1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận tại ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

86 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 901,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (15)
  • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (15)
  • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
  • 1.6 Những đóng góp chủ yếu của đề tài (16)
  • 1.7 Kết cấu của đề tài (16)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1 Các khái niệm (18)
      • 2.1.1 Hành vi quản trị lợi nhuận (18)
      • 2.1.2 Các chỉ số tài chính (20)
    • 2.2 Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận (21)
      • 2.2.1 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận (21)
      • 2.2.2 Các thủ thuật quản trị lợi nhuận trong kế toán (22)
    • 2.3 Các lý thuyết nền tảng (27)
      • 2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) (27)
      • 2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmestry Information theory) (28)
      • 2.3.3 Lý thuyết kế toán thực chứng (Possitive Accounting theory) (29)
    • 2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan (30)
      • 2.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới (30)
      • 2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam (36)
    • 2.5 Xác định khe hổng nghiên cứu (36)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu (38)
    • 3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu (39)
    • 3.3 Mẫu nghiên cứu (41)
    • 3.4 Giả thuyết nghiên cứu và đo lường các biến (41)
      • 3.4.1 Đo lường biến phụ thuộc (41)
      • 3.4.2 Đo lường các biến độc lập (42)
    • 3.5 Mô hình nghiên cứu (46)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ (50)
    • 4.1 Phân tích thống kê mô tả (50)
    • 4.2 Phân tích tương quan (51)
    • 4.3 Phân tích hồi quy (52)
      • 4.3.1 Kết quả hồi quy ban đầu theo các mô hình OLS, FEM và REM (52)
      • 4.3.2 Kiểm định sự phù hợp giữa các mô hình OLS, FEM và REM (53)
    • 4.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình (54)
      • 4.4.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (54)
      • 4.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (54)
      • 4.4.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan (55)
    • 4.5 Thực hiện hồi quy theo phương pháp FGLS để khắc phục các khuyết tật của mô hình (56)
    • 4.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu (57)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH (60)
    • 5.1 Kết luận nghiên cứu (60)
    • 5.2 Gợi ý chính sách (60)
      • 5.2.1 Gợi ý chính sách cho Ngân hàng Nhà nước (61)
      • 5.2.2 Gợi ý chính sách cho các NHTM (61)
      • 5.2.3 Gợi ý chính sách cho các nhà đầu tư (63)
    • 5.3 Giới hạn của đề tài (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (64)
  • PHỤ LỤC (74)

Nội dung

Hiện tại, trên thế giới đã đóng góp nhiều nghiên cứu về hành vi QTLN của nhà quản lý, các nhân tố tác động đến hành vi QTLN được chia làm hai phần lớn, bao gồm phần thuộc về cơ chế quản

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:

Nghiên cứu nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Xác định các chỉ số tài chính tác động đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Đo lường mức độ tác động của các chỉ số tài chính đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Đề xuất một số hàm ý nhằm hỗ trợ cho các NHTM và các nhà đầu tư nhận diện và hạn chế QTLN của các NHTM Cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM.

Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần giải quyết được những câu hỏi nghiên cứu sau:

Những CSTC nào có ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM và mức độ ảnh hưởng của chúng là như thế nào?

Những hàm ý nhằm hỗ trợ cho các NHTM và các nhà đầu tư trong việc nhận diện và hạn chế được hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng:

Phương pháp định tính được sử dụng bao gồm tổng hợp, phân tích và suy luận nhằm khái quát cơ sở lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu và tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến hành vi QTLN và đề xuất mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và hành vi QTLN

Phương pháp định lượng bao gồm quá trình thu thập dữ liệu, thống kê mô tả, ước lượng mô hình hồi quy OLS và sau đó tiến hành kiểm định để xác định mối quan hệ giữa chỉ số tài chính đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần Việt Nam.

Những đóng góp chủ yếu của đề tài

Một là, xây dựng được mô hình các nhân tố thuộc chỉ số tài chính có ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Hai là, đề xuất các hàm ý nhằm hỗ trợ cho các NHTM và các nhà đầu tư trong việc nhận diện và hạn chế được hành vi QTLN tại các NHTM Cổ phần niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.

Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm có 5 chương, bao gồm:

Chương 1: Giới thiệu đề tài, chương này giới thiệu một cách tổng quát về tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cũng như là những đóng góp chủ yếu của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết, tổng quan nghiên cứu trước trong chương này, các khái niệm và vấn đề liên quan đến hành vi QTLN cũng như là các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài cũng sẽ được đề cập

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương này sẽ trình bày những nội dung liên quan đến quy trình nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu và các biến độc lập để có

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận, chương này sẽ trình bày các kết quả phân tích định lượng, theo đó, các kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình, kết quả hồi quy, thống kê mô tả các biến, phân tích hệ số tương quan sẽ được trình bày và bàn luận

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách, chương này sẽ tổng hợp lại các nội dung nghiên cứu và gợi ý một số chính sách hỗ trợ cho các NHTM và các nhà đầu tư trong việc nhận diện và hạn chế hành vi QTLN của các NHTM Cổ phần được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Trong Chương 1, khóa luận đã xác định được sự cần thiết và mục tiêu nghiên cứu tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó, Chương này cũng đã xác định cụ thể các đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để làm rõ những đóng góp chủ yếu và cũng như là các điểm mới của đề tài.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các khái niệm

2.1.1 Hành vi quản trị lợi nhuận

Trong kinh tế học mối quan hệ giữa NĐT và NQL được gọi là quan hệ giữa ông chủ và người đại diện (pricipal - agent relationship) Người sử dụng BCTC là NĐT ở vị trí là ông chủ (pricipal), NQL đóng vai trò là người đại diện (agent relationship) phải đưa ra quyết định quản lý dựa trên những hành động có thể đem lại lợi ích cho ông chủ Nhưng thực tế, ngoài lợi ích của NĐT, NQL còn muốn trục lợi riêng cho bản thân Sự sai lệch trong việc cung cấp thông tin BCTC trên được gọi là sự bất cân xứng thông tin (information asymmetry) trong mối quan hệ này đã tạo điều kiện cho NQL che đậy khuyết điểm, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tương lai hay thậm chí là nhằm đạt những lợi ích cá nhân

Quản trị lợi nhuận (Earnings Management) là sự can thiệp có mục đích trong quá trình báo cáo tài chính (BCTC) ra bên ngoài với mục đích thu được lợi ích riêng (Schipper, 1998) Nó là “sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân Levitt (1998) định nghĩa quản trị lợi nhuận là một “mảng tối” mà ở đó, kế toán đã bị làm sai do nhà quản trị đã

“cắt gọt” các khía cạnh của nó Ronen và Yarri (2008) đã tổng hợp lại các quan điểm từ những nghiên cứu trước và đưa ra 3 nhóm quản trị lợi nhuận dựa trên mục tiêu công bố thông tin gồm: Nhóm quản trị lợi nhuận trắng nhằm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm quản trị lợi nhuận xám nhằm gia tăng giá trị của DN hoặc lợi ích của nhà quản trị, và nhóm quản trị lợi nhuận đen nhằm làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của BCTC Từ đó, hành vi QTLN là tập hợp các quyết định quản lý phạm pháp hoặc phi pháp nhằm tối đa hóa giá trị của DN thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận thực trong ngắn hạn

Healy và Wahlen (1999) đưa ra định nghĩa toàn diện hơn về QTLN: Quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong BCTC và xây dựng giao dịch để thay đổi các BCTC nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán (ví dụ như hợp đồng lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997) Các NQL cũng có thể sử dụng những đánh giá chủ quan của mình để thao túng các thông tin về lợi nhuận nhằm làm đẹp BCTC và che đậy những điểm yếu trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Leuz và các cộng sự, 2003), hành vi này mang tính chất tiêu cực hay tích cực sẽ phụ thuộc vào mục đích của NQL Tuy nhiên, hành vi quản trị lợi nhuận tác động làm sai lệch thông tin, dẫn tới gây hiểu nhầm cho NĐT, ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông nói riêng và của công ty nói chung Nó làm lung lay lòng tin của NĐT vào giá trị của BCTC và thị trường chứng khoán

Hành vi QTLN được chia thành hai loại cơ bản là: EM dựa trên biến kế toán dồn tích (accrual earnings management - AEM) và EM dựa trên sự dàn xếp các giao dịch thực tế (real earnings management - REM) (Gunny, 2005), (Dechow và Skinner,

2000), (Cohen và Zarowin, 2010) Mô hình nghiên cứu đầu tiên nói đến hành vi QTLN là nghiên cứu của Hepworth (1953) Trong đó, ông đã thực nghiệm và nêu rõ hành vi và cách vận hành của nhà quản trị lợi nhuận nhằm san bằng lợi nhuận (income smoothing) mục đích của hành động này là thay đổi góc nhìn của NĐT nhằm hạn chế rủi ro đối với DN Mô hình nghiên cứu của Hepworth là nền móng cho nhiều nghiên cứu về hành vi QTLN sau này Định nghĩa của quản trị lợi nhuận thông qua cơ sở dồn tích (AEM) cũng từ đó mà được hình thành AEM là hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán (Gordon, 1964)

Một thời gian dài sau khi AEM được công bố thì REM mới được Schipper

(1989) đưa vào định nghĩa quản trị lợi nhuận Theo Schipper “mở rộng của định nghĩa quản trị lợi nhuận cần phải bao gồm quản trị lợi nhuận thực tế (real earnings managements), hành vi mà đạt được thông qua các quyết định về thời gian của các hoạt động đầu tư và tài chính để thay đổi lợi nhuận được báo cáo hoặc các chỉ tiêu liên quan” Trên cơ sở lý thuyết đó, Roychowdhury (2006) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện hơn, theo ông đây là hành vi điều chỉnh đối với mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp khiến các bên liên quan tin rằng những kết quả này là trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Cụ thể một số hành vi được xem là

REM bao gồm: đưa ra chính sách chiết khấu, nới lỏng thời hạn thanh toán một cách tiêu cực nhằm gia tăng doanh thu, cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí bán hàng và quản lý (SG&A), chi phí bảo trì, tiến hành sản xuất một cách thái quá nhằm giảm chi phí cố định phân bổ trên từng sản phẩm để có thể giảm giá vốn hàng bán và từ đó giúp gia tăng lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp

REM thay đổi hoạt động thực tế của doanh nghiệp nên sẽ tác động trực tiếp đến dòng tiền hiện tại và trong tương lai của một doanh nghiệp, còn AEM chỉ được thực hiện thông qua hoạt động kế toán Các NQL có xu hướng lựa chọn REM hơn là AEM hoặc kết hợp cả hai phuong pháp này theo nghiên cứu của Graham và các cộng sự

(2005) và Bruns và Merchant (1990) Nguyên nhân là AEM dễ bị phát hiện bởi kiểm toán độc lập và kiểm tra bởi các cơ quan nhà nước REM thường khó phát hiện hơn bởi nó lẫn vào các hoạt động thông thường của DN Thêm vào đó, AEM thường chỉ xảy ra vào thời điểm cuối năm, còn REM có thể thực hiện bất kỳ thời điểm nào trong cả năm tài chính, điều này tạo nên sự linh động xoay chuyển cho NQL NQL sẽ đánh giá kết quả hoạt động đạt được trong kỳ và xác định giá trị sẽ được thực hiện bằng quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích Chen (2009) Cuối cùng, trong khảo sát nghiên cứu của Nguyễn Thị Phượng Loan và Nguyễn Minh Thao (2016) REM sẽ kéo dài sự ảnh hưởng của nó trong dài hạn còn AEM bắt buộc phải được NQL hoàn nhập vào năm sau, vì vậy AEM dễ tạo ra sự nghi ngờ giữa NĐT đối với BCTC vì sự giảm đột ngột của lợi nhuận trong cùng một kỳ

2.1.2 Các chỉ số tài chính

Trước khi NĐT đánh giá tình hình tài chính của DN họ sẽ thường dựa vào hệ thống BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC Ngoài 4 yếu tố trên thì CSTC cũng được đánh giá là quan trọng không kém cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tài chính (Brigham và Ehrhardt, 2005) CSTC thể hiện thông tin so sánh qua các kỳ, năm báo cáo và chúng thể hiện những dữ liệu một cách tổng quát của BCTC, thông qua đó NĐT có thể dự đoán được kết quả kinh doanh tương lai của doanh nghiệp

Chỉ số tài chính được chia thành bốn loại chính: chỉ số lợi nhuận hay lợi tức đầu tư, khả năng thanh khoản, chỉ số đòn bẩy, chỉ số hoạt động và hiệu quả Tùy vào nhau (Gitman, 2009) Các cổ đông của một doanh nghiệp hầu hết quan tâm chỉ số lợi nhuận, sinh lời, lợi tức của việc đầu tư và giá trị của doanh nghiệp Những NĐT thường có xu hướng quan tâm sử dụng các CSTC có liên quan đến tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó NĐT có thể đưa ra quyết định, chiến lược cụ thể về giá trị doanh nghiệp, thời điểm đầu tư

Một số CSTC tác động đến hành vi QTLN được tổng hợp trong tất cả các nghiên cứu về hành vi QTLN tiêu biểu như tỷ suất sinh lời, đòn bẩy tài chính; quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản Và chúng được biết đến với vai trò là các biến độc lập hoặc các biến kiểm soát.

Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận

2.2.1 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận Động cơ về thị trường vốn

Trong doanh nghiệp thông thường các cổ đông hoặc công đoàn công ty sẽ áp lực lên NQL mức lợi nhuận không được thấp hơn quá nhiều so với dự báo Điều này thúc đẩy NQL thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được mức lợi nhuận bằng hoặc vượt so với lợi nhuận đã dự báo Các NQL sẽ có xu hướng thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được các mục tiêu như: phát hành cổ phiếu ra công chúng, mua bán doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp (Đào Thị Ngọc Thương, 2015) Khi NĐT ra quyết định đầu tư một doanh nghiệp cũng thường có xu hướng thích các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thay vì một doanh nghiệp lỗ, cộng thêm việc thất bại khi không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của NQL cũng bị trừng phạt bởi thị trường Tại Việt Nam, Huỳnh Thị Vân (2012) cũng chỉ ra rằng hầu hết các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều tiến hành điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu Tất cả yếu tố trên thuộc thị trường vốn đã thúc đẩy NQL tác động thay đổi thông tin lợi nhuận trên BCTC và che đậy những khuyết điểm trong tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Động cơ về hợp đồng thù lao

Thông thường, các NQL sẽ được hưởng lương, thưởng và giữ được vị trị quan trọng trong công ty khi hoàn thành những chỉ tiêu lợi nhuận hoặc khi vượt chỉ tiêu kế hoạch về lợi nhuận do đó NQL sẽ có xu hướng thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Rahman và các cộng sự, 2013) Hoặc NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN Nếu muốn tối đa hóa thu nhập NQL cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận để đẩy giá cổ phiếu tăng và thu được lợi ở mức cao hơn Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh không đạt được chỉ tiêu kế hoạch về lợi nhuận các NQL có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận, hoặc khi đã vượt chỉ tiêu NQL có thể điều chỉnh giảm đề dành cho năm sau (Healy,

1985) Trong năm làm việc cuối hoặc nhiệm kỳ cuối của NQL họ sẽ có xu hướng cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) để tăng mức lương thưởng của họ Động cơ áp lực từ nhà cung cấp tín dụng và thuế

Hầu hết các DN chịu áp lực tài chính từ nhà cung cấp tín dụng chẳng hạn như ngân hàng, công ty tài chính, các chủ nợ thường dựa vào chỉ số tài chính kế toán của

DN để đánh giá khả năng thanh khoản trước khi ký kết hợp đồng tín dụng (Agarwal và các cộng sự, 2007), vì hành động này sẽ giúp chủ nợ giảm rủi ro trong việc thu hồi vốn cho vay Vì vậy, để tránh không đáp ứng được các điều khoản trong hợp đồng tín dụng DN sẽ điều chỉnh lợi nhuận Một kết quả kinh doanh xấu thấp hơn lợi nhuận dự báo hoặc thậm chí thua lỗ sẽ khiến DN chịu áp lực tài chính từ chủ nợ chẳng hạn như yêu cầu tăng lãi suất cho vay hoặc đáo hạn khoản vay ngay lập tức (Defond và Jiambalvo, 1994 và Sweeney, 1994)

Trong mối quan hệ với cơ quan thuế, thuế thu nhập DN được tính trên lợi nhuận của DN trong năm tài chính, để giảm chi phí thuế thu nhập DN kế toán sẽ báo cáo lợi nhuận kế toán thấp và tách biệt cung cấp thông tin với hai mục địch thuế và kế toán (Rahman và các cộng sự, 2013) Động cơ thực hiện hành vi QTLN của các công ty niêm yết cũng chịu sự ảnh hưởng từ sự giảm trừ thuế suất thuế TNDN (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2011)

Một số các kỹ thuật phổ biến được sử dụng để giảm áp lực tài chính như: ghi nhận khống các khoản chi phí dự phòng, che dấu các khoản nợ đã bị xóa sổ hay tìm cách thúc đẩy việc thanh lý các khoản đầu tư để có thể nhanh chóng ghi nhận những khoản lãi (Rahman và các cộng sự, 2013) Điển hình một số lĩnh vực có tính đặc thù là ngân hàng hay công ty bảo hiểm để tuân thủ các quy định riêng biệt về tài sản và vốn và cũng thúc đẩy DN thực hiện hành vi QTLN

2.2.2 Các thủ thuật quản trị lợi nhuận trong kế toán

Sử dụng các ước tính kế toán (Accrual earnings management)

Thủ thuật phù phép lợi nhuận dựa trên ước tính kế toán về bản chất cơ hữu không làm tăng lợi nhuận mà chỉ đơn thuần chuyển lợi nhuận của kỳ sau sang kỳ hiện tại Mặc dù theo chế độ kế toán quy định về các mức ước tính được giới hạn trong khoảng tối đa và tối thiểu, chính vì vậy một số thủ thuật làm tăng lợi thường gặp như giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nợ khó đòi, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuống dưới giá trị thuần, vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện,… Ước tính kế toán để lại hậu quả là lợi nhuận của kỳ sau sẽ bị ảnh hưởng, thêm vào tác động nhằm đáp ứng kỳ vòng ngày càng phát triển của thị trường nhưng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không đủ tốt để thỏa mãn nhu cầu của thị trường thì BCTC của các năm tiếp theo sẽ phải điều chỉnh nhiều hơn Nếu điều này không được khắc phục mà kéo dài trong nhiều năm thì hậu quả từ hành vi QTLN mà doanh nghiệp sẽ hứng càng ngày nghiêm trọng hơn

Lựa chọn phương pháp kế toán (Accounting Methods)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2011) và nghiên cứu về 12 kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông dụng của Rahman và các cộng sự (2013), bao gồm lựa chọn phương pháp kế toán như chính sách kế toán đối với hàng tồn kho, tài sản cố định hoặc lựa chọn thời điểm như thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí

Tùy theo mục tiêu cụ thể mà NQL doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm Cụ thể, các QNL có thể sử dụng một số kỹ thuật điều chỉnh sau:

- Thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí: điều chỉnh thời điểm hóa đơn để làm gia tăng hoặc giảm doanh thu và chi phí trong kỳ Doanh nghiệp cũng có thể thay đổi phương pháp phần trăm hoàn thanh áp dụng trong hợp đồng cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng, cho phép doanh nghiệp có thể điều chỉnh doanh thu và chi phí theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng Trong thực tiễn, bộ phận kỹ thuật sẽ chịu trách nhiệm giám sát và đánh giá mức độ hoàn thành, liên quan đến phần hành của kế toán chỉ căn cứ trên những báo cáo của bộ phận kỹ thuật để ghi nhận doanh thu và chi phí thích hợp, vì vậy về mặt bản chất phương pháp ghi nhận doanh thu và chi phí là ước tính kế toán nên dễ chịu ảnh hưởng bởi các NQL

- Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho: Bằng cách thay đổi giá thành sản phẩm để tác động đến giá vốn hàng bán, kế toán có thể thông qua phương pháp tính giá thành sản phẩm và đánh giá sản phẩm dở dang Lựa chọn các phương pháp tính giá trị hàng tồn kho như bình quân gia quyền, nhập trước-xuất trước, thực tế đích danh Chính sách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ

- Chính sách về kế toán tài sản cố định: Thay đổi chi phí khấu hao để tác động đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ, kế toán thông qua phương pháp thay đổi khấu hao tài sản cố định (đường thẳng, số dư giảm dần có điều chỉnh, tỷ lệ sử dụng) Ngoài ra, thời điểm mua, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định hay việc nâng cấp, sửa chữa cải tạo tài sản cố định cũng ảnh hưởng đến việc ghi nhận lợi nhuận hoặc thua lỗ hoạt động khác

Sử dụng các giao dịch thực (Real earnings management)

Ngoài quản trị lợi nhuận trong kế toán bằng cách sử dụng ước tính kế toán và lựa chọn phương pháp kế toán, doanh nghiệp còn có thể thực hiện hành vi QTLN thông qua việc giàn xếp một số giao dịch thực giúp tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, tuy nhiên các giao dịch này có thể không có lợi cho công ty về lâu dài (Roychowdhurry, 2006)

Thay đổi chính sách bán hàng và tín dụng thương mại NQL khi nhận thấy lợi nhuận không có khả năng đạt chỉ tiêu kế hoạch, các doanh nghiệp có thể nới lỏng chính sách bán chịu hoặc giảm giá bán mục đích là tăng sản lượng hàng bán ra Kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận này thường được NQL áp dụng vào cuối năm tài chính Mặt hạn chế của thủ thuật này là ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu và lợi nhuận năm sau, điều này đến từ doanh nghiệp tạo tâm lý thoải mái mua sản phẩm cho khách hàng với mức giá tốt nhất có thể ở năm áp dụng hiện tại nhưng sang năm sau doanh nghiệp sẽ tăng giá trở lại gây thất vọng cho khách hàng và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Các lý thuyết nền tảng

2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện được phát triển đầu tiên bởi Jensen and Meckling (1976), các tác giả cho rằng mối quan hệ đại diện được thể hiện thông qua một hợp đồng mà theo đó, bên được ủy nhiệm (agents) sẽ thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm (principles), chẳng hạn như trong hợp đồng giữa cổ đông và NQL, các cổ đông ủy nhiệm cho NQL quyền sử dụng vốn của mình để kinh doanh Jensen and Meckling (1976) cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, chính vì vậy, sự xung đột về lợi ích luôn tồn tại trong mối quan hệ này Trái với mong đợi của chủ sở hữu, luôn có khả năng các NQL sẽ thực hiện những hành vi vì mục đích tư lợi cá nhân hơn là vì lợi ích của doanh nghiệp (Dennis, 2001) Điều này sẽ làm phát sinh các chi phí đại diện – chi phí trả cho sự xung đột lợi ích giữa hai bên như chi phí giám sát, chi phí thưởng cho NQL (Jensen and Meckling, 1976) Trên nền tảng của lý thuyết này, Freeman (1984) đã đưa ra một cách tiếp cận mới với tên gọi là lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory), theo đó, trách nhiệm của NQL không chỉ gói gọn trong việc tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông của doanh nghiệp mà họ còn phải bảo vệ lợi ích cho các bên liên quan khác Bên cạnh đó, cũng dựa trên nền tảng này, Donaldson và Davis (1991 & 1993) đã đưa ra lý thuyết quản lý (stewardship theory) nhằm phản ánh một khía cạnh khác trong lý thuyết đại diện, theo đó nội dung liên quan đến việc NQL sẽ thực hiện những hành động nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong đa phần các nghiên cứu về hành vi QTLN, so với 2 lý thuyết được phát triển sau này của Freeman

(1984) và Donaldson và Davis (1991 & 1993) thì lý thuyết đại diện được xem là cơ sở giải thích hợp lý hơn cho hành vi QTLN của các NQL

Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột khi xảy ra sự không cân xứng và thông tin không đầy đủ hoặc không trung thực giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm trong doanh nghiệp Bởi vì mục đích của cả hai bên khác nhau và để giảm thiểu vấn đề xung đột này cần áp dụng các cơ chế phù hợp để giảm thiểu sự khác biệt giữa lợi ích của các cổ đông và NQL doanh nghiệp, thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho NQL, và những biện pháp giám sát tối ưu hóa để hạn chế những hành vi bất thường, tư lợi của NQL doanh nghiệp Hợp đồng lao động của NQL doanh nghiệp phải được các cổ đông xem xét kỹ lưỡng một cách tối ưu hóa về mức lương và tiền thưởng Ngoài ra, những hợp đồng này phải dung hòa giữa hệ thống KTQT như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực,…đó cũng là các tiêu chí để các cổ đông và nhà đầu tư đánh giá mức độ thực hiện của NQL doanh nghiệp Để kiểm tra sự ảnh hưởng của các nhân tố như tỷ suất sinh lợi (ROE) và quy mô doanh nghiệp đến hành vi QTLN người sử dụng BCTC thường áp dụng lý thuyết đại diện

2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmestry Information theory)

Thông tin bất cân xứng (Asymmestry Information) dẫn tới hai rủi ro chính trên thị trường tài chính: chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức Thông tin bất cân xứng được định nghĩa theo Akerlof (1970) là khi một bên mua hoặc bán không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để thực hiện việc mua hoặc bán với một mức giá mà họ sẵn lòng trả hoặc thu được Vì lợi ích khác nhau của người mua muốn mua một tài sản tốt với giá thấp thậm chí dưới giá vốn của tài sản, còn người bán vì lợi nhuận cao nhất có thể thu được muốn bán với mức giá cao nhất có thể Dẫn đến, giá cả trên thị trường sẽ có thể thấp hoặc cao hơn giá trị cân bằng của doanh nghiệp Dựa vào lý thuyết thông tin bất cân xứng của Akerlof vào năm 1975 Joseph Stiglitz tiếp tục phát triển, ông cho rằng giá trị nội tại khác nhau từ mẫu mã đến chất lượng vì vậy để có thông tin đầy đủ và chính xác phải thông qua việc phân loại chúng Ví dụ mỗi người sẽ có trách nhiệm khác nhau trong doanh nghiệp để tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh Có một hoặc nhiều NĐT sở hữu cổ phần của một doanh nghiệp niêm yết vì vậy luôn xảy ra bất cân xứng thông tin (Kyle, 1985) và sẽ có nhiều thông tin của một doanh nghiệp niêm yết được công bố đại chúng cũng là lý do hình thành bất cân xứng thông tin (Kim và Verrecchia, 1994 và 1997)

Thông tin bất cân xứng có tác động tiêu cực lớn đến các giao dịch, có hai rủi ro phổ biến trên thị trường tài chính: chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức Chọn lựa đối

TTCK là việc mua cổ phiếu của công ty có hoạt động nội tại yếu kém và những cổ phiếu có chất lượng tốt bị mất thanh khoản Ảnh hưởng dài hạn đến thị trường chứng khoán chung khi không có đủ lực cung và cầu ở những cổ phiếu tốt để nâng đỡ hoặc giúp thị trường phát triển Trên thực tế, các thị trường giao dịch lớn nhất trên thế giới như: New York Stock Exchange (NYSE), NASDAQ, London Stock Exchange (LSE), Tokyo Stock Exchange (TSE),…đều có hệ thống thông tin được quản lý một cách nghiêm ngặt hạn chế rủi ro chọn lựa đối nghịch Rủi ro đạo đức chủ yếu đến từ NQL và cổ đông lớn của doanh nghiệp, hoạt động đầu tư trên TTCK là đầu tư một cách gián tiếp nên việc quản lý vốn của các cổ đông không tích cực (thiếu đạo đức) sẽ gây ra rủi ro đạo đức Hành vi thao túng cổ phiếu của NQL doanh nghiệp là một ví dụ điển hành trên TTCK Từ đó kết luận rằng khi một bên là NQL doanh nghiệp, cổ đông lớn nắm trong tay nhiều thông tin của doanh nghiệp sẽ liên kết để thao túng công ty cổ phần và giá cổ phiếu kéo những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu công ty với giá cao (Nguyễn Trọng Hoài, 2006)

2.3.3 Lý thuyết kế toán thực chứng (Possitive Accounting theory)

Lý thuyết kế toán thực chứng làm rõ và dự báo hoạt động kế toán diễn ra hàng ngày trong thực tế phát sinh dựa vào Kế toán chuẩn tắc (Normative Accounting Theory), khung nguyên tắc kế toán (Accounting Framework) và các chuẩn mực kế toán khác Các câu hỏi “phát sinh gì đang diễn ra hàng ngày, mục đích của người lập báo cáo tài chính, động cơ của mục đích trên là gì” (Why, How) đều được giải thích trong lý thuyết kế toán thực chứng Những lịch sử sự kiện nhưng chúng ta chưa ghi nhận thì thông qua lý thuyết kế toán thực chứng chúng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu và lý giải những sự kiện trên

Theo Watt và Zimmerman (1978), lý thuyết kế toán thực chứng được xây dựng nhằm nhận diện những yếu tố tác động đến sự lựa chọn của NQL trong việc áp dụng các phương pháp kế toán khác nhau Theo đó, các cá nhân nói chung và các NQL nói riêng sẽ có xu hướng tìm cách tối đa hóa lợi ích của bản thân và vì vậy, các phương pháp/ước tính kế toán được lựa chọn đều đa phần phục vụ cho mục tiêu lợi ích cá nhân Có 3 giả thuyết được đặt ra trong nghiên cứu về lý thuyết kế toán thực chứng của Watt và Zimmerman (1978) nhằm tìm hiểu về mối liên hệ giữa việc lựa chọn các phương pháp kế toán đối với 3 nhân tố tương ứng bao gồm: chính sách tiền thưởng; mức độ sử dụng nợ; và quy mô doanh nghiệp Đối với giả thuyết về chính sách tiền thưởng, nghiên cứu cho thấy rằng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì tại các doanh nghiệp có quy định về chính sách tiền thưởng, các NQL có xu hướng lựa chọn những phương pháp kế toán nhằm dịch chuyển lợi nhuận báo cáo của các kỳ sau sang kỳ hiện tại để nhận được mức tiền thưởng trong kỳ cao hơn Tương tự, đối với mức độ sử dụng nợ, khi mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp gia tăng thì khả năng vi phạm các giao ước trong hợp đồng vay nợ sẽ gia tăng, do đó, để bù đắp cho rủi ro này, các NQL sẽ ưu tiên sử dụng các phương pháp kế toán nhằm đạt được mức lợi nhuận báo cáo trong kỳ hiện tại cao hơn Tuy nhiên, để thực hiện những điều trên sẽ còn phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có đang phải chịu nhiều áp lực về các chi phí chính trị hay không Khi quy mô của doanh nghiệp càng mở rộng thì các phí tổn chính trị (như chi phí thuế, lệ phí, trách nhiệm xã hội, ) theo đó cũng gia tăng Vì vậy, để có thể kiểm soát được các chi phí này, các NQL có xu hướng lựa chọn các phương pháp kế toán có tác động làm giảm lợi nhuận báo cáo trong năm hiện tại

Lý thuyết kế toán thực chứng thường được vận dụng trong các nghiên cứu về hành vi QTLN nhằm kiểm định sự tác động của các CSTC như đòn bẩy tài chính, quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lợi (ROE), tính thanh khoản, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh cũng như các khoản chi phí dự phòng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của NQL.

Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan

Các học giả trên thế giới đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hành vi QTLN Tuy nhiên để phù hợp với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, dưới đây tác giả chỉ tiến hành tổng hợp một số nghiên cứu có liên quan đã được công bố ở Việt Nam và các nước trên thế giới đối với các mẫu nghiên cứu là các ngân hàng Các bài viết được phân loại theo 2 chủ đề nghiên cứu chính, bao gồm: các nghiên cứu tổng quát về các nhân tố tác động đến hành vi QTLN và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi QTLN và các CSTC

2.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu tổng quát về các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận

Cornett và các cộng sự (2009) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế QTDN và hành vi QTLN tại 46 ngân hàng lớn ở Mỹ trong giai đoạn 1994-2002 Kế thừa mô hình nhận diện hành vi AEM thông qua sự tác động vào các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và các khoản lãi (lỗ) chứng khoán kinh doanh của Beatty và các cộng sự (2002), các tác giả kiểm định mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận với kết quả kinh doanh trong kỳ, chính sách thưởng cho nhà quản lý, mức độ độc lập và số lượng thành viên của Hội đồng quản trị, và mức độ sử dụng vốn của ngân hàng Kết quả hồi quy cho thấy kết quả kinh doanh trong kỳ, mức độ độc lập của HĐQT và mức độ sử dụng vốn của ngân hàng có tác động tiêu cực đến hành vi QTLN Điều này cho thấy rằng những ngân hàng có mức độ sử dụng vốn cao sẽ tìm cách ghi giảm kết quả kinh doanh trong kỳ thông qua việc ghi nhận nhiều hơn các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và ghi nhận thấp hơn các khoản lãi từ chứng khoán kinh doanh, điều này cũng được thực hiện tương tự đối với các ngân hàng có mức độ độc lập của HĐQT cao Bên cạnh đó, chính sách thưởng cho NQL căn cứ vào kết quả kinh doanh trong kỳ có tác động làm gia tăng hành vi QTLN, theo đó, các khoản chi phí dự phòng khoản cho vay sẽ được ghi nhận thấp hơn trong khi các khoản lãi từ chứng khoán kinh doanh sẽ được ghi nhận cao hơn

Nghiên cứu của Abaoub và các cộng sự (2013) về những nhân tố tác động đến hành vi AEM tại 10 ngân hàng đa năng ở Tunisia trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2010 Nghiên cứu sử dụng mô hình của Mohammad và các cộng sự (2011) để xác định AEM Có ba biến độc lập được đề cập, bao gồm tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phiếu; và những rủi ro mà ngân hàng gặp phải (được đại diện bởi ba loại rủi ro là: rủi ro hoạt động, rủi ro tổng thể và rủi ro hệ thống) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc, trong khi đó, rủi ro hoạt động có tác động cùng chiều và các tác giả không tìm thấy mối liên hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phiếu cũng như là đối với rủi ro tổng thể và rủi hệ thống

Shen (2016) sử dụng dữ liệu của 16 ngân hàng niêm yết tại Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 2005 - 2014, nghiên cứu đã kiểm tra tác động của cơ cấu sở hữu, gồm tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn nhất và tỷ lệ sở hữu của NQL, và một số biến kiểm soát như tỷ lệ nợ vay, tỷ lệ biến động nợ vay…đến hành vi quản trị lợi nhuận của ngân hàng ở cả hai khu vực là ngân hàng tư nhân và Nhà nước Khác với các nghiên cứu trước đây về QTLN, Shen (2016) không áp dụng các mô hình nhận diện hành của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995) hay Kothari và các cộng sự (2005) để dự đoán hành vi QTLN của các NHTM Theo Shen (2016), bản chất hoạt động của NHTM khác với các doanh nghiệp thông thường, các NHTM hoạt động kinh doanh với công cụ là tiền, do vậy hành vi QTLN tại các NHTM cũng sẽ có những khác biệt Hành vi QTLN tại các doanh nghiệp thông thường được thực hiện bằng nhiều hình thức như tác động đến doanh thu, kiểm soát điều chỉnh các chi phí ước tính như khấu hao, dự phòng…còn hành vi QTLN tại các NHTM, theo Shen (2016), chủ yếu được thực hiện thông qua dự phòng cho các khoản nợ xấu, do hoạt động cấp tín dụng vốn là hoạt động mang lại lợi nhuận cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của NHTM Do vậy, Shen (2016) đã đề xuất sử dụng biến phụ thuộc là rủi ro có điều chỉnh cho hai tỷ lệ liên quan đến dự phòng là tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ dự phòng nợ xấu để đại diện cho biến hành vi QTLN tại các NHTM Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn nhất và hành vi QTLN có mối quan hệ theo hình chữ “U” ngược (tăng dần sau đó giảm dần), trong khi tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý có mối quan hệ ngược chiều với hành vi QTLN, tức là gia tăng tỷ lệ sở hữu của NQL tại ngân hàng làm giảm hành vi QTLN

Nghiên cứu của Utu và các cộng sự (2016) về những yếu tố tác động đến hành vi QTLN tại các NHTM niêm yết (tổng cộng 9 ngân hàng) ở Indonesia trong năm

2015 Sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo thường niên và mô hình đo lường biến phụ thuộc của Jones (1991), các tác giả đề xuất năm biến độc lập bao gồm QTDN; các quyết định đầu tư; quyết định vay nợ; quy mô ngân hàng; và các cơ hội đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến độc lập đều có mức độ giải thích cao, trong đó, có hai biến có tác động ngược chiều với biến phụ thuộc là QTDN và quyết định vay nợ, ba biến còn lại (các quyết định đầu tư, quy mô ngân hàng và các cơ hội đầu tư) có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc

Tại Nigeria, Oladipupo (2018) nghiên cứu về mối liên hệ giữa QTDN và hành vi QTLN tại các NHTM niêm yết trong giai đoạn 10 năm từ 2006-2015 Tác giả sử dụng lợi nhuận gộp để thay thế cho doanh thu bán hàng trong mô hình nhận diện hành doanh nghiệp sản xuất được xem là tương đương với lợi nhuận gộp của các ngân hàng Kết quả hồi quy kiểm định mối liên hệ giữa hành vi QTLN và 4 nhân tố (bao gồm chất lượng của công ty kiểm toán; số lượng thành viên của HĐQT; mức độ độc lập của HĐQT; và đòn bẩy tài chính) cho thấy chỉ có 2 nhân tố có ý nghĩa về mặt thống kê là số lượng thành viên của HĐQT và đòn bẩy tài chính có tác động đến hành vi thực hiện AEM tại các ngân hàng với dấu tác động là dấu âm

Cũng tại Nigeria, trong giai đoạn 2011-2016, Osemene và các cộng sự (2018) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN tại 14 NHTM niêm yết và sử dụng khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tự định làm đại diện cho hành vi thực hiện AEM tại các ngân hàng Bảy biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi các cổ đông là doanh nghiệp tư nhân; tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi các cổ đông là doanh nghiệp ở nước ngoài; tỷ lệ sở hữu của Nhà nước; nhiệm kỳ của BGĐ; giới tính của BGĐ; số lượng thành viên HĐQT; và quy mô ngân hàng Kết quả hồi quy cho thấy tỷ lệ sở hữu của các cổ đông là doanh nghiệp tư nhân; tỷ lệ sở hữu của các cổ đông là doanh nghiệp ở nước ngoài; và tỷ lệ hữu của Nhà nước có tác động ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận, trong khi đó, nhiệm kỳ của BGĐ có tác động cùng chiều và 3 biến độc lập còn lại không có ý nghĩa về mặt thống kê

Nghiên cứu của Fitri và các cộng sự (2018) về sự ảnh hưởng của QTDN, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời của doanh nghiệp đối với hành vi QTLN đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 30 NHTM niêm yết tại Indonesia trong giai đoạn 2012-

2016 Kế thừa mô hình đo lường biến phụ thuộc là hành vi QTLN của Dechow và các cộng sự (1995) và bổ sung biến điều tiết là quy mô doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy việc gia tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các cổ đông là tổ chức và tỷ lệ nắm giữ cổ phần của BGD có tác động làm hạn chế hành vi QTLN Trong khi đó, mức độ độc lập của HĐQT và Ủy ban kiểm toán lại có tác động tích cực đến hành vi QTLN nhưng mức ảnh hưởng là không đáng kể Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng những ngân hàng có mức sinh lời cao sẽ có nhiều khả năng để thực hiện hành vi QTLN hơn, trong khi mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính cao có tác động hạn chế hành vi này nhưng mức độ tác động là rất thấp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến điều tiết là quy mô ngân hàng không có khả năng điều tiết mức độ tác động của QTDN, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời của ngân hàng lên hành vi QTLN

Cũng trong giai đoạn 2012-2016, Saiful và Dyah (2018) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế QTDN và hành vi QTLN tại 27 NHTM thông thường và 10 NHTM Hồi giáo niêm yết tại Indonesia Khác với Fitri và các cộng sự (2018), Saiful và Dyah (2018) sử dụng khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tự định để đo lường hành vi QTLN tương tự như trong nghiên cứu của Othman (2016) tại các ngân hàng Hồi giáo ở Trung Đông Tác giả kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa hành vi thực hiện AEM và 4 nhân tố gồm số lượng thành viên của Ủy ban kiểm toán; mức độ độc lập của HĐQT; mức độ sở hữu tập trung; và số lượng thành viên của Ban giám sát Sharia (một ban giám sát đặc thù tại các doanh nghiệp Hồi giáo) Kết quả kiểm định cho thấy sự gia tăng mức độ sở hữu tập trung và số lượng thành viên của Ban giám sát Sharia có khả năng làm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận, trong khi đó, số lượng thành viên của Ủy ban kiểm toán và mức độ độc lập của HĐQT không thể hiện được vai trò này mà ngược lại còn có tác động cùng chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Cũng tại Indonesia, Sadjiarto và các cộng sự (2019) nghiên cứu về cơ cấu sở hữu vốn và hành vi QTLN tại 45 NHTM niêm yết trong giai đoạn 2010-2017 và sử dụng mô hình của Dechow và các cộng sự (1995) Các tác giả kiểm tra giả thuyết về mối liên hệ giữa hành vi thực hiện AEM và 4 hình thức sở hữu, bao gồm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước; tỷ lệ sở hữu của các cổ đông là tổ chức trong nước; tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý; và tỷ lệ sở hữu bởi các cổ đông là thành viên trong gia đình Bên cạnh đó, các biến kiểm soát cũng được bổ sung vào mô hình như cơ chế quản trị doanh nghiệp (với đại diện là mức độ độc lập của HĐQT); hệ số an toàn vốn (CAR); giá trị các khoản nợ xấu; ROA; đòn bẩy tài chính; và quy mô ngân hàng Kết quả hồi quy cho thấy cơ cấu sở hữu có tác động đáng kể đến hành vi thực hiện AEM tại các ngân hàng, trong đó, việc gia tăng tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi Nhà nước sẽ có tác động làm hạn chế hành vi này, tuy nhiên, việc gia tăng tỷ lệ cổ phần sở hữu đối với 3 hình thức sở hữu còn lại tạo điều kiện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện nhiều hơn Đối với các biến kiểm soát, kết quả cũng cho thấy biến cơ chế quản trị doanh nghiệp và biến hệ số an toàn vốn (CAR) có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc, trong khi đó, 3 biến kiểm soát còn lại là ROA, đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp không

Tại Ai Cập, Soliman (2019) nghiên cứu về những nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại 13 NHTM niêm yết với tổng cộng 126 quan sát trong giai đoạn 10 năm từ năm 2006 đến năm 2015 Tác giả đưa ra bốn nhân tố tác động, bao gồm chi phí chính trị (được đại diện bởi quy mô ngân hàng); các rủi ro mà ngân hàng gặp phải (bao gồm ba loại rủi ro là rủi ro hệ thống, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động); tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; và các ngân hàng có thuộc danh sách EGX100 hay không; ngoài ra, bài nghiên cứu cũng thêm vào ba biến kiểm soát là năm nghiên cứu là năm 2011; cổ tức trên mỗi cổ phiếu; và lãi (lỗ) từ chứng khoán sẵn sàng để bán Sử dụng cả hai mô hình xác định biến phụ thuộc là mô hình của Jones (1991) và Meisel (2013) để kiểm định các giả thuyết, kết quả cho thấy khi rủi ro hệ thống và rủi ro thanh khoản càng cao thì các ngân hàng sẽ có xu hướng tăng cường hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận, trong khi đó, rủi ro hoạt động và quy mô ngân hàng là không có tác động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng thuộc danh sách EGX100 sẽ có xu hướng ít thực hiện hành vi QTLN hơn so với các ngân hàng không thuộc danh sách này Ngoài ra, sự kiện chính trị diễn ra trong năm 2011 tại Ai Cập cũng không có tác động đến hành vi QTLN tại các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính

Gombola và các cộng sự (2016) nghiên cứu về tác động của đòn bẩy tài chính và tính thanh khoản lên hành vi QTLN và quản trị vốn tại 124 NHTM ở Mỹ trong giai đoạn 1999-2013 Kế thừa mô hình nhận diện hành vi AEM thông qua sự tác động vào các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tự định của Kanagaretman và các cộng sự

(2010) và Riepe (2014) cùng với mô hình tác động cố định (Fixed-effects model) cho dữ liệu bảng, kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều với hành vi QTLN và quản trị vốn, trong khi đó, tỷ số thanh khoản lại có tác động ngược chiều Như vậy, các ngân hàng có mức độ sử dụng vốn cao sẽ có xu hướng thực hiện hành vi QTLN và quản trị vốn nhiều hơn so với các ngân hàng có mức độ sử dụng vốn thấp Bên cạnh đó, những ngân hàng có tính thanh khoản cao sẽ có xu hướng hạn chế thực hiện hành vi QTLN hơn các ngân hàng có tính thanh khoản thấp Trong khi đó, kết quả của Moghaddam và Abbaspour (2017) lại cho thấy rằng các ngân hàng có tính thanh khoản thấp sẽ có xu hướng thực hiện hành vi QTLN nhiều hơn các ngân hàng có tính thanh khoản cao khi tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu là 14 NHTM niêm yết ở Tehran trong giai đoạn 2010-2015 và sử dụng mô hình nhận diện hành vi QTLN thông qua AEM của Dechow và các cộng sự (1995)

Xác định khe hổng nghiên cứu

Nhìn chung, trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy rằng có rất nhiều nhân tố được cho là có khả năng tác động đến hành vi QTLN Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành, tuy nhiên, kết quả của các nghiên như các biến sử dụng trong nghiên cứu, mô hình lựa chọn, khu vực địa lý và thời gian tiến hành nghiên cứu

Trên thế giới, các nghiên cứu về những nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại các tổ chức tài chính, mà cụ thể là các ngân hàng, nhìn chung vẫn chưa phổ biến Nguyên nhân là do những đặc thù trong cách thức hoạt động và chịu chi phối bởi những quy định riêng nên phần lớn các nghiên cứu trên thế giới có xu hướng loại các tổ chức tài chính ra khỏi mẫu nghiên cứu để đảm bảo được tính đồng nhất của mẫu Cũng tương tự tại Việt Nam, có thể thấy rằng các nghiên cứu về hành vi QTLN cũng rất ít với đối tượng là các NHTM

Xác định được khe hổng nghiên cứu này, cùng với việc nhận xét thấy phần lớn các đối tượng sử dụng thông tin tài chính ở Việt Nam có xu hướng dựa vào các CSTC để đưa ra các quyết định kinh tế, vì vậy, đề tài chỉ tập trung phân tích về sự tác động của các CSTC đến hành vi QTLN tại NHTM Cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ 2015-2019 Qua đó, nghiên cứu này sẽ bổ sung những bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin như các nhà đầu tư, nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán viên, cơ quan quản lý Nhà nước,… trong bối cảnh thực trạng chất lượng BCTC của các NHTM Việt Nam hiện nay đang rất được quan tâm

Chương 2 đã trình bày các khái niệm và những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến hành vi QTLN Bên cạnh đó, các lý thuyết nền tảng có liên quan cũng đã được trình bày Thông qua việc tìm hiểu một cách tổng quát về các nghiên cứu trên thế giới có liên quan tới các NHTM, có thể nhận thấy rằng các kết quả nghiên cứu vẫn chưa đạt được sự đồng thuận, mà nguyên nhân là do bắt nguồn từ những khác biệt về những vấn đề vĩ mô như tình hình kinh tế đặc trưng ở mỗi quốc gia, giai đoạn nghiên cứu và những khác biệt khác như các biến sử dụng cho mẫu nghiên cứu hay mô hình được lựa chọn Do đó, đề tài đã xác định tập trung nghiên cứu về sự tác động của các CSTC đến hành vi QTLN tại NHTM Cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ 2015-

2019, với mong muốn bổ sung những bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin trong bối cảnh thực trạng chất lượng BCTC của các NHTM Việt Nam hiện nay đang rất được quan tâm.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ

Ngày đăng: 15/06/2021, 09:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w