1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ tại ban quản lý dự án sở nông nghiệp và phát triển nông thôn bắc ninh luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

120 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ là quá trình các cơ quan quản lý của Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ VĂN PHÚC

QUẢN LÝ VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỪ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BẮC NINH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Tâm

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Phúc

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các đơn vị phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh, Sở Tài chính, Khoa bạc Nhà nước tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này./

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Phúc

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn ii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

Phần 2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ 4

2.1 Những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ 8

2.1.3 Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ 12

2.1.4 Nội dung quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ 19

2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ 27

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ 31

Trang 5

2.2.1 Thực trạng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái

phiếu Chính phủ ở Việt Nam 31

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ ở một số địa phương trong nước 32

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 40

3.1.3 Hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 41

3.1.4 Tổng quan về Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh 43

3.2 Phương pháp nghiên cứu 45

3.2.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu 45

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 45

3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu/thông tin 46

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 47

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

4.1 Thực trạng công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ trái phiếu chính phủ tại ban QLDA sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh 50

4.1.1 Các văn bản pháp quy về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ Trái phiếu Chính phủ 50

4.1.2 Thực trạng công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh 52

4.1.3 Đánh giá về việc thực hiện quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh 77

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ trái phiếu chính phủ tại ban QLDA sở nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh 79

4.2.1 Nhóm yếu tố khách quan 80

Trang 6

4.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan 82

4.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ trái phiếu chính phủ tại ban QLDA sở nông nghiệp và PTTTNT tỉnh Bắc Ninh 84

4.3.1 Định hướng cho sự phát triển công trình thuỷ lợi tỉnh Bắc Ninh 84

4.3.2 Một số giải pháp 84

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 96

5.1 Kết luận 96

5.2 Kiến nghị 97

5.2.1 Đối với Nhà nước 97

5.2.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 98

Tài liệu tham khảo 99

Trang 7

PTNT Phát triển nông thôn

UBND Ủy ban nhân dân

TPCP Trái phiếu chính phủ

QLDA Quản lý dự án

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Nhiệt độ, độ ẩm bình quân các tháng nhiều năm 39

Bảng 3.2 Lương mưa trung bình các tháng 3 năm: 2013, 2014, 2015 39

Bảng 3.3 Chiều dài các loại kênh trên địa bàn tỉnh năm 2015 41

Bảng 3.4 Số km kênh các cấp được kiên cố hóa tính đến năm 2015 42

Bảng 3.5 Số lượng các cống đầu kênh cấp I, cấp II do hai công ty Bắc Đuống và Nam Đuống quản lý khai thác 42

Bảng 3.6 Số trạm bơm tại các địa phương trên toàn tỉnh năm 2015 43

Bảng 3.7 Số lượng mẫu điều tra 46

Bảng 4.1 So sánh phương pháp quản lý vốn tạm ứng 51

Bảng 4.2 Dự toán phân bổ nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi của Bắc Ninh giai đoạn 2013- 2015 54

Bảng 4.3 Kết quả huy động vốn TPCP của Bắc Ninh giai đoạn 2013 - 2015 55

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện dự toán vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ TPCP phân theo loại công trình 57

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện công tác quản lý chi phí trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn vốn TPCP tại Ban QLDA 64

Bảng 4.6 Kết quả thanh toán vốn cho các dự án xây dựng công trình thuỷ lợi từ Trái phiếu Chính phủ theo loại công trình tính đến hết năm 2015 68

Bảng 4.7 Đánh giá về công tác tạm ứng và thanh toán vốn cho đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ Trái phiếu Chính phủ 69

Bảng 4.8 Đánh giá về những khó khăn trong công tác tạm ứng và thanh toán 70

Bảng 4.9 Số lượng công trình, dự án xây dựng công trình thuỷ lợi từ vốn TPCP được quyết toán 71

Bảng 4.10 Kết quả thẩm định và phê duyệt quyết toán công trình hoàn thành từ nguồn TPCP 72

Bảng 4.11 Đánh giá về nguyên nhân của việc quyết toán chậm 73

Bảng 4.12 Kết quả thanh tra, kiểm tra công trình thuỷ lợi từ vốn TPCP tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh 75

Bảng 4.13 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ TPCP (n=90) 80

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Văn Phúc

Tên Luận văn: Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ trái phiếu chính phủ tại Ban Quản lý Dự án Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ninh

Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ tại Ban quản lý dự án Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ninh trong những năm qua, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn trái phiếu chính phủ cho Ban Quản

lý dự án trong những năm tới

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận có sự tham gia và phương pháp tiếp cận hệ thống Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin sẵn có như sách, báo, tạp trí, từ các trang mạng, các công trình nghiên cứu đã được công bố, Các số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với các đối tượng là chủ đầu tư, đơn vị thi công và đơn vị quản lý, sử dụng công trình thuỷ lợi Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm phương pháp thông kê mô tả và phương pháp so sánh

Kết quả chính và kết luận

Hệ thống công trình thuỷ lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích lớn cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ là quá trình các cơ quan quản lý của Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp đối với toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán

Bắc Ninh là một tỉnh trọng điểm nằm trong khu vực đồng bằng Bắc bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc và là một trong ba tỉnh có liên quan đến hệ thống công trình thuỷ lợi quan trọng Bắc Hưng Hải, nguồn vốn nhà nước đầu tư cho xây dựng công trình

Trang 10

thuỷ lợi hàng năm chủ yếu từ trái phiếu chính phủ, ngân sách nhà nước và một số nguồn tài trợ khác; trong đó nguồn vốn từ Trái phiếu chính phủ chiếm trên 74% Các dự án đầu

tư đã phát huy được hiệu quả, sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng đạt hiệu quả cao, bộ mặt nông thôn ngày một thay đổi, các hệ thống công trình thuỷ lợi như: kênh, mương, đập chứa nước, hệ thống đê, bờ kè, trạm bơm, được xây mới và gia cố đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển và phòng, chống được nhiều thiên tai Nguyên nhân của những kết quả đạt được chính là do Ban Quản lý dự án Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Ninh đã làm tốt một số khâu trong quản lý vốn trái phiếu chính phủ cho đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi Tuy nhiên, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, khối lượng vốn trái phiếu chính phủ được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án chậm, khả năng giải ngân thấp so với yêu cầu; công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình hoàn thành chậm, kéo dài, công trình chậm đưa vào khai thác sử dụng dẫn đến hiệu quả sau đầu tư hạn chế Mặt khác, tình trạng đầu tư dàn trải, dẫn đến nợ trong xây dựng công trình thuỷ lợi lớn chưa có giải pháp cụ thể để thanh toán công nợ Năng lực của các chủ đầu tư còn bị hạn chế bởi các quy định, quy chế thực hiện vận hành hệ thống Việc phối hợp trong quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu giữa Sở Nông nghiệp và các Sở, Ban, Ngành chuyên môn chưa rõ về nhiệm vụ chưa đồng bộ

Để tăng cường công tác quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi

từ nguồn trái phiếu chính phủ tại Ban Quản lý Dự án Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ninh trong những năm tới, cần tập trung vào một số giải pháp cự thể như: Kế hoạch phân bổ vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ cần theo hướng giao kế hoạch trong từng giai đoạn Gắn trách nhiệm của người quyết định đầu tư với người quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi Nghiên cứu xây dựng và thực hiện cơ chế phân bổ vốn theo tiến độ dự án Cải cách thủ tục thanh toán theo hướng đơn giản hoá, phối hợp đồng bộ của tất cả các ban ngành Nghiên cứu quản

lý thanh toán cho dự án theo đầu ra Nhà nước cần xây dựng cơ chế động viên, khuyến khích các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác quản lý quyết toán vốn đầu tư và một số giải pháp khác

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Do Van Phuc

Thesis title: Management of capital construction investment in irrigation works from government bonds in the Project Management Unit Department of Agriculture and Rural Development of Bac Ninh

Major: Business Administration Code: 60.34.01.02

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Materials and Methods

The author uses the approach participatory and systems approaches The secondary data were collected from available information sources such as books, newspapers, magazine, from the website, the study was published, The primary data

is collected all notably through a survey method with questionnaires for the audience is investors, construction units and management units, use of irrigation works The data analysis methods used in the study included descriptive statistical methods and comparison method

Main findings and conclusions

The system of irrigation works infrastructure is essential, for irrigation and drainage for large areas of crops, contributing significantly increases the productivity and quality of agricultural products, aquatic products; prevention and mitigation of natural disasters, and promoting the development of other economic sectors Investment management building irrigation works from government bonds is the management bodies of the State Use your management tools and management methods suitable for all costs spent in order to achieve investment goals include: the cost of construction planning survey, preparation of investment costs, design costs and construction costs of procurement and installation of machinery and equipment and other costs are recorded

in the total estimate

Bac Ninh is a key province in the northern delta region has a dense river systems and is one of three provinces related to the system of irrigation works valued Bac Hung

Trang 12

Hai, state investment funds for the construction of irrigation works annually mainly from government bonds, the state budget and a number of other sources of funding; including capital from government bonds accounting for over 74% The investment project has been promoting efficient agricultural production of the province is increasingly effective, rural areas face a change, the system of hydraulic works such as canals, dams , system of dikes, embankments, pumping stations, newly constructed and reinforced to ensure agricultural development and prevention are more disasters The cause of the main results achieved by the Project Management Board of the Department of Agriculture and Rural Development of Bac Ninh has done well each part

of the management of government bonds for the construction of irrigation works However, in recent years the economic growth slowing, the volume of government bonds which are mobilized very limited compared to the needs of capital investment, project implementation progress is slow, the ability to disburse low compared with requirement; Working capital settlement construction works are completed late, lingering, slow projects put into operation effectively use leading to limited post-investment On the other hand, the state investment spread, leading to debt build large irrigation works no specific measures to pay debts The capacity of the investor is limited by the rules and regulations implementing the system operation The coordination in the management of capital construction of irrigation projects from the bond between the Department of Agriculture and other departments, industry expertise

is not clear on the tasks are not synchronized

To enhance the management of investment funds on the construction of irrigation projects from government bonds in the Project Management Unit Department

of Agriculture and Rural Development of Bac Ninh in the coming years, should focus

on some specific measures such as capital allocation plan the construction of irrigation works from government bonds towards communication needs in each phase plan Mounting responsibilities of investment decision with investment managers to build irrigation works To study and formulate and implement mechanisms to allocate funds according to the project schedule Reforming payment procedures towards simplification, coordination of all departments Management research project paid for

by output The state should develop mechanisms to encourage and encourage the units and individuals that record achievements in the management of investment capital settlement and some other solutions

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích lớn cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác Mặt khác, hệ thống công trình thủy lợi còn tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu, nâng hiệu suất sử dụng đất, phân bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất và sinh hoạt, tạo điều kiện để định canh, định cư, giảm nạn đốt rừng làm nương Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển đa dạng, phong phú theo hướng hiệu quả kinh tế cao Tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi Công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH, nhất là phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái

Với vai trò quan trọng trọng của các công trình thủy lợi, những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn có các chính sách ưu tiên đầu tư xây dựng, sửa chữa các công trình thủy lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển Theo tổng hợp của Tổng cục Thủy lợi, cả nước hiện có 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.958 km đê các loại Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vừa và lớn, phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên (Đoàn Thế Lợi, 2015)

Như vậy, có thể thấy Nhà nước luôndiành một lượng vốn đầu tư lớn để đầu tư vào các dự án xây dựng cải tạo, nâng cấp, xây mới các công trình thủy lợi, nhằm đáp ứng mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế đất nước Nguồn vốn đầu tư cho các công trình thủy lợi được huy động chủ yếu

từ NSNN và từ vốn Trái phiếu Chính phủ, trong đó nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn NSNN đầu tư cho các công trình thủy lợi

Cũng trong thời gian vừa qua, cùng với sự tăng cường đầu tư cho xây dựng, chúng ta cũng có nhiều đổi mới trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, nhất là trong việc đổi mới cơ chế quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng công trình Những đổi mới này bước đầu phát huy tác dụng trong việc quản lý các hoạt

Trang 14

động xây dựng Nhà nước đã ban hành các quy định, hướng dẫn và kiểm tra về quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng, nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn, hạn chế lãng phí, thất thoát vốn đầu tư xây dựng Các chính sách và quy định đã hướng tới việc phân cấp quản lý phù hợp với nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình, giảm dần sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước, tạo sự chủ động cho các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đối với việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình nói trên, vẫn còn nhiều bất cập và tiêu cực, đặc biệt là việc phát sinh, thất thoát chi phí đầu tư xây dựng Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch phân bổ nguồn vốn cho các công trình và gây chậm trễ tiến độ thi công do phải thực hiện các thủ tục điều chỉnh vốn, hạn chế hiệu quả kinh tế, xã hội và kỹ thuật của công trình

Tìm ra những phương thức, biện pháp quản lý hiệu quả chi phí vốn đầu

tư là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đang được đặt ra đối với các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước

Với mong muốn áp dụng những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu vào giải quyết những vẫn đề quan trọng đang được thực tiễn đặt ra, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ, với tên gọi “Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính Phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh quản lý, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ trong những năm tới đạt hiệu quả cao

Trang 15

lợi từ Trái phiếu Chính phủ cho Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tại tỉnh Bắc Ninh do Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh quản lý

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ cho Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong những năm tiếp theo

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Thực trạng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh trong những năm gần đây ra sao?

- Nhân tố nào ảnh hưởng đến quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh ?

- Giải pháp nào cho tăng cường quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh trong thời gian tới?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Hoạt động quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ tại Ban QLDA Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

a) Phạm vi về không gian: Tập trung nghiên cứu tình hình quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ do Ban QLDA

Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh quản lý

b) Phạm vi về thời gian: Số liệu và thông tin tư liệu về quản lý vốn trong xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ cho Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong những năm gần đây từ năm 2013 đến năm 2015

c) Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu và đánh giá tình hình quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ; cụ thể các nội dung về quản lý phân bổ, thanh toán và quyết toán vốn Trái phiếu Chính phủ

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỪ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỪ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng công trình thủy lợi

* Khái niệm thủy lợi

Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy (Văn Chiến, 2016)

Như vậy, thủy lợi có thể hiều là một trong những công tác quan trọng phục

vụ cho việc tưới tiêu trong nông nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu Thủy lợi

là một trong những cơ sở hạ tầng thiết yếu để ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Thiết lập những tiền đề cơ bản và tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

* Khái niệm công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại

Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định (Ủy bản thường vụ Quốc hội, 2001)

Đầu tư cho thủy lợi vừa để kích cầu vừa để phát triển kinh tế, kinh nghiệm cho thấy ở đâu có thủy lợi thì ở đó có sản xuất phát triển và đời sống nhân dân ổn định Thủy lợi thực hiện tổng hợp các biện pháp sử dụng các nguồn lực của nước

Trang 17

trên mặt đất dưới mặt đất để phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt nông thôn, đồng thời hạn chế tác hại của nước gây ra cho sản xuất và sinh hoạt của nông dân Như vậy, thủy lợi hóa là một quá trình lâu dài nhưng có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển nền nông nghiệp nước ta (Lê Mạnh Hùng, 2010)

Cho đến nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, lâm nghiệp, ngư nghiệp… tất cả các hoạt động này đều rất cần có nước Vì vậy nền kinh tế nước

ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó

là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ

mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân đặc biệt đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của Việt Nam

* Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi

Cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa về đầu tư trên các góc độ khác nhau Theo luật Đầu tư năm 2005 thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Quốc hội, 2005)

Đầu tư nói chung là việc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra nhằm đạt được kết quả đó Nguồn lực phải si sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ (Nguyễn Bạch Nguyện,

Từ Quang Phương, 2007)

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế (Bùi Mạnh Cường, 2012)

Trang 18

Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế

Do vậy đầu tư XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội , nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế

Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một trong các hoạt động của đầu

tư XDCB Do đó ta đi đến khái niệm đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là hoạt động đầu tư tạo ra các công trình thủy lợi nhằm khai thác mặt lợi của nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái

Hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB như:

- Đòi hỏi số lượng vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài Không giống như đầu tư vào tài sản lưu động, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư vào TSCĐ mang tính tích lũy, thường có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn lâu dài Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực

- Thời gian dài, với nhiều biến động: Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra

- Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi có giá trị sử dụng lâu dài do đặc điểm và yêu cầu trong sử dụng đối với các công trình thủy lợi

- Cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi

là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư

Trang 19

- Liên quan đến nhiều ngành: Hoạt động đầu tư XDCB nói chung và đầu

tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Mức độ tác động của các công trình xây dựng không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư (Đỗ Việt Hùng, 2012)

2.1.1.2 Ngồn vốn đâu tư xây dựng công trình thủy lợi

Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một hoạt động của đầu tư XDCB,

do đó nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cũng thuộc các nguồn vốn đầu tư XDCB, bao gồm:

Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nước Nguồn vốn này bao gồm:

+ Ngân sách nhà nước cấp phát

+ Vốn của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhà xưởng còn chưa sử dụng đến, được huy động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; vốn góp của nhà nước trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài

+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước mà Chính phủ cho vay theo lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc nhà nước đi vay để cho vay lại đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối với một

số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

+ Vốn vay nợ, viện trợ từ bên ngoài của Chính phủ thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Trên thực tế, một phần vốn này sẽ đưa vào ngân sách đầu tư, còn phần ODA cho các doanh nghiệp vay lại thì đưa vào nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Thứ hai là nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và nguồn vốn đóng góp

tự nguyện của dân cư vì lợi ích cộng đồng, kể cả đóng góp công lao động, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi

Thứ ba là nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn này bao gồm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam là nguồn vốn do nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của

Trang 20

Việt Nam, nhưng không tham gia công việc quản lý trực tiếp Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Inverstment - FDI) ở Việt Nam là nguồn vốn nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức tự đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh Ngoài ra còn có nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (Non- Government Organization - NGO) (Bùi Mạnh Cường, 2012)

Trong các nguồn vốn từ NSNN, vốn Ngân sách nhà nước cấp phát bao gồm: + Một phần tích luỹ trong nước từ thuế, phí, lệ phí

+ Vốn viện trợ theo dự án của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc và các tổ chức Quốc tế khác

+ Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức Quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam

+ Vốn thu hồi nợ của ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước

+ Vốn TPCP: Là vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu kho bạc nhà nước phát hành theo quyết định của Chính phủ

+ Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ + Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước (Đỗ Việt Hùng, 2012)

Trong các nguồn vốn trên, thì vốn TPCP chủ yếu được dành cho đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Đó là các công trình, dự án cơ sở hạ tầng như đường giao thông, đường điện, trường học, bệnh viện, hệ thống thuỷ lợi, đê, cảng biển, ; các công trình dự án an ninh, quốc phòng, Các nguồn vốn đầu tư XDCB khác chủ yếu được dùng để nâng cao năng lực sản xuất của riêng chủ đầu tư nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng, giá cả tốt hơn, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của chủ đầu tư

2.1.2 Vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ 2.1.2.1 Trái phiếu chính phủ

TPCP (Government bond) là những trái phiếu do Chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình phúc lợi công cộng trung ương và địa phương hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ Đặc điểm của TPCP là không có rủi ro thanh toán và có độ thanh khoản cao Do đó, lãi suất của TPCP được xem là căn cứ chuẩn ấn định mức lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn Có thể kể đến 2 loại TPCP như sau:

Trang 21

• Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds): do Kho bạc thay mặt Chính phủ phát hành để huy động vốn dài hạn nhằm tài trợ cho Chi tiêu Ngân sách nhà nước Ở

Mỹ, trái phiếu kho bạc có hai loại là Treasury note với thời hạn trên 1 năm và không quá 10 năm và Treasury bond với thời hạn trên 10 năm Ở Việt Nam, trái phiếu kho bạc thường có thời hạn 2 và 5 năm

• Công trái nhà nước (State bonds): là loại trái phiếu dài hạn đặc biệt, được phát hành từng đợt, không thường xuyên Loại này khá được ưa chuộng vì không

có rủi ro, mặc dù lãi suất tương đối thấp nhưng lại không phải chịu thuế

Công trái ở Việt Nam được phát hành không phải nhằm vay vốn để bù đắp thâm hụt ngân sách mà để động viên người dân cho Chính phủ vay vốn để đầu tư vào các dự án, công trình phục vụ cho lợi ích chung của cả xã hội Vì vậy mà công trái ở Việt Nam có tên gọi là Công trái xây dựng tổ quốc Trước đây, công trái ở Việt Nam thường có mức lãi suất thấp nên không hấp dẫn nhà đầu tư, nhưng gần đây, mức lãi suất đã được điều chỉnh hợp lý hơn nhằm trước hết là đối phó với rủi ro mất giá đồng tiền do lạm phát (Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn, 2007)

Theo Nghị định số 141/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương thì TPCP là một loại chứng khoán nợ, do Chính phủ phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với người sở hữu trái phiếu (Chính phủ, 2003) Theo quy định hiện hành, TPCP gồm 3 loại: Tín phiếu kho bạc; Trái phiếu kho bạc và Công trái xây dựng Tổ quốc (Chính phủ, 2011) Như vậy, Trái phiếu Chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ có thời hạn, có mệnh giá, có lãi do Bộ Tài chính phát hành Việc phát hành TPCP có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn trong nước của Chính phủ tạo ra nguồn vốn đầu tư vào các dự án, công trình phục vụ cho lợi ích chung của cả xã hội 2.1.2.2 Vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Từ các khái niệm về vốn TPCP, nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi tác giả đi đến khái niệm Vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một bộ phận trong vốn đầu tư XDCB, bao hàm những chi phí bằng tiền được huy động qua TPCP để đầu tư tạo ra các công trình thủy lợi nhằm khai thác mặt lợi của nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường

và cân bằng sinh thái

Trang 22

Vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia Dưới giác độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cũng như các nguồn vốn khác - đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư

2.1.2.3 Đặc điểm nguồn vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Xuất phát từ cấu trúc địa hình và đặc điểm phức tạp của khí hậu nước ta, giao thông và thuỷ lợi là một trong những lĩnh vực trọng điểm được nhà nước ưu tiên đầu tư, nhằm tạo ra những điều kiện tiền đề để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm dần sự cách biệt giữa miền núi và miền xuôi, góp phần nâng cao dân trí xoá đối giảm nghèo, bảo đảm an ninh quốc phòng của Tổ quốc Trong những năm qua, việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ đã huy động được một khối lượng vốn lớn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, nguồn vốn trong nước này đã góp phần đáp ứng nhu cầu chi của Ngân sách (Lê Mạnh Hùng, 2010)

Kết quả huy động vốn trong nước có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Theo tính toán của các ngành chức năng, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, mỗi năm chúng ta cần khoảng 250 ngàn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, riêng lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi nhu cầu vốn bổ sung cho các công trình trọng điểm mỗi năm trên 15 ngàn tỷ đồng Được Nhà nước và các ngành, địa phương quan tâm, việc xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi đạt tốc độ tương đối nhanh Chính vì vậy nhu cầu về vốn đầu tư cũng trở lên cấp bách (Chính phủ, 2015)

TPCP là một trong những công cụ quan trọng trong việc điều hành chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ quốc gia TPCP gồm nhiều loại với các kì hạn khác nhau, tất cả đều có tác động riêng đến một nền kinh tế trong các giai đoạn khác nhau Tín phiếu kho bạc vừa có vai trò là huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách vừa là công cụ của thị trường tiền tệ, ngay cả những nước phát triển họ cũng phát hành trái phiếu ngắn hạn để đảm bảo hàng hoá giúp thị trường tiền tệ hoạt động Trái phiếu kho bạc là công cụ huy động vốn cho NSNN và cả đầu tư phát triển, đặc biệt là các cơ sở hạ tầng quan trọng của đất nước, và thông qua đó

Trang 23

sẽ thu hút được các nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu quốc gia, trong trường hợp NSNN không bị thâm hụt thì Bộ Tài chính cũng phát hành trái phiếu kho bạc để thực hiện chính sách tiền tệ Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 182/2003/QĐ-TTg ngày 05/9/2003) nhu cầu vốn cho đầu tư các công trình giao thông thuỷ lợi giai đoạn 2003-2010 sẽ được huy động dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ là 63 ngàn tỷ đồng (Thủ tướng Chính phủ, 2003) Giai đoạn 2011-2015, tổng vốn TPCP đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trong

cà nước là 58.479,337 tỷ đồng (Chính phủ, 2015)

Trong điều kiện kinh tế đang khó khăn, nguồn thu NSNN còn hạn hẹp Nhu cầu chi cho NSNN và chi cho đầu tư lại đang cần thiết, dẫn đến tình trạng mất cân bằng thu chi Để giải quyết các vấn đề này thì Chính phủ có thể vay mượn nước ngoài hay tốt hơn là nguồn lực trong nước với việc phát hành TPCP, việc sử dụng công cụ huy động vốn này đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới huy động vốn qua kênh TPCP đang được Chính phủ sử dụng cùng với tự do hoá thị trường vốn trong nước thì việc phát hành TPCP sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư

2.1.2.4 Vai trò của vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Trong nền kinh tế quốc dân, vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:

Một là, vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước Thông qua việc duy trì và phát triển hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, nó góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội

Hai là, vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo lập môi trường thuận lợi, tạo sự lan toả đầu tư và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển xã hội

Ba là, vốn TPCP trong đầu tư XDCB nói chung và trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền

Trang 24

kinh tế Việc Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các ngành, lĩnh vực

có tính chiến lược không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà còn góp phần định hướng hoạt động của nền kinh tế Thông qua đầu

tư XDCB vào các ngành, lĩnh vực khu vực quan trọng như xây dựng các công trình thủy lợi, vốn đầu tư từ TPCP có tác dụng kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lượng trong xã hội đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, tham gia liên kết

và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế, gắn với việc phát triển hệ thống thủy lợi là sự phát triển mạnh mẽ các khu sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản xuất

và phát triển nông nghiệp bền vững

Bốn là, vốn TPCP trong đầu tư các công trình thủy lợi có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa Thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các công trình thủy lợi góp phần đảm bảo anh sinh xã hội, phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa (Lê Văn Nghĩa, 2014)

2.1.3 Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

2.1.3.1 Mục tiêu quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính Phủ

a Khái niệm về quản lý

Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển Khái niệm quản lý đã được nhiều học giả đề cập tới

Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân

và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” (Nguyễn Đức Bình và cs (2002).Tức theo Mác quản lý là nhằm phối

Trang 25

hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý Theo Harol Koontz (1993) thì quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác

Hay quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Minh Đạo,1997) Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cs., 2012)

Như vậy, có thể hiểu quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý

Từ các khái niệm về quản lý, nguồn vốn trái phiếu trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, tác giả đi đến khái niệm về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP như sau: Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi TPCP là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn TPCP qua đó phát huy được mặt lợi của nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái

b Mục tiêu của quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP

- Mục tiêu của quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư XDCB nhằm phục vụ lợi ích của người dân, xã hội

- Mục tiêu cụ thể ở tầm vĩ mô là phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP cao và ổn định với cơ cấu kinh tế phù hợp, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai, bão lũ, nâng cao đời sống nhân dân

- Đối với từng dự án, mục tiêu cụ thể là với một số vốn nhất định của Nhà nước có thể tạo ra được công trình có chất lượng tốt nhất, thực hiện nhanh nhất

và rẻ nhất (Trần Thị Linh)

Để quản lý hiệu quả cần phải có cơ chế quản lý phù hợp Một cơ chế quản

lý thông thường bao gồm những quy định về nội dung, trình tự công việc cần làm; tổ chức bộ máy để thực thi công việc và những quy định về trách nhiệm khi thực hiện các quy định đó

Trang 26

2.1.3.2 Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

* Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP bao gồm các cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện quản lý

vĩ mô đối với vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP (quản lý tất

cả các dự án) và cơ quan chủ đầu tư thực hiện quản lý vi mô (quản lý từng dự án)

* Đối tượng quản lý: Nếu xét về mặt hiện vật thì đối tượng quản lý chính là vốn TPCP cho đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; nếu xét về cấp quản lý thì đối tượng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP chính là cơ quan sử dụng vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cho cấp dưới

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý vốn trong đầu tư xây dựng

công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính Phủ

Nguồn: Bùi Văn Cường, 2012 Khái niệm chủ thể quản lý và đối tượng quản lý trong quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP là một khái niệm tương đối Tùy từng giác độ nghiên cứu, chủ thể và đối tượng quản lý sẽ được xem xét cho phù hợp Bộ máy quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP được minh họa theo sơ đồ 2.1

Theo sơ đồ trên, việc quản lý vốn trong đầu tư một dự án xây dựng công trình thủy lợi được từ TPCP thực hiện ở các cơ quan như sau:

- Người có thẩm quyền quyết định đầu tư là người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp tùy theo nguồn vốn đầu tư Theo quy định hiện hành, người có thẩm quyền quyết định đầu tư bằng nguồn

Người có thẩm quyền quyết định đầu tư (Quốc hội, Chính phủ, TTCP, HĐND, UBND các cấp, HĐQT, GĐ DNNN, )

Cơ quan chức năng (Đầu tư, Tài chính, Xây dựng,

Trang 27

vốn TPCP gồm: Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, HĐND, UBND và Chủ tịch UBND các cấp, HĐQT, Giám đốc các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị nhà nước theo thẩm quyền

- Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật Chủ đầu tư là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp hoặc cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước

- Cơ quan cấp vốn thực hiện việc cấp vốn theo đề nghị của chủ đầu tư, thanh toán trực tiếp cho nhà thầu Hiện tại cơ quan cấp vốn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là Kho bạc Nhà nước

- Các cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý vốn TPCP trong đầu tư XDCB như: Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Thanh tra,

- Các nhà thầu là người bán sản phẩm cho chủ đầu tư Một dự án có thể có một hoặc nhiều nhà thầu như nhà thầu tư vấn cung cấp cho chủ đầu tư các dịch

vụ như tư vấn như lập dự án, thiết kế, giám sát chất lượng công trình, quản lý dự

án, ; nhà thầu cung cấp máy móc thiết bị; nhà thầu xây lắp thực hiện việc thi công xây dựng công trình (Bùi Văn Cường, 2012)

2.1.3.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn TPCP phải được quản lý theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng Trong đó có các Nghị quyết của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về kế hoạch vốn TPCP giai đoạn và hàng năm, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giao

kế hoạch vốn TPCP giai đoạn và hàng năm (Bộ Tài chính, 2012)

* Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Quản lý chi phí đầu tư xây dựng phải bảo đảm mục tiêu đầu tư, hiệu quả dự

án, phù hợp với trình tự đầu tư xây dựng, nguồn vốn sử dụng Chi phí đầu tư xây dựng phải được tính đúng, tính đủ theo từng dự án, công trình, gói thầu xây dựng phù hợp với yêu cầu thiết kế, điều kiện xây dựng và mặt bằng giá thị trường (Quốc hội, 2014) Đồng thời, Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân

Trang 28

công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp (Quốc hội, 2015)

Như vậy tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, tiêu chuẩn để đánh giá công tác quản lý vốn trong đầu tư XDCB từ TPCP nói chung và đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng

Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP bỏ ra phải thu được lợi ích lớn nhất Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả phải được xem xét trên phạm vi toàn xã hội và trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, …

* Nguyên tắc tập trung, dân chủ

Theo Luật NSNN năm 2015, Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ Theo Luật Xây dựng năm 2014 thì Nhà nước thực hiện quản

lý chi phí đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật; hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, đo bóc khối lượng công trình, giá ca máy và thiết bị thi công, điều chỉnh dự toán xây dựng, chỉ số giá xây dựng, kiểm soát chi phí trong đầu tư xây dựng; hướng dẫn và quản lý việc cấp chứng chỉ định giá xây dựng; công bố các chỉ tiêu, định mức xây dựng, chỉ số giá xây dựng (Chính phủ, 2014)

Trong quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, nguyên tắc này thể hiện toàn bộ vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP được tập trung quản lý theo một cơ chế thống nhất của Nhà nước thông qua các tiêu chuẩn, định mức, các quy trình, quy phạm về kỹ thuật nhất quán và rành mạch Việc phân bổ vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi phải theo một chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể

Tính dân chủ là đảm bảo cho mọi người cùng tham gia vào quản lý sử dụng vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Dân chủ đòi hỏi phải công khai cho mọi người biết, thực hiện cơ chế giám sát cộng đồng, minh bạch, công khai các số liệu liên quan đến đầu tư xây dựng công trình thủy lợi bằng nguồn vốn TPCP

* Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích

Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; chính sách dân tộc; thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phát triển nông

Trang 29

nghiệp, nông thôn, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ và những chính sách quan trọng khác (Quốc hội, 2015) Do đó quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tập thể và người lao động

* Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng và theo lãnh thổ

Quản lý vốn trong đầu tư XDCB từ TPCP theo ngành trước hết bằng các quy định về tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật do Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý chuyên ngành ban hành Quản lý theo địa phương, vùng là xây dựng đơn giá vật liệu, nhân công, ca máy cho từng địa phương (Quốc hội, 2014)

Ngoài ra, trong quản lý vốn trong xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP còn phải tuân thủ các nguyên tắc như phải thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư XDCB…

Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP là nhằm mục tiêu sử dụng một cách có hiệu quả nhất, chống thất thoát, lãng phí vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Vì vậy, vai trò của công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP là rất quan trọng

Các cơ quan quản lý Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc quản lý hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi vì đây là cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với khả năng thực hiện của dự án; đồng thời cũng thực hiện chức năng phân bổ, cân đối vốn đầu tư XDCB một cách hợp lý giữa các trung ương và địa phương, giữa các vùng miền sao cho đạt được hiệu quả tổng thể của cả nền kinh tế

Cơ quan Nhà nước cũng chính là là cơ quan ban hành cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng và các văn bản khác có liên quan như quy định về phân bổ vốn đầu tư, cơ chế quản lý vốn đầu tư, quy định về đấu thầu, hướng dẫn thanh quyết toán trong đầu tư XDCB, quy định về định mức, đơn giá trong đầu tư XDCB… Việc đưa ra các quy định này góp phần quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB (Chính phủ, 2015)

2.1.3.4 Vai trò quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Nguồn vốn đầu tư XDCB nói chung và nguồn vốn TPCP trong đầu tư xây

Trang 30

dựng công trình thủy lợi nói riêng luôn có hạn, trong khi đó nhu cầu đầu tư phát triển các công trình thủy lợi luôn là vấn đề cấp bách, số lượng dự án có nhu cầu vốn đầu tư nhiều, lượng vốn yêu cầu đầu tư lớn Do đó việc quản lý vốn đầu tư ở đây luôn thể hiện vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất: Quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng thì đối với các dự án đầu tư để nâng cao hiệu quả đầu tư, tiết kiệm, đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công Dự án đầu tư như ta đã biết bao gồm một hệ thống nhiều công việc phức tạp trong đó có nhiều công việc mang tính đặc thù mà nhiều khi một mình chủ đầu tư không thể đảm đương hết được Phần lớn các dự án đầu tư được thực hiện bởi nhiều đơn vị, mỗi đơn vị đảm nhận mỗi công việc riêng dưới sự quản lý chung của chủ đầu tư Do đó việc quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trở lên rất khó khăn Làm thế nào đảm bảo sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP đúng mục đích tránh thất thoát (Điều này rất dễ xảy ra trong quá trình thực hiện

dự án đầu tư XDCB do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan), vừa đảm bảo tiến độ và chất lượng thi công, vừa đảm bảo tiết kiệm, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư…đặc biệt là trong điều kiện quy mô, số lượng dự án tăng, thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại

Thứ hai: Hiện nay môi trường pháp lý về đầu tư và xây dựng ở nước ta còn chưa đầy đủ Bộ Luật xây dựng chưa được thông qua, hệ thống các văn bản pháp quy về XDCB chưa đầy đủ, trong khi lại có nhiều văn bản chồng chéo nhau, thậm chí nội dung mâu thuẫn nhau, các thủ tục hành chính còn rườm rà ảnh hưởng đến công tác đầu tư và xây dựng…Trong điều kiện môi trường pháp lý như vậy, việc thực hiện tốt các dự án đầu tư XDCB, vốn đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao cho ngành và xã hội càng trở lên khó khăn gấp bội, đòi hỏi phải hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB

Thứ ba: Xuất phát từ chính vai trò của vốn đầu tư XDCB nói chung và vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước, tạo ra sự ổn định

và an sinh xã hôi, phòng chống thiên tai Những vai trò đó chỉ có thể được thể hiện trong điều kiện có sự quản lý chặt chẽ ở tầm vĩ mô cũng như tầm vi mô, còn nếu buông lỏng quản lý thì vai trò đó lập tức sẽ bị thủ tiêu (Nguyễn Bạch Nguyệt,

Từ Quang Phương, 2007)

Trang 31

2.1.4 Nội dung quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

2.1.4.1 Lập dự toán vốn trong xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Lập dự toán vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP Thực hiện tốt công tác này sẽ

là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối nguồn lực, tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng

bộ, dàn trải, lãng phí nguồn lực của TPCP

Để có được kế hoạch vốn đầu tư tối ưu trước hết phải xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý, xác định ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùng nào? Đầu tư như thế nào và mức độ đầu tư bao nhiêu thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, từ đó xác định được cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, vùng và cơ cấu vốn đầu tư theo nhóm dự án (A, B, C) Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý phải lập được quy hoạch đầu tư nhằm hoạch định trước những vùng, những ngành cần được đầu tư, mức vốn đầu tư, thời gian đầu tư … Dựa vào quy hoạch để lập kế hoạch vốn đầu

tư nhằm xác định nhu cầu và khả năng đáp ứng vốn trong từng giai đoạn nhất định cho thời hạn 10 năm, 5 năm, 1 năm theo từng nguồn vốn đầu tư khác nhau

Hoạt động quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng là hoạt động hết sức phức tạp, bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Vì vậy để làm tốt công tác quản lý đòi hỏi phải có những phương pháp quản lý khoa học mà trong đó việc lập và thực hiện các kế hoạch tài chính là có tính chất bắt buộc Các giá trị dự toán trong dự án đầu tư chính là cơ sở quan trọng để lập, triển khai các kế hoạch tài chính thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư từ TPCP trong xây dựng công trình thủy lợi Thông thường người ta cần lập một số loại dự toán sau:

a) Dự toán xây dựng công trình

Dự toán xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng công trình được xác định ở giai đoạn thực hiện dự án phù hợp với thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và các yêu cầu công việc phải thực hiện của công trình Nội dung dự toán xây dựng công trình gồm chi phí xây dựng, phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng được quy định cụ thể như sau:

Trang 32

- Chi phí xây dựng gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng;

- Chi phí thiết bị gồm chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ, chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phí khác có liên quan;

- Chi phí quản lý dự án gồm các chi phí quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015, là các chi phí cần thiết để tổ chức thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng;

- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của công trình gồm chi phí khảo sát, thiết

kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan

- Chi phí khác của công trình

- Chi phí dự phòng của công trình gồm chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian xây dựng công trình

Đối với dự án có nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư có thể xác định tổng dự toán xây dựng công trình để quản lý chi phí Tổng dự toán xây dựng công trình được xác định bằng cách cộng các dự toán xây dựng công trình và các chi phí khác có liên quan của dự án (Chính phủ, 2015)

b) Dự toán gói thầu xây dựng

Dự toán gói thầu xây dựng xác định theo từng gói thầu, phù hợp với kế hoạch lựa chọn nhà thầu, dự toán xây dựng công trình đã được phê duyệt và được thực hiện trước khi tổ chức lựa chọn nhà thầu xây dựng

Dự toán gói thầu xây dựng gồm dự toán gói thầu thi công xây dựng; dự toán gói thầu mua sắm vật tư, thiết bị lắp đặt vào công trình; dự toán gói thầu tư vấn đầu tư xây dựng và dự toán gói thầu hỗn hợp

Chủ đầu tư tổ chức xác định, cập nhật dự toán gói thầu xây dựng, thực hiện thẩm định, phê duyệt để thay thế giá gói thầu xây dựng ghi trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu đã phê duyệt, làm cơ sở để lập Hồ sơ mời thầu hoặc Hồ sơ yêu cầu và đánh giá lựa chọn nhà thầu xây dựng

Chủ đầu tư được thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Nghị định về Quản lý dự án đầu tư xây dựng thực

Trang 33

hiện xác định, cập nhật, thẩm tra dự toán gói thầu xây dựng trước khi phê duyệt (Chính phủ, 2015)

2.1.4.2 Quản lý chi phí, tạm ứng, thanh toán khối lượng xây dựng công trình thủy lợi hoàn thành từ Trái phiếu Chính phủ

a) Quản lý chi phí trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi hoàn thành từ TPCP

Như trên đã nêu, quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP là một công việc hết sức phức tạp vì mỗi dự án đầu tư bao gồm nhiều công việc, hoạt động khác nhau Nội dung các hoạt động lại cũng rất đa dạng Quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP phải được thực hiện đối với từng hoạt động hay từng hạng mục của dự án công trình Công tác quản lý chi phí bao gồm:

- Quản lý chi phí xây lắp:

Cần kiểm tra, giám sát việc áp dụng các định mức, đơn giá đảm bảo đúng các qui định về thành phần công việc, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công, đối với các qui định hướng dẫn điều chỉnh định mức, đơn giá

dự toán và các chế độ trong quản lý XDCB của Nhà nước và địa phương, cần chú

ý tới thời hạn hiệu lực của văn bản

- Quản lý chi phí thiết bị:

Trước hết cần quản lý danh mục thiết bị, số lượng, chủng loại, công suất, các chỉ tiêu kỹ thuật…đảm bảo đúng nội dung đầu tư thiết bị trong dự án đă được duyệt Tiếp đó, cần giám sát, theo dơi chặt chẽ để đảm bảo rằng các máy moc, thiết bị này dược sử dụng đúng mục đích, được khai thác và tận dụng một cách

có hiệu quả Theo tiến độ của dự án, việc tiếp nhận và sử dụng vốn tạm ứng được thực hiện cho các đối tượng là khối lượng xây lắp thực hiện, chi phí thiết bị và các chi phí khác của dự án Trường hợp dự án đầu tư thực hiện theo phương thức đấu thầu đối tượng chính là dự án đầu tư Ba trường hợp được quy định là:

+ Đối với các khối lượng xây lắp thực hiện đấu thầu: Việc tiếp nhận và sử dụng vốn tạm ứng căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu, hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị trúng thầu, giấy bảo lănh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu

+ Đối với chi phí thiết bị: Vốn tạm ứng được sử dụng để trả tiền đặt cọc,

mở L/C, thanh toán theo tiến độ đã được xác định trong hợp đồng

+ Đối với chi phí khác: Mức tạm ứng nhiều nhất không vượt quá kế hoạch vốn cả năm đã bố trí cho công việc khác (Chính phủ, 2015)

Trang 34

b) Tạm ứng vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP

Tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư là quá trình Kho bạc Nhà nước (KBNN) thực hiện đề nghị của chủ đầu tư tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư đến tay các nhà thầu (tư vấn, xây dựng, cung ứng thiết bị) và chi tiêu cho việc quản lý của chủ đầu tư Bản chất của việc cấp vốn là Nhà nước (chủ đầu tư là người đại diện) mua lại sản phẩm xây dựng, lắp đặt, thiết bị công nghệ và các sản phẩm XDCB khác của các nhà thầu Do đó, việc cấp đúng, cấp đủ tức là cấp đúng giá trị của bản thân hàng hoá xây dựng công trình thủy lợi mà nhà thầu bán cho chủ đầu tư

Cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ TPCP là khâu quan trọng trong việc giảm thất thoát, tiêu cực trong đầu tư xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Quốc hội, 2015)

c) Thanh toán khối lượng xây dựng công trình thủy lợi hoàn thành

từ TPCP

Thanh toán vốn đầu tư là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành Thanh toán vốn đầu tư có thể được thanh toán theo tuần kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền; có thể được thanh toán theo giai đoạn quy ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý; có thể được thanh toán theo khối lượng xây dựng hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công trình hoàn thành Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng giai đoạn, khả năng về vốn của chủ đầu tư và nhà thầu Vấn đề là phải kết hợp được hài hòa lợi ích của chủ đầu tư và nhà thầu Với nguyên tắc chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối lượng hoàn thành nghiệm thu thì càng có lợi cho cả 2 bên, vừa đảm bảo vốn cho nhà thầu thi công vừa đảm bảo thúc đẩy tiến

độ thi công công trình

Để thanh toán, chủ đầu tư phải mở tài khoản ở KBNN Để phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, chủ đầu tư phải gửi đến KBNN các tài liệu cơ sở của dự án (văn bản phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, dự án đầu tư xây dựng công trình, văn bản lựa chọn nhà thầu, hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu,…)

Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP bao gồm: cấp phát và thu hồi vốn tạm ứng; cấp phát thanh toán khối lượng xây dựng công trình thủy lợi hoàn thành

Trang 35

Việc thanh toán khối lượng xây dựng công trình thủy lợi đã hoàn thành được xem xét trong các trường hợp sau:

- Đối với khối lượng công tác xây lắp: Phải căn cứ vào định mức dự toán của từng loại công tác, mức giá vật liệu được công bố từng tháng của địa phương

và những thay đổi giá ca máy hoặc tiền lương tại thời điểm thi công khối lượng công tác xây lắp đó để xác định đơn giá XDCB phù hợp với mặt bằng giá tại thời điểm đó hoặc dùng phương pháp bù trừ chênh lệch giá của khối lượng công tác xây lắp hoàn thành được thanh toán

-Đối với thanh toán thiết bị: Khối lượng thiết bị được thanh toán là khối lượng thiết bị đã nhập kho chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp), hoặc đă lắp đặt xong và được nghiệm thu (đối với thiết bị cần lắp đặt) và thoả măn các đIều kiện để được nghiệm thu

-Thanh toán chi phí kiến thiết cơ bản khác: Việc thanh toán chi phí kiến thiết cơ bản khác được thực hiện khi có đủ các căn cứ chứng minh công việc đă được thực hiện

Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thanh toán theo quy định, cơ quan thanh toán vốn đầu tư có trách nhiệm thanh toán vốn đầu tư theo đề nghị thanh toán của chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư trên cơ sở kế hoạch vốn được giao

Chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư chịu trách nhiệm về đơn giá, khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán trong hồ sơ đề nghị thanh toán; cơ quan thanh toán vốn đầu tư không chịu trách nhiệm về đơn giá, khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán trong hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư Trong quá trình thanh toán, trường hợp phát hiện những sai sót trong hồ sơ đề nghị thanh toán, cơ quan thanh toán vốn đầu tư thông báo bằng văn bản để chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ

Nghiêm cấm các cơ quan thanh toán vốn đầu tư và chủ đầu tư tự đặt ra các quy định trái pháp luật trong việc thanh toán vốn đầu tư xây dựng (Chính phủ, 2015) 2.2.4.3 Công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

Quyết toán vốn đầu tư hay quyết toán dự án hoàn thành của một dự án là tổng kết, tổng hợp các khoản thu chi để làm rõ tình hình thực hiện dự án Thực

Trang 36

chất quyết toán vốn đầu tư xây dựng một công trình, hạng mục công trình là xác định giá trị của công trình, hạng mục công trình đó hay là xác định vốn đầu tư được quyết toán Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án, công trình, hạng mục công trình vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã

ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những quy định hiện hành của Nhà nước có liên quan

Để đánh giá kết quả của quá trình đầu tư, rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây dựng, tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước bao gồm: vốn NSNN, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, vốn Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn Trái phiếu (Chính phủ, Chính quyền địa phương), đều phải quyết toán sau khi hoàn thành hoặc khi kết thúc năm kế hoạch Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã phê duyệt kể cả phần điều chỉnh, bổ sung, đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợp với các quy định của pháp luật Đối với các dự án sử dụng vốn TPCP thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt Quyết toán vốn đầu tư được thực hiện dưới 2 hình thức:

a Quyết toán thực hiện vốn đầu tư theo niên độ ngân sách

Kết thúc năm, chủ đầu tư phải lập bảng đối chiếu thanh toán vốn đầu tư cho từng dự án về số thanh toán trong năm và luỹ kế số thanh toán từ khi khởi công đến hết niên độ ngân sách gửi KBNN Đồng thời chủ đầu tư phải báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của từng dự án gửi cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, KBNN, cơ quan Tài chính cùng cấp (đối với dự án địa phương quản lý) Các Bộ, UBND cấp tỉnh căn cứ vào báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của các chủ đầu tư, chỉ đạo cơ quan chức năng tổng hợp, lập báo cáo tổng hợp thực hiện vốn đầu tư của các dự án trong năm thuộc phạm vi quản lý gửi Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng Báo cáo phải phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, kết quả đầu tư, vấn đề khó khăn tồn tại, kiến nghị các giải pháp giải quyết

b Quyết toán vốn đầu tư dự án xây dựng công trình thủy lợi hoàn thành

Trang 37

Tuỳ theo quy mô, tính chất và thời hạn xây dựng công trình, chủ đầu tư có thể thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình ngay sau khi hạng mục công trình, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư Chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi cơ quan thẩm tra và phê duyệt quyết toán, cơ quan cấp trên trực tiếp của chủ đầu tư (nếu có) và KBNN

Quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư đã thực hiện hàng năm và tổng mức vốn đầu tư đã thực hiện dự án; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hình thành qua đầu tư; giá trị tài sản bàn giao đưa vào sản xuất, sử dụng; quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa dự án vào vận hành để xác định giá trị tài sản mới tăng và giá trị tài sản bàn giao nếu dự án kéo dài trong nhiều năm; phân định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu, KBNN, cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong quá trình đầu tư

Các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước và vốn Nhà nước ngoài ngân sách sau khi hoàn thành đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu

tư xây dựng công trình

Chi phí đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp thực hiện trong quá trình đầu tư xây dựng để đưa công trình của dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợp pháp là toàn bộ các khoản chi phí thực hiện trong phạm vi dự

án, thiết kế, dự toán được phê duyệt; hợp đồng đã ký kết; kể cả phần điều chỉnh,

bổ sung được duyệt theo quy định và đúng thẩm quyền Đối với các dự án sử dụng vốn TPCP, chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh

Chủ đầu tư có trách nhiệm lập Hồ sơ quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình và quy đổi vốn đầu tư công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là 9 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 6 tháng đối với dự án nhóm B và 3 tháng đối với dự án nhóm C kể từ ngày công trình hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản dự án tại cơ quan thanh toán vốn đầu tư

Đối với công trình, hạng mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng thuộc dự án đầu tư xây dựng, trường hợp cần thiết phải quyết toán ngay thì chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định

Trang 38

Đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, sau khi kết thúc niên độ ngân sách, chủ đầu tư thực hiện việc quyết toán, sử dụng vốn đầu tư theo niên độ theo quy định của Bộ Tài chính

Chủ đầu tư chậm thực hiện quyết toán theo quy định tại khoản 3 Điều này

bị xử lý theo quy định tại Nghị định về xử phạt quy định hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai khác, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà ở và công sở Thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư:

- Đối với các dự án quan trọng quốc gia và các dự án quan trọng khác do Thủ tướng quyết định đầu tư:

+ Giao cơ quan quản lý cấp trên của Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các

Kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý vốn đầu

tư Kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những nhân tố mới, tích cực để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch của đối tượng quản lý vốn để uốn nắn kịp thời Mặt khác, qua kiểm tra, giám sát có thể phát hiện những điểm bất cập, bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thậm chí ngay cả chủ trương, quyết định đầu tư để kịp thời sửa đổi cho phù hợp

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra các dự án về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư, tình hình thanh toán, sử dụng vốn và việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính đầu tư phát triển của Nhà nước

Cơ quan tài chính các cấp định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra Kho bạc Nhà nước việc thực hiện chế độ thanh toán vốn đầu tư (Bộ Tài chính, 2012)

Các cơ quan thanh tra Nhà nước (được tổ chức theo cấp hành chính, ngành, lĩnh vực) thực hiện theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình là: thanh tra việc

Trang 39

thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ và vụ việc liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật định, phòng ngừa và phòng chống tham nhũng,…(Luật thanh tra) Vì vậy, thanh tra nhà nước có quyền thanh tra đối với việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong đó có vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; có quyền thanh tra những vụ việc, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng ngừa và phòng chống tham nhũng liên quan đến quản lý và sử dụng vốn TPCP trong đầu tư công trình thủy lợi

Kho bạc Nhà nước kiểm soát, thanh toán vốn đối với dự án do các Bộ và

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý (Bộ Tài chính, 2012)

2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ

2.1.5.1 Nhân tố khách quan

a) Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa phương

- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên trên địa bàn với các đặc điểm về địa chất, khí hậu, phân bố địa lý có tác động nhất định đến hiệu quả sử dụng vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Đối với địa bàn có địa chất

ổn định, vững chắc, khí hậu thuận lợi cho việc khảo sát, thi công và không mất nhiều kinh phí xử lý nền móng cũng như việc vận chuyển vật liệu, máy móc phục

vụ thi công được thuận tiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

- Điều kiện kinh tế - xã hội: Hiệu quả vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ TPCP có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội Thông thường điều kiện kinh tế - xã hội ổn định, đời sống của người dân được đảm bảo, nguồn vốn TPCP cho đầu tư xây dựng không chỉ được đảm bảo theo kế hoạch mà còn có thể được bổ sung đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đầu tư Điều kiện kinh tế - xã hội cùng với mặt bằng về dân trí khá còn là điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả công tác giám sát đầu tư, nhất là đối với các công trình thực hiện giám sát cộng đồng, đồng thời cũng thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng phục vụ cho thực hiện dự án đầu tư

b) Môi trường chính sách

Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng là các quy định của Nhà nước thông qua

Trang 40

các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý làm chế tài để quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng Nếu cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng mang tính đồng

bộ cao sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh hoạt động đầu tư xây dựng, tiết kiệm trong việc sử dụng vốn TPCP cho đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, ngược lại nếu cơ chế thường xuyên thay đổi hoặc không phù hợp với thực tế sẽ dẫn tới giảm hiệu quả vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi

Hiện nay, cơ chế chính sách liên quan đến quản lý vốn trong đầu tư xây từ TPCP vẫn chưa theo kịp thực tế cuộc sống, cần phải được tiếp tục hoàn thiện c) Công tác quy hoạch trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi

Công tác quy hoạch có ảnh hưởng lớn và lâu dài đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong phạm vi ngành và vùng lãnh thổ, nó vừa là nội dung vừa là công cụ

để quản lý hoạt động đầu tư, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả đầu tư các dự án từ nguồn vốn TPCP Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn TPCP trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thì công tác quy hoạch phải đi trước một bước và phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế- xã hội một cách bền vững Quy hoạch xây dựng các công trình phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành Nếu làm tốt công tác quy hoạch xây dựng thì sẽ định hướng cho đầu tư có hiệu quả cao, bền vững; ngược lại, nếu quy hoạch xây dựng không có tính khoa học, không dự báo tốt sự phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai và không phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch vùng sẽ dẫn tới đầu tư kém hiệu quả, dễ gây nên thất thoát, lãng phí vốn

Cùng với quy hoạch thì công tác kế hoạch đầu tư cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Trong điều kiện nguồn lực hạn chế thì chất lượng công tác kế hoạch hoá càng có ý nghĩa quan trọng Xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn và dài hạn khoa học để từ

đó chủ động xây dựng kế hoạch huy động và phân bổ vốn đầu tư hợp lý trong trung hạn và ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, hạn chế lãng phí trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Ngược lại, nếu công tác kế hoạch hoá không tốt sẽ dẫn tới tình trạng nhiều công trình có khối lượng hoàn thành không được bố trí vốn trong khi đó có những công trình lại trong tình trạng vốn đợi công trình gây lãng phí lớn trong việc sử dụng vốn

2.1.5.2 Nhân tố chủ quan

a) Tổ chức hệ thống quản lý và điều hành dự án

Cơ cấu tổ chức và điều hành của cơ quan quản lý vốn trong đầu tư xây

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Văn Chiến (2016), Tìm hiểu ngành thủy lợi là gì, https://dethithuvn.com/tim- hieu-nganh-thuy-loi-la-gi.html Link
10. Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn (2007), TPCP (Government bond), http://quantri.vn/dict/details/8275-trai-phieu-chinh-phu-government-bond Link
13. Vân Hà (2016), Hưng Yên: Quản lý các dự án đầu tư đã đi vào nề nếp, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2016-07-22/hung-yen-quan-ly-cac-du-an-dau-tu-da-di-vao-ne-nep-33816.aspx Link
14. Lê Mạnh Hùng (2010), Thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, http://www.hec2.vn/vn/tin-tuc/tin-khoa-hoc-cong-nghe/thuy-loi-phuc-vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-o-viet-nam Link
16. Thanh Hòa, Phúc Hằng (2013), Nâng cao quản lý, sử dụng vốn TPCP, http://www.vietnamplus.vn/nang-cao-quan-ly-su-dung-von-trai-phieu-chinh-phu/205578.vnp Link
20. Lê Văn Nghĩa (2014), TPCP: Kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển, http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/chung-khoan/trai-phieu-chinh-phu-kenh-huy-dong-von-cho-dau-tu-phat-trien-48859.html Link
24. Ngô Hữu Tường (2016), Xung quanh việc sử dụng nguồn vốn TPCP ở Lào Cai, http://www.baolaocai.vn/kinh-te/xung-quanh-viec-su-dung-nguon-von-trai-phieu-chinh-phu-o-lao-cai-z3n7498.htm Link
1. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 231/2012/TT-BTC Quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư đối với các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 Khác
2. Nguyễn Đức Bình, Đặng Xuân Kỳ, Trần Ngọc Hiên, Hà Học Hợi , Phạm Xuân Nam, Trần Nhâm, Trần Xuân Trường (2002), C.Mác và Ph.Ăng-Ghen toàn tập, tập 23. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
4. Chính phủ (2003), Nghị định số 141/2003/NĐ-CP Về việc phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương Khác
5. Chính phủ (2011), Nghị định số 01/2011/NĐ-CP Về phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương Khác
6. Chính phủ (2015), Báo cáo số 631/BC-CP về tình hình phát hành và sử dụng vốn trái phiếu Chính phù giai đoạn 2010-2015 Khác
7. Chính phủ (2015). Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Khác
8. Bùi Mạnh Cường (2012), Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội 9. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia,Hà Nội Khác
12. Harol Koontz (1993), Những vấn đề cốt yếu của quản lý. NXB khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (2012), Giáo trình quản lý học, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
19. Trần Thị Linh (2015), Tăng cường quản lý vốn TPCP trong đầu tư XDCB ở tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Vinh Khác
21. Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương (2007), Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
25. Thanh tra Chính phủ (2015), Báo cáo Tổng hợp kết quả thanh tra chuyên đề diện rộng về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, TPCP Khác
26. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định Số: 182/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phát hành TPCP để đầu tư một số công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng của đất nước Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w