Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển với những con số tăng trưởng vô cùng ấn tượng. Theo Tổng cục Du lịch, năm 2018, du lịch Việt Nam tiếp tục giữ được đà tăng trưởng hai con số. Các chỉ tiêu về khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa và tổng thu từ khách du lịch đều tăng trưởng tốt. Việt Nam đón 15.497.791 lượt khách quốc tế, tăng 19,9% so với năm 2017. Lượng khách quốc tế đến từ 10 thị trường nguồn hàng đầu đạt 12.861.000 lượt, chiếm 83% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2018. Khách quốc tế đến Việt Nam trong 3 năm từ 2015 đến 2018 đã tăng trưởng mạnh, năm 2018 lượng khách đến đã tăng gần gấp đôi so với năm 2015. Việt Nam được Tổ chức Du lịch thế giới xếp thứ 310 quốc gia điểm đến có tốc độ tăng trưởng khách quốc tế nhanh nhất thế giới năm 2018, sau khi đã xếp thứ 610 vào năm 2017 . Các địa phương là trung tâm du lịch lớn của cả nước có tốc độ tăng trưởng mạnh như: TP. Hồ Chí Minh đón 36,5 triệu lượt khách, trong đó đạt 7,5 triệu lượt khách quốc tế; Hà Nội đón khoảng 28 triệu lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 5,5 triệu khách quốc tế, Quảng Ninh đón 12,5 triệu lượt khách, trong đó 5,3 triệu lượt khách quốc tế; Đà Nẵng đón 7,7 triệu lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế đạt gần 3 triệu... Nhiều địa phương khác cũng đón lượng khách khá lớn, từ 6 triệu lượt khách trở lên: Khánh Hoà, Hải Phòng, Kiên Giang, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thanh Hoá... Tổng cục Du lịch cho biết, các địa phương tích cực phối hợp, liên kết để tổ chức các hội nghị hợp tác phát triển du lịch, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng bá, xây dựng nhiều sản phẩm du lịch mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm, đem lại những trải nghiệm phong phú cho du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt, năm 2018, du lịch Việt Nam nhận được rất nhiều các giải thưởng danh giá, uy tín trên thế giới, nổi bật nhất là giải thưởng “Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á” tại Lễ trao Giải thưởng Du lịch Thế giới World Travel Awards (WTA) khu vực châu Á và châu Úc. Đồng thời, Việt Nam là “Điểm đến chơi golf hàng đầu châu Á” trong lễ trao giải của Golf World Travel Awards. Tổng thu từ khách du lịch năm 2018 đạt 637 nghìn tỷ đồng (tăng 17,7% so với năm 2017). Trong đó tổng thu từ du lịch quốc tế đạt 383 nghìn tỷ đồng (chiếm 60,1%), tổng thu từ du lịch nội địa đạt 254 nghìn tỷ đồng (chiếm 39,9%). Ngành Du lịch đóng góp trên 8,4% vào GDP cả nước; tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm, trong đó có hơn 900 nghìn việc làm trực tiếp. Chất lượng dịch vụ du lịch cải thiện đáng kể. Sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước tiếp tục làm thay đổi chất lượng hạ tầng dịch vụ du lịch, góp phần hình thành nhiều khu du lịch khép kín, đẳng cấp quốc tế. Một số doanh nghiệp du lịch bước đầu thành lập các hãng hàng không đã tạo sự liên kết, phát triển mạnh mẽ giữa du lịch hàng không. Nhiều khu nghỉ dưỡng, khách sạn, điểm đến liên tiếp lọt vào danh sách điểm đến hấp dẫn nhất thế giới do các hãng thông tấn và tạp chí uy tín quốc tế bình chọn. Hạ tầng du lịch được cải thiện, chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng được đầu tư và nâng cao. Công tác đảm bảo môi trường du lịch được thường xuyên kiểm tra, giám sát,… Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã đánh giá: Sự phát triển của du lịch Việt Nam trong những năm gần đây là “câu chuyện thần kỳ”. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển của ngành du lịch. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch), mỗi năm ngành du lịch cần thêm gần 40.000 lao động nhưng lượng sinh viên, học viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 ngườinăm. Trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Trong 1,3 triệu lao động du lịch của cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% đào tạo từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy. Nhiều địa phương, doanh nghiệp du lịch cũng cho biết du lịch đang thiếu trầm trọng nhân lực và bày tỏ lo ngại nếu không nhanh chóng cải thiện, nhân sự sẽ trở thành nút thắt lớn của ngành du lịch trong quá trình phát triển sắp tới. Mặc dù là địa phương chiếm tới 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam nhưng nhân lực ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh có sự lệch pha mạnh giữa cung – cầu. Ông Vũ cho hay tại Thành phố Hồ Chí Minh có đến 63 đơn vị đào tạo các ngành nghề về du lịch (tăng đều qua các năm), trong đó 18 đại học có đào tạo ngành du lịch, 21 cao đẳngcao đẳng nghề và 24 trung cấp nghềtrung học chuyên nghiệp. Thế nhưng số sinh viên, học viên tốt nghiệp vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 60% so với nhu cầu. Đó là chưa tính đến nguồn nhân lực ở các vị trí lao động gián tiếp, đặc biệt ở các vị trí quản lý. Không chỉ thiếu, nhân lực ngành du lịch còn bị đánh giá yếu về chuyên môn. Theo thông tin từ Tổng cục Du lịch, năng suất lao động ngành du lịch Việt Nam thuộc hạng thấp nhất trong khu vực, đạt 3.477 USDnămngười, chưa bằng 12 lần so với Thái Lan và chỉ bằng 115 so với Singapore. Chủ tịch HĐQT Công ty du lịch Vietravel Nguyễn Quốc Kỳ đánh giá nguồn nhân lực hiện nay còn yếu về kỹ năng, ngoại ngữ và trình độ mà cốt lõi là vấn đề đào tạo. Phần lớn các công ty lữ hành khi tuyển dụng hầu như phải đào tạo lại ít nhất 6 tháng, muốn đào tạo lành nghề phải mất 12 tháng. Công tác đào tạo hiện nay chủ yếu đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường mà chưa theo quy chuẩn chung của tiêu chuẩn nghề du lịch đã được ban hành. Chỉ có 8500 chương trình đào tạo liên kết nước ngoài liên quan đến du lịch. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo chưa sát với thực tế, còn nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành. Xuất phát từ nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng được sự phát triển không ngừng của lĩnh vực du lịch Việt Nam trong những giai đoạn sắp tới, ngày 20102017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn số 4929BGDĐT GDĐH về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành về du lịch. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các đại học, học viện, các trường đại học có đào tạo các ngành về du lịch (gọi chung là cơ sở đào tạo) khẩn trương triển khai xây dựng Đề án áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực du lịch trình độ đại học. Cụ thể, Bộ quy định về những ngành được áp dụng cơ chế đặc thù; các chương trình, nội dung, hình thức đào tạo; cơ chế, chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực du lịch; việc hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và hoạt động hỗ trợ đào tạo nhân lực du lịch. Trong đó, “việc hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp” theo tôi là một hướng đi vô cùng đúng đắn và mang tính chiến lược, đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch và thực tế đào tạo tại các trường đại học tại Việt Nam. Với những luận điểm nêu trên, tôi chọn đề tài “Những giải pháp mang lại hiệu quả trong hoạt động liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình.
Trang 1Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thu Hòa
Mã bổ sung kiến thức : GECO110
TP Hồ Chí Minh, 2021
Trang 2Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thu Hòa
Mã bổ sung kiến thức : GECO110
TP Hồ Chí Minh, 2021
Trang 4Nhân đây, tôi xin được gửi lời chân thành nhất của mình đến với những cá nhân,đơn vị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình hoàn thành tốt họcphần của mình, đó là:
1 Ban Giám hiệu trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh
2 Ban Lãnh đạo Viện Đào tạo Sau Đại học, trường ĐH Công nghệ Tp HCM
3 Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thu Hòa
Tôi sẽ luôn nhớ mãi những sự giúp đỡ chân thành của các cá nhân, đơn vị và tựhứa sẽ luôn cố gắng, nỗ lực hết mình trong quá trình công tác sau này Cuối cùng, tôixin được gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến với các cá nhân, đơn vị
Thân ái!
Học viên thực hiện
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài tiểu luận này là do chính chúng tôi thực hiện Các sốliệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài tiểu luận là trung thực, không sao chép
từ bất cứ đề tài tiểu luận nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 4 năm 2021
Học viên thực hiện
(Kí và ghi họ tên)
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm ……
Giảng viên hướng dẫn (Kí và ghi họ tên)
PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU
Trang 71 Lí do chọn đề tài:
Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển với nhữngcon số tăng trưởng vô cùng ấn tượng Theo Tổng cục Du lịch, năm 2018, du lịch ViệtNam tiếp tục giữ được đà tăng trưởng hai con số
Các chỉ tiêu về khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa và tổng thu từ khách
du lịch đều tăng trưởng tốt Việt Nam đón 15.497.791 lượt khách quốc tế, tăng 19,9%
so với năm 2017 Lượng khách quốc tế đến từ 10 thị trường nguồn hàng đầu đạt12.861.000 lượt, chiếm 83% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2018.Khách quốc tế đến Việt Nam trong 3 năm từ 2015 đến 2018 đã tăng trưởng mạnh, năm
2018 lượng khách đến đã tăng gần gấp đôi so với năm 2015 Việt Nam được Tổ chức
Du lịch thế giới xếp thứ 3/10 quốc gia điểm đến có tốc độ tăng trưởng khách quốc tếnhanh nhất thế giới năm 2018, sau khi đã xếp thứ 6/10 vào năm 20171
Các địa phương là trung tâm du lịch lớn của cả nước có tốc độ tăng trưởng mạnhnhư: TP Hồ Chí Minh đón 36,5 triệu lượt khách, trong đó đạt 7,5 triệu lượt kháchquốc tế; Hà Nội đón khoảng 28 triệu lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 5,5 triệukhách quốc tế, Quảng Ninh đón 12,5 triệu lượt khách, trong đó 5,3 triệu lượt kháchquốc tế; Đà Nẵng đón 7,7 triệu lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế đạt gần 3triệu Nhiều địa phương khác cũng đón lượng khách khá lớn, từ 6 triệu lượt khách trởlên: Khánh Hoà, Hải Phòng, Kiên Giang, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thanh Hoá
Tổng cục Du lịch cho biết, các địa phương tích cực phối hợp, liên kết để tổ chứccác hội nghị hợp tác phát triển du lịch, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng bá, xâydựng nhiều sản phẩm du lịch mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm, đem lại những trảinghiệm phong phú cho du khách trong và ngoài nước
Đặc biệt, năm 2018, du lịch Việt Nam nhận được rất nhiều các giải thưởng danh
giá, uy tín trên thế giới, nổi bật nhất là giải thưởng “Điểm đến du lịch hàng đầu châu
Á” tại Lễ trao Giải thưởng Du lịch Thế giới - World Travel Awards (WTA) khu vực
châu Á và châu Úc Đồng thời, Việt Nam là “Điểm đến chơi golf hàng đầu châu Á”
trong lễ trao giải của Golf World Travel Awards
1 Theo Số liệu Thống kê của Tổng cục Du lịch năm 2018.
Trang 8Tổng thu từ khách du lịch năm 2018 đạt 637 nghìn tỷ đồng (tăng 17,7% so vớinăm 2017) Trong đó tổng thu từ du lịch quốc tế đạt 383 nghìn tỷ đồng (chiếm 60,1%),tổng thu từ du lịch nội địa đạt 254 nghìn tỷ đồng (chiếm 39,9%) Ngành Du lịch đónggóp trên 8,4% vào GDP cả nước; tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm, trong đó có hơn 900nghìn việc làm trực tiếp
Chất lượng dịch vụ du lịch cải thiện đáng kể Sự tham gia của nhiều nhà đầu tưlớn trong và ngoài nước tiếp tục làm thay đổi chất lượng hạ tầng dịch vụ du lịch, gópphần hình thành nhiều khu du lịch khép kín, đẳng cấp quốc tế
Một số doanh nghiệp du lịch bước đầu thành lập các hãng hàng không đã tạo sựliên kết, phát triển mạnh mẽ giữa du lịch - hàng không Nhiều khu nghỉ dưỡng, kháchsạn, điểm đến liên tiếp lọt vào danh sách điểm đến hấp dẫn nhất thế giới do các hãngthông tấn và tạp chí uy tín quốc tế bình chọn Hạ tầng du lịch được cải thiện, chấtlượng dịch vụ du lịch ngày càng được đầu tư và nâng cao Công tác đảm bảo môitrường du lịch được thường xuyên kiểm tra, giám sát,… Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã đánh giá: Sự phát triển của du lịch Việt Nam
trong những năm gần đây là “câu chuyện thần kỳ”
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của sựphát triển của ngành du lịch Theo thống kê của Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa - Thểthao và Du lịch), mỗi năm ngành du lịch cần thêm gần 40.000 lao động nhưng lượngsinh viên, học viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 người/năm Trong đóchỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên Trong 1,3 triệu lao động du lịch của
cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% đào tạo từ các ngành khác chuyểnsang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy Nhiều địa phương, doanh nghiệp dulịch cũng cho biết du lịch đang thiếu trầm trọng nhân lực và bày tỏ lo ngại nếu khôngnhanh chóng cải thiện, nhân sự sẽ trở thành nút thắt lớn của ngành du lịch trong quátrình phát triển sắp tới
Mặc dù là địa phương chiếm tới 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam nhưngnhân lực ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh có sự lệch pha mạnh giữa cung – cầu.Ông Vũ cho hay tại Thành phố Hồ Chí Minh có đến 63 đơn vị đào tạo các ngành nghề
về du lịch (tăng đều qua các năm), trong đó 18 đại học có đào tạo ngành du lịch, 21
Trang 9cao đẳng/cao đẳng nghề và 24 trung cấp nghề/trung học chuyên nghiệp Thế nhưng sốsinh viên, học viên tốt nghiệp vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 60% so với nhu cầu Đó làchưa tính đến nguồn nhân lực ở các vị trí lao động gián tiếp, đặc biệt ở các vị trí quảnlý.
Không chỉ thiếu, nhân lực ngành du lịch còn bị đánh giá yếu về chuyên môn.Theo thông tin từ Tổng cục Du lịch, năng suất lao động ngành du lịch Việt Nam thuộchạng thấp nhất trong khu vực, đạt 3.477 USD/năm/người, chưa bằng 1/2 lần so vớiThái Lan và chỉ bằng 1/15 so với Singapore Chủ tịch HĐQT Công ty du lịch VietravelNguyễn Quốc Kỳ đánh giá nguồn nhân lực hiện nay còn yếu về kỹ năng, ngoại ngữ vàtrình độ mà cốt lõi là vấn đề đào tạo Phần lớn các công ty lữ hành khi tuyển dụng hầunhư phải đào tạo lại ít nhất 6 tháng, muốn đào tạo lành nghề phải mất 12 tháng Côngtác đào tạo hiện nay chủ yếu đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường mà chưa theo quychuẩn chung của tiêu chuẩn nghề du lịch đã được ban hành Chỉ có 8/500 chương trìnhđào tạo liên kết nước ngoài liên quan đến du lịch Bên cạnh đó, các chương trình đàotạo chưa sát với thực tế, còn nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành
Xuất phát từ nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng được sự phát triểnkhông ngừng của lĩnh vực du lịch Việt Nam trong những giai đoạn sắp tới, ngày20/10/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn số 4929/BGDĐT- GDĐH vềviệc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành về du lịch
Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các đại học, học viện, các trường đạihọc có đào tạo các ngành về du lịch (gọi chung là cơ sở đào tạo) khẩn trương triển khaixây dựng Đề án áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực du lịch trình độ đại học Cụthể, Bộ quy định về những ngành được áp dụng cơ chế đặc thù; các chương trình, nộidung, hình thức đào tạo; cơ chế, chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực du lịch; việc hợptác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và hoạt động hỗ
trợ đào tạo nhân lực du lịch Trong đó, “việc hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với
doanh nghiệp” theo tôi là một hướng đi vô cùng đúng đắn và mang tính chiến lược,
đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch và thực tế đào tạo tại các trường đạihọc tại Việt Nam
Trang 10Với những luận điểm nêu trên, tôi chọn đề tài “Những giải pháp mang lại hiệu
quả trong hoạt động liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục đích nghiên cứu:
Từ những đánh giá, phân tích nhu cầu liên kết đào tạo của doanh nghiệp du lịch
và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam, tôi sẽ tìm ra những điểm chunggiữa hai bên nhằm đưa ra những giải pháp mang lại hiệu quả trong hoạt động liên kếtđào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch được thực hiện mộtcách hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân sự của ngành du lịchViệt Nam trong giai đoạn phát triển sắp tới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
+ Khách thể nghiên cứu: Mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sởđào tạo; nhu cầu liên kết đào tạo của doanh nghiệp du lịch Việt Nam; nhu cầu liên kếtđào tạo của cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch Việt Nam
+ Đối tượng nghiên cứu: Những giải pháp mang lại hiệu quả trong hoạt động liênkết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại ViệtNam
4 Giả thuyết khoa học:
Hầu hết các doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại ViệtNam đều nhận thức rõ vai trò của việc liên kết đào tạo giữa hai bên Tuy nhiên, dochưa hiểu rõ được mô hình liên kết đào tạo, chưa khai thác đầy đủ những vai trò, tiềmnăng nội tại của mình và chưa tìm được những điểm chung trong nhu cầu của nhau vềvấn đề liên kết đào tạo nên hiệu quả hợp tác ban đầu chưa đạt được mục tiêu nhưmong muốn
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý luận về
mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo
Nghiên cứu nhu cầu liên kết đào tạo của doanh nghiệp du lịch và cơ sở giáo dụcđào tạo ngành du lịch Việt Nam để tìm ra những điểm chung nhằm đưa ra những giảipháp góp phần mang đến hiệu quả cho hoạt động liên kết đào tạo giữa hai bên
6 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Trong phạm vi các doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại họcngành du lịch tại Việt Nam
+ Thời gian: Trong vòng 10 năm, kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2018
7 Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm có được những nguồn thông tin, tư liệu hữu ích để hoàn thành bài tiểu luậnnày, phương pháp chủ yếu mà tôi sử dụng cho đề tài là:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ
sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa thông tin thu được để làm sáng
tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm, công cụ của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp chuyên gia: Tập hợp những ý kiến từ các chuyên gia trong cáclĩnh vực có liên quan nhằm hoàn thiện những nội dung trong đề tài nghiên cứu
8 Đóng góp của đề tài:
Đề tài này có ý nghĩa nhất định trong việc khẳng định vai trò, tầm quan trọng củavấn đề liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành dulịch tại Việt Nam, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phát triển chất lượng
Trang 12nguồn nhân lực, khắc phục những mặt còn hạn chế, đáp ứng được yêu cầu phát triểnkhông ngừng của ngành du lịch trong giai đoạn phát triển sắp tới.
Ngoài ra, đề tài này còn là nguồn tài liệu quan trọng trong việc củng cố nguồnthông tin, kiến thức cho các đề tài nghiên cứu khác với quy mô rộng hơn và cụ thểhơn
9 Cấu trúc của đề tài:
Gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ CƠ SỞĐÀO TẠO ĐẠI HỌC:
1.1 Liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học là gì?
1.2 Các mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học phổbiến
CHƯƠNG 2 NHU CẦU LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCHVIỆT NAM:
2.1 Thống kê số lượng các doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam và Thành phố HồChí Minh
2.2 Phân tích, đánh giá nhu cầu liên kết đào tạo của doanh nghiệp du lịch tại ViệtNam
CHƯƠNG 3 NHU CẦU LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌCNGÀNH DU LỊCH:
3.1 Thống kê số lượng các cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam vàThành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phân tích, đánh giá nhu cầu liên kết đào tạo của cơ sở đào tạo đại học ngành
du lịch tại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 4 NHỮNG GIẢI PHÁP MANG LẠI HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNGLIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÀ CƠ SỞ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH TẠI VIỆT NAM.
4.1 Những điểm chung trong nhu cầu liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch
và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam
4.2 Những giải pháp mang lại hiệu quả trong hoạt động liên kết đào tạo giữadoanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam
Trang 14MỤC LỤC
PHẦN 2 NỘI DUNG trang 1 CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ
CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC trang 1
1.1 Liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học là gì? trang 1
1.2 Các mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học phổ biến trang 4
CHƯƠNG 2 NHU CẦU LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM trang 9
2.1 Thống kê số lượng các doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam và Thành phố Hồ ChíMinh trang 92.2 Phân tích, đánh giá nhu cầu liên kết đào tạo của doanh nghiệp du lịch tại ViệtNam trang 12
CHƯƠNG 3 NHU CẦU LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH trang 18
3.1 Thống kê số lượng các cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam và Thànhphố Hồ Chí Minh trang 183.2 Phân tích, đánh giá nhu cầu liên kết đào tạo của cơ sở đào tạo đại học ngành dulịch tại Việt Nam trang 21
CHƯƠNG 4 NHỮNG GIẢI PHÁP MANG LẠI HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÀ CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH TẠI VIỆT NAM trang 26
Trang 154.1 Những điểm chung trong nhu cầu liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp du lịch và cơ
sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam trang 264.2 Những giải pháp mang lại hiệu quả trong hoạt động liên kết đào tạo giữa doanhnghiệp du lịch và cơ sở đào tạo đại học ngành du lịch tại Việt Nam trang 28
PHẦN 3 KẾT LUẬN trang 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 34
Trang 17PHẦN 2 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ
CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC:
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, trong bối cảnh toàncầu hóa và cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạođại học ngày càng có vai trò quan trọng Mối liên kết này là cơ sở để phát huy tiềmnăng và thế mạnh của mỗi bên, nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng trithức cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức Liên kết giữa doanh nghiệp và cơ
sở đào tạo đại học cũng là một trong những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượngnguồn nhân lực – nhân tố hiện nay được nhiều ngừi cho rằng có tính chất quyết địnhđối với việc nâng cao năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự pháttriển bền vững cho các doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế Nhiều nước phát triển vàmột số nước đang phát triển đã rất thành công trong việc xây dựng các mô hình liênkết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học Đó là những kinh nghiệm quý báu cóthể tham khảo để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Ở Việt Nam, chủ trương gắn kết các trường đại học và Viện nghiên cứu với cácnhà máy, xí nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh đã được đặt ra từ những ngày đầuxây dựng hệ thống giáo dục đại học Sự gắn kết này ngày càng trở nên quan trọng khinền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, tham gia vào quátrình mở cửa hội nhập Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện trên thực tế lại chậm chạp,thiếu đồng bộ và hiệu quả còn hạn chế
1.1 Liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học là gì?
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Đào tạo là quá trình tác động đến một người
nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình cho việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người" Mô hình đào tạo liên kết giữa cơ sở giáo dục và
Trang 18doanh nghiệp được đề xướng bởi nhà triết học Đức Willhelm Humboldt Theo ông,trường đại học ngoài chức năng đào tạo phải có chức năng nghiên cứu và hợp tác vớicác ngành công nghiệp.
Theo quan niệm hiện nay, liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại họcđược hiểu là tất cả các hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, có tính chất cá nhânhay tổ chức giữa cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi íchcủa cả hai phía và lợi ích của cộng đồng Liên kết này được thể hiện dưới các hìnhthức và cấp độ khác nhau1:
+ Hợp tác trong nghiên cứu và phát triển dưới dạng hợp đồng, xây dựng phòngthí nghiệm liên kết, công viên khoa học,…
+ Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, quảng bá sản phẩm, thương hiệu;+ Trao đổi sinh viên, giảng viên và các chuyên gia đang làm việc tại doanhnghiệp;
+ Phối hợp xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo;
+ Tiếp nhận sinh viên thực tập và tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp;
+ Hỗ trợ tài chính, trang thiết bị, tài liệu;
+ Tổ chức việc học tập suốt đời;
+ Thúc đẩy tinh thần sáng nghiệp và hỗ trợ các hoạt động lập nghiệp;
+ Các dạng trao đổi thông tin khác
Trong hoạt động liên kết này, cơ sở đào tạo đại học với vai trò truyền thống là
nơi sáng tạo và truyền bá kiến thức, là nguồn “cung” nhân lực trình độ cao cho các
doanh nghiệp và đồng thời cũng là nơi nhận đặt hàng, nhận hỗ trợ tài chính và các hìnhthức hỗ trợ khác từ phía doanh nghiệp Còn doanh nghiệp, với tư cách là khách hànglớn và thường xuyên của cơ sở đào tạo đại học, vừa là nơi cung cấp tài chính, vừa là
11 Brimble Peter (2004), “University – Industry Linkages: Key to Competitiveness and Higher education survival
in the 21 st century”, Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam – Hội nhập và thách thức”, Bộ Giáo
dục và Đào tạo, 3/2004, tr.352-372.
Phạm Thị Ly (2012), “Về hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp (Tổng thuật các tài liệu của Trung tâm
nghiên cứu tiếp thị khoa học với doanh nghiệp Đức)”, Thông tin Giáo dục quốc tế, số 8+9/2012, Đại học Quốc
gia Tp.HCM, tr.4-13.
Trang 19đòn bẩy kích thích sáng tạo, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao côngnghệ, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
Thông thường, người ta phân các hoạt động liên kết thành hai nhóm chính là liênkết về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ (gọi chung là liên kết về nghiên cứu) và
liên kết về đào tạo (hay “liên kết đào tạo”) Một số tác giả tác riêng hoạt động liên kết
về tư vấn và dịch vụ thành một nhóm riêng Tỷ trọng giữa hai nhóm đào tạo và nghiêncứu có thể khác nhau, tùy thuộc vào trình độ phát triển chung ở mỗi quốc gia, vào mốiquan tâm và năng lực thực tế của từng cơ sở đào tạo đại học, từng doanh nghiệp Tuynhiên, hai lĩnh vực hợp tác này luôn đi song hành với nhau, hỗ trợ lẫn nhau Khi hợptác với các cơ sở đào tạo đại học, các doanh nghiệp đều quan tâm đến cả hai lĩnh vựcnày1 Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa liên kết doanh nghiệp với cơ sở đào tạo đạihọc với liên kết của các cơ sở đào tạo ở các trình độ thấp hơn như dạy nghề, trung cấphay cao đẳng
Ở các nước phát triển và ở một số cơ sở đào tạo đại học thuộc các nước đangcông nghiệp hóa mạnh như Trung Quốc, Malaysia,… hợp tác nghiên cứu thườngchiếm tỷ trọng lớn và đối tác chủ yếu của cơ sở đào tạo đại học là giới công nghiệp.Theo số liệu của Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, tổng ngân sách hợptác giữa cơ sở đào tạo đại học với giới công nghiệp trong năm 2006 là 3.785 tỷ won,trong đó phần dành cho nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ chiếm đến 60%,phần dành cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là 21,6%, phần còn lại dành cho
cơ sở hạ tầng và các hoạt động hỗ trợ khác Hợp tác nghiên cứu mang lại cho các cơ sởđào tạo đại học nguồn kinh phí đáng kể để tăng thêm tiềm lực khoa học công nghệ vànâng cao chất lượng đào tạo Trừ một số trường hợp ngoại lệ, thông thường những cơ
sở đào tạo đại học mạnh về nghiên cứu và chuyên giao công nghệ đều là những cơ sởđào tạo đại học với chất lượng cao và ngược lại Doanh nghiệp hợp tác với các cơ sởđào tạo đại học này cũng nhanh chóng có được kết quả nghiên cứu và chuyển giaocông nghệ có hàm lượng chất xám cao và có giá trị thương mại lớn Ở đây, cơ chế vàphương thức hợp tác cũng được nâng lên ở trình độ cao hơn, với sự ra đời của cácphòng thí nghiệm liên kết, công viên khoa học, vườn ươm công nghệ,…
1 Trần Văn Tài và Trần Văn Tùng (2009), “Liên kết giữa trường học và doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo
và nghiên cứu”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 20Đối với các nước chậm phát triển và một số nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam, tỷ trọng hợp tác nghiên cứu trong liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ
sở đào tạo đại học thường rất thấp Hai bên thường tập trung vào hợp tác về đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp Hiện nay, việc hợp tác nàyvẫn mang tính phổ quát và dễ thực hiện hơn, lợi ích mà nó mang lại cũng dễ thấy hơn:doanh nghiệp có được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của mình mà không phảitốn (hoặc chỉ tốn ít) chi phí để đào tạo hay đào tạo lại Cơ sở đào tạo đại học có được
nguồn “cầu” lớn và ổn định, đồng thời còn nhận được những hỗ trợ “hữu hình” (kinh phí, trang thiết bị, học bổng,…) và “vô hình” từ phía doanh nghiệp (ý kiến đóng góp
về nội dung, chương trình đạo tạo, thông tin về nhu cầu nhân lực, địa bàn thực tập chosinh viên,…) Trong nhiều trường hợp, hợp tác về đào tạo là cơ sở ban đầu cho hợp tác
về nghiên cứu và làm tăng hiệu quả của hợp tác này
Gần đây, ở một số nước đã xuất hiện một hình thức liên kết mới giữa cơ sở đào
tạo đại học và doanh nghiệp, đó là sự ra đời của các “đại học doanh nghiệp” (entrepreneurial university) – một loại hình đại học “phi truyền thống” – với mục đích
tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và việc làm Các cơ sở đào tạo đạihọc này chú trọng nhiều hơn đến việc đào tạo các kỹ năng, quốc tế hóa nội dung,chương trình đào tạo, phối hợp với doanh nghiệp để thương mại hóa cac sản phẩmnghiên cứu của mình nhằm đạt được những vấn đề mới trong mục tiêu và sứ mệnh củagiáo dục đại học, về cơ cấu tổ chức và quản trị đại học cũng như phương thức huyđộng các nguồn đầu tư Tuy nhiên, ý kiến của các chuyên gia, của giới đại học về môhình này hiện đang còn rất khác nhau và tương lai phát triển của nó đang còn là mộtvấn đề bỏ ngỏ
1.2 Các mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học phổbiến:
Trong liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học, Nhà nước đóng vaitrò đặc biệt quan trọng Thông qua cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức, Nhà nước tạo
ra môi trường hoạt động và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đạihọc Vì vậy, thực chất đây là mối liên kết giữa ba bên: Cơ sở đào tạo đại học – Nhà
Trang 21nước – Doanh nghiệp Theo Elzkowitz và Leydesdorff, hiện có 3 loại mô hình liên kếtphản ánh mối quan hệ ba bên với tên gọi chung là các dạng mô hình liên kết ba vòngxoắn (Triple Helix Model)1.
Hình 1.1 Các dạng mô hình liên kết Cơ sở đào tạo đại học –
Nhà nước – Doanh nghiệp
Mô hình 1 – mô hình tương tác phụ thuộc, hay còn gọi là mô hình kiểu Nhà nước(Etastistic Model), trong đó Nhà nước chi phối hầu hết các hoạt động của cơ sở đào tạođại học và doanh nghiệp Cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp rất ít khi chủ độngtìm đến nhau, hợp tác với nhau Bản thân cơ sở đào tạo đại học cũng chỉ tập trung đếnđào tạo là chính và chưa quan tâm nhiều đến việc sản phẩm do mình tạo đào tạo ra sẽđược sử dụng như thế nào, có được xã hội chấp nhận hay không Đây là mô hình đặctrưng cho các nước chậm phát triển và các nước có nền kinh tế tập trung, bao cấp nhưLiên Xô (cũ), các nước Đông Âu trước đây và Việt Nam ở giai đoạn đầu của sự pháttriển
Mô hình 2 – mô hình tam giác, hay còn gọi là mô hình tương tác tự do faire Model), đặc trưng cho phần lớn các nước đang phát triển Trong mô hình này, đã
(Laissez-có sự tách biệt ở các mức độ khác nhau giữa các chủ thể tham gia vào liên kết, tạo ra
sự lưu thông trong toàn bộ hệ thống Tuy nhiên, các hình thức liên kết vẫn còn ở mứcthấp và hiệu quả liên kết chưa cao
Mô hình 3 (mô hình 3 vòng xoắn) là mô hình liên kết ở các nước phát triển Một
số nước cũng đang hướng đến mô hình này Ở đây, Nhà nước không chỉ giảm hẳn sự
1 Elzkowitz H & Leydesdorff (2000), “The dynamics of innovation: from national systems and “Mode 2” to a
triple helix of academic-industry-government relations”, Research Policy, No.26, pp.109 – 123.
Trang 22quan lieu trong việc hoạch định chính sách và sự điều hành bằng mệnh lệnh hànhchính mà đã thâm nhập vào và cùng sẻ chia trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể với
cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp Các chính sách được đưa ra hợp lý, kịp thời,tạo động lực mạnh mẽ và môi trường thuận lợi cho sự hợp tác Còn bản thân cơ sở đàotạo đại học và doanh nghiệp thì có lợi ích gắn bó với nhau lâu dài, có đủ năng lực và
sự tin cậy để liên kết với nhau Đây là cơ sở để tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia vàxây dựng nền kinh tế tri thức
Như vậy, có thể phác họa tóm tắt mối liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạođại học một cách đầy đủ theo sơ đồ khối trình bày trong hình 2
Hình 1.2 Tóm tắt mối liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học
Các kết quả nghiên cứu và thực tế cho thấy có những khó khăn, rào cản đến từcác bên: hạn chế về nhận thức, thông tin, sự hiểu biết và niềm tin; hạn chế về nguồnlực triển khai, đặc biệt là vốn đầu tư ban đầu cho các hợp tác; cơ chế và quy trình trongphối hợp của các bên Ngoài ra, các rào cản còn do khung pháp lý và các chính sáchliên quan của chính phủ thiếu đồng bộ, chưa khuyến khích các hoạt động hợp tác
Trang 23Chính vì thế, cần thiết phải chỉ rõ vai trò của các bên: Nhà nước, cơ sở đào tạo đại học
và doanh nghiệp trong mối quan hệ hợp tác này
+ Vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp:
Từ những năm 1990, Chính phủ Anh đã bắt đầu có những bước đi thiết thực nhằmkhuyến khích sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp bằng việc thànhlập cơ quan chuyên trách về sáng tạo, đại học và phát triển, các tổ chức như quỹ đổimới giáo dục đại học và các hội đồng về nghiên cứu để hỗ trợ về vốn và cơ chế chocác hoạt động này Chính phủ Singapore đã chủ động đưa ra các chính sách, cơ chếquản lý thiết thực từ việc xây dựng văn hóa tương tác giữa cơ sở đào tạo đại học –doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp trong cơ sở đào tạođại học bắt đầu từ những năm 1990 và từ hai trường đại học đứng đầu châu Á là Đạihọc Quốc gia Singapore và Đại học Kỹ thuật Na Yang Ở Nhật Bản, Toyota đã thànhlập Học viện Toyota từ những năm 1938 để đào tạo lao động cho chính tập đoàn vàthúc đẩy đổi mới sáng tạo
Ở Thụy Sỹ, ngay từ năm 1956, phòng thí nghiệm Zurich đã được thành lập, trựctiếp tổ chức và tham gia vào rất nhiều dự án hợp tác với các cơ sở giáo dục đại họctrong toàn châu Âu Năm 2011, IBM cùng Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ đã
thành lập Trung tâm “Binnig and Rohrer Nanotechnology” với mục tiêu nghiên cứu
về cấu trúc Nano để phát triển công nghệ năng lượng và công nghệ thông tin Ngoài ra,một số quốc gia ở châu Âu được xem như là những quốc gia đi đầu trong việc tạo ra
cơ chế, môi trường thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học đểđào tạo sinh viên Trong mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh
nghiệp, Nhà nước đóng vai trò tạo ra “luật chơi”, tạo ra môi trường thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự hợp tác này
+ Vai trò của doanh nghiệp trong mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học
và doanh nghiệp: Các doanh nghiệp có vai trò quyết định trong tạo lập các liên kết vàđưa các hoạt động hợp tác cụ thể từ liên kết đó vào thực tiễn hoạt động Doanh nghiệp
là nơi tạo ra điều kiện để người học có thể thực hiện “học đi đôi với hành”, đó là môi
trường lý tưởng để sinh viên đại học có thể làm quen với công việc và áp dụng nhữngkiến thức đã học khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường Do đó, doanh nghiệp có vai
Trang 24trò rất lớn trong xây dựng các chính sách, tiến hành các biện pháp thích hợp trong triểnkhai các mục tiêu của các liên kết Ngoài ra, trong một số tình huống, doanh nghiệp cóthể làm thay đổi chính sách, chương trình, phương pháp đào tạo của nhà trường donhững thay đổi của nhu cầu thị trường lao động.
+ Vai trò của cơ sở đào tạo đại học trong mối quan hệ hợp tác giữa đại học vàdoanh nghiệp: Sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trường lao động đã gây sức épbuộc các cơ sở đào tạo đại học phải thay đổi từ nội dung, phương pháp, hình thức đàotạo đến các thức quản trị đại học Các cách thức dạy học truyền thống đang thay đổimạnh mẽ để đào tạo sinh viên đáp ứng đúng nhu cầu xã hội Ngoài mục tiêu đào tạonguồn nhân lực cho đất nước thì một lĩnh vực khác vô cùng quan trọng của cơ sở đàotạo đại học là nghiên cứu khoa học, tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học của trường cầnphải được thương mại hóa để ứng dụng ra xã hội Khi đó, vai trò của các cơ sở đào tạođại học ngày càng trở nên quan trọng trong việc kết nối với doanh nghiệp hoặc thậmchí, họ sẽ thành lập các doanh nghiệp thuộc trường để cụ thể hóa các mục tiêu này.Ngoài ra, cơ sở đào tạo đại học còn tham gia tư vấn chiến lược, tư vấn quản lý, xâydựng chính sách,… để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và hiệu quả của sự hợptác giữa cơ sở đào tạo đại học – doanh nghiệp
Như vậy, mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học đãđược phát triển từ rất sớm ở các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản, Singapore vàcác nước ở châu Âu Trong mô hình liên kết đào tạo này, vai trò nòng cốt và mang tínhquyết định thuộc về các cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp Tuy nhiên, mô hìnhliên kết đó sẽ khó có thể được hình thành, được thúc đẩy thực hiện và mang lại hiệu
quả tốt nếu thiếu đi cả vai trò của Nhà nước, Nhà nước đóng vai trò tạo ra “luật chơi”,
tạo ra môi trường thúc đẩy hoặc kìm hãm sự hợp tác này Hiểu được vai trò của từngchủ thể trong mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đại học sẽgiúp những nhà hoạch định chính sách, đội ngũ lãnh đạo và quản lý giáo dục có thểđưa ra những giải pháp mang tính chiến lược, thiết thực và đúng đắn nhằm thực hiệnviệc liên kết đào tạo mang lại hiệu quả tốt
Trang 25CHƯƠNG 2 NHU CẦU LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM:
Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), một tổ chức thuộc Liên Hiệp quốc, đưa ra
định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm
trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Khoản 1, Điều 4)
2.1 Thống kê số lượng các doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam và Thành phố Hồ ChíMinh:
Năm 2018, ngành du lịch đã có những bước tăng trưởng vượt bậc, đóng góp vào
sự tăng trưởng chung của đất nước Các thành phần trong kinh doanh du lịch được quyđịnh tại Chương V, Luật Du lịch số 09/2017/QH ban hành ngày 19/06/2017, bao gồmkinh doanh dịch vụ lữ hành, kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch, doanh nghiệp kinhdoanh vận tải khách du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch khác (bao gồm dịch vụ ănuống; dịch vụ mua sắm; dịch vụ thể thao; dịch vụ vui chơi, giải trí; dịch vụ chăm sócsức khỏe; dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch) Dưới đây là một số thống kêcủa năm 2018 về số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành và số cơ sở lưu trú tạiViệt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh
Trong kinh doanh dịch vụ lữ hành có:
+ Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phục vụ khách du lịch nội địa
+ Kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến ViệtNam và khách du lịch ra nước ngoài