BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTTRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP NGUYỄN VĂN THANH NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, TẬP TÍNH CỦA BÒ TÓT BOS GAURUS Ở VƯ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN THANH
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ, MỘT SỐ ĐẶC
ĐIỂM SINH THÁI, TẬP TÍNH CỦA BÒ TÓT (BOS GAURUS)
Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
_Hà Nội , 2009 _
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN THANH
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ, MỘT SỐ ĐẶC
ĐIỂM SINH THÁI, TẬP TÍNH CỦA BÒ TÓT (BOS GAURUS)
Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ BẢO TỒN
Chuy n ngành: Lâm sinh
Mã số: 4.04.0 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Xuân Đặng
Hà Nội Năm 2009 _
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư – Tiến
sĩ Nguyễn Xuân Đặng, Trưởng Phòng Động vật học Có xương sống, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã hướng dẫn khoa học tận tình cho tôi
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Trần Văn Mùi, Nguyên Giám đốc Vườn Quốc gia Cát Tiên; Ban giám đốc Vườn Quốc gia Cát Tiên; các bạn
bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường đại học Lâm nghiệp, Ban giám hiệu Trường Trung học lâm nghiệp 2 (nay là Cơ sở 2 trường Đại học lâm nghiệp) đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành chương trình học
và luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn Dự án Bảo tồn Bò Hoang dã Vườn Quốc gia Cát Tiên (AFD/CIRAD) đã hỗ trợ kinh phí học tập cho tôi Xin cảm ơn Quỹ Bảo vệ Môi trường Tự nhiên Nagao (NEF) đã tài trợ cho tôi chi phí nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn các nhân viên phòng Khoa học – Kỹ thuật và Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên đã cùng tôi thực hiện các đợt nghiên cứu thực địa
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, cha, mẹ và vợ, các anh chị em đã động viên và tạo tất cả các điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa học và bản luận văn này
Nguyễn Văn Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Mục lục
DANH MỤC CÁC BẢNG V DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ V
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của bò tót 3
1.1.1 Đặc điểm nhận dạng 3
1.1.2 Sinh học, sinh thái 4
1.2 Tình trạng của loài bò tót trên Thế giới 5
1.3 Tình hình nghiên cứu bảo tồn bò tót ở Việt Nam và Vườn Quốc gia Cát Tiên 6
1.3.1 Các nghiên cứu bò tót ở Việt Nam 6
1.3.2 Vùng phân bố của bò tót ở Việt Nam 9
1.3.3 Tình hình nghiên cứu bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 12
1.4 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội Vườn Quốc gia Cát Tiên 13
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
1.4.3 Hệ động vật và thực vật Vườn Quốc gia Cát Tiên 22
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Vùng cư trú và cấu trúc quần thể Bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 36
3.1.1 Vùng cư trú 36
3.1.2 Cấu trúc quần thể 40
3.2 Đặc điểm sinh cảnh và sử dụng sinh cảnh của bò tót 44
3.2.1 Sinh cảnh sống của bò tót 44
3.2.2 Nơi kiếm ăn, trú ẩn và hoạt động của bò tót 45
3.2.3 Nguồn nước uống và điểm khoáng 45
3.3 Thức ăn và tập tính ăn, uống của bò tót 48
3.3.1 Loài cây thức ăn 48
3.3.2 Tập tính kiếm ăn 49
3.3.3 Nhu cầu nước uống và khoáng 51
3.4 Một số tập tính hoạt động của bò tót 52
3.4.1 Nhịp điệu hoạt động hàng ngày 52
3.4.2 Chu kỳ hoạt động theo mùa 52
3.4.3 Tập tính bầy đàn 53
3.4.4 Sinh sản 54
Trang 53.5 Các mối đe dọa đối với quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 54
3.5.1 Nhóm đe dọa trực tiếp 55
3.5.2 Nhóm đe dọa gián tiếp 58
3.6 Một số giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên59 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
I Kết luận 64
II Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 71
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ADN: Acid deroxyribonucleic AFD: Cơ quan phát triển Pháp CIRAD: Trung tâm Hợp tác Quốc tế về nghiên cứu Nông nghiệp cho mục đích phát triển IUCN: Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên NEF: Quỹ Bảo vệ Môi trường Tự nhiên Nagao UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UTM: Universal Transverse Mercator VQG: Vườn Quốc gia WWF: Quỷ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Chỉ tiêu khí hậu ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 17
Bảng 1.2 Diện tích và trạng thái rừng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 24
Bảng 3.1 Các điểm ghi nhận bò tót hoạt động theo khu vực 36
Bảng 3.2 Số lượng cá thể và số đàn bò tót theo khu vực 40
Bảng 3.3 Tỷ lệ các dạng đàn bò tót theo khu vực 42
Bảng 3.4 Cấu trúc tuổi, giới tính của 05 đàn bò tót được quan sát 43
Bảng 3.5 Số loài thức ăn của bò tót theo dạng sống thực vật 49
Bảng 3.6 Các mối đe dọa đến quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 55
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ Bản đồ 1.1 Phân bố của bò tót ở Việt Nam trước năm 1999 11
(Nguồn: Nguyễn Mạnh Hà, 2008) 11
Bản đồ 1.2 Bản đồ hành chính Vườn Quốc gia Cát Tiên 15
Bản đồ 3.1 Các vùng cư trú của bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 39
Bản đồ 3.2 Các điểm nước uống cố định của bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên 47
Biểu đồ 3.2 Các họ thực vật có nhiều loài là thức ăn của bò tót 48
Biểu đồ 3.5 So sánh các mối đe dọa tới quần thể bò tót 55
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những nước có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học bậc nhất ở Châu Á, nhờ có những điều kiện khí hậu và địa lý rất đặc biệt, các hệ sinh thái biển cũng như đất liền của Việt Nam rất đa dạng Ở Việt Nam
có 4 trung tâm đa dạng sinh học đã được xác định dựa trên những nét đặc thù
về khí hậu và địa lý là: Hoàng Liên Sơn, Bắc Trường Sơn, Tây nguyên và Đông Nam Bộ
Các hoạt động thống kê đa dạng sinh học ở Việt Nam đã góp phần phát hiện và phát hiện lại nhiều loài thú lớn, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước được ưu tiên trên Thế giới về công tác bảo tồn đa dạng sinh học Trong tổng số 10 loài thú mới được phát hiện trên Thế giới trong những năm
90, có tới 04 loài được tìm thấy ở Việt Nam, trong đó có 03 loài thú móng
guốc là Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), phát hiện năm 1992; Mang lớn (Muntiacus vuquangensis), phát hiện năm 1993 và Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), phát hiện năm 1997 Ngoài ra, với một tỷ lệ cao
các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ đe dọa cao, Việt Nam còn là một trong những quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt trong bảo tồn các loài động vật quý hiếm của Thế giới
Vườn Quốc gia Cát Tiên được xem là điểm nóng về đa dạng sinh học ở Việt Nam và trong khu vực, nổi bật là hệ sinh thái rừng kín ẩm nhiệt đới thường xanh, độ cao so với mặt nước biển thấp nhất dưới 115m và cao nhất 626m Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong hệ thống các Vùng sinh thái Global 2000 của WWF (các vùng sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới đồng thời là những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học của thế giới), cũng như trong hệ thống các Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserves) của Chương trình MAB của UNESCO năm 2001 Nhờ vào sự ưu ái của điều kiện tự nhiên, các dạng sinh
Trang 7cảnh và hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, Vườn Quốc gia Cát Tiên đang trở thành một trong những nơi trú ngụ cuối cùng của nhiều loài thú lớn ở Việt Nam
như tê giác Java, voi Châu Á, bò tót (Bos gaurus) và nhiều loài khác
Bò tót, ngoài giá trị về mặt kinh tế trong sử dụng sừng, da, lông, thịt làm thực phẩm, mỹ nghệ và dược liệu, còn có giá trị sinh học nội tại và giá trị di sản đối với quốc gia, bò tót còn là nguồn gen quan trọng để cải tạo đàn bò nuôi Đặc biệt trong tình trạng hiện nay các giống bò nuôi thường dễ mắc các dịch bệnh
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, số lượng bò tót trên cả nước hiện nay đã giảm xuống rất thấp, khoảng dưới 500 cá thể Trong đó, ở Vườn Quốc gia Cát Tiên hiện có một quần thể bò tót với số lượng khoảng 90 - 120 cá thể, là một trong các quần thể bò tót quan trọng ở Việt Nam Bò tót là một trong các loài thú lớn đang bị đe dọa tuyệt chủng cao ở Việt Nam, Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp bò tót ở cấp độ Nguy cấp (EN) Trên thế giới, Danh lục đỏ IUCN (2008) xếp ở loài bò tót ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU); Bò tót cũng được xếp trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Đến nay, đã có một số chương trình nghiên cứu về bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên (Ling, 2000; Hayes, 2004; Nguyễn Mạnh Hà, 2007: 2008, ) Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn tản mản, không có hệ thống, do đó các thông tin thu được ít hữu ích trong việc bảo tồn loài Trong khuôn khổ luận
văn cao học, chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng
quần thể, một số đặc điểm sinh thái, tập tính của bò tót (Bos gaurus) ở
Vườn Quốc gia Cát Tiên và đề xuất biện pháp quản lý bảo tồn” nhằm
cung cấp những thông tin một cách toàn diện và hệ thống về tình trạng quần thể, đặc điểm sinh thái, tập tính của loài bò tót tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, từ
đó đề xuất các biện pháp bảo tồn một cách hữu hiệu quần thể bò tót này
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của bò tót
1.1.1 Đặc điểm nhận dạng
Bò tót (Bos gaurus) là loài thú móng guốc, ngón chẵn, cỡ lớn, có thân
hình to khỏe Bò tót trưởng thành có đầu to, trán dẹp hơi lõm, có đốm trắng vàng trên đỉnh; vùng trán giữa 2 sừng nhô cao; cặp sừng rỗng lớn, gốc sừng
to, màu vàng xám và cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt; mút sừng nhọn đen bóng Bò tót có bộ lông ngắn và mượt, màu lông thay đổi theo từng cá thể, từ nâu đen (con đực) và màu nâu vàng (con cái) Ở phần bụng lông dài hơn, màu nâu nhạt Mông đen, bốn chân từ kheo trở xuống bàn chân màu trắng nhạt Đuôi dài màu đen Ở điểm chính giữa của hai gốc sừng có phủ lớp lông dài màu nâu nhạt hoặc xám trắng Bò tót non mới sinh màu vàng với đám lông sẩm dọc sống lưng, sau 4 - 5 tháng chuyển dần sang màu nâu đỏ
Bò tót đực có u thịt lớn, khá đặc trưng chạy từ gáy đến giữa lưng, được tạo bởi sự phát triển của gờ đốt sống thứ 3 đến 11 Lớp da ở cổ và trước ngực dài tạo thành yếm nhỏ Bò tót cái cũng có u thịt và yếm nhưng không phát triển như bò tót đực Bò tót cũng là loài duy nhất trong họ Trâu bò có các tuyến tiết dầu ở da, có tác dụng để chống côn trùng, ký sinh trùng trên da và
có thể có tác dụng đánh dấu sinh học Đặc điểm tiết dầu trên da có thể quan sát rõ ở các cá thể bò tót đực vào mùa khô
Bò đực trưởng thành có thể đạt khối lượng trên 1.000kg, con cái thường nhỏ hơn con đực Các kích thước cơ bản của bò tót như sau: dài thân:
250 - 300cm, đuôi: 70 - 105cm, tai: 30 - 35cm, cao vai: 130 - 180cm
Trang 91.1.2 Sinh học, sinh thái
Bò tót thường sinh sống ở các vùng tương đối bằng phẳng, độ cao dưới 1.800m, trong các kiểu rừng khác nhau (rừng khộp, rừng thường xanh, rừng hỗn giao tre nứa, … ) và khu vực đồng cỏ (Schaller, 1967) Chúng hoạt động trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên hơn trong các khu rừng thường xanh và những khu vực cao hơn vào mùa khô (Prayurasiddhi, 1997) Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, trong đó có những bãi
cỏ mọc sau khi bị đốt cháy là những nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất
Bò tót có thể sống trong vùng sinh cảnh bị suy thoái do hoạt động của con người Chúng thường kiếm ăn trong khu vực canh tác của người dân Bò tót ăn đồng thời cả cỏ và lá cây Chúng ăn lá cây nhiều hơn các loài bò hoang
dã khác Thức ăn của bò tót chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre nứa, dương xỉ và lá cây Măng tre là một trong những thức ăn thường xuyên nhất của bò tót vào mùa mưa ở Thái Lan (Prayurasiddhi, 1997)
Nguồn nước đảm bảo quanh năm là yếu tố rất quan trọng cho loài này Nói chung, bò tót không đi xa nguồn nước quá một ngày đường (Conry, 1981) Các điểm khoáng và suối giàu khoáng là những yếu tố rất quan trọng đối với bò tót Phạm vi sinh sống của bò tót thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo từng khu vực và quy mô đàn, dao động từ 27km2- 137km2 ở Malaixia (Conry, 1989) Phạm vi vùng hoạt động của bò tót vào mùa mưa rộng hơn vào mùa khô và đàn lớn có phạm vi hoạt động hàng năm rộng hơn đàn nhỏ Tuy nhiên, phạm vi di chuyển mỗi ngày của bò tót lại không thay đổi giữa mùa khô và mùa mưa và chỉ khoảng 3 km/ngày (Prayurasiddhi, 1997)
Thời điểm bò tót hoạt động nhiều là ban đêm Ban ngày, chúng nằm nhai lại thức ăn ở nơi quang đảng trong rừng hoặc trong những khu vực có cỏ cao Bò tót sống thành từng đàn từ 3 - 40 cá thể Trong đàn có con đực, con
Trang 10cái trưởng thành, con bán trưởng thành (gần trưởng thành) và con non Cơ cấu đàn không thay đổi theo mùa Trong đàn, mỗi cá thể có một vị trí riêng và vị trí thống trị được phân hạng bằng cách đánh nhau (Thomas, 1996) Khi con cái già nhất rời đàn đi kiếm ăn thì những con đực thống trị giữ vai trò bảo vệ
cả đàn (Prayurasiddhi, 1997) Vị trí thống trị đàn được phân định bằng kích
cỡ cơ thể (Schaller, 1967; Thomas, 1996) Đôi khi, đàn bò tót đi kiếm ăn cùng
với nai (Cervus unicolor) Khi bị tấn công những con đực khoẻ mạnh quây
thành vòng tròn bảo vệ cho con non và con già ở giữa
Bò tót cái động dục và sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng có thời điểm sinh sản nhiều nhất vào tháng 6 – 7 và phụ thuộc vào điều kiện môi trường Mỗi lứa bò tót chỉ đẻ một con, thời gian mang thai khoảng
270 – 290 ngày Tuổi đời tối đa của cá thể nuôi nhốt là 24 năm (Thomas, 1996) Có rất nhiều loài thú ăn thịt săn bắt bò tót mới sinh và con non như hổ
(Panthera tigris), báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis
nebulosa), sói đỏ (Cuon alpinus), nhưng chỉ có hổ là đủ dũng mãnh để có
thể giết được những con bò tót trưởng thành
1.2 Tình trạng của loài bò tót trên Thế giới
Theo Danh lục Đỏ của IUCN (2008), trên Thế giới bò tót phân bố tự nhiên ở các nước Nepan, Băngladesh, Butan, Ấn Độ, Myanma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia và Việt Nam Nhưng ngày nay
số lượng bò tót trên thế giới còn lại ước tính từ 13.000 đến 30.000 cá thể và hiện đang suy giảm nghiêm trọng do sự gia tăng dân số cao ở khu vực Đông Nam Á Nguyên nhân chính khiến số lượng bò tót suy giảm như vậy là do nạn săn bắn, tình trạng phá hoại sinh cảnh, cạnh tranh nguồn thức ăn và nguy cơ lây bệnh từ bò nuôi Ví dụ, số lượng bò tót ở Thái lan đã giảm tới 60% chỉ
trong vòng 20 năm qua (Srikosamatara và Suteethorn, 1995) Nạn săn bắn bò
Trang 11tót lấy sừng bán (vì sừng được coi là biểu tượng của uy quyền) là nguyên nhân chính dẫn tới sự suy giảm số lượng các quần thể còn sót lại
Bò tót được đánh giá là đang bị đe dọa ở mức độ toàn cầu, Danh lục Đỏ IUCN, 2008 xếp bò tót ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU) Do vậy, các chương
trình bảo tồn nội vi (in situ) và ngoại vi (ex situ) đối với loài bò tót hiện nay là
rất cần thiết Tuy nhiên, việc bảo tồn ngoại vi chỉ có thể áp dụng với các quần thể rất nhỏ và vì vậy sẽ có nguy cơ đồng huyết cao
1.3 Tình hình nghiên cứu bảo tồn bò tót ở Việt Nam và Vườn Quốc gia Cát Tiên
1.3.1 Các nghiên cứu bò tót ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến bò tót được quan tâm từ lâu
và gắn liền với các giai đoạn lịch sử chủ yếu của đất nước
• Giai đoạn trước năm 1954
Các nghiên cứu liên quan đến bò tót ở Việt Nam được bắt đầu sau khi người Pháp đến Đông Dương (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20) Trong thời gian này, các nghiên cứu được các nhà nghiên cứu và thám hiểm nước ngoài thực hiện như Pháp, Anh và Mỹ Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, chủ yếu về phân loại học và thu mẫu cho các bảo tàng như: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pari, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Luân Đôn, Bảo tàng Lịch
sử Tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Field, Chicago
Các kết quả điều tra và thu mẫu đã được công bố trong các công trình của các tác giả như De Pousargues (1904), Bonhote (1907), Kloss (1916), Robinson & Kloss (1922), Thomas (1927:1928), Bourret (1927:1942), Osgood (1932) và Delacour (1940) Tuy nhiên, rất ít các thông tin về bò tót được nêu trong các báo cáo, kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này Các thông tin chủ yếu ở dạng liệt kê các mẫu động vật thu thập được ở vùng Đông
Trang 12Dương Ngoài ra, có một số sách viết về hoạt động săn bắn thú lớn ở Đông Dương, trong đó có các thông tin chung về bò tót cũng được một số tác giả như De Monestrol (1952), Demariaux (1949), Fraisse (1954) xuất bản Các thông tin về phân bố và nguồn gốc mẫu vật thu được ở Việt Nam trong thời
kỳ này chỉ được ghi nhận theo các vùng như: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ,
mà không theo địa phương cụ thể như tỉnh hoặc chi tiết hơn, nên khó xác định vùng phân bố thực sự của bò tót
• Giai đoạn năm 1954 – 1975
Đây là giai đoạn đất nước trong thời kỳ chiến tranh, do vậy các nghiên cứu chủ yếu được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện ở miền Bắc Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, không có nghiên cứu chuyên khảo cho bò tót Cũng như trước năm 1954, rất ít các thông tin về
bò tót trong các nghiên cứu ở giai đoạn 1954 - 1975 Tuy nhiên, một số thông tin về phân bố của bò tót có nêu trong các báo cáo không xuất bản về kết quả điều tra động vật ở miền Bắc
Ở phía Nam, nghiên cứu về thú móng guốc và bò tót hầu như không được thực hiện do chiến tranh Chỉ có Van Peenen et al (1969) đề cập thông tin về thú ở các tỉnh phía Nam trong giai đoạn này là thông tin về phân bố của
bò tót ở Tây Nguyên và Bình Phước
• Giai đoạn năm 1975 đến nay
Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1981), trong nghiên cứu “Kết quả điều
tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam (1962-1976)” Các tác giả đã ghi nhận
được một số vùng phân bố của bò tót ở phía Bắc như các tỉnh Lai Châu, Thanh Hóa và Nghệ An
Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1982), trong công trình “Khu hệ thú
(Mammalia) ở Tây Nguyên” đã nêu thành phần loài, tiềm năng và giá trị
Trang 13kinh tế, bảo tồn của thú lớn và bò tót ở Tây Nguyên
Đặng Huy Huỳnh (1986) trong tài liệu “Sinh học và sinh thái các loài thú
Móng guốc ở Việt Nam” lần đầu tiên các thông tin về sinh học và sinh thái của
bò tót ở Việt Nam được đề cập Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về bò tót được thực hiện trong giai đoạn này
Trần Hồng Việt (1986), trong công trình “Thú hoang dại vùng Sa Thầy
(Gia Lai - Kon Tum) và ý nghĩa kinh tế của chúng” nêu thành phần loài, tiềm
năng và giá trị kinh tế, bảo tồn của thú lớn và bò tót ở Gia Lai – Kon Tom
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về thú ở các tỉnh và các vùng thuộc Tây Nguyên cũng có ghi nhận những thông tin về bò tót Đây là các nghiên cứu chung cho nhiều loài thú, các thông tin về bò tót chỉ rất đơn giản như ghi nhận sự có mặt, đánh giá về giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn
Đặng Huy Huỳnh và Lê Xuân Cảnh (1986), trong công trình “Bước
đầu thử tính toán 3 loài thú móng guốc ở hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới Kon
Hà Nừng (Gia Lai - Kon Tum)” đã thử áp dụng một số phương pháp điều tra
và tính mật độ của thú móng guốc lớn cho khu vực Kon Hà Nừng (Gia Lai)
Đặng Huy Huỳnh và Hoàng Minh Khiên (1987) trong công trình “Nhu
cầu dinh dưỡng và khả năng cung cấp thức ăn cho 3 loài thú móng guốc trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm thường xanh” đã bước đầu tính toán nhu
cầu dinh dưỡng và khả năng cung cấp thức ăn của hệ sinh thái vùng Kon Hà Nừng cho 3 loài thú móng guốc, trong đó có bò tót
Lê Xuân Cảnh và cộng sự (1997) trong nghiên cứu về thú lớn ở tỉnh Đắk Lắk đã đưa ra một số thông tin về quần thể, phân bố của bò tót ở 3 khu vực là Yok Đôn, Ea Súp và Ea Sô, cùng một số quan sát bước đầu về sinh thái của bò tót Các tác giả đã xác định khu vực Yok Đôn, Ea Súp và Ea Sô là các vùng phân bố quan trọng của bò tót và bò rừng ở Việt Nam
Trang 14Từ năm 1994 đến nay, có 4 Danh lục thú của Việt Nam được xuất bản, trong đó có các thông tin về phân bố của bò tót Đặng Huy Huỳnh và cộng sự
(1994) với“Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” ; Lê Vũ Khôi (2000) với “Danh lục các loài thú ở Việt Nam”; Đặng Ngọc Cần và cộng sự (2008) “Danh lục các loài thú (Mammalia) hoang dã ở Việt Nam” và Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) với "Danh lục các loài thú Việt Nam" trong "Phân loại học lớp Thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã
Việt Nam" Nhiều vùng phân bố và thông tin về quần thể của bò tót được nêu
trong các công trình trên Tuy nhiên, có nhiều khu vực phân bố của bò tót chưa được cập nhật đầy đủ trong các tài liệu này
Nguyễn Mạnh Hà (2008), trong tài liệu “Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học-sinh thái và bảo tồn loài bò tót (Bos gaurus Smith, 1827) ở Việt Nam” đã xác định vùng phân bố, ước tính số lượng cá thể, thành phần loài
cây thức ăn, một số đặc điểm sinh thái, di truyền và đánh giá các mối đe dọa đối với bò tót ở Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ và mới nhất về bò tót ở Việt Nam hiện nay
Ngoài các nghiên cứu nêu trên, còn có một số kết quả điều tra, nghiên cứu về thú được thực hiện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng là các nghiên cứu chuyên đề, báo cáo nhanh và các bản luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng các khu rừng đặc dụng
1.3.2 Vùng phân bố của bò tót ở Việt Nam
Theo Nguyễn Mạnh Hà (2008), hiện nay ở Việt Nam bò tót còn ghi nhận được ở 27 khu vực thuộc 15 tỉnh theo 04 khu vực sau:
1 Tây Bắc - Điện Biên: Mường Nhé (Mường Tè)
2 Bắc Trung Bộ - Thanh Hóa: Pù Hu (Mường Lát), Xuân Liên (Thường Xuân); Nghệ An: Pù Hoạt (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông); Hà
Trang 15Tĩnh: Vũ Quang (Vũ Quang); Quảng Bình: Thượng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị: Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (ĐaKrông), Sa
Mù (Hướng Hoá)
3 Tây Nguyên - Kon Tum: Chư Mom Rây (Sa Thầy); Gia Lai: Chư Prông; Đắk Lắk: Yok Đôn (Buôn Đôn, Cư Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Chư Yang Sin (Krông Bông, Lắc); Đắk Nông: Tà Đùng (Đắk R’lấp), Nam Nung (Đak Min); Lâm Đồng: Bi Đúp - Núi Bà (Lạc Dương), Bảo Lộc, Cát Lộc
4 Đông Nam Bộ - Bình Phước: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập (Phước Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú), Vĩnh Cửu,
La Ngà; Ninh Thuận: Phước Bình (Bắc Ái), Ninh Sơn
Như vậy, vùng phân bố hiện nay của bò tót ở Việt Nam có giới hạn cực Bắc ở vĩ tuyến 22024’10” tại Mường Nhé (Điện Biên); giới hạn cực Đông Nam
là vĩ tuyến 11007’52” tại Vĩnh Cửu (Đồng Nai); và giới hạn ở cực Tây Nam là
vĩ tuyến 11040’54” ở Lộc Ninh (Bình Phước)
Trang 16Bản đồ 1.1 Phân bố của bò tót ở Việt Nam trước năm 1999
(Nguồn: Nguyễn Mạnh Hà, 2008)
Trang 17Với số lượng cá thể bò tót hiện tại khoảng 344 cá thể, đã giảm 32 - 45%
so với số lượng đã ước tính trước năm 2000 (489 - 630) Sự suy giảm cá thể theo vùng địa lý cho thấy các khu vực có tốc độ suy giảm mạnh là: Nam Trung Bộ (100%), Tây Bắc (81%) và Tây Nguyên (39 - 61%) (Nguyễn Mạnh Hà, 2008)
Với số lượng cá thể (344) và tồn tại ở dạng các đàn nhỏ như hiện nay quần thể bò tót ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đe tiêu diệt rất cao Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp bò tót ở cấp độ Nguy cấp (EN) Bò tót cũng được xếp trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại) trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ
1.3.3 Tình hình nghiên cứu bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
Ở Vườn Quốc gia Cát Tiên đã có một số nghiên cứu sau liên quan đến
bò tót như:
Ling, S.D (2000), Điều tra bò hoang dã và các loài động vật có vú,
Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Dự án bảo tồn Vườn quốc gia Cát Tiên,
Đồng Nai, Việt Nam
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Vườn Quốc gia Cát Tiên
(2001), Báo cáo kết quả bước đầu điều tra xây dựng danh lục động vật hoang
dã (thú, chim, bò sát, ếch nhái) ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
David Murphy (2001), Quan sát động vật có vú ở Vườn quốc gia Cát Tiên,
Việt Nam 2000 – 2001 Dự án bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên, báo cáo số 35
Hayes, B (2004), Điều tra bò hoang dã ở Vườn quốc gia Cát Tiên -
Việt Nam Báo cáo kỹ thuật số 47, WWF - Dự án bảo tồn Vườn quốc gia Cát
Tiên, Việt Nam
David Murphy (2004), Hiện trạng và Bảo tồn của Tê giác Java, Cá sấu
nước ngọt, chim họ trĩ và Bò tót ở Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam, Dự án
Trang 18Bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên, Báo cáo số 50
Nguyễn Mạnh Hà (2007), Đánh giá quần thể bò tót (Bos gaurus) và Bò
rừng (Bos javanicus) ở Vườn Quốc gia Cát Tiên và Khu bảo tồn thiên nhiên, miền Nam Việt Nam Trung tâm tài nguyên môi trường/Qũy bảo vệ môi
trường tự nhiên Nagao
Các nghiên cứu trên tản mạn và chỉ tập trung vào việc phát hiện nơi cư trú và vùng hoạt động của bò tót, phát hiện các tác động tiêu cực đến quần thể
bò tót Chưa có các nghiên cứu chuyên sâu về hiện trạng và các đặc điểm sinh học sinh thái của loài và sinh cảnh
1.4 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội Vườn Quốc gia Cát Tiên 1.4.1 Điều kiện tự nhiên
• Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Đồng Nai, cách Thành Phố Hồ Chí Minh 150km theo quốc lộ 20, trên địa bàn 03 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước
Phía Đông giáp với tỉnh Lâm Đồng
Phía Tây giáp với Khu bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu (Đồng Nai)
Trang 19• Diện tích
Vườn Quốc gia Cát Tiên bao gồm 2 vùng riêng biệt:
- Phần Phía Bắc (Cát Lộc) nằm ở huyện Bảo lâm và Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng
- Phần Phía Nam (Nam Cát Tiên) nằm ở huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, Bù Đăng tỉnh Bình Phước
Tổng diện tích của Vườn là 71.350 ha, được chia thành 3 phân khu:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (35.448ha)
- Phân khu phục hồi sinh thái (34.102ha)
- Phân khu hành chính dịch vụ (1.800ha)
Diện tích vùng đệm là 252.015ha
Trang 20Bản đồ 1.2 Bản đồ hành chính Vườn Quốc gia Cát Tiên
Trang 21• Địa hình
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ đến Đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường Sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ, có
05 kiểu địa hình chính:
- Kiểu địa hình núi cao, sườn dốc: Chủ yếu ở phía Bắc Vườn Quốc gia Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển từ 200 - 600m, độ dốc 15o-20o, có nơi trên 30o Địa hình bao gồm các dạng sườn dốc, phân bố giữa thung lũng sông, suối và đỉnh bào mòn Mức độ chia cắt sâu phức tạp, là đầu nguồn của các suối nhỏ chảy vào sông Đồng Nai
- Kiểu địa hình trung bình sườn dốc ít: ở phía Tây Nam Vườn Quốc gia Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển từ 200 - 300m, độ dốc 15o - 20o Đây
là vùng thượng nguồn của nhiều con suối lớn chảy ra sông Đồng Nai như suối Đaklua, Datapok
- Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam Vườn Quốc gia Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển từ 130 - 150m, độ dốc 5 - 70 Độ chia cắt thưa
- Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ: Độ cao so với mặt nước biển 130m, chạy dọc theo sông Đồng Nai và vùng ven sông Đồng Nai phía Tây Bắc Vườn từ khu vực giáp ranh Bình Phước - Đồng Nai đến Tà Lài, bề rộng khoảng 1.000m
- Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mực nước biển thấp hơn 130m, như các bầu nước: Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu
Toàn bộ Vườn Quốc gia Cát Tiên có cấu trúc địa hình mang đặc trưng của kiểu địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên cực Nam Trung Bộ đến đồng
Trang 22bằng Nam Bộ và mang đặc trưng của các kiểu địa hình phần cuối dãy Trường
Sơn và miền Đông Nam Bộ
• Địa chất
Cấu trúc địa chất của Vườn Quốc gia Cát Tiên nguyên là sa phiến
thạch, quá trình hoạt động của núi lửa thuộc vùng cao nguyên mà những phần
thấp của khu vực đã bị phủ lấp của lớp đá bazan Cùng với quá trình phun trào
phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ đã tạo nên một lớp phù sa suối, phù sa
sông, quá trình diễn biến niên đại tiếp theo đã tạo ra địa hình Vườn Quốc gia
Cát Tiên ngày nay Từ nền địa chất với 03 kiến tạo chính là: Trầm tích, Bazan
và Sa phiến thạch đã phát triển thành 04 loại đất chính là:
- Đất feralit phát triển trên đá bazan (Fk)
- Đất feralit phát triển trên đá cát (Fq)
- Đất feralit phát triển trên phù sa cổ (Fo)
- Đất feralit phát triển trên phiến sét (Fs)
• Chế độ nhiệt
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa
rõ rệt Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10
Bảng 1.1 Chỉ tiêu khí hậu ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 20,5
Trang 234 Lượng mưa trung bình hàng năm (mm) 2.675 2.175
5 Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (mm) 494,8 368
6 Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (mm) 23,8 11
7 Số ngày mưa trung bình hằng năm (ngày) 182 145
và Nam giáp với đồng bằng sông Cửu Long Sông Đồng Nai là sông đứng thứ
ba ở Việt Nam sau sông Mê Kông và sông Hồng về chiều dài và diện tích lưu vực sông
Hệ thống sông Đồng Nai gồm sông Đồng Nai là dòng chính và các sông nhánh là sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi Lâm Viên, Bi Doup trên cao nguyên Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng, có chiều dài 635km, đổ ra biển tại cửa Soài Rạp và cửa Lòng Tàu Trong hệ thống sông Đồng Nai có nhiều hồ chứa nhân tạo như hồ Trị An, hồ Thác Mơ, hồ Dầu Tiếng, hồ Hàm Thuận – Đa Mi, hồ Đơn Dương
Trang 24Sông Đồng Nai chảy qua Vườn Quốc gia Cát Tiên dài khoảng 90km làm thành ranh giới tự nhiên bao bọc 1/3 chu vi của Vườn về phía Bắc, phía Tây và phía Đông Các suối lớn nhỏ trong Vườn đều chảy ra sông Đồng Nai
Đoạn sông Đồng Nai ở Vườn Quốc gia Cát Tiên rộng trung bình khoảng 100m, lưu lượng nước bình quân khoảng 405m3/giây Mực nước cao nhất 8,03m, mực nước trung bình 5m Mùa kiệt 2 - 3m
Suối Đắk Lua là suối lớn nhất bắt nguồn từ vùng núi có cao độ khoảng 350m, nằm ở ranh giới phía Nam của tỉnh Bình Phước Suối có nước quanh năm, chảy theo hướng Đông Nam và đổ ra sông Đồng Nai Ngoài việc thoát nước từ các bàu ra sông, trong những năm nước lớn suối Đắk Lua còn đưa nước từ sông Đồng Nai vào các bàu trong khoảng 30 ngày/năm vào những tháng mùa nước (thường là vào tháng 10 – 11)
Vào mùa mưa, suối Đắk Lua trở thành cầu nối giữa sông Đồng Nai với các vùng đất ngập nước trong Vườn Quốc gia làm cho vùng lưu vực này trở thành hệ sinh thái đất ngập nước mở Điều này rất quan trọng bởi vì một số lượng lớn phù sa và sinh vật thủy sinh sẽ vào sâu trong nội địa các bàu, cung cấp dinh dưỡng cho hệ sinh thái này Các bàu liên thông với nhau và nối với suối Đắk Lua và qua đó nối với hệ thống các bàu ở phía Bắc của suối này (Bàu C4, Bàu Thái, Bàu Ngang, và một phần đất trũng của suối Đắk Lua)
Vào mùa khô, nước rút ra sông Đồng Nai qua con suối Đắk Lua, nước
ở các Bàu Cá Trê, Bàu Sen, Bàu Tròn, và có khi cả Bàu Chim gần như cạn kiệt Các bàu còn nước như Bàu Sấu, Bàu Gốc, Bàu Thái Bình Dương có mức nước rất thấp (khoảng 0,5 – 1m) Ở các vùng bán ngập hình thành các sinh cảnh đồng cỏ hấp dẫn các loài thú móng guốc như bò tót, nai, heo rừng, Vào mùa này các suối cạn (suối treo) cũng hầu như không có nước và các bàu
Trang 25không thông với nhau Biên độ nước chênh lệch cực đại giữa mùa khô và mùa mưa khoảng 4m
Nguồn nước vào các bàu ngoài lượng mưa trực tiếp tại chỗ còn có nguồn nước trên lưu vực thượng nguồn của suối Đắk Lua Những năm mưa nhiều, khu vực này còn chịu ảnh hưởng trực tiếp nguồn nước từ thượng nguồn sông Đồng Nai, gây ngập lụt trong phạm vi tương đối lớn và kéo dài
Suối Đắk Lua có vai trò rất lớn đến chế độ thủy văn của các bàu và chế
độ thông thương trong trao đổi nước và vật chất giữa chúng Điều đó đã đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống bàu và toàn bộ vùng đất ngập nước Vườn Quốc gia Cát Tiên
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
• Dân số
Vườn Quốc gia Cát Tiên có vùng đệm tương đối rộng, với diện tích 252.015ha, gồm 36 xã, thị trấn của 8 huyện thuộc 4 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đắk Nông Theo số liệu thống kê năm 2000, có khoảng
17 vạn người đang cư trú và sinh sống trong vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên Dân số chủ yếu từ nơi khác chuyển đến, tập trung trong khoảng thời gian từ năm 1990 - 1998
Theo số liệu điều tra dân số năm 2005, hiện trong vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Tiên có 834 hộ, 3.947 khẩu đang sinh sống và canh tác, trong đó có 131 hộ, 634 khẩu là người Kinh, các hộ này thường sang nhượng đất của đồng bào thiểu số để canh tác, đồng thời làm dịch vụ cho đồng bào như cung cấp vật tư, nhu yếu phẩm, thậm chí cho vay, mua lại những hàng hoá do đồng bào sản xuất với giá rẻ
• Canh tác
Trang 26- Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người dân sống trong Vườn, chiếm khoảng 95- 98% Đa số người Kinh có tập quán canh tác lúa nước Theo thống kê, có khoảng 1.816,9ha lúa nước đang được canh tác trong Vườn Quốc gia Cát Tiên Trong khi đó, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng có tập quán du canh, du cư, phát rừng làm rẫy, kỹ thuật canh tác lạc hậu Người Kinh và một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số như Tày, Nùng có kinh nghiệm làm vườn nhà, trồng các loại cây ăn trái, rau, củ, cây thuốc, kết hợp với chăn nuôi gia súc trong chuồng và nuôi cá Ngoài sản xuất lương thực (lúa, bắp), người dân còn trồng các loại cây công nghiệp như điều, tiêu, dâu tằm
- Hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là chăn nuôi hộ gia đình theo hình thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp (từ trồng trọt) và tận dụng lao động nhàn rỗi Vật nuôi chính là gia súc, gia cầm
hộ thuộc diện đói nghèo trong vùng cao, chiếm khoảng 30%
Trang 27Một số thôn có 1 đến 3 lớp tiểu học, nhưng các thiết bị, phương tiện giáo dục còn thiếu Cả xã và thôn trong Vườn đã cố gắng xóa mù chữ nhưng
có thôn đến 80 – 90% người dân vẫn không biết chữ
• Giao thông
Nhìn chung cơ sở hạ tầng giao thông và mạng lưới đường xá trong vùng kém phát triển, nhiều đoạn đường chỉ đi lại được vào mùa khô Tuy nhiên đến các thôn đi bằng xe máy đều được Có những đường mòn đến các thôn rất sâu trong rừng như thôn 4, thung Cọ Việc sử dụng các đường mòn trong rừng có tác động rất lớn đến sinh cảnh của các loài động vật hoang dã như tiến nổ của động
cơ xe máy, người đi qua lại và gây phân cách về mặt sinh thái (PRA, 2002)
1.4.3 Hệ động vật và thực vật Vườn Quốc gia Cát Tiên
• Hệ thực vật
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm giữa hai vùng sinh học địa lý chuyển tiếp
từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, đa dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh của các tỉnh Đông Nam Bộ, Việt Nam
Với thành phần gồm các loài ưu thế thuộc họ Sao Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae) và họ Tử vi (Lythraceae) Cho đến
nay Vườn Quốc gia Cát Tiên đã xác định được 1.610 loài, 75 bộ, 162 họ, 724 chi Trong đó: Cây gỗ lớn: 176 loài; Cây gỗ nhỏ: 335 loài; Cây tiểu mộc (bụi): 345 loài; Thảm tươi: 311 loài; Dây leo: 238 loài; Thực vật phụ sinh, ký sinh: 143 loài; Khuyết thực vật: 62 loài
Các loài cây quí hiếm: gồm có 38 loài thuộc 13 họ: như gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa), cẩm lai (Dalbergia sp.), dáng hương (Pterocarpus macrocarpus),
gõ mật (Sindora siamensis), cẩm thị (Diospyros maritima), căm xe (Xylia
xylocarpa), có trên trong sách Đỏ Việt Nam năm 2007
Trang 28Nguồn gen đặc hữu bản địa: 22 loài thuộc 12 họ, như thiên thiên Đồng Nai, vệ tuyền ngọt, thuộc họ Thiên lý
Rừng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên được chia làm 5 kiểu chính:
- Rừng lá rộng thường xanh: Ưu thế là các loài cây gỗ thuộc họ Dầu
(Dipterocarpaceae) như dầu rái (Dipterocarpus alatus), dầu lông (D intricatus), cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis), cẩm lai vú (D mammosa), gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa), dáng hương (Pterocarpus macrocarpus),
- Rừng lá rộng nữa rụng lá: Thành phần các loài cây gỗ rụng lá từng phần
trong mùa khô như bằng lăng (Lagerstroemia calyculata), tung (Tetrameles
nudiflora), râm (Anogeissus acuminata), gáo (Haldina cordifolia),
- Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa: Đây là kiểu phụ thứ sinh nhân tác của rừng thường xanh và rừng nữa rụng lá, do bị lửa rừng, chất độc hóa học, rừng bị
mở tán và tre nứa xen vào Thành phần cây gỗ thường gặp là vắp (Mesua sp.), bằng lăng (Lagerstroemia calyculata), căm xe (Xylia xylocarpa), hai loài tre chủ yếu là lồ ô (Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp.)
- Rừng tre nứa thuần loại: Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bị phá làm nương rẫy rồi bỏ hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát
triển Hai loài tre phổ biến là lồ ô (Bambusa procera) và mum (Gigantochloa
sp) tạo thành các rừng lớn, những nơi ngập nước chỉ có tre La Ngà tồn tại
- Thảm thực vật đất ngập nước: Vườn Quốc gia Cát Tiên có diện tích Bàu nước lớn, nguồn nước chưa bị ô nhiễm Trong mùa mưa, diện tích Bàu khoảng 2,500ha Mùa khô rút đi để lại nhiều bàu, đầm lầy diện tích thu hẹp khoảng 100 - 150ha, đây cũng là nơi sâu nhất của các bàu nước như: Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá,
Trang 29Thảm thực vật đất ngập nước là sinh cảnh thích hợp của loài cá Sấu
xiêm, các loài động thực vật thủy sinh, các loài chim nước và cá nước ngọt
Các loài thú lớn như: Heo rừng, Nai, Bò tót, cũng thường quần cư ở khu
vực này vào mùa khô Thực vật ưu thế là các loài cây gỗ chịu nước như đại
phong tử, lộc vừng, săng đá, xen lẫn lau, lách, cỏ đế, sậy
Hiện trạng rừng và các loại đất đai trong Vườn Quốc gia Cát Tiên (Bảng 1.2):
+ Diện tích đất có rừng: 61.819,54ha, chiếm 86,64%;
+ Diện tích đất không có rừng: 4.837,85ha, chiếm 6,78%;
+ Diện tích đất khác: 4.692,61ha, chiếm 6,58%;
Bảng 1.2 Diện tích và trạng thái rừng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Khu hệ động vật của Vườn Quốc gia Cát Tiên có những nét đặc trưng
của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trường Sơn và quan hệ chặt chẽ
với Tây Nguyên
Trang 30- Thú: Đến nay đã xác định được 113 loài thuộc 32 họ, 12 bộ, trong đó
có 43 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN 2008, như: bò tót, hổ, gấu chó, voi, báo hoa mai, báo lửa, chó sói, chà vá chân đen, vượn đen má vàng, sóc bay lớn, Đặc biệt, ở Vườn Quốc gia Cát Tiên còn
tồn tại một quần thể loài tê giác Việt Nam (Rhinoceros sondaicus
annamiticus), là phân loài của tê giác Java, còn khoảng 3 - 5con
- Chim: Đến nay đã xác định được 351 loài thuộc 64 họ của 18 bộ Trong
đó có 31 loài quý hiếm đã được phát hiện và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007
và Danh lục Đỏ IUCN 2008 Các loài chim quý hiếm như hạc cổ trắng, công, già đẩy Java, cò quắm cánh xanh, ngan cánh trắng, gà so cổ hung, Trong đó, loài gà
so cổ hung là loài quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam, trước đây đã được xem là
bị tuyệt chủng hoàn toàn Tuy nhiên năm 1997, các nhà khoa học đã phát hiện ra loài này còn có mặt ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
- Bò sát: Đến nay đã xác định được 79 loài thuộc 17 họ và 4 phân họ, 4
bộ trong đó có 23 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN 2008, như cá sấu xiêm, trăn gấm, trăn đen,
- Lưỡng cư: Đến nay đã xác định được 41 loài thuộc 6 họ, 2 bộ
- Cá: Đến nay đã xác định được trên 168 loài, thuộc 29 họ, 9 bộ trong đó
có 10 loài mới cho Việt Nam, 1 loài nằm trong Danh lục Đỏ IUCN 2008 là cá mơn hay còn gọi là cá rồng, 9 loài của Sách Đỏ Việt Nam 2007 như cá lăng bò,
cá chài, cá lóc bông, cá rồng,
- Côn trùng: Đã điều tra được 819 loài thuộc 58 họ, 10 bộ trong đó có 4 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
• Đánh giá hiện trạng và cấu trúc của quần thể bò tót tại Vườn Quốc gia Cát Tiên;
• Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái của quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên;
• Xác định các nguyên nhân đe dọa đến sự tồn tại của bò tót và đề xuất các biện pháp quản lý bảo tồn quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là loài bò tót
(Bos gaurus) ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
• Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu của luận văn được tiến hành ở trong địa phận Vườn Quốc gia Cát Tiên Trong đó:
- Nghiên cứu về quần thể được tiến hành ở cả vùng Cát Lộc và Nam Cát Tiên, Tây Cát Tiên thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên;
- Nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái sẽ tập trung vào quần thể bò tót ở khu vực Nam Cát Tiên thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên
• Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6/2006 đến tháng 10/2009
Trang 322.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá hiện trạng và cấu trúc của quần thể bò tót tại Vườn Quốc gia Cát Tiên
- Cấu trúc đàn;
- Cấu trúc giới tính;
- Cấu trúc tuổi;
- Vùng cư trú của quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
2.2.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
- Các loài thực vật thức ăn;
- Đặc điểm sinh cảnh sống;
- Vùng sống;
- Hoạt động và di chuyển;
- Nguồn nước uống; các điểm/suối khoáng;
- Hoạt động bầy đàn, sinh sản,…
2.3.3 Xác định các nguyên nhân đe dọa đến sự tồn tại của bò tót và đề xuất các biện pháp quản lý bảo tồn quần thể bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
- Các mối đe dọa trực tiếp;
- Các mối đe dọa gián tiếp;
- Đề xuất các biện pháp quản lý, bảo tồn trên cơ sở kết quả nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là các phương pháp điều tra động vật truyền thống và kết hợp với một số phương pháp mới hiện nay như sau:
• Phương pháp kế thừa
Tất cả các thông tin và kết quả nghiên cứu về thú, đặc biệt là bò tót ở Cát Tiên sẽ được thu thập và đánh giá để sử dụng trong luận văn Các thông
Trang 33tin thứ cấp cũng sẽ cung cấp các thông tin quan trọng bước đầu về đối tượng nghiên cứu và giúp cho việc định hướng, lên kế hoạch nghiên cứu thực địa chi tiết Các thông tin về tình hình cơ bản, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tính đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu và các thông tin về Bò tót trong
và ngoài nước được tổng hợp, chọn lọc và đánh giá để phục vụ cho luận văn
• Phương pháp phỏng vấn thợ săn, dân địa phương và Kiểm lâm
Phỏng vấn các thợ săn, dân địa phương và các nhân viên kiểm lâm của Vườn, là những người sống trong và gần rừng, có đời sống gắn bó với rừng và hiểu biết nhiều về rừng Tuy độ tin cậy của các kết quả phỏng vấn có thể bị hạn chế, song phương pháp này sẽ cung cấp cho chúng ta một số thông tin cơ bản, cần thiết
Các cuộc phỏng vấn cũng tập trung nhằm xác định địa điểm dễ gặp Bò tót nhất Một bộ câu hỏi cũng đã được soạn thảo để phỏng vấn gồm:
1 Có bao nhiêu loài thú mà Ông/Anh đã gặp ở rừng địa phương?
2 Ông/Anh có thể miêu tả chi tiết từng loài được không?
3 Ông/Anh có biết Bò tót, Bò rừng, Bò xám không? Nếu biết, tên địa phương gọi nó là gì?
4 Ông/Anh có thể cho biết ở đâu thường gặp được những loài trong các bức ảnh này không? Lần cuối cùng gặp loài đó ở đâu?
5 Nơi nào nhiều nhất và dễ gặp nhất trong các điểm mà Ông/Anh nói?
6 Liệu chúng ta ở trong rừng 3 đến 4 ngày thì có thể gặp được chúng không?
7 Ông/Anh có thể cung cấp thêm một số thông tin khác?
8 Thường một đàn có bao nhiêu con? Trong đó có bao nhiêu con đực, cái, con nhỏ?
9 Hoạt động thường ngày của chúng như thế nào? Thường chúng đi kiếm
ăn khi nào, ở đâu? Gặp vào thời điểm nào trong ngày nhiều nhất?
Trang 3410 Chúng thường ngủ ở đâu và ngủ như thế nào?
11 Chúng thường kiếm ăn ở đâu? Ăn những loại gì? Ông/Anh có thể kể tên những loại đó bằng tên địa phương? …
• Điều tra theo tuyến
Khảo sát thực địa được tiến hành trong các mùa khác nhau của năm, trong các thời điểm ban ngày và trên các dạng sinh cảnh Đòi hỏi quan trọng nhất trong khảo sát thực địa là kỹ năng quan sát Quan sát trên tuyến là phương pháp quan trọng nhất Các tuyến điều tra được thiết lập ở khắp các vùng điều tra và càng đi qua nhiều dạng sinh cảnh càng tốt Đặc biệt chú ý các điểm cao, các vũng nước, điểm có muối khoáng, ven sông, suối, đầm, … Một số đường mòn nhỏ được sử dụng bởi thợ săn hoặc những người thợ rừng trước đây được
sử dụng làm tuyến điều tra Thời gian khảo sát hàng ngày, sáng sớm từ 4 – 10giờ, chiều tối từ 16 – 21giờ Người điều tra trên tuyến phải di chuyển nhẹ nhàng, cẩn thận, không nói chuyện, không hút thuốc, tốc độ di chuyển từ 1,5 - 2,5km/giờ Ngoài việc tìm gặp trực tiếp bò tót, chúng tôi cũng chú ý phát hiện dấu vết hoạt động của Bò tót như dấu chân, vết ăn, phân, nơi ngủ, …
• Khảo sát ven sông suối
Đi bằng thuyền (máy, chèo tay, cano) hay đi bộ dọc theo sông suối, bàu nước để quan sát Bò tót thường kiếm ăn ven các sông, suối, bàu nước, đầm mình hoặc ra uống nước Khi đó ta có thể tiếp cận gần để ghi hình, chụp ảnh, đếm số lượng con trong đàn Phương pháp này giúp chúng ta dễ quan sát và
dễ phân biệt giới tính nhất vì không vướng vật cản khi quan sát Khi phát hiện
bò tót thì tiến hành xác định: tổng số con, số con trưởng thành, con non, con bán trưởng thành và kết hợp nghiên cứu tập tính, xác định dấu chân khi con vật để lại
• Khảo sát trong đêm bằng đèn pin
Trang 35Mắt của bò tót và hầu hết các loài thú kiếm ăn đêm thường phản xạ lại khi có ánh đèn chiếu vào Có thể dùng đèn pin hay đèn đội đầu để tiến hành điều tra các loài thú rừng vào những đêm trời tối Bò tót có ánh mắt màu xanh khi ta dùng đèn pin chiếu vào Khi bắt được mắt con vật, chúng ta giữ nguyên
và chiếu đèn pha để xác định có đúng là bò tót không
• Điều tra qua dấu vết
Rất khó nhìn thấy trực tiếp Bò tót trong thiên nhiên vì số lượng của chúng còn ít và chúng lại rất tinh khôn do thường xuyên bị đe dọa bởi nhiều hoạt động Vì vậy, việc ghi nhận sự có mặt của loài Bò tót qua dấu vết là phương pháp dễ tiến hành và dễ áp dụng hiện nay Khi phát hiện dấu vết của
bò tót thì tiến hành mô tả chi tiết như sau:
- Dấu chân: Đặt trên dấu chân một tấm kính và trên tấm kính để tờ giấy bóng mờ Dùng bút dạ quang không xóa vẽ theo hình dạng của dấu chân Mô tả chi tiết thêm những thông tin cần thiết khác như: thời gian, tọa độ, sinh cảnh, số lượng dấu chân, cách sắp xếp các ngón chân, nền đất mềm hay cứng, độ dốc, …
đo các kích thước về chiều dài, chiều rộng, khe bàn chân, … Xác định tọa độ và
độ cao nơi phát hiện dấu vết
- Các bãi phân: mô tả các thành phần chất chứa trong bãi phân như lá, cành, quả và màu sắc của chúng và ghi nhận thêm thông tin về thời gian, tọa
độ, sinh cảnh, … Xác định tọa độ và độ cao nơi phát hiện dấu vết
- Các dấu vết khác (vết nằm, vết húc sừng, vết ăn cây, ): dự đoán mức
độ và thời gian xuất hiện của dấu vết theo các trường hợp sau: dấu rất mới (trong ngày), dấu mới (dưới 1 tuần), dấu cũ (hơn một tuần) Xác định tọa độ
và độ cao nơi phát hiện dấu vết
Dựa trên số lượng các dấu vết, xác định hay đoán số lượng cá thể đã để lại dấu vết, qua đó có thể ước lượng số cá thể của đàn
Trang 36• Trực và quan sát tại các điểm quan trọng
Đối với các điểm và khu vực được đánh giá là vùng hoạt động quan trọng của bò tót như: khu vực kiếm ăn chính, nơi ngủ, điểm khoáng và điểm uống nước được khoanh vùng để điều tra chi tiết và thiết lặp điểm quan sát
Từ các điểm quan sát, sử dụng ống nhòm có độ phóng đại lớn để tìm và quan sát bò tót Ở các khu vực địa hình bằng phẳng và trống, như trảng cỏ, sử dụng ống nhòm hồng ngoại để tìm và quan sát bò tót vào ban đêm Khảo sát theo điểm chủ yếu được sử dụng trong các nghiên cứu về sinh thái
• Phương pháp máy bẫy ảnh
Sử dụng 08 bẩy ảnh đặt tại các điểm được xác định là bò tót thường xuất hiện và hoạt động, với phim chụp có độ nhậy sáng 200 (ISO) Thời gian đặt máy trung bình từ 03 - 15 ngày ở 1 điểm điều tra, 1 máy được đặt tại một điểm quan sát Như vậy, có tất cả 08 điểm quan sátcùng được điều tra đồng thời với 08 máy bẫy ảnh Các địa điểm đặt máy ảnh là những điểm khoáng, điểm nước, vùng kiếm ăn và khu vực bò tót thường hoạt động Điều tra bằng bẫy ảnh được thực hiện chủ yếu vào mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm Vì đây là mùa khô nên các đàn bò tót hoạt động tập trung tại các điểm
có nước để uống và đầm mình
• Phương pháp xác định vùng phân bố
Vùng phân bố hay nơi cư trú của bò tót tại Vườn quốc gia Cát Tiên là các khu vực ghi nhận sự xuất hiện tự nhiên của bò tót Thông tin về phân bố quá khứ của bò tót được tổng hợp dựa trên các thông tin phỏng vấn và các báo cáo khoa học từ trước năm 2006
Phân bố hiện tại của bò tót được tổng hợp dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả từ năm 2006 - 2009 Các thông tin được thu thập, ghi chú cụ thể
Trang 37thời gian, địa danh và tọa độ địa lý nếu có thể Từ các thông tin điều tra, tác giả xây dựng bản đồ phân bố của bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
• Phương pháp phân tích đánh giá một số đặc điểm sinh thái
a) Quần thể và cấu trúc quần thể
Số lượng cá thể của quần thể bò tót ở được ước tính bằng cách thống kê các đàn và cá thể bò tót ở các khu vực có phân bố của Vườn Quốc gia Cát Tiên Dựa trên số lượng cá thể thực tế của các đàn bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên và tham khảo các nghiên cứu về cấu trúc đàn của bò tót ở Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai, tác giả chia 3 nhóm đàn như sau:
1 Bò trưởng thành: > 2,5năm tuổi; kích thước dấu chân > 9cm
2 Bò nhỡ (gần trưởng thành): 1 - 2,5 năm tuổi; kích thước dấu chân 8 - 9cm
3 Bò non < 12 tháng tuổi; kích thước dấu chân < 8cm
Việc phân chia nhóm tuổi của các cá thể trong đàn theo cách này dựa trên các nghiên cứu về bò tót trong điều kiện nuôi nhốt và dựa trên một số đặc điểm cơ bản của bò tót như màu sắc, kích cỡ cơ thể, độ dài của sừng và răng
Tỷ lệ giới tính của các con đực và con cái trưởng thành trong các đàn
bò tót được tính toán dựa trên kết quả thống kê theo nhóm tuổi và giới tính của các đàn bò tót Phân biệt và nhận dạng các con cái, con đực và con non
Trang 38dựa vào các quan sát trực tiếp về hình dạng, màu sắc, kích cỡ cơ thể và sừng của các cá thể trong đàn Để tránh việc điều tra và đếm các đàn trùng lắp nhau Tác giả cùng với nhóm cộng tác chia thành 2 – 3 nhóm nhỏ để tiến hành điều tra trong cùng một khoảng thời gian đối với những khu vực gần nhau và
c) Sinh cảnh
Các ô tiêu chuẩn 10 x 10m được lập trên các tuyến điều tra cố định ở các khu vực bò tót phân bố và kiếm ăn để đánh giá về kiểu thảm thực vật, thành phần loài thực vật và dạng địa hình, độ cao của sinh cảnh Các thông tin
về vùng hoạt động, kiếm ăn và di chuyển được ghi nhận, đánh giá và xác định dạng sinh cảnh chính của bò tót Các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn sinh cảnh của bò tót cũng được tìm hiểu và so sánh
d) Vùng sống
Vùng sống của các đàn bò tót được xác định trên hiện trường bằng máy định vị toàn cầu (GPS) và khoanh vẽ trên bản đồ địa hình hệ tọa độ UTM tỷ lệ 1:25.000 cho từng đàn Xác định sự thay đổi vùng sống của các đàn bò tót theo mùa mưa và mùa khô Kích thước trung bình của vùng sống được thống
kê dựa trên các kết quả thống kê về vùng sống của 05 đàn bò tót ở Vườn quốc gia Cát Tiên Chúng tôi cũng nghiên cứu sự lựa chọn vùng sống theo độ cao
Trang 39và địa hình Các thông tin và đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó tới sự lựa chọn vùng sống của bò tót cũng được đánh giá
e) Thức ăn
Thông tin sơ bộ về thức ăn của bò tót được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn các thợ săn và những người có hiểu biết nhiều về loài bò tót tại các vùng có bò tót sinh sống
Quan trọng nhất là quan sát hoạt động kiếm ăn của bò tót ngoài tự nhiên để thu thập mẫu vật và giám định các loài thực vật bò tót ăn Các ô tiêu chuẩn (10 x 10m) được lập ở các khu vực bò tót kiếm ăn để thu các mẫu thực vật chúng ăn Các loài thực vật được xác định là thức ăn của bò tót chỉ được thống kê và thu mẫu khi quan sát ít nhất bò tót ăn ở 3 khu vực khác nhau và
so sánh với các thông tin phỏng vấn Điều tra và thu mẫu thức ăn của bò tót được thực hiện trong cả mùa khô và mùa mưa để đảm bảo số loài thực vật được ghi nhận đại diện nhất
Việc giám định các loài thực vật được thực hiện bởi các cán bộ Khoa học – Kỹ thuật của Vườn Quốc gia Cát Tiên và sự giúp đỡ của Giáo sư - Tiến
sĩ Võ Văn Chi thực hiện Danh pháp và danh lục thực vật được sắp xếp theo
hệ thống phân loại thực vật của Phạm Hoàng Hộ
Các dạng thức ăn của bò tót như lá, thân, ngọn, măng được thống kê để
so sánh tỷ lệ giữa các dạng thức ăn Số loài thực vật là thức ăn cũng được thống kê theo dạng sinh cảnh để xác định nơi bò tót thường kiếm ăn
f) Nhu cầu nước và khoáng
Chúng tôi đã tiến hành thông kê số lượng và đánh giá mối liên hệ giữa điểm nước và muối khoáng trong vùng sống của các đàn bò tót Các điểm uống nước được thống kê là các khu vực có nước quanh năm như suối, sông,
Trang 40hồ, hố nước, không bao gồm các điểm nước hình thành tạm thời Điểm uống nước được thống kê là các điểm tách rời nhau Điểm khoáng được thống kê là các vùng đất, suối nước giàu khoáng mà bò tót và các loài động vật thường xuyên sử dụng
Khoảng cách trung bình từ nơi ngủ đến các điểm uống nước, điểm muối khoáng của các đàn bò tót cũng được đo tính để đánh giá mối liên hệ, vai trò của nước và khoáng trong sự lựa chọn vùng sống của bò tót Tần suất đến uống nước và ăn khoáng cũng được thống kê để đánh giá nhu cầu nước
và khoáng của bò tót
• Đánh giá về các mối đe dọa và các khu vực phân bố của bò tót
Để đánh giá được các mối đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của bò tót, chúng tôi xây dựng thang điểm đánh giá và sắp xếp theo mức độ cao, thấp của
sự đe dọa
Để đánh giá được mức độ quan trọng và giá trị bảo tồn của các khu vực phân bố của bò tót, chúng tôi xây dựng thang điểm để đánh giá theo các tiêu chí bảo tồn để xác định ý nghĩa bảo tồn
Dựa trên kết quả đánh giá về các mối đe dọa và tầm quan trọng của các khu vực phân bố, từ đó đưa ra các đề xuất bảo tồn cho loài bò tót ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
• Phương pháp phân tích thống kê, xử lý thông tin và số liệu
Tất cả các thông tin, số liệu thu được sẽ được tập hợp và phân tích, thống kê trên các chương trình Microsoft office Excel 2003, Microsoft World
2003 và Mapinfor 7.5,