ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG HUYỆN LƯƠNG SƠN ...31 3.5.4.. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTR
Trang 1LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành chương trình đại học và viết đồ án này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quí thầy cô trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thế Nhã đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời biết ơn đến quý anh… , chị… - cán bộ y tế tại trung tâm y
tế dự phòng huyện Lương Sơn đã nhiệt tình hướng dẫn tôi, cũng như có những ý kiến đóng góp giúp tôi hoàn thiện đề tài này
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nội Vụ của trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để
có dữ liệu viết đồ án
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đồ án bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày…tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phùng Thị Bảo Chinh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN! i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH Y TẾ 3
1.2.KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 3
1.2.1.Khái niệm 3
1.2.2.Thành phần của CTRYT 4
1.2.3.Phân loại chất thải rắn y tế 4
1.3.HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 5
1.3.1.Trên thế giới 5
1.3.2.Tại Việt Nam 8
Chương 2MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 11
2.1.1 Mục tiêu chung 11
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 11
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.3.1 Phương pháp luận 11
2.3.2 Phương pháp kế thừa số liệu 13
2.3.3 Phương pháp điều tra tình trạng rác thải rắn y tế của Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn 13
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn 13
Trang 32.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả một số biện pháp xử lý chất thải rắn tại
TTYTDP Lương Sơn 14
2.3.6 Phương pháp đề xuất một số biện pháp xử lý chất thải rắn tại TTYTDP Lương Sơn 14
Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 15
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM YTDP HUYỆN LƯƠNG SƠN 15
3.1.1 Vị trí địa lý 15
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 16
3.1.3 Cơ sở pháp lý hình thành trung tâm y tế 17
3.1.1.Chức năng của trung tâm 17
3.1.5.Quy mô và cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế 18
3.1.6.Tình hình hoạt động y tế tại trung tâm y tế 20
3.2 TÌNH TRẠNG CTRYT TẠI TRUNG TÂM YTDP HUYỆN LƯƠNG SƠN……… 21
3.3.VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TRUNG TÂM YTDP 26
3.3.1Quy chế bệnh viện (phụ lục 1) 26
3.3.1Quy chế Bộ Y tế (phụ lục 2) 26
3.3.2Các văn bản quy chế quản lý chất thải (phụ lục 3) 26
3.3.3Kiểm soát nhiễm khuẩn tại trung tâm y tế 27
3.3.4Công tác vệ sinh tại trung tâm y tế 28
3.3.5Công tác quản lý CTRYT tại trung tâm y tế 30
3.4.Công tác xử lý CTRYT trong trung tâm y tế 31
3.5 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG HUYỆN LƯƠNG SƠN 31
3.5.4 Nhận xét chung về tình hình vệ sinh môi trường của trung tâm y tế 31
3.5.5 Đánh giá công tác kiểm soát ctryt tại trung tâm y tế 32
3.5.6 Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT 33
Trang 43.5.7 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT 35
3.5.8 Công tác phân loại và thu gom chất thải rắn tại nguồn phát sinh 37
3.5.9 Công tác vận chuyển CTRYT 39
3.6 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN 42
3.6.1 Giải pháp về giáo dục 42
3.6.2 Giải pháp về cơ cấu tổ chức 43
3.6.3 Giải pháp về kỹ thuật 44
3.6.4 Giải pháp kêu gọi đầu tƣ 48
KẾT LUẬN 49
KIẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5XN: Xét nghiệm
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế 4
Bảng 3.1: Thống kê hoạt động y tế trung tâm năm 2015-2016 so với cùng kỳ năm 2014 20
Bảng 3.2: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải 22
Bảng 3.3 Thực trạng phát thải rác thải y tế của TTYTDP huyện Lương Sơn 22
Bảng 3.4 Lượng rác thải y tế của TTYTDP huyện Lương Sơn 23
Bảng 3.5 Lượng rác thải y tế nguy hại xác định theo nhóm 24
Bảng 3.6 Đặc điểm thành phần chất thải rắn y tế nguy hại của trung tâm 24
Bảng 3.7 Nguồn phát thải chất thải rắn y tế nguy hại của TTYT 25
Bảng 3.8: Lượng CTR từ năm 2016 → năm 2017 tại TTYT 36
Bảng 3.9: Lượng CTR bình quân tại trung tâm tính theo tấn 45
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Sơ đồ nghiên cứu 12
Hình 3.1: Biểu đồ thành phần tỷ lệ rác thải nguy hại 25
Hình 3.2: Quy trình quản lý CTRYT trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn 30 Hình 3.3: Vật liệu sử dụng chứa chất thải của trung tâm 38
Hình 3.4: Lối vận chuyển CTRYT tại TTYT 39
Hình 3.5: Nhà lưu giữ CTRYT tại TTYT 40
Hình 3.6: Mô hình nhà lưu giữ rác của trung tâm 45
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những
sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng
về lâu dài cho các thế hệ mai sau Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành Theo niên giám thống kê năm 2007có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng
Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) huyện Lương Sơn đã được hình thành
và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà trung tâm đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh những thành quả đạt được thì hiện nay, vấn đề nhức nhối tại trung tâm
là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về
Trang 9những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của trung tâm, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế
Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại trung tâm nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các bệnh viện nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản
lý chất thải hiện nay của huyện
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các
giải pháp quản lý CTRYT tại trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” được lựa chọn
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH Y TẾ
Y tế là một ngành có truyền thống lâu đời, sự kết hợp giữa y học cổ truyền
và y học hiện đại đã tạo nên đặc trưng cơ bản của ngành y tế
Ngành y tế là một ngành then chốt trong lĩnh vực đảm bảo cho con người
về mặt thể chất và là nghành độc lập có nhiều đối tượng (bệnh nhân) nhất, vì thế đây là ngành có cơ sở hoạt động rộng khắp toàn quốc
Y tế là ngành có mối quan hệ mật thiết với xã hội và là ngành có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xã hội, an toàn lao động Vì thế, là một ngành luôn được quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường trong sạch
1.2 KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.2.1 Khái niệm
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, sét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí
Chất thải y tế nguy hại là những chất có chứa các thành phần như: máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết, các bộ phận cơ thể, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, và các chất phóng xạ dung trong y tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người
Chất thải y tế là một trong những lại chất thải nằm trong danh mục A của danh mục các chất thải nguy hại Chất thải y tế là một loại chất thải nguy hại, vì vậy việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản
lý chất thải nguy hại Do giới hạn đề tài chỉ tập trung vào CTRYT nên trong phần tiếp theo em chỉ trình bày các nội dung liên quan đến loại CTYT này
Trang 111.2.2 Thành phần của CTRYT
Bảng 1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế Thành
Vật lý
trải…
hàng
nghiệm
(Nguồn: Internet)
1.2.3 Phân loại chất thải rắn y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các bệnh viện đƣợc Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý chất thải y tế chung trên toàn quốc:
Trang 121.3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có
cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh
chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy
nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí
Trang 13Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li
ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric, đioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi
Do đó, tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và
xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng
C và áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút Sau cùng phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không tạo ra khí thải vào không khí
Cụ thể như hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Vương Quốc Anh, năm
1992 nước Anh đã đưa ra định nghĩa chất thải y tế như sau: bất kỳ chất thải nào
mà gồm toàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc dịch cơ thể, chất bài tiết, dược phẩm mà không an toàn có thể gây độc hại hay các loại rác thải từ các hoạt động y tế, chất thải gây truyền nhiễm ảnh hưởng đối với người tiếp xúc với nó Chất thải nằm trong định nghĩa này được chia thành các nhóm sau: mô người và chất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chất thải từ phòng xét nghiệm; dược phẩm quá hạn; nước tiểu, phân và các chất tiết từ vệ sinh; chất thải cytotoxic; chất thải phóng xạ…
Về phần công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách hợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng
Trang 14khám…có quy định cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất, kèm theo công đoạn xử lý
sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện Trong thực tế không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi khi
sử dụng phương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn
Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên, trong khoảng những năm gần đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều
Điển hình như việc quản lý chất thải ở miền nam Châu Phi, chất thải y tế được định nghĩa bao gồm tất cả các loại chất thải sản sinh từ quá trình khám chữa bệnh của cơ sở y tế như bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế và phòng thuốc Chất thải y tế đại diện cho một lượng nhỏ trong tổng khối lượng chất thải được phát sinh trong một cộng đồng Tuy nhiên, lượng nhỏ chất thải y tế này có khả năng truyền bệnh và hiện tại là nguy cơ gây ra bệnh nghề nghiệp cho các nhân viên của các cơ sở y tế, bệnh nhân và cộng đồng khi các chất thải không được quản lý đúng cách (Baveja, et al, 2000; Silva, 2005)
Phân biệt chất thải y tế giữa rác thải y tế lây nhiễm và không lây nhiễm được tiến hành theo quy định và tiêu chuẩn Tách các chất thải y tế và rác sinh hoạt được thực hiện một mức độ thỏa đáng
Về phần công nghệ tiêu hủy rác thải y tế thì phương pháp quản lý rác thải
y tế được thông qua nghiên cứu của Oweis et al (2005) Điều này bao gồm một chiến lược cụ thể như sau:
Trang 15viện để thực hiện đúng, đặc biệt là các nhân viên có liên quan đến việc quản lý chất thải y tế phát sinh tại bệnh viện
các quan sát viên ghi nhận lại tình hình phân loại, thu gom, bảo quản và xử lý
Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu giữ tạm thời của bệnh viện Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được trang bị hoàn tất các thiết bị bảo hộ cá nhân
Bệnh viện có thể ký kết họp đồng vận chuyển các chất thải y tế với một công ty tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải Ngoài ra, nếu bệnh viện
có khuôn viên rộng, trang thiết bị hiện tại thì sẽ trang bị hệ thống lò đốt và xây dựng bãi chôn lấp chất thải ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên và khí thải từ lò đốt được xử lý đúng cách theo pháp lệnh quy định
1.3.2 Tại Việt Nam
Tình hình chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử
lý triệt để
Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn, nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tại các bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có
sự quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại
và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu Chất
Trang 16thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc được ngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải
y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo, xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm
và được triển khai
Theo niên giám thống kê năm 2007, ngành y tế cả nước có 13.438 cơ sở khám chữa bệnh với 136.542 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, khối y tế tư nhân có 1.631 cơ sở y tế từ phòng khám tới bệnh viện
tư hoạt động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực, song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các cơ sở
từ trung ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý rác thải, một vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật
a) Quản lý rác
Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường
b) Phân loại chất thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng
Trang 17việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo Việc phân loại chất thải, tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải
y tế của Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
c) Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và
y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ,
y tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải
d) Lưu trữ chất thải y tế
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số nhà lưu giữ rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không
có nhiệm vụ dễ xâm nhập
e) Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng rác thải ở Việt Nam đều được thu gom bởi công
ty Môi trường Đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian một đến hai ngày một lần và được vận chuyển đến bãi rác của thành phố để xử
lý Tại đây, rác thải sinh hoạt được chôn lấp, CTRYT sẽ được thiêu đốt tại lò đốt đặt ở bãi rác
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ môi trường tsji Trung tám y tế dụe phòng ở Việt Nam nói chung và tại Trung tâm y té dự phòng huyện Lương Sơn nói riêng.Bảo vệ sức khỏe người dân và môi trường
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản
lý CTRYT tại TTYTDP huyện Lương Sơn
- Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nội dung sau :
1 Đánh gíá thực trạng rác thải rắn y tế của Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2 Nghiên cứu đánh giá hoạt động công tác bảo vệ môi trường tại Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn
3 Nghiên cứu đánh giá hiệu csc biẹn biện pháp xử lý chất thải rắn tại TTYTDP Lương Sơn
4 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả việc xử lý chất thải rắn tại TTYT
dự phòng huyện Lương Sơn
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp luận
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế góp phần bảo vệ môi trường là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố “khái niệm, thành phần, nguyên nhân, tác hại của CTRYT – công tác quản lý và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT của công ty Môi trường Đô thị nói chung, của trung tâm y
Trang 19tế dự phòng nói riêng – sự hiểu biết, nhận thức về CTRYT của cán bộ công nhân viên trong toàn trung tâm, đặc biệt là các bộ phận làm việc trực tiếp với CTRYT Từ đó rút ra kết luận và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT đạt hiệu quả Toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài đƣợc trình bày trong hình 3.1
Hình 2.1: Sơ đồ nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng tại TTYTDP
huyện Lương Sơn
Ô nhiễm môi trường do CTRYT
Công tác quản lý và kiểm soát ô
nhiễm CTRYT tại trung tâm
Tổng hợp các giải pháp quản lý CTRYT trên thế giới và một số bệnh viện
tại Việt Nam
So sánh sự phù hợp với các yêu cầu và
tiêu chuẩn hiện có của Bộ Y tế và trung
tâm
Các vấn đề tồn tại trong công tác quản
lý
CTRYT tại BVĐKKV Hóc Môn
Đề xuất các giải pháp quản lý môi
CTRYT tại trung tâm y tế dự phòng
huyện Lương Sơn
Trang 202.3.2 Phương pháp kế thừa số liệu
Tham khảo các tài liệu liên quan như :
- Quy chế quản lý chất thải y tế số 2575/BYT của Bộ y tế ban hành ngày
12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT
- Chỉ thị 09/2003/CT_UB của Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn ngày
12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT
2.3.3 Phương pháp điều tra tình trạng rác thải rắn y tế của Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn
Tiêu chí cần đạt được:
- Tổng khối lượng CTRYT theo từng kỳ báo cáo
- Khối lượng CTR theo từng loại
- Nguồn phát thải CTRYT của trung tâm y tế dự phòng
Để đạt được những tiêu chí trên tác giả tiến hành điều tra thực tế tại trung tâm,
kế thừa số liệu kết quả nghiên cứu trước, xử lý số liệu diều tra
Cách thức điều tra thực tế:
- Kế thừa số liệu từ các báo cáo theo kỳ của TTYT
- Xử lý số liệu bằng phương pháp nội nghiệp: sử dụng các thủ thuật trong excel để tính toán và thành lập biểu đồ
- Cách thức điều tra khối lượng CTR: thông qua quá trình điều tra thực địa, với số lần điều tra là 2 lần
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại Trung tâm y tế dự phòng huyện Lương Sơn
Trang 212.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả một số biện pháp xử lý chất thải rắn tại TTYTDP Lương Sơn
Lò đốt rác đã ngưng hoạt động khá lâu
Hiện chưa có hệ thống xử lý CTRYT nên bị động trong việc xử lý rác y tế của bệnh viện
Biện pháp xử lý: ký hợp đồng với công ty Bảo Ngọc có địa chỉ Quan Đô – Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh
Biện pháp xử lý: ký hợp đồng với công ty TNHH Hoàng Long
vận chuyển hàng ngày với công ty môi trường huyện lương sơn, chi phí phải trả theo
đề án thu phí năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường quy định, sẽ được vận chuyển đến bãi rác của thành phố chôn lấp
Ưu điểm:
- Giảm thiểu được lượng khí thải do quá trình đốt sinh ra tại TTYT
- Giảm thiểu được chi phí xử lý nước rỉ rác do quá trình lưu trữ rác thải ra
- Giảm thiểu được chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, mua trang thiết bị
Nhược điểm:
- Bị động trong những trường hợp quá tải vào những thời gian cao điểm
2.3.6 Phương pháp đề xuất một số biện pháp xử lý chất thải rắn tại TTYTDP Lương Sơn
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về tình trạng rác thải, hiện trạng công tác quản
lý rác thải và kết quả đánh giá hiệu quả xử lý rác thải để đưa ra các đề xuất nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của công tác quản lý rác thải tại khu vực nghiên cứu
Trang 22Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM YTDP HUYỆN LƯƠNG SƠN
3.1.1 Vị trí địa lý
TTYT dự phòng huyện Lương Sơn nằm tại tiểu khu 12, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Bệnh viện nằm cách đường quốc lộ 6 khoảng 500m về phía Bắc Ranh giới của trung tâm với các đối tượng xung quanh như sau:
Hiện tại khu vực trung tâm ( bán kính 2km ) không có vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và các khu bảo tồn thiên nhiên khác hay nhà thờ, đền, chùa, miếu mạo; các khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi, giải trí, di sản văn hóa xếp hạng,… Nguồn tiếp nhận nước thải sau xử lý của trung tâm hiện nay là suối Mòng chảy từ xóm Mòng chảy qua địa bàn tiểu khu 12 nằm phía Bắc của trung tâm Suối này làm nhiệm vụ tiêu thoát nước mưa chảy tràn và nước thải sinh hoạt của khu vực
Trang 233.1.2 Điều kiện tự nhiên
Về địa hình, huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng Địa hình đồi núi thấp có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc
Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít
mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm
và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường
Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã.Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu ( bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước
Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt
Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp
Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản
Trang 243.1.3 Cơ sở pháp lý hình thành trung tâm y tế
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015;
Căn cứ Nghih định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về thành lập , tổ chức lại, giả thể đơn vị sự nghiệp công lập;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của
Bộ Y tế,Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Y tế thuộc UBND huyên, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Căn cứ Quyết định số 19/2016/QĐ-UBND ngày 20/5/1016 của UBND tỉnh Hòa Bình ban hành Quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và cán
bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng tỉnh Hòa Bình;
Căn cứ Quyết định số 31/2016/QĐ-UBND ngày 19/7/2016 của UBND tỉnh Hòa Bình ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế Hòa Bình;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tại tờ trình số 90/TTr-SYT ngày 20/9/2016 và ý kiến thẩm định của Giám đốc Sở Nội vụ tại công văn số 2385/SNV-TCBC&TCPCP ngày 01/11/2016;
3.1.1 Chức năng của trung tâm
3.1.4.1Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh
Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú
Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo Quy định của Nhà nước
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và các Ngành
Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định
y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết
Trang 253.1.4.2 Đào tạo cán bộ y tế
Trung tâm là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc đại học và trung học
Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong trung tâm và tuyến dưới nâng cao trình độ chuyên môn
3.1.4.3 Nghiên cứu khoa học về y học và phòng bệnh
Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học ở cấp Nhà nước, cấp
Bộ, hoặc cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu về Y học cổ truyền kết hợp với Y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu lựa chọn ưu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các Ngành
Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện
Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch
3.1.5 Quy mô và cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế
, quy
mô 130 giường bệnh với đội ngũ y bác sỹ , công nhân viên, cán bộ y tế là 101 người Hàng ngày, có hàng trăm lượt bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện, nằm điều trị nội trú có thường xuyên từ 90-150 bệnh nhân TTYT dự phòng huyện Lương Sơn đã đi vào hoạt động ổn định từ năm 2006 đến nay Thời gian hoạt động của bệnh viện là 24h/ ngày, 7 ngày/ tuần,và đủ thời gian hoạt động hành chính trừ ngày
lễ tết được nghỉ theo chế độ của Luật lao động
Cơ cấu tổ chức trung tâm gồm: ban giám đốc, 4 phòng chức năng là: phòng kế hoạch tổng hợp, phòng tài chính hành chính quản trị, phòng tài chính kế toán điều dưỡng và các khoa lâm sàng - cận lâm sàng Hiện tại trung tâm có tổng số 14 phòng khoa, trong đó có 05 khoa lâm sàng, 01 khoa cận lâm sàng, 03 khoa làm công tác dự phòng và 05 phòng
Các hạng mục xây dựng bao gồm các hạng mục chức năng chính như sau:
Trang 26- Khoa khám bệnh – các phòng chức năng:
+ Tầng I: Phòng khám đa khoa, phòng thu viện phí
+ Tầng II: Phòng khám răng –hàm-mặt, TMH và các phòng chức năng
+ Tầng III: Phòng Tài chính-Kế toán
trị nhi Phòng điều trị gồm 1 loại 4 giường Nhà có khu vệ sinh độc lập Mỗi tầng có 2 phòng vệ sinh đảm bảo thuận tiện cho việc sinh hoạt lưu trú của bệnh nhân
Đông y Mỗi tầng có hai nhà vệ sinh riêng biệt đảm bảo thuận tiện cho việc sinh hoạt lưu trú của bệnh nhân
lễ của trung tâm , khối nhà được bố trí cuối hướng gió và trên trục đường gần cổng phụ, thuận lợi cho việc tổ chức tang lễ một cách độc lập, hạn chế được các ảnh hưởng tới các chức năng khác Dây chuyền sử dụng đơn giản với hành lang bên Khối nhà 1 tầng có hình thức kiến trúc đơn giản, dễ hòa nhập với các công trình khác
bằng đơn giản dễ dàng sử dụng Tầng 1 là khoa lây, tầng 2 là khoa lao, sử dụng hành lang chung quanh, cầu thang bộ ở giữa, diện tích phòng bệnh nhân 3 giường là 19m2,
có khu tắm và vệ sinh độc lập thuận tiện cho việc lưu trú dài ngày của bệnh nhân
Trang 27Chụp X_quang kỹ thuật số
3.1.6 Tình hình hoạt động y tế tại trung tâm y tế
Tình hình khám và chữa bệnh tại trung tâm đƣợc trình bày trong bảng 3.1 sau đây:
Bảng 3.1: Thống kê hoạt động y tế trung tâm năm 2015-2016 so với cùng kỳ
năm 2014
Stt Nội dung hoạt động
Số liệu
đã thực hiện
Tỉ lệ % so với KH năm
Tỉ lệ % so với cùng kỳ năm 2014
109,58 93,37 129,41 177,78
Trang 29Nguồn phát sinh và thành phần chất thải tại trung tâm rất đa dạng Nhưng nhìn chung, toàn bộ lượng chất thải y tế tại trung tâm được phát sinh từ các hoạt động khám và chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người thân thăm bệnh và tất
cả các nhân viên, cán bộ y tế Vì vậy, rác thải trung tâm y tế thường phát sinh từ những hoạt động chủ yếu sau:
kim tiêm, dao mổ, phim chụp X-quang, dược phẩm, bệnh phẩm, găng tay cao su, chai lọ…
bệnh nhân, người thăm nuôi như: giấy vụn, vỏ đồ hộp, thức ăn thừa, rau, vỏ trái cây, carton, thủy tinh, gỗ, tro…
Nhìn chung, việc phân loại và xác định nguồn thải của trung tâm tóm tắt như sau:
Bảng 3.2: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải
Loại chất thải rắn Nguồn phát sinh chất thải
nhân viên y tế, căn tin, ở các phòng bệnh… Chất
thải
Lâm sàng
Chất thải không sắc nhọn
Từ quá trình khám chữa bệnh: bông băng hay bất kỳ dụng cụ nào có thấm máu, chất bài tiết của bệnh nhân…
Từ phòng mổ: các cơ quan bộ phận cơ thể bệnh nhân sau khi phẫu thuật, bột bó thấm máu của bệnh nhân…
Vật sắc nhọn Các ống kim tiêm, dây truyền dịch, dao
kéo hay các dụng cụ sắc nhọn sử dụng trong quá trình khám chữa bệnh và trong khi phẫu thuật
Ống đựng mẫu bệnh phẩm Chất thải hóa học nguy hại