được tập trung nghiên cứu trong khi đó các nghiên cứu về đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng còn rất ít hoặc nếu có cũng chỉ thực hiện trên diện rộng chưa đi cụ thể vào từng địa phương
Trang 301.3 Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Tình hình diễn biến Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cũng diễn ra hết sức phức tạp, nhận thức được điều đó, UBND tỉnh Quảng Bình đã đưa ra một số quyết định, chỉ thị để công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện hiệu quả hơn Đó là các quyết định của UBND tỉnh như: Quyết định 227/QĐ-UB ngày 23 tháng 06 năm 1997 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chỉ thị 287/TTg ngày 05 tháng 02 năm 1997 của Thủ tướng chính phủ về việc tổ chức truy quét những cá nhân, tổ chức phá hoại rừng Quyết định 38/1999/QĐ-UB ngày 23/09/1999 của Chủ tịch UBND về việc ban hành quy định chức năng nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Bình còn ban hành một số Chỉ thị, Nghị quyết tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như: Chỉ thị 16/2001/CT-UB, ngày 19/04/2001 về việc tăng cường công tác kiểm tra và
xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng động vật hoang dã Quyết định UBND, ngày 29/11/2016 ban hành Quy chế cứu hộ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Chỉ thị 13/2006/CT-UBND 14/04/2006 về việc tăng cường các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng Chỉ thị 19/CT-UBND 30/7/2008 về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng Nghị quyết 115/2009/NQ-HĐND 17/7/2009 về việc thông qua Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008 - 2020; Kế hoạch số 665/KH-UBND, ngày 20 tháng 4 năm 2017 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc Triển khai thực hiện Kế hoạch số 31-KH/TU ngày 08/3/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Công văn số 1065/UBND-KTN ngày 20 tháng 6 năm 2017 của UBND tỉnh Quảng Bình về trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng và quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 19/03/2019 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý rừng, quản lý đất lâm nghiệp và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và một số văn bản chỉ đạo trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
38/2016/QĐ-Tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các các phòng, ban, cơ
Trang 31quan chức năng, chính quyền địa phương các xã và các đơn vị chủ rừng triển khai thực hiện các biện pháp, phương án bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR Tuy nhiên, các biện pháp, phương án trên còn mang tính tổng hợp, chưa sát với tình hình thực
tế của địa phương Vì vậy, cần khuyến khích nhiều đề tài nghiên cứu khoa học hơn tại đây nhằm đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng trên địa bàn huyện
sự phối kết hợp cả 3 phương thức: (i) Quản lý trực tiếp của nhà nước (đối với các vườn quốc gia, rừng đặc dụng, vùng sinh thái phòng hộ rất xung yếu đầu nguồn…); (ii) Quản lý tư nhân về rừng và đất lâm nghiệp (chính sách giao đất giao rừng); và (iii) Quản lý rừng dựa vào cộng đồng Bên cạnh cạnh đó vẫn còn những tồn tại, thách thức đối với quá trình quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng
và đất lâm nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường ngày càng suy giảm, cũng như trước các sức ép về phát triển kinh tế và
sự gia tăng dân số Theo đó, những tồn tại có thể kể đến như: (a) diện tích giao đất giao rừng cho các hộ gia đình thường là đất nghèo kiệt, khó khăn; (b) người dân vẫn chưa được dễ dàng trong việc tiếp cận các quyền lợi trên mảnh đất lô rừng được giao; (c) người dân và cộng đồng địa phương vẫn chưa thực sự được tham gia vào quá trình lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng phân chia tai nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại địa phương; (d) sinh kế người dân chưa được đảm bảo, chưa thực sự sống được từ nghề rừng, trong khi rừng là nơi mưu sinh của họ cho dù đó là rừng phòng
hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển… Vì vậy, việc phát triển kinh tế - xã hội cần
đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên rừng
đã trở thành một xu thế chủ đạo, tất yếu và là yêu cầu sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc
Trang 32Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo
vệ rừng huyện Quảng Ninh
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khu rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình; chính quyền địa phương các cấp và người dân sống liền rừng, gần rừng
Trang 33biến về vi phạm lâm luật phức tạp, có thể trở thành điểm nóng Chọn 1 - 2 thôn trong xã, cụ thể:
- Bản Thượng Sơn, thôn Hồng Sơn xã Trường Sơn;
- Thôn Kim Sen xã Trường Xuân
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong những năm gần đây từ 2014 - 2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên thực vật rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018
2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh
- Thực trạng công tác quản ý bảo vệ rừng từ năm 2014 - 2018;
- Tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng;
- Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng
3 Phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, đất đai,…đến công tác quản lý tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến quản lý tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của xã hội: phong tục, tập quán, kiến thức bản địa
4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh
- Giải pháp về cơ chế chính sách;
- Giải pháp về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân;
- Giải pháp về tổ chức thực hiện;
- Giải pháp về kỹ thuật;
- Kinh nghiệm thực tiễn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Quản lý bảo vệ và phát triển rừng là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ
Trang 34thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả cao nhằm khai thác các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn lao động sẵn có “Để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, nâng cao trách nhiệm và khuyến khích các tổ chức, cá nhân bảo vệ rừng, phát triển rừng, phát huy các lợi ích của rừng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Lâm nghiệp 2017, có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 [12]) nhất thiết phải thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất, cần phải tổ chức sử dụng đất như
tư liệu sản xuất vùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất, sản xuất; tạo điều kiện bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sinh thái Vì vậy, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững phải đảm bảo
sự tham gia của cộng đồng địa phương và sự chỉ đạo của cấp Trung ương, địa phương ở một mức độ hợp lý; phù hợp với chính sách, quy hoạch cấp trên (cấp tỉnh)
và phù hợp với nhu cầu, nguyên vọng của cộng đồng, tận dụng được những lợi thế của địa phương và có tính địa phương nhất định
Việc quản lý bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp có tầm quan trọng lớn nhất đối với sự tồn vong của loài người Không chỉ vì rừng có chức năng quan trọng trong điều tiết khí hậu và với sự đa dạng sinh học của chúng là cơ sở của sự tiến hóa của cuộc sống trên trái đất; mà rừng còn là nguồn tài nguyên vô giá cho cuộc sống của con người với những giá trị cao và không thể thay thế về nguồn dược liệu và nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp Cho dù là rừng sản xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng luôn luôn phải đặt vấn đề sử dụng bền vững các giá trị sinh thái, môi trường, kinh tế và xã hội của chúng thay vì chỉ đặt ra các giải pháp bảo vệ Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp cũng chính là giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng hữu hiệu nhất Vì vậy, cần phải có sự kết hợp giữa việc bảo vệ rừng với việc sử dụng rừng, cụ thể:
- Sử dụng bền vững vốn rừng hiện có để chuyển những giá trị tiềm năng của chúng thành những lợi ích kinh tế và từ đó khuyến khích mối quan tâm bảo vệ rừng của những người dân địa phương cũng như những nhà hoạch định chính sách;
- Sử dụng bền vững đất đang sản xuất nông nghiệp để giảm sức ép vào rừng
Trang 35tự nhiên Trước hết cần kể đến các hệ thống nông lâm kết hợp hiệu quả và phù hợp với điều kiện địa phương
Hình 2.1 Sơ đồ các bước thực hiện nghiên cứu của đề tài
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa các nguồn tài liệu thứ cấp
Trên cơ sở thực hiện các nội dung nghiên cứu, đề tài kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp từ các cơ quan, tại địa phương cũng như các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các nội dung nghiên cứu chính của đề tài,
cụ thể:
- Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề
nghiên cứu;
Trang 36- Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã về công tác quản lý và bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu;
- Các tài liệu liên quan đến điểm nghiên cứu được thu thập tại địa phương như: điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, ;
- Báo cáo kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệphuyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018;
- Bản đồ kiểm kê rừng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quảng Ninh năm 2014, 2018 (tỷ lệ 1:25000);
- Báo cáo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh;
- Các kết quả nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước có liên quan đến các nội dung nghiên cứu chính của đề tài
2.4.2.2 Phương pháp chọn địa điểm và xác định đối tượng nghiên cứu
* Chọn địa điểm nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng để xác định các xã, thôn, đáp ứng đủ các tiêu chí được chọn làm mục tiêu nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài nguyên rừng tại huyện Quảng Ninh
Các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã có rừng, trao đổi với cán bộ Hạt kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của các đơn vịchủ rừng Địa điểm xã nghiên cứu được lựa chọn cần thỏa mãn các tiêu chí sau:
- Có địa giới hành chính nằm trong ranh giới của huyện Quảng Ninh;
- Người dân có sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế;
- Lựa chọn các thôn/bản nghiên cứu;
- Những thôn/bản sống gần rừng;
- Thôn có đầy đủ các thành phần kinh tế hộ: Hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo
* Xác định dung lượng mẫu điều tra
Xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:
(2.1)Trong đó:
Trang 37+ n: Số hộ cần điều tra;
+ N: Tổng số hộ của xã điều tra (phải xác định tổng số hộ có những hoạtđộng sinh kế phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng và đất rừng (trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng, canh tác nông nghiệp trên đất rừng, trồng cây lâu năm trên đất lâm nghiệp…);
+ d: Sai số mẫu (10%);
+ u: Hệ số tin cậy của phân bố chuẩn (u=1,96);
Căn cứ công thức trên ta có kết quả như sau:
- Tổng số hộ dân của thôn Hồng Sơn, xã Trường Sơn: 152 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 58 hộ;
- Tổng số hộ dân Bản Thượng Sơn, xã Trường Sơn: 247 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 69 hộ;
- Tổng số hộ dân của thôn Kim Sen, xã Trường Xuân: 297 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 72 hộ
* Lựa chọn đối tƣợng hộ gia đình phỏng vấn
Việc chọn lựa hộ gia đình phỏng vấn đáp ứng các tiêu chí sau:
- Đại diện cho các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo (tiêu chí phân loại nhóm
hộ khá, trung bình, nghèo được kế thừa theo báo cáo tổng hợp danh sách phân loạinhóm hộ của UBND xã) Bao nhiêu hộ khá, trung bình và nghèo/xã để điều tra;
- Các hộ gia đình được lựa chọn trên cơ sở phân loại hộ gia đình sau đó rút ngẫu nhiên lấy đủ số hộ đại diện rồi phỏng vấn;
- Đề tài tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình, chủ rừng, cán bộ chính quyềnđịa phương cấp huyện, xã và cán bộ thôn, tổ dân phố… Công cụ điều tra chủ yếu là bảng câu hỏi phỏng vấn
2.4.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu điều tra ngoài hiện trường
Trên cơ sở kết quả kiểm kê rừng huyện Quảng Ninh năm 2014 và năm 2018,
đề tài áp dụng một số công cụ trong bộ công cụ PRA như: phỏng vấn bán cấu trúc bằng phiếu hỏi được thiết kế trước để phỏng vấn cán bộ (Hạt kiểm lâm, UBND huyện, UBND xã, cán bộ xã phụ trách về nông lâm nghiệp, địa chính, …) và các hộgia đình có các hoạt động sinh kế phụ thuộc phần lớn vào nguồn tài nguyên rừng và
Trang 38đất lâm nghiệp trên địa bàn khu vực nghiên cứu
- Phỏng vấn cán bộ địa phương về một số vấn đề có liên quan: Tình hình
phát triển kinh tế xã hội, hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp; các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của người dân; những định hướng và giải pháp chung của xã để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trong thời gian tới, đặc biệt là các hoạt động trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện; qua đó xác định được các nguyên nhân dẫn đến những diễn biến hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện
- Phỏng vấn hộ gia đình: Tiến hành phỏng vấn hộ gia đình điển hình theo
bảng hỏi cấu trúc đã xây dựng trước tại các điểm nghiên cứu Mỗi thôn, bản tiến hành phỏng vấn 50 hộ gia đình điển hình, đại diện nhất trong xã theo các nhóm hộ (nhóm hộ khá, trung bình và nghèo) Tiến hành điều tra, phỏng vấn 1-2 thôn, bản/xã đại diện nhất về sự phụ thuộc về sinh kế của người dân vào nguồn tài nguyên rừng
và đất lâm nghiệp, bao gồm: Bản Thượng Sơn và thôn Hồng Sơn, xã Trường Sơn và thôn Kim Sen xã Trường Xuân
2.4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà khoa học về các ý kiến đánh giá, các nhận định, các kinh nghiệm đến vấn đề phát triển sinh kế hộ gia đình cũng như công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu thông qua tham vấn trực tiếp Số lượng chuyên gia là
10 người (Chi Cục Kiểm lâm Quảng Bình (2 người), Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh (3 người); UBND xã Trường Sơn (1 người), UBND xã Trường Xuân (1 người) và 3 nhà khoa học có lĩnh vực chuyên môn có liên quan) Các vấn đề chính được đưa ra thảo luận và xin ký kiến chuyên gia, tập trung vào:
- Phân tích thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng huyện Quảng Ninh;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội, đặc biệt là các hoạt động sinh kế đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh;
- Đề xuất các giải pháp, tập trung vào các giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển kinh tế xã hội nói chung của địa phương và phát triển sinh kế của hộ gia
Trang 39đình nói riêng; nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
2.4.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
- Phân tích SWOT (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức):
+ Điểm mạnh là những tác nhân bên trong mang tính tích cực hoặc có lợi giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn huyện
+ Điểm yếu là những tác nhân bên ngoài mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn huyện
+ Cơ hội là những tác nhân bên ngoài của huyện (xã hội, chính phủ….) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp đạt được mục tiêu đề ra
+ Thách thức là những tác nhân bên ngoài của huyện ( xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt mục tiêu
Bảng 2.1 Phân tích SWOT trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Bên trong Hiện tại Bên ngoài
Tương lai
Điểm mạnh (Strengths)
Điểm yếu (Weaknesses)
Trang 40Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG NINH 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Quảng Ninh nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình, được thành lập theo Nghị quyết 125/NQ-CP của Chính phủ ngày 10/12/2013, tách ra từ huyện Quảng Trạch (cũ), có vị trí tiếp giáp như sau: [6]
- Phía Đông giáp Biển Đông;
- Phía Tây giáp Lào;
- Phía Nam giáp Huyện Lệ Thủy;
- Phía Bắc giáp TP Đồng Hới Được thể hiện trên bản đồ như sau:
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình
Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nằm trên các trục đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam (Quốc lộ 1A), Đông - Tây (Quốc lộ 11), có đường sắt, đường sông (theo sông Long Đại, Sông Nhật Lệ) và đường biển (có đường bở biển