1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm của triết học mác lênin về con người vào vấn đề xây dựng con người việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

108 3,1K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người vào vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn TS. Lê Đình Lục
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 550,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mác về tha hóa lao động và bản chất con người qua “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” đăng trên Tạp chí Triết học số 10/149; tác giả Nguyễn Văn Tài với “Phát triển nguồn nhân lực trong s

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VỀ CON NGƯỜI VÀO VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON

NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VỀ CON NGƯỜI VÀO VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON

NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Chính trị

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐÌNH LỤC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đình Lục Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Người cam đoan

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều Thầy, Cô trong và ngoàinhà trường.

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS

Lê Đình Lục - Người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tác giảhoàn thành luận văn

Nhân đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy côtrong khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh và Trường Đại học CôngNghiệp TP Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong quátrình học tập, nghiên cứu

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thântrong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên giúp đỡ tác giả trongsuốt thời gian qua

Trang 5

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở NƯỚC TA 29 2.1 Mối quan hệ giữa CNH, HĐH với vấn đề xây dựng con người Việt Nam 30

2.1.1 Đặc điểm, nội dung của quá trình CNH, HĐH ở nước ta 30 2.1.2 Vai trò quyết định của việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay 38

2.2 Sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Triết học Mác – Lênin về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quan điểm của Đảng ta về xây dựng phát triển con người 43

2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong sự nghiệp cách mạng do ĐCSVN lãnh đạo 43 2.2.2 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng phát triển con người 58

CHƯƠNG 3 .: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐÁP ỨNG SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CNH, HĐH 71 3.1 Một số phương hướng chủ yếu về xây dựng con người 71

3.1.1 Gắn việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội 71

Trang 6

3.1.3 Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ 74 3.1.4 Xây dựng chiến lược phát triển con người để trên cơ sở đó phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho CNH, HĐH 76

3.2 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn lực có chất lượng cho

sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay 77

3.2.1 Phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho CNH, HĐH trên cơ sở lấy phát triển giáo dục – đào tạo làm “quốc sách hàng đầu” 77 3.2.2 Đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ 84 3.2.3 Xây dựng và thực hiện tốt chính sách xã hội đúng dắn, công bằng vì con người nhằm phát huy nguồn lực con người 88

C KẾT LUẬN 93

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.……… 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ rất sớm, vấn đề con người đã trở thành mối quan tâm đặc biệt củanhiều ngành khoa học, trong đó có triết học Tuy nhiên, trong các hệ thốngtriết học trước Mác, những nhận thức và lý giải về con người, về bản chất conngười, về vai trò vị trí con người trong lịch sử và vấn đề giải phóng con người

đã bộc lộ không ít những hạn chế căn bản Bằng việc kế thừa, tiếp thu mộtcách có phê phán, có chọn lọc tư tưởng tiến bộ của nhân loại về con người,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra nhiều quan điểm khoa học

về con người, về bản chất con người, về vị trí và vai trò của con người trongthế giới, đặc biệt là tư tưởng về sự nghiệp giải phóng con người thoát khỏimọi sự “tha hóa”

Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng Cộng sản ViệtNam đã coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “nền tảng tư tưởng’, làm “kim chỉ nam”cho mọi hành động cách mạng Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin nóichung, quan điểm về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng, Đảng ta

đã nhiều lần khẳng định “con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúccủa con người là mục tiêu cao nhất của chế độ ta” Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn nhắc nhở Đảng ta và căn dặn chúng ta “vì lợi ích mười năm trồng cây, vìlợi ích trăm năm trồng người” Nhờ đó, đã giúp Đảng ta huy động được tối đamọi nguồn lực con người cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dântộc

Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Đây là một quá trình mang tính tất yếu khách quan và là một đòi hỏi cấp báchcủa dân tộc Thực chất của quá trình này là nhằm “chuyển đổi căn bản, toàndiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ

sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến khoa học, tạo

ra năng suất lao động xã hội cao” Lấy quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, về vai trò sáng tạo lịch sử củacon người và vai trò của người và vai trò của nguồn lực con người trong phát

Trang 8

triển kinh tế - xã hội làm cơ sở lý luận, Đảng ta khẳng định: “Trong côngcuộc đổi mới đất nước hiện nay, con người luôn được coi là nguồn lực củamọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên, là nhân tố bảo đảm quantrọng nhất để đưa đất nước ta thành một nước Công nghiệp hóa, Hiện đại hóatrong tương lai” Do vậy, Đảng ta chủ trương : “Nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tốkhẳng định thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nhiệm vụtrọng tâm của chúng ta trong thời kỳ này là phải xây dựng cơ sở vật chất và

kỹ thuật cho xã hội mới Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng đó,nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện mục tiêuchuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp hiệnđại

Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàncầu hóa hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực vàtrình độ mà con người Việt Nam cần phải có Con người Việt Nam với nhữngphẩm chất và năng lực như hiện tại đã không còn đáp ứng thỏa mãn nhữngyêu cầu của nhiệm vụ mới đầy khó khăn, gian nan và thử thách lâu dài của

cách mạng, đó là xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia “Dân giàu,

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Chính vì vậy, việc tiếp tục tìm

hiểu, nghiên cứu quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người để đềxuất những định hướng và giải pháp phù hợp nhằm xây dựng và phát triểntoàn diện con người Việt Nam hiện nay thực sự là một đòi hỏi bức thiết Xuấtphát từ nhu cầu đó, chúng tôi chọn đề tài “VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦATRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀO VIỆC XÂY DỰNGCON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY” để thực hiện luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người luôn là một trong những trọng tâm nghiên cứu củatriết học từ cổ đại đến hiện đại, cả ở phương Tây lẫn phương Đông

Với tính cách là triết học của sự giải phóng toàn diện con người, trong phần lớn các trước tác của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –

Trang 9

Lênin luôn quan tâm đến vấn đề con người, bản chất con người và vai trò, vị trí của con người trong thế giới và vấn đề giải phóng con người Cốt lõi của toàn bộ các quan điểm lý luận về con người của triết học Mác – Lênin chính

là tư tưởng coi con người vừa là chủ thể của lịch sử, đồng thời là mục tiêu của

sự phát triển xã hội

Ở nước ta, các quan điểm cơ bản về con người của triết học mác xítgiành được sự quan tâm đặc biệt từ các nhà nghiên cứu Trong rất nhiều côngtrình nghiên cứu về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được công bố,

nổi bật hơn cả là tác phẩm “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” của tác giả Trần Đức Thảo ( Nxb TP Hồ Chí Minh - 1989).

Trong công trình nổi tiếng này, tác giả đã đưa ra những luận cứ sắc bén bác

bỏ các quan niệm sai lầm về con người trong các trào lưu triết học phươngTây và khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng trong quan niệmcủa C Mác về bản chất con người

Kể từ khi nước ta bước và thời kỳ thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, lý luận về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin càngđược quan tâm nghiên cứu hơn bao giờ hết bởi những giá trị thực tiễn cấpthiết lớn lao của nó Đã có rất nhiều công trình, bài viết gần gũi với đề tài luậnvăn của chúng tôi đã được công bố và xuất bản

Trước tiên, phải kể đến công trình nghiên cứu có tiêu đề “Vấn đề xây dựng con người mới” công trình tập thể của nhiều tác giả dưới sự chủ biên

của GS Phạm Như Cương do viện Triết học xuất bản năm 1978 Trong đó cónhững bài viết về quan niệm của các nhà Triết học trong lịch sử triết học vàcác nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin về con người Vấn đề trọng tâmcủa công trình này là vận dụng quan niệm của Triết học Mác – Lênin về conngười vào việc xây dựng con người Việt nam hiện nay; tiếp theo là công

trình“Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của

tác giả Phạm Minh Hạc, (Nxb, Chính trị Quốc gia – 1996) Trong công trìnhnày, tác giả đã đề cập một cách cụ thể, trực tiếp các yêu cầu về năng lực củacon người Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu của sự nghiệp công

Trang 10

nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh những thách thức

mà thời đại đặt ra cho nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam

Cũng trong năm 1996, tác giả Phạm Minh Hạc còn cho xuất bản một

công trình nghiên cứu khác có tựa đề:“Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” (Nxb Khoa học Xã hội) Ở cuốn

sách này, từ góc độ tâm lý tác giả đã đề cập đến vai trò của giáo dục trongviệc xây dựng con người Việt Nam với những phẩm chất, năng lực đáp ứngyêu cầu của nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh mới của đấtnước và thời đại

Năm 2001, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “Nghiên cứu con người và nguồn lực con người đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cũng

của tác giả Phạm Minh Hạc Tác giả thực hiện công trình này cho mục đíchluận giải vấn đề con người với tư cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của sựphát triển đất nước, phát triển xã hội

Cuốn sách “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” là thành quả nghiên cứu của tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn,

Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn ( Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuấtbản năm 2002) Các bài viết trong cuốn sách này đều đề cập đến vấn đề conngười và những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối vớiphẩm chất, năng lực con người Việt Nam

Từ góc độ nghiên cứu lực lượng sản xuất và nhân tố con người trong lực

lượng sản xuất, tác giả Hồ Anh Dũng với công trình “Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” do Nhà xuất bản Khoa

học Xã hội xuất bản năm 2003; tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy với tác phẩm

“Nhân tố con người trong sự phát triển sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay” – Luận văn Thạc sĩ Khoa học Triết học, Thành phố Hồ Chí Minh năm

1999, đã làm rõ vai trò nhân tố con người và những yêu cầu cần thiết để pháttriển con người

Ngoài ra còn rất nhiều bài báo, sách của nhiều tác giả khác như: tác giả

Đinh Ngọc Thạch với bài “Quan niệm của C Mác về “tha hóa loài” của con người và sự xóa bỏ tha hóa đó vì mục tiêu nhân đạo (qua “Bản thảo kinh tế -

Trang 11

triết học 1844”) đăng trên Tạp chí Triết học số 7; tác giả Nguyễn Anh Tuấn với bài “Quan niệm của C Mác về tha hóa lao động và bản chất con người qua “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” đăng trên Tạp chí Triết học số 10/149; tác giả Nguyễn Văn Tài với “Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam” đăng trên Tập san Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Số 7; tác giả Cao Thu Hằng với bài “Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người, giải phóng con người trong “Hệ tư tưởng Đức” và sự vận dụng của Đảng ta” đăng trên Tạp chí Triết học, Số 3/178; tác giả Lê Ngọc Tòng với bài “Quan niệm của C.Mác về con người và vấn đề phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” đăng trên Tạp chí Triết học, Số 11; tác giả Bùi Bá Linh với tác phẩm

“Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003;

v.v

Nhìn chung, tuy không đi vào nghiên cứu tập trung, cụ thể vấn đề “VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CONNGƯỜI VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰNGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA”, nhưng với việc đề cập,

lý giải vấn đề con người và vai trò của nhân tố con người trong sự phát triển

xã hội ở những khía cạnh, mức độ khác nhau, tất cả các công trình, bài viết kểtrên là cơ sở, tiền đề, là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi thực hiện đề tàiluận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là làm rõ quan điểm của triết học Mác – Lênin vềcon người, qua đó đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm pháttriển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở nước ta hiện nay

Để đạt được mục đích trên, đề tài phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày quan điểm cơ bản của triết học Mác – Lênin về con

người, về bản chất con người và vai trò của con người

Trang 12

Thứ hai, trình bày thực trạng vận dụng quan điểm của Triết học Mác –

Lênin về con người trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa ở nước ta

Thứ ba, đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng

và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở lý luận: đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên lý của

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm của Đảng ta về con người và vấn đề xây dựng con ngườiViệt nam trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa Đồng thời có thamkhảo những công trình nghiên cứu của các tác gỉa trong và ngoài nước có liênquan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu: ngoài phương pháp chung nhất là phương

pháp biện chứng duy vật, đề tài còn được giải quyết thông qua một số phươngpháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa, khái quáthóa, đối chiếu và so sánh, lịch sử và logic, v.v

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của chủ

nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điệm của Đảng ta về conngười và vai trò của con người đối với lịch sử

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu

tham khảo cho sinh viên ngành chính trị và những ai quan tâm đến vấn đề conngười và vai trò của con người

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1: Quan niệm của Triết học Mác – Lênin về con người – cơ sở

lý luận của việc xây dựng con người Việt nam trong sự nghiệp Công nghiệphóa, hiện đại hóa

Chương 2: Thực trạng vận dụng quan điểm của Triết học Mác – Lênin

về con người trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta

Trang 13

Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng con người Việt namtrong sự nghiệp CNH, HĐH

Trang 14

CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Trong tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, trước khi triết họcMác – Lênin ra đời, vấn đề con người và bản chất con người, vai trò chủ thểlịch sử của con người và vấn đề giải phóng con người là những vấn đề trởthành đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều ngành khoahọc, trong đó có triết học Mỗi lĩnh vực khoa học đi sâu vào nghiên cứu mộtmặt, một khía cạnh nào đó của con người Triết học thì đi sâu nghiên cứu lýgiải những vấn đề chung nhất về con người như: con người là gì, bản chất conngười là gì, con người có vai trò như thế nào trong thế giới tự nhiên, trong xãhội, giữa con người và thế giới cần phải thiết lập mối quan hệ như thế nào đểcùng tồn tại và phát triển? Tuy nhiên, trong các hệ thống triết học trướcMác, những nhận thức và lý giải về con người, bản chất con người, về vị trívai trò con người trong lịch sử và vấn đề giải phóng con người đã bộc lộkhông ít những hạn chế căn bản Bằng việc kế thừa, tiếp thu một cách có phêphán, có chọn lọc tư tưởng tiến bộ của nhân loại về con người, về bản chấtcon người, về vị trí vai trò con người trong thế giới, đặc biệt là tư tưởng vềgiải phóng con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã tạo ra mộtbước ngoặt cách mạng về tất cả các vấn đề này và làm cho chủ nghĩa Mác –Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng đã trở thành học thuyết vềcon người và giải phóng con người

1.1 Quan điểm về con người và bản chất con người của triết học Mác – Lênin

1.1.1 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người

Giai đoạn xây dựng cơ sở lý luận cho một quan niệm mới về con người,

về bản chất con người được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin trình bày

trong các tác phẩm lớn như: Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình

Trang 15

thần thánh, Tình cảnh giai cấp công nhân lao động ở Anh , trong đó, đáng lưu ý nhất là tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 Đây là một

trong những tác phẩm được coi là công trình đánh dấu sự hình thành triết họcMác – Lênin Ở trong các tác phẩm trên, để đi đến một quan niệm mới đúngđắn về con người, về bản chất con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác –Lênin không chỉ tiến hành một sự phê phán triệt để đối với quan điểm duytâm tư biện của Hêghen và quan điểm duy vật nhân bản của Phoiơbắc về conngười để từ đó đưa ra một quan niệm mới về con người, mà các ông còn tậptrung làm rõ nội dung khái niệm “con người” và ý nghĩa của nó Đây là mộtviệc làm hết sức cần thiết, bởi lẽ, ngoài việc đem lại cho chúng ta cơ sở đểnhận thức quan niệm mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc của các nhàsáng lập Chủ nghĩa Mác – Lênin về con người, về bản chất xã hội của conngười, nó còn giúp ta khẳng định, học thuyết Mác – Lênin ngay từ đầu đã lấy

tư tưởng vì con người và giải phóng con người làm cơ sở nền tảng, làm mụcđích tối cao

Phê phán quan điểm duy tâm tư biện của Hêghen khi coi tính đặc thù củacon người, bản chất con người chỉ là yếu tố nhất thời trong quá trình tư duylogich trừu tượng của con người, con người chỉ là sản phẩm của tư duy, tinhthần, của “ý niệm tuyệt đối”, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác – Lênin chorằng: bản thân những trừu tượng tư biện, những “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện của những điều kiện sản xuất và giao tiếp nhấtđịnh của con người Những trừu tượng tư biện, những “ý niệm”, “ý niệmtuyệt đối” chẳng qua là những xuyên tạc mang tính tư tưởng hệ bản chất thực

sự của con người Các ông cho rằng: “Tổng số những lực lượng sản xuất,những tư bản và những hình thức xã hội của sự giao tiếp mà mỗi cá nhân vàmỗi thế hệ thấy hiện có, là cơ sở hiện thực của cái mà các nhà triết học hìnhdung là “thực thể”, là “bản chất con người”, của cái mà họ đã tôn sùng và đảkích, một cơ sở hiện thực mà tác động và ảnh hưởng của nó đối với sự pháttriển của con người không hề bị ngăn trở bởi việc các nhà triết học ấy với tưcách là “tự ý thức” và “kẻ duy nhất” nổi dậy chống lại nó” [35; 55]

Trang 16

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cũng phê phán quan điểm về con ngườichung chung, trừu tượng, phi lịch sử của nhà duy vật nhân bản Phoiơbắc Mặttích cực trong quan điểm của Phoiơbắc về con người là ông đã bác bỏ quanniệm duy tâm tôn giáo về nguồn gốc con người, khi coi con người là sảnphẩm của Thượng đế Theo ông, không phải Thượng đế sinh ra con người, màngược lại, chính con người đã tạo ra Thượng đế theo hình ảnh lý tưởng củamình Bản chất con người là tổng thể của những khát vọng, khả năng, nhucầu, ham muốn và trí tưởng tượng của con người Phoiơbắc coi con người làsản phẩm, là bộ phận của tự nhiên Tuy nhiên, Phoiơbắc lại coi con người chỉ

là một sinh vật có hoạt động tâm – sinh lý, có cảm giác, có tư duy Con ngườitrong quan niệm của Phoiơbắc chỉ là một sinh vật nhục thể, có cảm giác, chứkhông phải là một sinh vật xã hội, có tính lịch sử - cụ thể

Từ việc phê phán một cách có căn cứ khoa học và trên tinh thần cáchmạng các quan điểm duy tâm tư biện của Hêghen và quan điểm duy vật nhânbản của Phoiơbắc về con người, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác – Lênin đã

đi đến xây dựng một quan niệm mới khoa học về con người Theo các ông, sựnhận thức đúng đắn về con người, về bản chất con người và giải phóng conngười, chỉ có thể có được, khi xem xét con người với tư cách là con ngườihiện thực, với đời sống xã hội hiện thực của nó, thông qua những hành độnglịch sử và các quan hệ xã hội của nó

Điểm xuất phát để nghiên cứu về con người của các nhà sáng lập Chủnghĩa Mác – Lênin bắt đầu từ một tiền đề duy vật – con người trước hết phảitồn tại rồi mới có thể “làm ra lịch sử”, đồng thời các ông đã xuất phát từ conngười trong đời sống xã hội hiện thực – cụ thể, con người trong hoạt độngthực tiễn để nghiên cứu về con người

Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, nhận thứccon người bao giờ cũng bắt đầu từ sự nhận thức những tiền đề xuất phát củađời sống và của lịch sử Con người cần phải được hiểu một cách hiện thựctrong đời sống xã hội hiện thực – cụ thể của nó “Không phải những conngười trong một tình trạng biệt lập và cố định tưởng tượng mà là những conngười trong một trong quá trình phát triển – quá trình phát triển hiện thực và

Trang 17

có thể thấy được bằng kinh nghiệm – của họ dưới những điều kiện nhất định”[35; 55] Với các ông, nhận thức con người bao giờ cũng bắt đầu từ sự nhậnthức những tiền đề xuất phát của đời sống và của lịch sử Bằng việc “nghiêncứu những đối tượng có thực, sống động, nghiên cứu sự phát triển lịch sử vànhững kết quả của sự phát triển ấy” [34; 23], các ông cho thấy, nhận thức vềlịch sử không phải là sự nhìn nhận cái bên ngoài Lịch sử là kết quả hoạt độngcủa chính con người, cho nên nhận thức về lịch sử thực chất cũng là nhậnthức về hoạt động của con người, là nắm bắt tiến trình lịch sử của con người.Khi coi tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, đó là conngười phải có khả năng sống, rồi mới có thể “làm ra lịch sử”, các nhà sáng lậpchủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: “những tiền đề xuất phát của chúng tôikhông phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền

đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng mà thôi Đó

là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện mà họthấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra” [35;28-29]

Trong quan niệm của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, tínhhiện thực của con người và bản chất con người được thể hiện trước hết ở chỗ,con người tồn tại khách quan trong hoạt động thực tiễn của nó Sự tồn tại củacon người là tồn tại hiện thực, hiển nhiên, cảm tính chứ không phải là cái gì

đó mang tính trừu tượng Các ông cho rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất, là

có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí, đều được giải đáp một cáchhợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [35;12] và “các nhà triết học chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau,song vấn đề là cải tạo thế giới” [35; 12] Thông qua hoạt động thực tiễn vậtchất, hoạt động lao động sản xuất, con người tạo ra đời sống xã hội của mình,làm nên lịch sử của mình

Trước khi Triết học Mác –Lênin ra đời, dù nỗ lực không ngừng nghỉ,song các nhà triết học vẫn chưa đưa ra được câu trả lời thích đáng cho các câuhỏi về con người, bản chất con người, và bởi vậy, chủ nghĩa duy tâm vẫn làquan điểm triết học thống trị trong địa hạt này Trên cơ sở tổng kết thành tựu

Trang 18

của các khoa học và sự kế thừa một cách có phê phán, có chọn lọc quan điểm

về con người của các nhà triết học tiền bối trong lịch sử, các nhà sáng lập chủnghĩa Mác – Lênin đã đưa ra một quan niệm mới mang tính khoa học về conngười Theo các ông, con người là một thực thể sinh vật – xã hội, trong đó có

sự đan xen của ba hệ thống các nhu cầu (nhu cầu sinh học, nhu cầu xã hội,nhu cầu tinh thần) và ba hệ thống quy luật (quy luật sinh học, quy luật xã hội,quy luật tinh thần), cụ thể:

Thứ nhất, khoa học và thực tiễn đã chứng minh rằng, tiền đề đầu tiên

chứng tỏ sự tồn tại hiện hữu của mỗi con người đó là thể xác sống của conngười, mà thể xác sống của con người là vật thể tự nhiên, là sản phẩm tiếnhóa lâu dài của tự nhiên và là sự tiếp tục phát triển của tự nhiên Ph Ăngghencho rằng bản thân chúng ta với tất cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta

là thuộc về giới tự nhiên Chính vì vậy, thể xác “khả tử” của con người luônchịu sự tác động của các quy luật tự nhiên sinh học như: quy luật trao đổi chấtgiữa cơ thể với môi trường; quy luật biến dị, di truyền; quy luật tiến hóa và

do sự tác động của các quy luật này mà trong con người luôn có các nhu cầu

tự nhiên sinh học như: ăn, uống, ngủ, duy trì nòi giống v.v nếu như thiếu cácnhu cầu này thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại

Thứ hai, sự tồn tại của con người còn gắn liền trực tiếp với sự tồn tại của

xã hội, vì vậy, nói đến con người là con người xã hội và nói đến xã hội là xãhội con người Nhưng con người không thể nào tự lựa chọn cho mình cái xãhội và các quan hệ xã hội để sinh ra, mà trong cuộc sống con người buộc phảitiếp nhận cái xã hội và các quan hệ xã hội đã có và đang có, trong đó “xã hộisản sinh ra con người với tư cách là con người như thế nào thì con người cũngsản sinh ra xã hội như thế” [32; 139] Do vậy, trong cuộc sống con người cònchịu sự tác động và chi phối bởi các quy luật xã hội như: quy luật quan hệ sảnxuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật vềmối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quy luậtđấu tranh giai cấp v.v Đồng thời, do sự tác động của các quy luật xã hội, màcon người có các nhu cầu xã hội như: nhu cầu học tập, giao tiếp v.v Ngay cácnhu cầu tự nhiên sinh học trong con người, do sự tác động của các quy luật xã

Trang 19

hội, thì các nhu cầu ấy cũng “mang tính xã hội”, hay nói cách khác là các nhucầu ấy bị xã hội hóa.

Thứ ba, sự tồn tại của con người còn gắn liền với sự tồn tại của ý thức.

Con người nhờ cấu trúc sinh học – xã hội, cùng với hệ thống thần kinh caocấp, thông qua các giác quan và các công cụ nhận thức do con người tạo ra đểcon người nhận thức, phản ánh thế giới khách quan tạo thành ý thức Ý thứckhông phải là hiện thực vật chất, cũng không “thuần túy” là hiện thực tinhthần, ý thức là “hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan”- là thế giới kháchquan ở bên ngoài được “di chuyển” vào trong đầu óc và được cải biến đitrong đó, không còn nguyên xi là thế giới khách quan Vì sự tồn tại của conngười gắn liền với sự tồn tại của ý thức, nên điều này liên quan đến sự sống

và cái chết Khi con người sống thì ý thức tồn tại, khi con người chết đi thì về

cơ bản ý thức mất đi, nhưng vẫn còn một bộ phận ý thức được “vật chất hóa”dưới dạng hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ v.v đang tồn tại cùng với hiện tại vàtương lai Trong con người, ngoài các nhu cầu tự nhiên sinh học và nhu cầu

xã hội còn có các nhu cầu văn hóa tinh thần và chịu sự tác động của các quyluật tinh thần

Như vậy, con người là một thực thể sinh học – xã hội, trong đó có sự tácđộng đan xen của ba hệ thống nhu cầu (nhu cầu sinh học, nhu cầu xã hội, nhucầu tinh thần) và ba hệ thống quy luật (quy luật sinh học, quy luật xã hội vàquy luật tinh thần) Mỗi hệ thống nhu cầu và hệ thống quy luật này có vai trò,

vị trí và tác động của mình trong sự tồn tại và phát triển của con người, đồngthời chúng cũng tham gia vào việc quy định bản chất của con người Trong

đó, hệ thống các nhu cầu xã hội và các quy luật xã hội giữ vị trí trung tâm vàvai trò quyết định

Ngoài việc đưa ra một quan niệm mới, khoa học về con người, các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin còn tập trung làm rõ nội dung và ý nghĩa củakhái niệm “con người” Khái niệm “con người” được các ông sử dụng vớimột nội dung hết sức phong phú: con người là phương thức tồn tại của conngười trong thế giới, là một cá nhân riêng biệt, là một mẫu hình lý tưởng về

Trang 20

sự tồn tại và phát triển của chính nó, là chủ thể trừu tượng và là đại biểu điểnhình cho nhân loại, cụ thể:

- “Con người” đó là những con người riêng biệt, là những cá nhân hiệnthực với hoạt động lao động của họ “Con người là một cá nhân đặc thù nào

đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thựcthể xã hội cá thể hiện thực” [38; 17]

- “Con người” là một mẫu hình lý tưởng về sự tồn tại và phát triển củachính nó, một mẫu hình mà khi đối chiếu với những hoạt động sinh sống hiệnthực của con người sẽ cho thấy những hoạt động ấy có mang tính người haykhông mang tính người

- “Con người” còn được coi là một chủ thể trừu tượng, là sự nhân cáchhóa, lược đồ hóa hoạt động trừu tượng của con người Đó là con người với tưcách là con người, con người tự nó – con người được trừu tượng hóa bởi cácmối quan hệ, các điều kiện, các hình thức phương tiện hoạt động hiện thựccủa nó, là “sự tồn tại trừu tượng của con người với tính cách chỉ là con ngườilao động” và do vậy, hàng ngày nó “có thể bị đẩy từ cái hư không đầy đủ củamình vào cái hư không tuyệt đối, vào lĩnh vực “không tồn tại có tính chất xãhội” của nó” [38; 150]

- “Con người” đó là một danh từ chung dùng để chỉ toàn thể các cá nhâncon người – Đó là tộc loại con người theo nghĩa logic hình thức của từ đó, làgiai cấp người với tư cách là khách thể đặc biệt, được phân biệt theo một dấuhiệu xác định từ vô số khách thể tồn tại trên trái đất

Như vậy khái niệm con người được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác –Lênin sử dụng với nội dung phong phú: con người khi đại diện cho loài là cáthể, khi là thành viên của xã hội là cá nhân, khi là chủ thể của hoạt động lànhân cách Mỗi chúng ta là một con người, một cá nhân, một cá thể, một nhâncách, đó là một hệ thống các phạm trù triết học để chỉ chung về “con người”.Những nội dung phong phú của khái niệm “con người” trên phản ánh tínhphức tạp, tính đa dạng trong quá trình sinh sống, hoạt động của con người Ýnghĩa của nó ở chỗ, chúng ta phải xuất phát từ những nội dung phong phú ấy,

để tìm ra các hình thức diễn đạt lý luận hoàn hảo về các phương diện và các

Trang 21

yếu tố khác nhau trong quá trình sinh sống, hoạt động của con người, xác địnhmối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, giữacon người với xã hội, để từ đó xây dựng một quan điểm lý luận hoàn chỉnh vềbản chất con người, về vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử của con người.

1.1.2 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người

Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, con người

là một thực thể sinh vật – xã hội, một thực thể thống nhất của hai mặt đối lập:một mặt, con người là thực thể tự nhiên (“cái tự nhiên”, “con người tự nhiên”,

“cái sinh vật”, “con người sinh vật”); mặt khác, con người là thực thể xã hội(“cái xã hội”, “con người xã hội”) tách ra như một lực lượng đối lập với tựnhiên Chính sự tác động lẫn nhau giữa “cái sinh vật” và “cái xã hội” trongmỗi con người đã tạo thành bản chất con người

Trước hết, con người là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm tiến hóa

lâu dài của tự nhiên và là sự tiếp tục phát triển của tự nhiên Với tư cách là vậtthể tự nhiên, con người tác động vào các vật thể tự nhiên khác, cải biến chúng

và phục tùng các quy luật của chúng để tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” – tựnhiên – con người Mối quan hệ giữa con người – tự nhiên là mối quan hệmang tính lịch sử - cụ thể Con người bằng hoạt động thực tiễn của mình,từng bước chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ các nhu cầucủa mình Thông qua đó, con người cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạochính bản thân con người Như vậy, con người vừa là tiền đề, là chủ thể và làkết quả hoạt động của nó Thông qua hoạt động ấy, con người thể hiện sứcmạnh bản chất loài của mình

Thứ hai, con người là một thực thể xã hội tách ra như một lực lượng đối

lập với tự nhiên Quan hệ giữa con người với tự nhiên, sức mạnh bản chất củacon người không thể thực hiện được nếu không tính đến tính xã hội của bảnchất con người Bởi vì con người là con người xã hội, hoạt động của conngười là hoạt động xã hội Tính quy định loài của con người, sức mạnh loàicủa nó làm cho nó trở thành một thực thể xã hội mang lại tính xã hội cho hoạtđộng của nó Vì vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, xem xétbản chất con người cần phải xem xét trong mối quan hệ giữa con người với

Trang 22

con người, trong các mối quan hệ hiện thực của con người Trong các mốiquan hệ ấy, các ông kết luận: “xã hội sản xuất ra con người như thế nào thìcon người sản xuất ra xã hội như thế” Con người vừa là sản phẩm của tựnhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, và do vậy, trong con người luôn có hai mặtkhông thể tách rời – mặt tự nhiên và mặt xã hội – con người là một thực thểsinh học – xã hội.

Như vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, con người là sảnphẩm của sự phát triển cao nhất của tự nhiên, là bộ phận của tự nhiên, tồn tạigắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người.Con người bằng hoạt động thực tiễn của con mình (nhất là hoạt động lao độngsản xuất) tác động vào tự nhiên cải biến tự nhiên để phục vụ các nhu cầu củamình, cũng qua đó con người cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình.Qua đó con người biến các thuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xãhội “Chỉ có trong xã hội, con người mới thể hiện bản chất tự nhiên và xã hộicủa mình Tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người.Con người là một tổng thể tồn tại với hai mặt tự nhiên và xã hội” [52; 514]Khi nghiên cứu, tiếp thu và kế thừa một cách có phê phán, có chọn lọcnhững quan điểm hợp lý về con người của các nhà triết học tiền bối trong lịch

sử, mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức, với hai nhà triết học vĩ đại Hêghen

và Phoiơbắc, C Mác và Ph Ăngghen đã vạch ra sai lầm của Hêghen vàPhoiơbắc về bản chất con người Các ông đã phê phán quan điểm duy tâm tưbiện của Hêghen về con người khi Hêghen coi con người là hiện thân của “ýniệm tuyệt đối” Đồng thời, các ông cũng nhận thấy tính chất siêu hình trongquan điểm của Phoiơbắc, đó là Phoiơbắc đã đồng nhất tính sinh học vào bảnchất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội, hòa tan bản chất conngười vào bản chất tôn giaó Ph.Ăngghen, trong bức thư gửi cho C Mác ngày19-11-1984, cũng đã chỉ rõ: “Con người” của Phoiơbắc là “cái phái sinh từThượng đế”, Phoiơbắc đi từ Thượng đế để đến “con người” và do vậy “conngười” của ông vẫn còn được phủ lên trên một lớp “hào quang trừu tượngthần thánh” Lẽ ra, theo ông, con đường thực sự dẫn đến “con người” là conđường hoàn toàn ngược lại Chúng ta phải xuất phát từ cái “tôi”, từ “cá nhân

Trang 23

mang tính kinh nghiệm, có thể xác” để vươn tới “con người” Chỉ khi xuấtphát từ cái cá nhân kinh nghiệm bằng xương, bằng thịt và chỉ trên cơ sở ấy,các cá nhân mới không đơn giản là các cá nhân, mà trở thành những conngười hiện thực với đúng nghĩa của nó, khi đó chúng ta mới hiểu “con người”theo đúng nghĩa của nó” [52; 505] Khi phê phán quan điểm của Phoiơbắc vềcon người và bản chất con người, trong “Luận cương về Phoiơbắc”, C Mác

đã khái quát bản chất con người trong một luận điểm ngắn gọn nhưng sâu sắc

và súc tích như sau: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo và bản chất conngười Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữucủa cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người làtổng hòa các quan hệ xã hội” [35; 11] Đây là một luận điểm hết sức tiêu biểucủa triết học Mác – Lênin về bản chất con người Luận điểm này trên thực tế

đã trở thành cơ sở lý luận khoa học cho các khoa học nói chung, cho Chủnghĩa Mác – Lênin nói riêng khi nghiên cứu giải quyết vấn đề con người Để

có được một luận điểm ngắn gọn, mới nhìn tưởng như đơn giản nhưng lại hếtsức sâu sắc, súc tích đến như vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đãphải trải qua một quá trình nghiên cứu khoa học hết sức nghiêm túc và tỉ mỉ

Do vậy, chúng ta cũng cần phải có một sự phân tích khoa học, thấu đáo vềđiều này để qua đó nắm vững quan điểm của các ông về bản chất con người.Trước hết, khi phê phán “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bảnchất con người”, C Mác cho rằng: “Tôn giáo biến bản chất con người thànhtính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thực

sự Do đó đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới

mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo” [33; 571] Tôn giáo không thể đem lại

sự giải phóng cho con người một cách hiện thực, mà chỉ là sự giải phóng hư

ảo – “thuốc phiện của nhân dân” Tôn giáo là sự tha hóa của con người, là

“tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức”, là “trái tim của thế giới không cótrái tim”, là “tinh thần của những trật tự không có tinh thần” Cho nên, theo C.Mác, “sau khi hình tượng thần thánh của sự tha hóa của con người đã bị bóctrần thì nhiệm vụ cấp thiết của triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sựtha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó” [33; 571] giúp con

Trang 24

người trở về với sự tồn tại hiện thực chân chính của mình, đối mặt với chínhmình trong các quan hệ xã hội.

“Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cánhân riêng biệt” - luận điểm này cho thấy, bản chất con người không phải làmột “cái gì đó” được sinh ra, định hình, có sẵn ở trong mỗi con người, rồiđược lớn dần lên về lượng theo thời gian, mà bản chất con người được hìnhthành trong quá trình con người lớn lên, trưởng thành, khi con người hòa nhậpmình vào các quan hệ xã hội, con người tiếp nhận các giá trị xã hội, biến cácgía trị xã hội ấy thành giá trị riêng của bản thân Đây là quá trình xác lập cái

“tôi” để phân biệt với cái “chúng ta”, là quá trình con người trở thành conngười chủ thể, khi đó con người tự chịu trách nhiệm trước các hành vi củamình, tự mình có thể điều chỉnh và kiểm tra các nhu cầu, hoạt động của mình.Tiếp theo, “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòacác quan hệ xã hội” Luận điểm này cho thấy, khi vạch ra bản chất con người,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã vận dụng phép biện chứng duy vậtvào khảo sát con người, bắt đầu từ con người trong hoạt động thực tiễn, từtrong hoàn cảnh xã hội lịch sử - cụ thể Do vậy, các ông đặc biệt nhấn mạnh

“trong tính hiện thực” Bởi lẽ, luận điểm xuất phát của các ông là luận điểmcho rằng, xét về thực chất, quá trình hình thành và phát triển của đời sống conngười là hoạt động sản xuất, hoạt động thực tiễn của con người Do vậy, bảnchất con người phải được xem xét “trong tính hiện thực” cụ thể, con ngườivới tư cách là con người hiện thực, chứ không phải bản chất loài trừu tượngthoát ly tính hiện thực Thực tiễn là đặc điểm cơ bản của con người hiện thực,chỉ nắm vững điều này mới cho phép chúng ta giải thích đúng về bản chất conngười

“Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”, luận điểm này còncho thấy con người là một thực thể có tính loài Đặc tính “loài” của con ngườihiện thực tức là tính người Tính người bao gồm toàn bộ các thuộc tính vốn cócủa con người, trong đó có ba thuộc tính cơ bản nhất đó là thuộc tính tựnhiên, thuộc tính xã hội và thuộc tính tư duy (như ở trên đã phân tích, conngười là thực thể sinh vật – xã hội, trong đó có sự đan xen của ba hệ thống

Trang 25

các nhu cầu – nhu cầu sinh học, nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần – và ba hệthống quy luật, quy luật sinh học, quy luật xã hội, quy luật tinh thần) Trong

ba thuộc tính ấy thì thuộc tính xã hội là quan trọng nhất, vì nó chế ước và quyđịnh thuộc tính tự nhiên và thuộc tính tư duy, khiến cho dấu ấn xã hội in đậm,thấm sâu vào các thuộc tính đó Bởi lẽ, do tác động của các quy luật xã hội

mà các nhu cầu tự nhiên trong con người đã bị xã hội hóa và ý thức, ngôn ngữcủa con người chính là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội Do vậy, “bảnchất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”

“Tổng hòa các quan hệ xã hội” của con người bao gồm tổng thể nhữngquan hệ mà con người đã có, đang có và trong chừng mực nào đó nó còn baogồm cả những quan hệ xã hội trong tương lai Tất cả các quan hệ xã hội củaloài người được chia thành hai loại quan hệ cơ bản là: quan hệ vật chất và cácquan hệ tinh thần Trong hai loại quan hệ đó, quan hệ vật chất quyết địnhquan hệ tinh thần Phải đặt con người trong tổng hòa các quan hệ xã hội đểtiến hành nghiên cứu, khảo sát, tổng hợp thì chúng ta mới nắm được toàn diệnbản chất con người “Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”,nhưng con người bao giờ cũng là con người riêng biệt, con người cụ thể, ứngvới những thời đại, những giai đoạn lịch sử nhất định, với từng tập đoànngười; đồng thời nó cũng mang bản chất chung của nhân loại, phát triển trongtoàn bộ lịch sử loài người Tổng hòa các quan hệ xã hội không những chophép giải thích bản chất cộng đồng của loài người, mà còn giải thích được bảnchất đặc thù của cá nhân trong cộng đồng đó

1.2 Quan điểm về vai trò con người trong lịch sử và vấn đề giải phóng con người của Triết học Mác – Lênin

1.2.1 Vai trò con người trong lịch sử

Khi khẳng định con người là thực thể sinh vật – xã hội, bản chất conngười là tổng hòa các quan hệ xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lêninkhông chỉ đề cập đến mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội, mà còn tiếnhành phân tích vị thế chủ thể, vai trò sáng tạo lịch sử của con người Trongquan niệm của các ông, con người vừa là sản phẩm của lịch sử (tức sản phẩm

Trang 26

của tự nhiên và xã hội), đồng thời là chủ thể sáng tạo ra chính quá trình lịch

sử ấy

Trước hết, “con người là sản phẩm của lịch sử” – sản phẩm của tự nhiên

và xã hội, luận điểm này cho thấy con người là một bộ phận của tự nhiên, làsản phẩm của sự phát triển cao nhất của tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên

- thân thể vô cơ của nó Thông qua hoạt động thực tiễn của mình, nhất là thựctiễn lao động sản xuất vật chất, con người biến thuộc tính tự nhiên của mìnhthành bản chất xã hội Với tư cách là vật thể tự nhiên, con người tác động vàocác vật thể tự nhiên khác, cải biến chúng và phục tùng các quy luật của chúng,

để tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” – tự nhiên – con người Mối quan hệ tự nhiên– con người là mối quan hệ mang tính lịch sử - cụ thể, con người bằng hoạtđộng thực tiễn của mình, từng bước chinh phục tự nhiên nhằm phục vụ chocác nhu cầu của con người Thông qua đó, con người tiến hành cải tạo tựnhiên, cải tạo xã hội, đồng thời cải tạo chính bản thân con người Ở đây, conngười vừa là tiền đề, là chủ thể, đồng thời là kết quả của hoạt động của mình.Con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sống trong môitrường xã hội, bởi vì con người là con người xã hội, xã hội là xã hội của conngười, hoạt động của con người là hoạt động xã hội Tính quy định loài củacon người, sức mạnh loài của nó làm cho nó trở thành một thực thể xã hội,mang lại tính xã hội cho nó Cho nên, xem xét bản chất của con người, ngoàixem xét quan hệ giữa con người với tự nhiên, chúng ta còn phải xem xét mốiquan hệ giữa con người với con người, trong các mối quan hệ hiện thực củacon người Sức mạnh bản chất của con người không thể thực hiện được nếukhông tính đến bản chất xã hội của con người, đến quan hệ xã hội hiện thựccủa con người, và trong các quan hệ ấy thì “xã hội sản xuất ra con người nhưthế nào thì con người cũng sản xuất ra xã hội như thế” Con người vừa là sảnphảm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Do vậy, con người luôn luôn

có hai mặt không thể tách rời – mặt tự nhiên và mặt xã hội Tự nhiên và xãhội trong mỗi con người gắn bó chặt chẽ với nhau Yếu tố sinh học trong mỗicon người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện vàonhau và tồn tại trong yếu tố xã hội Bản chất tự nhiên của con người được

Trang 27

chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến ở trong đó Trongquan niệm của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác – Lênin, con người không chỉ

là sản phẩm của lịch sử, con người còn là chủ thể của hoạt động sản xuất, chủthể của hoạt động lịch sử, là kẻ sáng tạo ra lịch sử Thông qua hoạt động thựctiễn của mình, con người tác động vào giới tự nhiên, tác động vào xã hội, qua

đó con người cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình.Con người tồn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với giới tự nhiên, “giới tựnhiên là thân thể vô cơ của con người” Khi khẳng định điều này, C Mácnhấn mạnh: “như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể

mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn

tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tựnhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bảnthân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên” [38; 135] Nhưvậy, theo C Mác, con người là một bộ phận không thể tách rời của giới tựnhiên và luôn tồn tại gắn liền với một điều kiện tự nhiên nhất định Thếnhưng, con người tồn tại trong tự nhiên khác với những con vật khác, conngười tồn tại với tư cách là chủ thể của quá trình hoạt động cải tạo tự nhiên,cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người Để tồn tại, con vật cũngphải kiếm sống, nhưng cách kiếm sống của chúng khác hẳn với hoạt động sảnsuất của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của mình

Về điểm này, C Mác viết: “Cố nhiên, con vật cũng sản xuất Nó xây dựng tổ,chỗ ở của nó, như con ong, con hải ly, con kiến nhưng con vật chỉ sản xuấtcái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến, nó sản xuất một cách phiếndiện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện Con vật chỉ sản xuất

và bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cảkhi không bị nhu cầu đó ràng buộc” [38; 137] và, “con vật chỉ sản xuất ra bảnthân nó, còn con người thì sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” Không nhữngthế con vật chỉ sản xuất nhằm giải quyết những nhu cầu vật chất, con ngườisản xuất ngoài việc giải quyết nhu cầu vật chất còn nhằm giải quyết nhữngnhu cầu tinh thần Do đó, theo C Mác: “con vật chỉ xây dựng theo kích thước

và nhu cầu loài của nó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất

Trang 28

kỳ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đốitượng, do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp” [38; 137]Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, conngười không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, mà con người còn

là chủ thể của hoạt động lịch sử, là kẻ sáng tạo ra lịch sử Bởi vì, lịch sử làlịch sử của con người, do con người, vì con người Con người là điểm khởiđầu, là trung tâm và là điểm kết thúc của mọi sự kiện chính trị xã hội Khixem xét vị thế của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, tiến trình phát triển lịch sử củanhân loại suy cho cùng, nó được quy định bởi tiến tiến trình phát triển của sảnxuất, quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội, bao gồmcon người và những tư liệu sản xuất với những công cụ lao động do conngười sáng tạo ra để con người tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vậtchất của tự nhiên, nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho con người Sự pháttriển của lực lượng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xãhội, bởi lẽ, theo C Mác: “nó là kết quả của nghị lực thực tiễn của con người”.Nghị lực thực tiễn này, đến lượt nó, lại bị quy định bởi những điều kiện sinhtồn của con người, bởi “một hình thức xã hội đã tồn tại trước khi có nhữnglực lượng sản xuất ấy” Mỗi thế hệ con người bao giờ cũng tiếp nhận đượcnhững lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra và sử dụng chúng làmphương tiện cho hoạt động sản xuất mới Nhờ sự chuyển giao lực lượng sảnxuất ấy mà con người đã “hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử loài người,hình thành nên lịch sử loài người” [52; 515-516]

Khi giải thích sự vận động của lịch sử nhân loại, các nhà sáng lập chủnghĩa Mác – Lênin luôn nhấn mạnh, đó là lịch sử của con người, do conngười làm ra Trong mọi hoàn cảnh, các cá nhân bao giờ cũng xuất phát từbản thân Do vậy, đối với các ông, con người vừa được coi vừa là những tácgiả, vừa là những diễn viên của lịch sử của bản thân họ Lịch sử xã hội củacon người, - C Mác khẳng định, - “luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cánhân của những con người” [34; 658] Qua các đoạn trích dẫn trên cho thấy,trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, hiện thực của

Trang 29

xã hội, của sự vận động lịch sử là những con người, những cá nhân hiện thựcvới “những hoạt động vật chất và hoạt động cá nhân của họ”.

Luận điểm, “con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sángtạo ra chính quá trình lịch sử ấy” còn cho thấy, con người làm nên lịch sử củamình Đó là lịch sử của con người, do con người, vì con người, lịch sử củacon người chính là những hoạt động do con người thực hiện, cùng với nhữngbiến cố được tạo nên bởi những điều kiện khách quan Do vậy, con người vừa

là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể của mọi sự biến đổi của hoàn cảnh.Với quan niệm như vậy, “các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳngđịnh rằng, không phải lịch sử sử dụng con người như một phương tiện để đạtmục đích, rằng – con người vừa là tiền đề thường xuyên của lịch sử, vừa làsản phẩm, là kết quả thường xuyên của lịch sử; con người vừa là diễn viên,vừa là tác giả của vở kịch do mình dàn dựng, và hoàn cảnh chỉ có thể tạo racon người trong chừng mực con người tạo ra chính hoàn cảnh ấy” [52; 516-517] Vì thế, theo các ông, con người phải nhân đạo hóa hoàn cảnh, tạo ra

“hoàn cảnh hợp tính người” để phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.Khi khẳng định, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, chúng ta cầnhiểu rằng, “sáng tạo” không có nghĩa là sự tùy tiện, sáng tạo phải trên cơ sởhiểu biết quy luật, vận dụng quy luật và hành động tuân theo quy luật kháchquan Mặt khác, không phải cứ là “con người” thì sẽ là “chủ thể của lịch sử”,

để trở thành chủ thể của lịch sử, đòi hỏi con người phải có sức khỏe, phải cónhững phẩm chất nhất định (những phẩm chất này tùy thuộc vào thời đại, vàolĩnh vực và ngành nghề hoạt động) và những phẩm chất này phải được bộc lộtrong hoạt động thực tiễn Như vậy, con người với khả năng lao động và nănglực sáng tạo của mình đã làm nên lịch sử, làm nên những thời đại văn minhcủa mình, từ văn minh cổ đại dến văn minh hiện đại Con người với sức khỏe,với phẩm chất và năng lực của mình, với hoạt động thực tiễn của mình chính

là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội và là chủ thể sáng tạo nên nhữngnền văn minh trong lịch sử nhân loại

Trang 30

1.2.2 Vấn đề giải phóng con người theo quan điểm của triết học Mác – Lênin

Triết học Mác – Lênin không phải là triết học đầu tiên đề cập đến conngười và vấn đề giải phóng con người Vấn đề giải phóng con người đã đượcnhiều nhà triết học, nhiều học thuyết triết học trong lịch sử từng đề cập đến.Nhưng do nhiều hạn chế khác nhau về điều kiện lịch sử, về trình độ nhậnthức cho nên họ chưa hiểu đúng về con người, về bản chất con người Vìvậy, khi xác định vấn đề giải phóng con người, mặc dù họ đã đưa ra nhiềuquan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng cuối cùng vẫn chưa có được câutrả lời cụ thể, thích đáng

Triết học Mác – Lênin là triết học vì con người C Mác, người sáng lậpchủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng, ngay từkhi còn trẻ, ông đã viết trong “những suy tư của một chàng trai trong việc lựachọn nghề nghiệp” như sau: “ kim chỉ nam chủ yếu phải định hướng chochúng ta trong việc lựa chọn nghề nghiệp là phúc lợi của loài người, là sựhoàn thiện của chính chúng ta kinh nghiệm ca ngợi những ai đem lại hạnh

phúc cho một số lượng người nhiều nhất là người hạnh phúc nhất; bản thân

tôn giáo dạy chúng ta rằng cái lý tưởng mà mọi người hướng tới đã hy sinhmình cho nhân loại, vậy ai dám bác bỏ những lời dạy bảo đó” [37; 17-18] Vàsau này khi đã trưởng thành, trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C Mác

và Ph Ăngghen đã viết: “vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóclột, ách áp bức” [40; 406] Ngoài ra, tư tưởng về giải phóng con người cònđược các ông đề cập đến trong nhiều tác phẩm khác Ở trong các tác phẩmnày, từ quan niệm duy vật về con người, về bản chất con người, về mối quan

hệ con người – tự nhiên – xã hội, các ông đã xem xét vấn đề con người trongnhững điều kiện của xã hội tư bản Trên cơ sở vạch rõ những hậu quả của chế

độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đối với sự pháttriển của con người, các ông đưa ra những quan điểm về vấn đề giải phóngcon người Theo các ông, con đường duy nhất để giải phóng con người là phảitiến hành cách mạng vô sản, để xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủnghĩa về tư liệu sản xuất - cội nguồn sinh ra sự tha hóa con người, nhằm thiết

Trang 31

lập xã hội mới – xã hội cộng sản văn minh, thiết lập chế độ công hữu về tưliệu sản xuất để trả lại cho con người “những lực lượng bản chất người củacon người” Lực lượng có sứ mệnh lịch sử tiến hành sự nghiệp giải phóng conngười là giai cấp vô sản Giải phóng con người và giải phóng xã hội là mộtquá trình thống nhất, bởi lẽ, “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được,nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” Sự nghiệp giải phóng conngười là một quá trình lâu dài, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, vào các điều kiện vật chất tất yếu của nó.

Như vậy, có thể nói, cái cốt lõi trong học thuyết Mác về con người là tưtưởng vì con người, giải phóng con người, giải phóng nhân loại Triết họcMác - Lênin trên cơ sở quan điểm duy vật về con người, coi bản chất conngười là “tổng hòa các quan hệ xã hội” và đặt con người trong mối quan hệcon người – tự nhiên – xã hội để xem xét con người đã lấy tư tưởng “vì conngười và giải phóng nhân loại” và tư tưởng “xã hội không thể nào giải phóngchính mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” [40; 406]làm nền tảng để xây dựng học thuyết của mình về xã hội nói chung, xã hộicộng sản chủ nghĩa nói riêng Tính nhân văn cao cả nhất của chủ nghĩa Mác –Lênin chính là ở chỗ, các nhà sáng lập ra nó đã đưa ra lý tưởng mà toàn bộnhân loại phải hướng tới, là phải đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa

bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất – cơ sở của sự tha hóa conngười, để xây dựng xã hội cộng sản văn minh, công bằng, không còn hiệntượng người bóc lột người, không còn hiện tượng con người bị tha hóa, mọingười đều tự do, bình đẳng, hạnh phúc Trong xã hội ấy, con người được pháttriển toàn diện “có khả năng sử dụng toàn diện năng lực phát triển toàn diệncủa mình” Về vấn đề giải phóng con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác– Lênin đã xác định: “bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ nó trả thếgiới con người, những quan hệ của con người về với bản thân con người” [33;557] “ là giải phóng con người lao động thoát khỏi lao động bị tha hóa” [38,168] Có thể nói rằng, vấn đề “tha hóa con người” và giải phóng con ngườikhỏi sự tha hóa chiếm vị trí trung tâm trong quan niệm của C Mác về đờisống xã hội

Trang 32

Trong quá trình hình thành quan niệm duy vật khoa học về con người vàgiải phóng con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin thường sửdụng các khái niệm tộc loại, bản chất tộc loại và tha hóa để trình bày các quanniệm của các ông về các vấn đề này “Tha hóa” và “tộc loại” là những kháiniệm truyền thống mà các nhà triết học cổ điển Đức thường sử dụng để trìnhbày quan niệm của mình về bản tính xã hội của tồn tại người, về tính tích cựccủa con người, cũng như những mâu thuẫn nội tại của nó Kế thừa truyềnthống đó, trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C Mác đã

sử dụng các khái niệm “tộc loại” và “tha hóa” để mô tả sự vận động của bảnchất con người, hai khái niệm này được C Mác sử dụng như là khái niệm cặpđôi; trong đó “tộc loại” là khái niệm thể hiện một nội dung nhất định trong sựthể hiện tính tích cực của bản chất con người, còn “tha hóa” là khái niệm thểhiện tính tiêu cực của chính bản chất đó “Tha hóa” chỉ có ý nghĩa quan hệvới “tộc loại” “Tha hóa” là sự tha hóa của “tộc loại” là sự xuyên tạc bóp méo

“tộc loại” “Tha hóa” là biến thành cái bản chất khác với bản chất ban đầu

“Tha hóa con người”, theo ông, là con người không còn là chính mình mà trởthành tồn tại khác, cái đối lập với mình “Tha hóa con người” bao gồm: thahóa sản phẩm, tha hóa hoạt động và tha hóa tộc loại (sản phẩm lao động dongười công nhân làm ra lẽ ra phải thuộc về họ, nhưng trong xã hội tư bản dochế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cho nên sản phẩm ấy thuộc về nhà

tư bản; hoạt động lao động sản xuất là hoạt động làm hoàn thiện con người,nhưng ở đây nó làm cho con người lao động bị phát triển què quặt; thân thể,máu mủ của người công nhân là thuộc về họ, nhưng khi họ bước vào xínghiệp làm thuê cho chủ tư bản, thân thể họ không thuộc về họ nữa vì họ đãbán cho nhà tư bản) Theo triết học Mác – Lênin, nguyên nhân của sự “thahóa con người” là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự nô dịch nhiềumặt đối với con người gây ra Ngay từ đầu, khi nói đến sự tha hóa của conngười, C Mác đã chú ý đến đời sống xã hội của con người và những điềukiện của cuộc sống ấy, những điều kiện do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuấtquy định, vì vậy ông đã rút ra kết luận, “tha hóa” trước hết là một quan hệ xãhội, là sự giao tiếp xã hội của con người, trong những điều kiện sống và lao

Trang 33

động của họ, kết quả hoạt động của họ và những quan hệ của họ với nhau thểhiện ra bên ngoài như một lực lượng xa lạ và thù địch Sự tha hóa trong kinh

tế là cơ sở của những hình thức tha hóa khác trong lĩnh vực tinh thần, trongnhững quan hệ xã hội Việc con người tha hóa khỏi sản phẩm của họ, sự đốilập mang tính thù địch giữa người và người là do những điều kiện để sản xuất

ra đời sống vật chất của họ tạo nên Chính điều đó, theo C Mác, nhất định sẽdẫn tới sự tha hóa của bản chất tộc loại, tới “sự tha hóa của con người với conngười”

Sự “tha hóa” con người, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, là

do chính hoạt động của con người tạo ra, vì vậy, con người bằng hoạt độngtích cực của mình, có thể xóa bỏ được sự “tha hóa” đó C Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra những cách thức cụ thể, xác đáng nhằm xóa bỏ sự “thahóa” và giải phóng cho con người, đó là:

Thứ nhất, cần phải xóa bỏ chế độ sử hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư

liệu sản xuất chủ yếu, vì nó chính là cơ sở của sự tha hóa con người, là nguồngốc sinh ra mọi nô dịch con người trong xã hội tư bản Các ông cho rằng, việc

“xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” – thứ “sở hữu vận động trong sự đối lập giữahai cực tư bản là lao động” là tiền đề cơ bản cho việc xóa bỏ mọi sự tha hóacon người, cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội Mặt khác,

để giải phóng con người thoát khỏi sự tha hóa, thoát khỏi mọi sự nô dịch ấy,cần phải biểu hiện thành hình thức chính trị của “sự giải phóng công nhân”,cùng với nó là sự “giải phóng xã hội” Về vấn đề này, C Mác viết: “Xuất phát

từ quan hệ của lao động bị tha hóa khỏi sở hữu tư nhân, còn có thể kết luậnthêm rằng, sự giải phóng xã hội khỏi sở hữu tư nhân v.v , khỏi sự nô dịch, trởthành hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, vả lại vấn đề ở đâykhông chỉ là sự giải phóng của họ, vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giảiphóng toàn thể loài người” [38; 143]

Thứ hai, sự nghiệp xóa bỏ “tha hóa”, giải phóng cho con người là sự

nghiệp của quần chúng nhân dân lao động; trong đó, giai cấp vô sản là lựclượng nòng cốt và quyết định Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủnghĩa Mác – Lênin, lực lượng xã hội có sứ mệnh thực hiện thành công sự

Trang 34

nghiệp giải phóng con người, giải phóng toàn thể nhân loại là giai cấp vô sản.

Về vấn đề này, Ph Ăngghen đã viết: “Làm tròn sự nghiệp giải phóng thế giới

ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại” [36; 333] “giai cấp vôsản hiện đại” mà Ph Ăngghen đề cập ở đây là sản phẩm của nền công nghiệphiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ,cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai; do vậy, về mặtkhách quan nó là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấutranh xóa bỏ chế độ Tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột vàxây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa vănminh

Thứ ba, sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại là một quá

trình lâu dài Nó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, vào các điều kiện vật chất tất yếu cho sự nghiệp giải phóng ấy Về vấn

đề này, C Mác viết: “Người ta mỗi lần đều giành được tự do chừng nào việc

đó không phải do lý tưởng con người mà do lực lượng sản xuất hiện hànhquyết định và cho phép” [33; 593-594] Chỉ khi nào xã hội loài người đã đạtđến một trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với năng suất lao động

xã hội cực cao “của cải tuôn ra dào dạt như nước chảy”, cho phép người ta

“làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, khi đó “sự phát triển độc đáo và tự

do của mỗi các nhân” mới “không còn là lời nói suông” Sự phát triển ấy củalực lượng sản xuất “chính là do mối liên hệ giữa những cá nhân quyết định,mối liên hệ được biểu hiện một phần trong những tiền đề kinh tế, một phầntrong sự cố kết tất yếu của sự phát triển tự do của tất cả mọi người, và cuốicùng trong tính phổ biến của hoạt động của các cá nhân trên cơ sở lực lượngsản xuất hiện có” [35; 632-633] Đây chính là cơ sở nền tảng vững chắc choviệc phát triển các cá nhân con người Ngoài ra, còn phải xây dựng mối quan

hệ tốt đẹp giữa con người với con người, trong một cộng đồng mà “sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người”.Khi đó các cá nhân mới có điều kiện, phương tiện cần thiết để “phát triển toàndiện những năng khiếu của mình”

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Xuất phát từ tiền đề Duy vật về con người, xuất phát từ con nguời trongđời sống xã hội hiện thực - cụ thể, từ con người trong hoạt động thực tiễn;đồng thời kế thừa một cách có phê phán có chọn lọc tư tưởng tiến bộ của nhânloại về con người, về bản chất con nguời, về vị trí vai trò con người trong thếgiới, đặc biệt là tư tưởng về giải phóng con người, các nhà sáng lập chủ nghĩaMác – Lênin đã tạo ra bước ngoặt cách mạng về tất cả các vấn đề này và làmcho Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng đã trởthành học thuyết về con người và giải phóng con người

Trên cơ sở quan điểm duy vật về con người, về bản chất con người là

“tổng hòa các quan hệ xã hội” và đặt con người trong mối quan hệ con người– tự nhiên – xã hội để xem xét con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác –Lênin đã lấy tư tưởng “vì con người và giải phóng nhân loại” và tư tưởng “xãhội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi

cá nhân riêng biệt” làm nền tảng để xây dựng học thuyết của mình về xã hộinói chung, xã hội Cộng sản chủ nghĩa nói riêng Tư tưởng về con người, giảiphóng con người, giải phóng nhân loại là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết củacác ông Giải phóng con người, theo các ông xác định, là “trả thế giới conngười, những quan hệ của con người về với bản thân con người” là “giảiphóng con người thoát khỏi lao động bị tha hóa” Để xóa bỏ sự “ tha hóa” vàgiải phóng con người, các ông chỉ rõ, cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân

Tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu, nó chính là cơ sở của sự tha hóacon người, là nguồn gốc sinh ra mọi nô dịch con người trong xã hội tư bản

Sự nghiệp xóa bỏ “tha hóa”, giải phóng cho con người là sự nghiệp của quầnchúng nhân dân lao động, trong đó, giai cấp vô sản là lực lượng nòng cốt vàquyết định Quá trình giải phóng con người, giải phóng nhân loại là một quá

Trang 36

trình lâu dài, nó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, vào các điều kiện vật chất tất yếu cho sự nghiệp giải phóng ấy.

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở NƯỚC TA

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới của sự phát triển – thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh” Đẩy mạnh CNH, HĐH được Đảng ta xác định là đường lốichiến lược để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng caochất lượng đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân Vì vậy, chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 được xác định là “chiến lược tiếptục đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnhtoàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa” [20; 30] Sự nghiệp CNH, HĐH chỉ có thể thành

công khi chúng ta có được một nguồn nhân lực có chất lượng cao Thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là phát triển con người, phát triển con người là trung tâm của mọi sự phát triển, là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Trong “Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm

2011), Đảng ta đã xác định, “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [20; 76] và trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020”, Đảng cũng khẳng định, “phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững” [20; 130] Chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực

phải được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Trong đó cần phải “phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển” [20; 100].

Trang 38

2.1 Mối quan hệ giữa CNH, HĐH với vấn đề xây dựng con người Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm, nội dung của quá trình CNH, HĐH ở nước ta

2.1.1.1 Đặc điểm của quá trình CNH, HĐH ở nước ta

Ngày nay, CNH, HĐH đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các mặt,các lĩnh vực đời sống xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới Đổi mớinước ta hiện nay, CNH, HĐH không chỉ là quá trình mang tính tất yếu, kháchquan mà còn là một đòi hỏi cấp bách Để nhanh chóng đưa đất nước thoátkhỏi tình trạng kém phát triển, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng tụt hậu sovới các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; để có thể xây dựng thành

công một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chúng ta không có con đường nào khác là con đường đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đảng ta xác định, về thực chất CNH, HĐH là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [13; 65].

Như vậy, với nội dung xác định trên cho thấy, CNH, HĐH ở nước tahiện nay là một quá trình rộng lớn và phức tạp CNH được triển khai đồngthời với HĐH, gắn với HĐH, nó vừa là một quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa làquá trình kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học….Nó tác động một cách tổnghợp, đa diện, đa cấp độ đến mọi người, mọi gia đình, mọi lĩnh vực của đờisống xã hội và góp phần thúc đẩy việc mở rộng quan hệ hợp tác giữa ViệtNam với các nước trong khu vực và quốc tế về các mặt: kinh tế - xã hội, vănhóa, khoa học, công nghệ

Nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa Nhiệm vụ quan trọng nhất trong thời kỳ này là chúng

ta phải tạo dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó cónền công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có nền văn hóa và khoa học kỹthuật tiên tiến Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải được xây

Trang 39

dựng dựa trên những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của nền văn minhnhân loại CNH, HĐH chính là quá trình tạo dựng nên cơ sở vật chất – kỹthuật đó của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa Ngay từ Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ III (9/1960) Đảng đã xác định, CNH ở nước ta là “CNH xãhội chủ nghĩa” và coi đây là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ Nộidung của CNH xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ là “ưu tiên phát triển công nghiệpnặng, một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”[13; 182] nhằm “xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa

xã hội” [13; 30] Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đãtiến hành chuyển hướng chiến lược về CNH từ “ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng…” sang lấy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

và hàng xuất khẩu làm trung tâm Và tới Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VIII(6/1996), Đảng ta khẳng định, giờ đây đất nước ta chuyển sang thời kỳ pháttriển mới – thời kỳ “đẩy mạnh CNH, HĐH” và coi đây là “một cuộc cáchmạng toàn diện và sâu sắc nhất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”Thời kỳ “đẩy mạnh CNH, HĐH” ở nước ta hiện nay, có những đặc điểmsau đây:

Thứ nhất, CNH được triển khai đồng thời với HĐH tạo thành một quá

trình thống nhất thúc đẩy đất nước phát triển Một trong những đặc điểm lớncủa thời đại ngày nay là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật và công nghệ, cùng với nó là quá trình toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa,khoa học, kỹ thuật… Do vậy, chúng ta không thể tiến hành tuần tự xong CNHrồi mới triển khai HĐH Bởi lẽ, CNH ở nước ta có đặc điểm khác với quátrình CNH của các nước đi trước Chúng ta không thể thực hiện xong xuôiquá trình CNH với nội dung căn bản là cơ khí hóa các ngành kinh tế của nềnkinh tế quốc dân rồi mới tiến hành HĐH Mặc khác, khi tiến hành cơ khí hóanền kinh tế quốc dân, chúng ta cũng không thể sử dụng máy móc, công nghệ

cũ, lạc hậu trước đây, mà nhất thiết phải sử dụng kỹ thuật và công nghệ mới,tiên tiến hiện nay, vì vậy, CNH trong điều kiện hiện nay đã bao hàm nhữngnội dung của HĐH CNH nhất định phải tiến hành đồng thời với HĐH, tạo

Trang 40

nên một quá trình thống nhất, thúc đẩy đất nước phát triển, tránh nguy cơ tụthậu, nhanh chóng đuổi kịp và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.

Thứ hai, thời kỳ “đẩy mạnh CNH, HĐH” ở nước ta diễn ra trong bối

cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc Như Đảng ta đã xác định,

“cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàncầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước.Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độkhác nhau nhưng vẫn tồn tại và phát triển Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ,hợp tác và phát triển là xu thế lớn, nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giaicấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạyđua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển,đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra phứctạp Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Đông nam Á phát triển năngđộng nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định” [20; 67] Tình hình đótạo thời cơ thuận lợi, đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt với quátrình CNH, HĐH ở nước ta, cũng như của các nước đang và kém phát triển

Thứ ba, “Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri

thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường” [20; 72] với “Mục tiêu tổng quát khikết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được căn bản nền tảng kinh tếcủa chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóaphù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càngphồn vinh hạnh phúc” [20; 71] CNH, HĐH với đặc điểm như vậy, nhằmtrang bị cơ sở vật chất – kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, với nhữngcông cụ, thiết bị tiên tiến, hiện đại và ứng dụng những kỹ thuật công nghệ tiêntiến trên thế giới cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là các ngành thenchốt, mũi nhọn để làm tăng tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụtrong nền kinh tế quốc dân

Thứ tư, chúng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, trong bối cảnh cuộc

cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càngcao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nênkinh tế và đời sống xã hội, những năm gần đây, những thành tựu khoa học –

Ngày đăng: 13/12/2013, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w