Tính cấp thiết của đề tài Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt, ô
Trang 2CHU NGọC MINH
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa hình phục vụ phòng chống tai biến môi trường khu vực ven biển tỉnh quảng trị
do ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu
Chuyờn ngành: Kỹ thuật Trắc địa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 4 năm 2011
TÁC GIẢ
Chu Ngọc Minh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 6
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 6
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài……… 7
3 Nội dung nghiên cứu……… 8
4 Phương pháp nghiên cứu……… 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Bố cục của đề tài……… ……….9
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG TRỊ……… 11
1.1 ĐẶC ĐIỂM VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN……… 11
1.1.1 Vị trí địa lý……… 11
1.1.2 Địa hình, địa mạo……….……… 11
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng……….……… … 12
1.1.4 Thảm thực vật……… ……… 14
1.1.5 Khí hậu……….…… … 14
1.1.6 Thủy văn……… …… 17
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG TRỊ……… 18
1.2.1 Dân số……… …… 18
1.2.2 Cơ cấu kinh tế của tỉnh……… 19
1.2.3 Nông - lâm nghiệp……… … 19
1.2.4 Thủy sản……… ………… .20
1.2.5 Công nghiệp……… … 20
1.2.6 Y tế - giáo dục………21
1.2.7 Các ngành khác……… ….… 21
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC TỈNH QUẢNG TRỊ… 23 1.3.1 Biến đổi khí hậu……….……… 23
Trang 51.3.2 Ảnh hưởng của nước biển dâng……… … 26
1.3.3 Các tác động của sự dâng cao mực nước biển……… 28
1.3.4 Tác động của sự biến đổi khí hậu ở Việt Nam……… … 29
1.3.5 Tác động của biến đổi khí hậu ở tỉnh Quảng Trị……… … 31
1.3.6 Kịch bản và ảnh hưởng của BĐKH đối với vùng ven biển….…… 37
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU……… 41
2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HTTTĐL……… 41
2.2 CÁC THÀNH PHẦN TRONG HTTTĐL……… 43
2.2.1 Phần cứng……… ……… 43
2.2.2 Phần mềm……… ……… 44
2.2.3 Dữ liệu……… ……… 46
2.2.4 Yếu tố con người……… ………… 53
2.2.5 Các phương pháp……… ………… 54
2.3 CHỨC NĂNG CỦA HTTTĐL……… 54
2.3.1 Thu thập dữ liệu……… …… 54
2.3.2 Lưu trữ dữ liệu……… …….…… 54
2.3.3 Truy vấn dữ liệu……… …….…… 55
2.3.4 Phân tích dữ liệu……… …….…… 55
2.3.5 Hiển thị……… ……… 55
2.3.6 Sản phẩm đầu ra……… ……… 56
2.4 KHẢ NĂNG PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA HTTTĐL……… ……… 56
2.4.1 Khả năng phân tích không gian của HTTTĐL……… .56
2.4.2 Một số ứng dụng của HTTTĐL……… 58
2.4.3 Một số vấn đề khi thực hiện dự án ứng dụng công nghệ HTTTĐL 60
2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA LÝ ……… 60
2.5.1 Lý thuyết xây dựng CSDL 60
2.5.2 Quy trình tổng quát xây dựng cơ sở dữ liệu……… 65
Trang 62.5.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu nền TTĐL từ BĐĐH tỷ lệ 1/10.000… … 75
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA HÌNH TỶ LỆ 1:10000 KHU VỰC VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ……… 89
3.1 YÊU CẦU, NHIỆM VỤ……… 89
3.1.1 Yêu cầu……… ………… 89
3.1.2 Nhiệm vụ……… ………… 89
3.1.3 Sản phẩm của đề tài……… ………….89
3.2 XÂY DỰNG CƠ CỞ DỮ LIỆU……… 90
3.2.1 Tình hình tư liệu bản đồ……… ………… .90
3.2.2 Các chuẩn được áp dụng……… ……… 90
3.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý……… ……… 91
3.3 SẢN PHẨM CSDL ĐỊA HÌNH TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 102
3.3.1 Ranh giới hành chính……… ……….… 104
3.3.2 Địa hình……… ….… 104
3.3.3 Cơ sở hạ tầng……… ……….105
3.3.4 Bản đồ độ dốc và hướng dốc……… ……… 106
3.3.5 Bản đồ phân loại đất……… …… 106
3.3.6 Hệ thống giao thông……… …… 107
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC ỨNG DỤNG CỦA DỮ LIỆU ĐỊA HÌNH TRÊN PHẦN MỀM ArcGIS……… ………… 108
3.4.1 Phân tích hệ thống sông ngòi……… ….……… 108
3.4.2 Quản lý các lưu vực sông……… ………….… 109
3.4.3 Quản lý khu vực ven biển……… ….… 109
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 113
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
BĐKH Biến đổi khí hậu
CSDL Cơ sở dữ liệu
CSDLNDL Cơ sở dữ liệu nền địa lý
HTTTDL Hệ thống thông tin địa lý
MHSĐC Mô hình số độ cao
METADATA Siêu dữ liệu
DLĐH Dữ liệu địa hình
TTĐL Thông tin địa lý
BĐĐH Bản đồ địa hình
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học… Trong đó, biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc
Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia do những ảnh hưởng hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người Các hiện tượng khí hậu dị thường và thiên tai liên tục diễn ra ở nhiều vùng trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu của thế giới, Việt Nam sẽ là một trong 5 quốc gia bị
ảnh hưởng nặng nề và tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hơn một nửa dân số trên toàn cầu mà các
quốc gia, vùng lãnh thổ ven biển được coi là nhạy cảm nhất và bị tổn thương mạnh
mẽ nhất Biến đổi khí hậu sẽ là tác nhân gây ra các tai biến môi trường như bão tố,
lũ lụt
Khu vực ven biển tỉnh Quảng Trị phần lớn là địa hình thấp với các dải địa hình trũng và có hai Cửa sông lớn chảy ra biển là Cửa Tùng và Cửa Việt Là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trọng tâm phát triển kinh tế-xã hội và cơ sở hạ tầng quan trọng của tỉnh Với các đặc trưng tự nhiên và xã hội như vậy, đới bờ biển tỉnh Quảng Trị tiềm ẩn nhiều rủi ro dưới các tác động của biến đổi khí hậu Hiện tượng nước biển dâng đang có xu thế làm gia tăng xói lở bờ biển, làm ngập úng các vùng
đất canh tác, ngập lụt các khu dân cư ven biển
Một cơ sở dữ liệu đầy đủ được xây dựng trong hệ thống thông tin hiện đại với các mô hình dữ liệu chồng xếp (ovelay) hoặc mô hình số độ cao (DEM) cho ta thông tin chính xác về địa hình ven biển và nhờ đó giúp cho sự phòng chống thiên tai vùng đới bờ ứng phó với biến đổi khí hậu có hiệu quả hơn
Trong những năm gần đây, GIS được coi là hệ thống thông tin hiện đại, được
ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật và kinh tế-xã hội Việc xây dựng cơ sở dữ
Trang 9liệu GIS với các lớp thông tin địa hình đầy đủ sẽ góp phần quan trọng trong công tác nghiên cứu hiện trạng môi trường và có cái nhìn bao quát hơn từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, quy hoạch, phòng chống, ứng phó với qúa trình biến đổi khí hậu
Đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa hình phục vụ phòng chống tai
biến môi trường khu vực ven biển tỉnh Quảng Trị do ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu" đã được lựa chọn là xuất phát từ ý nghĩa thực tế xây dựng CSDL
phục vụ phòng chống tai biến môi trường khu vực ven biển nói chung và ven biển tỉnh Quảng Trị nói riêng
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu GIS với các thông tin địa hình đầy đủ sẽ góp phần quan trọng trong công tác phòng chống tác động của biến đổi khí hậu vùng ven biển nói chung và của ven biển tỉnh Quảng Trị nói riêng
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
b Nhiệm vụ
- Nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
và các hiện tượng tai biến môi trường do BĐKH
- Nghiên cứu lý thuyết, tiếp cận các giải pháp khoa học về hệ thống thông tin
địa lý GIS
- Xây dựng CSDL nền địa hình khu vực ven biển tỉnh Quảng Trị
- Phân vùng ngập lụt cho các kịch bản cực đoan biến đổi khí hậu và nước biển dâng dị thường
- Dự báo được những biến động về môi trường và các hệ sinh thái biển theo các kịch bản mực nước biển dâng cao
Trang 103 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các kiến thức tổng quan về GIS và mô hình số độ cao
- Nghiên cứu phân tích các nội dung của quy định kỹ thuật về mô hình cấu trúc và nội dung dữ liệu nền địa lý ở tỷ lệ 1/2000, 1/5000 và 1/10000
- Nghiên cứu các phần mềm GIS và lựa chọn phần mềm áp dụng cho khu vực thực nghiệm
- Nghiên cứu CSDL nền địa lý ven biển tỉnh Quảng Trị sau khi xây dựng xong, nghiên cứu các công cụ khai thác dữ liệu để đề xuất các phương án khai thác phục vụ cho công tác phòng chống tai biến môi trường khu vực ven biển tỉnh Quảng Trị do ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu
4 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chính được sử dụng trong đề tài là:
Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập, phân tích và hệ thống hoá thông tin: các số liệu, tài liệu chuyên môn, đề tài khoa học có liên quan đã được
công bố, các nguồn thông tin khác như tạp chí, các loại báo…
Phương pháp đánh giá và khai thác công nghệ: nhằm nâng cao độ chính
xác của CSDL
Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu: các số liệu, tài liệu hiện có tại đơn vị
sản xuất, các tài liệu đã được điều tra, khảo sát, thu thập để xây dựng CSDL nền thông tin địa lý
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của giáo viên hướng dẫn, các
nhà khoa học, các đồng nghiệp về các vấn đề trong nội dung luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 11* Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua kết quả nghiên cứu để minh chứng tính hiệu quả của cơ sở dữ liệu địa hình trong công tác phòng chống các tai biến môi trường do ảnh hưởng của
quá trình biến đổi khí hậu
- Dự báo ảnh hưởng về tác động hiện tại và tương lai của biến đối khí hậu
dự trên các mô hình dẫn xuất từ CSDL địa lý
6 Cấu trúc của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận được trình bày trong
113 trang với 32 hình
Trang 12LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ cả về mặt kiến thức, tinh thần và những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, gia đình và các đồng nghiệp Đặc biệt xin chân thành cảm ơn thầy
giáo GS.TS Võ Chí Mỹ là người trực tiếp hướng dẫn và đã tận tình chỉ bảo, động
viên tôi Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa trắc địa, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ tạo điều kiện của Tổng Công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Công ty Tài nguyên - Môi trường biển, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Quảng Trị và một số đơn vị khác trong ngành Tài
nguyên & Môi trường Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 13Tỉnh Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, có vị trí địa
lý nằm trong phạm vi: 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc; 106032 đến 107024 kinh độ
Đông
+ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình
+ Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Phía Tây là biên giới Việt - Lào
+ Phía Đông là biển Đông, với chiều dài bờ biển là 75km
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 4.746km2 được chia thành 10 đơn vị hành chính, gồm 8 huyện và 2 thị xã Quảng Trị nằm vào vị trí cầu nối của hai miền Nam
- Bắc có quốc lộ 1A, đường mòn Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua, có quốc lộ 9 nối hành lang Đông Tây rất thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình tỉnh Quảng Trị có thể dốc chung từ đỉnh Trường Sơn đổ ra biển
Do sự phát triển của các bình nguyên đồi thấp nên địa hình ở vùng này rất phức tạp Theo chiều Bắc Nam, phần đồng bằng địa hình có dạng đèo thấp, thung lũng sông -
đèo thấp Theo chiều Tây - Đông, địa hình ở đây có dạng núi cao, đồi thấp, nhiều
khu theo dạng bình nguyên - đồi, đồng bằng, đồi thấp ven biển Có thể phân chia
địa hình ở đây theo các dạng đặc trưng sau:
- Vùng cát ven biển: dải cát này chạy dọc từ cửa Tùng đến bãi biển Mỹ
Thủy theo dạng cồn cát Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới 3-4km, dài đến 35km Dốc về hai phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các cồn cát từ +6÷+4m Vùng cát có lớp phủ thực vật nghèo nàn Cát ở đây di chuyển theo các dạng cát
Trang 14chảy theo dòng nướ mưa, cát bay theo gió lốc, cát di chuyển theo dạng nhảy do mưa
đào bới và gió chuyển đi; dạng cồn cát này có nguy cơ di chuyển chiếm chỗ của đồng bằng Tuy nhiên dạng địa hình này có khả năng cải tạo thành vùng trồng cây
trồng cạn nếu như có nước để cải tạo
- Vùng đồng bằng: dạng đồng bằng ở đây là các thung lũng sâu kẹp giữa các
dải đồi thấp và cồn cát hình thành trên các cấu trúc uốn nếp của dãy Trường Sơn, có nguồn gốc mài mòn và bồi tụ
- Vùng núi thấp và đồi: Địa hình vùng đồi ở đây có dạng đồi bát úp liên tục,
có những khu nhỏ dạng bình nguyên như khu đồi Hồ Xá (Vĩnh Linh) và khu Cùa (Cam Lộ) Độ dốc vùng núi bình quân từ 15÷180 Địa hình này rất thuận lợi cho việc phát triển cây trồng cạn, cây công nghiệp và cây ăn quả; cao độ của dạng địa hình này là 200-1000m, có nhiều thung lũng lớn Đây là dạng địa hình có thế mạnh của tỉnh Quảng Trị, có dạng địa hình này chiếm tới 50% diện tích tự nhiên của các lưu vực sông, thuận lợi cho việc xây dựng hồ chứa nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Vùng núi cao: Do chiều ngang tỉnh Quảng Trị hẹp, từ dải Trường Sơn ra
đến biển khoảng 100km, núi cao nên địa hình này dốc, hiểm trở; các triền núi cao
có xen kẽ các cụm đá vôi được hình thành do quá trình tạo sơn xảy ra tạo nên dãy Trường Sơn Dạng này phân bố phía Tây, giáp theo biên giới Việt - Lào theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với bậc địa hình từ 1.000 - 1.700m với bề mặt bị xâm thực và chia cắt mạnh Địa hình này thích hợp cho cây lâm nghiệp và rừng phòng hộ đầu nguồn
Tóm lại, địa hình tỉnh Quảng Trị rất phức tạp và cũng có rất nhiều tiềm năng
để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng và một nền kinh tế hàng hóa có
giá trị cao
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
a Địa chất
Địa tầng phát triển không liên tục Địa chất trong vùng có những đứt gãy
chạy theo hướng từ đỉnh Trường Sơn ra biển tạo thành các rạch sông chính cắt theo
Trang 15phương Tây Đông Tầng đá gốc ở đây nằm sâu, tầng phủ dày Theo đánh giá của ngành địa chất, trong vùng này có rất nhiều quặng nhưng phân bố rất phân tán, không thành khu tập trung, do vậy khi xây dựng công trình thủy lợi ở vùng này ít bị
ảnh hưởng Phần thềm lục địa được thành tạo từ trầm tích sông biển và sự di đẩy
của dòng biển tạo thành
b Thổ nhưỡng
- Vùng đồng bằng ven biển: bao gồm các xã nằm phía Đông quốc lộ 1A kéo
dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng Vỏ phong hóa chủ yếu phát triển trên đất đá bazan (Vĩnh Linh) vùng trầm tích biển và phù sa sông, gồm các tiểu vùng:
+ Tiểu vùng bazan Vĩnh Linh, vùng này thích hợp cho trồng cây hồ tiêu + Tiểu vùng cồn cát, bãi cát phân bố dọc bờ biển, địa hình đụn cát có dạng lượn sóng, độ dốc nghiêng ra biển
+ Tiểu vùng đất nhiễm mặn cửa Tùng được tạo thành dưới tác động của thủy triều phân bố ở địa hình thấp, bậc thềm phù sa ven sông hoặc mực nước ngầm nông Diện tích đất này chiếm ít, có thể sử dụng để trồng lúa nhưng cần có các biện pháp thau chua rửa mặn
- Vùng gò đồi: hầu hết có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng
sông thuộc địa phận huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ Nhiều nơi hình thành đất trống, đồi trọc Thực vật chủ yếu là cây dạng lùm bụi, cây có gai Đất đai ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh
+ Tiểu vùng đất đỏ Bazan: thuộc khu vực Cồn Tiên, Dốc Miếu và Tân Lâm, Cùa Diện tích khoảng 10.200 ha Đất có tầng dày trên 1,2m, có tới 6.300 ha Đây là hai khối bazan lớn nhất của tỉnh và có nhiều tiềm năng phát triển cây công nghiệp dài ngày như hồ tiêu, cà phê, cao su Khu Cồn Tiên - Dốc Miếu là vùng cao su chủ lực của tỉnh
+ Tiểu vùng đồi thấp sa phiến thạch giáp đồng bằng được hình thành trên đá
mẹ sa phiến thạch, tầng mỏng, bị bào mòn mạnh, thực vật nghèo nàn Vùng đất này phù hợp với trồng cây lâm nghiệp để tái tạo môi sinh môi trường
- Vùng đồi, núi dãy Trường Sơn: gồm núi cao chia cắt mạnh, thực vật nghèo
Trang 16+ Tiểu vùng đất bazan Khe Sanh, Hướng Phùng thuộc các xã Tân Hợp, Tân
Độ, Tân Liên, nông trường Khe Sanh, Hướng Phùng có dạng địa hình lượn sóng,
chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày
+ Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo, Lìa: Địa hình ở đây thấp, trũng, đồi lượn sóng Đất phát triển trên phiến thạch sét biến chất Ở những khu đất nhiều phù sa thuận lợi phát triển các cây nông nghiệp, vùng cao hơn rất thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp dài ngày như hồ tiêu, cà phê
1.1.4 Thảm thực vật
Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng bị hủy diệt khốc liệt, lớp phủ thực vật với ý nghĩa phục hồi các hệ sinh thái trở thành kế hoạch hành
động cụ thể và tích cực Đến 1990, nhiều diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên tái
sinh do khoanh nuôi bảo vệ đã xuất hiện Rừng trồng theo chương trình hỗ trợ của PAM (Chương trình An toàn lương thực thế giới) dọc các quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển nhanh và có hiệu quả môi trường rõ rệt Đồng thời với các kế hoạch trồng rừng, thực hiện hạn chế khai thác rừng tự nhiên, tăng cường khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Đến năm 2009 đất lâm nghiệp có rừng: 219.638,85 ha (46,27%) trong đó rừng tự nhiên có 101,067 ha, trữ lượng gỗ khoảng 11 triệu m3
1.1.5 Khí hậu
Tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang
đầy đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt Nam Trong năm có hai mùa rõ
rệt, mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 tới tháng 11 Từ tháng 3 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô
và nóng Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc đi liền với mưa phùn và rét đậm
a Mưa
Mưa trong vùng phụ thuộc vào yếu tố địa hình trên từng lưu vực Lượng mưa hàng năm nằm trong khoảng 2.000-2.800mm Lượng mưa 3 tháng mùa mưa chiếm tới 68÷70% lượng mưa năm
Trang 17Tổng lượng mưa 9 tháng mùa khô chỉ chiếm 30% tổng lượng mưa năm Trong các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 thường có những trận mưa rào nhẹ cách nhau từ 7 đến 8 ngày với lượng mưa từ 20÷ 30mm, do vậy trong vụ đông xuân thường ít phải tưới hơn vụ hè thu Giữa 2 mùa khô có 1 thời kỳ mưa lớn là tháng 5 và tháng 6 gọi là mưa tiểu mãn, nhờ có mưa này mà vụ hè thu, nhu cầu nước cho con người và cây trồng đỡ căng thẳng hơn Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9
đến tháng 11, thậm chí có năm mùa mưa kéo dài đến tận tháng 12 Đây là thời gian
bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động mạnh ở khu vực miền Trung Do đặc điểm địa hình chia cắt nên mưa trong mùa mưa cũng ít khi đồng đều trên toàn tỉnh
b Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí trong vùng thấp nhất vào mùa đông (tháng 11 tới tháng 3), cao nhất vào mùa hè (tháng 5 tới tháng 8) Nhiệt độ bình quân nhiều năm vào khoảng 24,30C Chênh lệch nhiệt độ trong ngày từ 7 tới 100C
e Số giờ nắng
Bình quân số giờ nắng trong năm khoảng 1840 giờ Tại Đông Hà bình quân
số giờ nắng trong tháng biến đổi từ 92 giờ vào tháng 2 tới 242 giờ vào tháng 7
Trang 18Gió mùa Tây Bắc hoạt động mạnh từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Thời gian chuyển tiếp các hướng gió Tây Nam và Tây Bắc là thời gian giao thời và gió Tây khô nóng hoạt động vào tháng 4, tháng 5 (nhân dân địa phương gọi là gió Lào) Thời kỳ có gió Lào là thời kỳ nóng nhất trong tỉnh Quảng Trị
Bão và xoáy thuận nhiệt đới là những biến động thời tiết trong mùa hạ, hoạt
động rất mạnh mẽ và thất thường Từ tháng 5 đến tháng 8 vùng ven Thái Bình
Dương không khí bị nung nóng bốc lên cao tạo thành những vùng xoáy rộng hàng trăm km2, tích lũy dần và di chuyển theo hướng Tây Nam đổ bộ vào đảo Hải Nam Trung Quốc Đến cuối mùa, từ tháng 9 đến tháng 11 gió Tây Nam suy yếu, nhường dần cho hướng gió Nam và Đông Nam Tây xoáy thuận di chuyển dần xuống vùng
vĩ độ thấp và đổ bộ vào khu vực từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế Cuối mùa, gió
Đông Bắc mạnh hẳn lên, ép các xoáy thuận nhiệt đới di chuyển dần về cực Nam
Trung Bộ Quy luật này diễn ra thường xuyên, hàng năm Thời kỳ xoáy thuận nhiệt
đới đổ bộ vào Bắc Trung Bộ thường gây ra bão vùng ven biển Hướng đi của bão
trong vùng Bình Trị Thiên như sau:
Bão theo hướng chính Tây chiếm khoảng 30%
Bão theo hướng Tây - Tây Bắc chiếm khoảng 45%
Bão theo hướng Nam chiếm khoảng 24%
Bão theo các hướng khác chiếm khoảng 1%
Tính chất của bão và áp thấp nhiệt đới ở vùng Quảng Trị cũng rất khác nhau theo từng cơn bão và từng thời kỳ có bão Bình quân 1 năm có 1,2 ÷1,3 cơn bão đổ
bộ vào Quảng Trị Vùng ven biển Quảng Trị bão và áp thấp nhiệt đới thường gặp nhau tới 78%, do vậy khi có bão thường gặp mưa lớn sinh lũ trên các triền sông Bão đổ bộ vào đất liền với tốc độ gió từ cấp 10 đến cấp 12, có khi gió giật trên cấp 12 Thời gian bão duy trì từ 8÷ 10 giờ nhưng mưa theo bão thường xảy ra 3 ngày liên tục
Trong thời gian có bão thường đi kèm mưa lớn và có thể gây ra hiện tượng lũ quét gây thiệt hại lớn về người và tài sản Đây cũng là một trong các yếu tố tự nhiên cản trở tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Trị
Trang 191.1.6 Thủy văn
Trên địa phận tỉnh Quảng Trị có ba hệ thống sông chính:
- Hệ thống sông Thạch Hãn: (còn gọi là sông Quảng Trị) có 37 con sông
gồm 17 sông nhánh cấp I với 3 nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và Cam
Lộ, 13 sông nhánh cấp II, 6 sông nhánh cấp III Diện tích toàn lưu vực là 2.660 km2,
độ dài sông chính là 156 km, độ cao bình quân lưu vực 301m, độ dốc bình quân lưu
vực là 20,1%, độ rộng trung bình lưu vực là 36,8 km
- Hệ thống sông Bến Hải: có diện tích lưu vực là 809 km2, dài 64,5 km, độ cao bình quân lưu vực 115m, độ dốc bình quân lưu vực là 15,7
- Hệ thống sông Ô Lâu: thuộc lưu vực sông Mỹ Chánh chảy qua phà Tam
Giang về cửa Thuận An bao quát một diện tích lưu vực là 855km2, dài 65km Đầu nguồn lưu vực nằm ở địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra còn có một số sông suối lưu vực sông Xê Pôn và Sê Păng Hiêng thuộc Tây Trường Sơn và một số suối nhỏ vùng cồn cát đổ thẳng ra biển
Cũng như các nơi khác ở nước ta, dòng chảy sông suối trong tỉnh Quảng Trị không những phân bố không đều trong lãnh thổ mà còn phân bố rất không đều trong năm Hàng năm, dòng chảy sông suối biến đổi theo mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Thời gian bắt đầu, kết thúc các mùa dòng chảy không cố định hàng năm mà có xê dịch giữa các năm từ một đến vài tháng
Dòng chảy trên sông thuộc khu vực có dòng chảy dồi dào so với trung bình
cả nước, phần lớn nước tập trung vào mùa lũ Do sự phân bố nước không đều trong năm nên ở đây lũ rất khắc nghiệt và hạn hán cũng rất điển hình Mùa lũ từ tháng 9-
12, mùa kiệt kéo dài trong khoảng 8 tháng từ tháng 1đến tháng 8 Do độ dốc lớn nên
lũ thường xảy ra nhanh và ác liệt gây nguy hiểm cho các hoạt động kinh tế xã hội Thông thường mùa lũ xuất hiện chậm hơn mùa mưa khoảng một tháng Mưa là nguyên nhân gây lũ chủ yếu ở hai tỉnh này Lũ lớn nhất thường xuất hiện trong các tháng 9, 10 chiếm từ 25-31% tổng lượng nước cả năm
Lượng nước mùa kiệt chỉ chiếm khoảng gần 30% tổng lượng dòng chảy trong năm Sự phân phối không đều đã gây ảnh hưởng lớn cho sinh hoạt và sản
Trang 20xuất Tình trạng đó càng trở nên khốc liệt vào các năm và các tháng có gió Tây Nam (gió Lào) hoạt động mạnh Tuy nhiên vào khoảng tháng 5-6 trong vùng thường có mưa tiểu mãn bổ sung lượng nước cho mùa kiệt
Tháng 4 và tháng 7 là những tháng kiệt, lưu lượng trên sông nhỏ Các tháng nhiều nước rơi vào tháng 9, 10, 11, 12, tháng ít nước rơi vào các tháng còn lại Các tháng nhiều nước chiếm khoảng 70-75% tổng lượng nước cả năm, còn các tháng ít nước là 25-30%
Mực nước lũ hè thu trên các triền sông chỉ dao động từ 1,5-1,7m; ít khi mực nước lũ hè thu trên các triền sông lên cao trên 1,7m Hướng chuyển của lũ ở trong vùng hạ du cũng rất phức tạp
- Khi sông Thạch Hãn lũ lớn ở hạ du hướng lũ chuyển theo 2 phía, một hướng theo sông Vĩnh Định chuyển về sông Bến Hải và một hướng theo sông An Tiêm chuyển về Cửa Lác, còn dòng chủ lưu theo dòng chính chuyển ra Cửa Việt
- Khi sông Thạch Hãn lũ nhỏ, sông Bến Hải lũ lớn, dòng lũ của sông Bến Hải một phần chuyển về hạ du Thạch Hãn theo kênh Vĩnh Định, một phần lớn chuyển ra Cửa Tùng, hiện tượng trên chỉ xảy ra khi lũ đạt báo động 3 trở lên
Nguồn nước ngầm ở tỉnh Quảng Trị thể hiện ở nước khe nứt, nước lỗ hổng
và nước cồn cát Nguồn nước này tương đối dồi dào và chất lượng tốt có thể đáp
ứng cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư và bổ sung nước tưới cho các loại hình sản
xuất kinh tế xã hội Tuy nhiên, vùng ven biển nhiều nơi nước ngầm bị nhiễm mặn, ở vùng đồi núi nước ngầm phân bố sâu khó khai thác Vì vậy, cần có kế hoạch cân đối
Nam: 297.428 người Nữ: 301.793 người
Trong độ tuổi lao động: 302.650 người chiếm 50,5% dân số toàn tỉnh
Trang 21Dân số phân bố không đều đặc biệt có sự khác biệt lớn giữa đồng bằng và miền núi Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh: 126 người/km2 trong đó thị xã Đông
Hà 1.137 người/km2, thị xã Quảng Trị 314 người/km2 huyện miền núi Đakrông 30 người/km2, Hướng Hóa có mật độ dân là 65 người/km2 Dân cư trong vùng chủ yếu
là người Kinh, sống tập trung ở dải đồng bằng ven biển, các thị trấn vùng núi Số còn lại là các dân tộc ít người như người Sách, Thái, Dao, Vân Kiều, Sào, Pa Cô tập trung chủ yếu ở huyện Hướng Hóa và Đakrông Tỷ lệ người Kinh chiếm tới 84%, người Vân Kiều, Pacô chiếm 10% còn lại là các dân tộc ít người khác
Tốc độ tăng dân số còn cao Theo thống kê, tốc độ tăng dân số của tỉnh Quảng Trị là 11.30‰ (2009) Có tới 70% dân số sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp, 12% dân số sống dựa vào công nghiệp, 5% dân số sống dựa vào ngư nghiệp, 8% sống nhờ vào lâm nghiệp còn lại là dịch vụ và các ngành khác
1.2.2 Cơ cấu kinh tế của tỉnh
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Trị như sau: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp chiếm 27,4%, công nghiệp và xây dựng 37,5%, dịch vụ chiếm 35,1% tổng sản lượng của tỉnh
1.2.3 Nông - lâm nghiệp
a Trồng trọt
Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, diện tích canh tác hiện nay trong toàn vùng là 95.792,2 ha, trong đó 73.347,6 ha dùng cho cây hàng năm và 22.444,6 ha dùng cho cây lâu năm
- Nông nghiệp ở Quảng Trị chưa thể trở thành nền nông nghiệp hiện đại và sản xuất hàng hóa được Về cơ cấu vẫn mang nặng tính chất tự cung tự cấp Diện tích canh tác lúa chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng nơi có điều kiện đất đai, nguồn nước và nhân lực phong phú Hệ số sử dụng đất đai trong vùng mới đạt 1,6 chỉ số này còn thấp so với vùng đồng bằng Bắc Bộ Theo thống kê, thấy rằng diện tích và sản lượng các cây công nghiệp lâu năm không ngừng tăng lên theo các năm, riêng cây hồ tiêu sau 2004 lại bị suy giảm Các loại cây ăn quả chủ yếu ở Quảng Trị
được thống kê theo các hộ gia đình, sản xuất mang tính tự cung tự cấp
Trang 22b Chăn nuôi
Chăn nuôi trong vùng chưa phát triển, chủ yếu còn ở mức độ chăn nuôi tự phát ở mức độ hộ gia đình Chưa có nông trường chăn nuôi theo quy mô công nghiệp Do điều kiện thiếu lương thực, chăn nuôi trong vùng chưa phát triển thành quy mô chăn nuôi trang trạng được Cơ cấu vật nuôi trong gia đình là trâu, bò, lợ,
gà Ngành chăn nuôi mới chiếm tỷ trọng 15-18% thu nhập cho các hộ nông dân
Đàn gia súc ở Quảng Trị tăng qua các năm ở mức độ chậm Sau 5 năm sản lượng
thịt hơi xuất chuồng tăng khoảng 40%
d Lâm nghiệp
Diện tích che phủ của thảm rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 30% Ở các vùng đồi núi đất ven các khe suối, rừng nguyên thủy bị hủy diệt do các lý do chủ yếu là:
- Tập quán canh tác du canh du cư của đồng bào dân tộc miền núi
- Chất độc làm trụi lá trong chiến tranh hủy diệt
- Nạn khai thác gỗ bừa bãi
1.2.4 Thủy sản
Quảng Trị có bờ biển dài khoảng 75 km, có 2 cửa biển là Cửa Việt và Cửa Tùng, ngư trường rộng 8.400 km2, có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, mực nang, cá cam, cá bống, hải sâm Trữ lượng hải sản của tỉnh ước tính 120.000 - 150.000 tấn, hàng năm khai khác khoảng 25.000 - 30.000 tấn Ngoài ra, tỉnh có trên 4.000 ha mặt nước có thể nuôi trồng thủy sản như: tôm, cua
Có thể nhận thấy tiềm năng phát triển thủy sản của tỉnh nói chung còn rất lớn, song mức độ khai thác còn hạn chế Để phát huy tiềm năng cần đầu tư thích
đáng về cơ chế, chính sách khuyến ngư cũng như vấn đề cấp nước phục vụ cho nuôi
trồng thủy sản ven bờ
1.2.5 Công nghiệp
Công nghiệp trong vùng còn chưa phát triển Cơ cấu công nghiệp chủ yếu là vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm sản Trong vùng có 2 nhà máy sản xuất xi măng lò đứng Đông Hà 1 và Đông Hà 2, nhưng hiện nay chỉ còn nhà máy Đông Hà
Trang 232 hoạt động với tổng sản lượng 50.000 tấn/năm, 2 nhà máy gạch tuynel có tổng công suất 2 triệu viên năm Công nghiệp chế biến thủy sản còn hạn chế, chỉ có 2 nhà máy đông lạnh đặt tại cửa Tùng và cửa Việt hoạt động theo thời vụ đánh bắt Ngoài ra ở các địa phương còn có công nghiệp nhỏ nhưng ở mức độ hộ gia đình Nguồn điện trong vùng còn hạn chế, vùng núi hiện có 2 trạm thủy điện ở Khe Sanh và Cam Chính với công suất thấp Lưới điện quốc gia đã phát triển tới các trung tâm huyện Điện lưới đã tới được các xã, tuy nhiên ở miền núi các xã vùng sâu vùng xa còn hạn chế Tuyến đường dây 500KV đi qua địa phận Quảng Trị song trong tỉnh không có trạm hạ áp Hiện nay thủy điện Rào Quán đang được xây dựng, khi đi vào hoạt động có khả năng cải thiện đáng kể tình trạng cấp điện của vùng Thấy rằng công nghiệp chế biến chiếm một tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp tỉnh Quảng Trị
1.2.6 Y tế - giáo dục
a Y tế
Mạng lưới y tế ở vùng đồng bằng phát triển rộng khắp ở các cộng đồng dân
cư nhất là y tế cộng đồng, phòng ngừa quản lý và phát hiện các dịch bệnh Mỗi huyện có một bệnh viện với quy mô 80 giường bệnh, công tác y tế đã đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát huy thắng lợi chương trình sinh đẻ có kế hoạch Tuy nhiên, ở các xã miền núi, hệ thống y tế còn chưa được phát triển, nhìn chung mỗi xã có 1 trạm y tế, song do khoảng cách từ các cụm dân
cư tới trạm xá còn xa và do mê tín, nên tệ nạn chữa bệnh bằng cúng vái vẫn còn tồn tại ở một số địa phương
b Giáo dục
Các xã trong vùng đồng bằng đã thực hiện tốt công tác xóa mù chữ Lực lượng lao động vùng nông thôn có tới 60% đã qua trình độ văn hóa cấp cơ sở và 20% số lao động có trình độ văn hóa phổ thông trung học Ở vùng núi, tình trạng bỏ học còn phổ biến Tỷ lệ mù chữ hoặc tái mù chữ còn cao
1.2.7 Các ngành khác
a Ngành giao thông
Trang 24Hệ thống giao thông ở đây tương đối phát triển, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt giữa vùng đồng bằng ven biển và miền núi có 3 tuyến quốc lộ chính đi qua: tuyến đường 1A từ ranh giới Quảng Bình - Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế, tuyến
đường 9 từ thị xã Đông Hà đi Lào và cửa Việt (đường 9 đến cửa khẩu Lao Bảo dài
82 km) Tuyến đường 14 từ cầu Đakrông đi sang thượng nguồn sông Hương Tuyến
đường này cùng với đường mòn Hồ Chí Minh trở thành tuyến đường Trường Sơn
công nghiệp Đường thủy có trục đường theo sông Bến Hải, sông Hiếu, sông Thạch Hãn từ biển vào sâu đất liền, tuy nhiên tuyến đường thủy này cũng chỉ cho phép thuyền trọng tải 10 tấn đi lại Tuyến đường sắt chạy theo hướng Bắc Nam có ga chính Đông Hà là nơi trung chuyển hàng hóa ra Bắc và vào Nam
b Ngành dịch vụ thương mại, du lịch
Quảng Trị có hệ thống di tích lịch sử, văn hoá nổi tiếng của đất nước và thế giới là: Thành Cổ Quảng Trị, hàng rào điện tử Macnamara, Làng địa đạo Vịnh Mốc, căn cứ Khe Sanh, làng Vây, sân bay Tà Cơn, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Đường 9 Ngoài ra còn có các bãi biển đẹp Cửa Tùng, Cửa Việt, rừng nguyên sinh Rú Lịnh, trằm Trà Lộc, căn cứ cách mạng nổi tiếng như làng Vây, chiến khu
Ba Lòng; địa đạo Vĩnh Chấp, khu nhà người Pa Cô ở Tà Rụt, làng văn hóa Phú Thiềng ở Mò Ó, khu bảo tồn Đakrông, suối nước nóng Tân Lâm và nhiều hồ đập lớn và đẹp (Trúc Kinh, Khe Mây…) Nước khoáng thiên nhiên ở Cam Lộ, Đakrông
có chất lượng nước khoáng tốt, phục vụ cho du lịch, nghỉ dưỡng bệnh và khai thác nước khoáng Quảng Trị còn là vùng đất có các lễ hội cách mạng nổi tiếng như: Lễ hội thống nhất non sông, Nhịp cầu xuyên Á, Huyền thoại Trường Sơn thu hút đông
đảo du khách trong và ngoài nước
Ngành thương mại dịch vụ ở đây phát triển đã lâu, đây là ngành có nhiều tiềm năng phát triển Trung tâm thương mại Đông Hà, khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo đang phát huy tác dụng tốt, là những trung tâm động lực phát triển kinh tế của tỉnh Hệ thống chợ được quy hoạch và xây dựng khá đồng bộ Hoạt
động du lịch đang được quan tâm tăng cường đầu tư phát triển mạnh Dịch vụ của
Trang 25tư nhân hiện tại phần nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng nhưng chỉ tập trung ở vùng đồng bằng nơi dân cư đông đúc…
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC TỈNH QUẢNG TRỊ
1.3.1 Biến đổi khí hậu
a Định nghĩa
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường địa lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thai tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các
hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (Theo công
ước chung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu)
b Nguyên nhân
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng của các hoạt động tạo ra chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng
đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
Trang 26c Tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng
độ khí CO2 của khí quyển tăng lên Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính kháctrong khí quyển Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên Sự gia tăng nhiệt độ Trái đất
do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường Trái đất Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ cao ở phía bắc Khu vực
đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương Những thay đổi về nồng độ khí
nhà kính trong khí quyển, độ che phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người
đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời
gian từ 1970 đến 2004
Khí CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con người tạo ra Từ năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này tăng khoảng 80% Xu thế giảm dài hạn khí thải CO2 trên một đơn vị năng lượng đã bị đảo ngược sau năm 2000
Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ giữa thế kỷ 20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể
Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển Từ năm 1961, mực nước biển trung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ 1,3-2,3 mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1mm/năm (từ 2,4- 3,8 mm/năm), do sự dãn
nở vì nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực Tốc độ băng tan diễn
ra nhanh nhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến đổi trong một thập
kỷ, chứ chưa phải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng
Nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả hai bán cầu
Trang 27Trong hơn 50 năm qua: số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn ở hầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng, đêm nóng Các đợt sóng nhiệt trở nên thường xuyên hơn ở hầu hết các khu vực đất liền, tần suất của các hiện tượng như mưa lớn tăng ở hầu hết các khu vực và phạm vi ảnh hưởng của mực nước biển cao tăng trên toàn thế giới
Bão nhiệt đới gia tăng, xuất hiện với cường độ mạnh ở Bắc Đại Tây Dương Khó có thể xác định được xu hướng lâu dài về số lượng các cơn bão nhiệt đới hàng năm và hoạt động của bão
Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 cao hơn bất
kỳ giai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất
1300 năm qua Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu lục và hầu hết các đại dương chỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi những biến đổi khí hậu khu vực, đặc biệt là nhiệt độ tăng
Những biến đổi về tuyết, băng và các vùng đất đóng băng, kích thước các hồ băng và sự bất ổn ở các vùng núi và vùng đóng băng khác dẫn đến những thay đổi ở một số hệ sinh thái ở Nam Cực và Bắc Cực
Một số hệ sinh thái dưới nước cũng bị ảnh hưởng do tăng lưu lượng nước,
ảnh hưởng đến cấu trúc nhiệt và chất lượng nước sông hồ Với các hệ sinh thái trên
cạn, mùa xuân đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao
đối với một số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây
Còn với các hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật
và sự phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ của nước, cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ mặn, hàm lượng ôxy và sự lưu thông của nước
Có thể tóm lược những ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến các khu vực trên
thế giới như sau:
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do tính phức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng
độ các khí nhà kính đã ổn định
Trang 28Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng ở Nam cực vẫn còn quá lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết nhiều hơn Tuy nhiên, khối lượng băng có thể giảm thực sự giảm nếu xu thế tan chảy trội hơn trong cân bằng khối của dải băng Nóng lên toàn cầu do con người có thể dẫn tới một số tác động đột ngột hoặc không thể đảo ngược, phụ thuộc vào tốc
độ và cường độ của biến đổi khí hậu
Mất một phần dải băng ở vùng cực nghĩa là mực nước biển sẽ dâng cao hàng mét, đường bờ biển sẽ có nhiều thay đổi và các vùng thấp/trũng bị nhấn chìm, gây ảnh hưởng lớn tới các vùng châu thổ sông và các đảo thấp Những thay đổi này sẽ diễn ra trong thiên niên kỷ nhưng cũng không loại trừ trong thế kỷ này mực nước biển tăng nhanh hơn
Biến đổi khí hậu có thể gây ra một số tác động lớn Đến nay, theo ước tính, khoảng từ 20%-30% loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 30C (tương ứng từ năm 1980-1999) Khi nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 3,50C, dự báo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40%-70% loài tuyệt chủng
1.3.2 Ảnh hưởng của nước biển dâng
Do những hoạt động khác nhau của con người, nồng độ CO2 và các khí nhà kính khác tích luỹ trong khí quyển của Trái đất và gây ra nóng lên toàn cầu Mực nước biển dâng cao là một trong những tác động có quy mô lớn nhất do hậu quả của nóng lên toàn cầu Các yếu tố góp phần khiến mực nước biển dâng cao trong thế kỷ 20-21 là:
- Sự dãn nở nhiệt do lớp bề mặt đại dương nóng lên
- Sự bổ sung nước cho các đại dương do các vùng có băng tuyết tan chảy như
Trang 29- Do tính chất động lực học của băng, tạo thành dòng từ đất liền ra biển Khi băng được chuyển ra biển, ngay lập tức nước biển dâng cao Cho đến nay, các tính chất động lực học của băng vẫn không hề thay đổi, nhưng các bằng chứng mới đây cho thấy lượng băng đổ ra các đại dương ngày càng nhiều, diễn ra ở cả Bắc cực và Nam cực
Mực nước biển tăng đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho nhiều quốc đảo nhỏ
đang phát triển và cho tất cả các vùng trũng trên thế giới Sự thay đổi hình thái dòng
chảy và hiện tượng băng tan sẽ gây ra thêm các áp lực sinh thái, ảnh hưởng xấu đến lưu lượng nước tưới và sự định cư của con người Khi các núi băng tan chảy, 7 hệ thống sông lớn của châu Á sẽ có lưu lượng tăng lên trong khoảng thời gian ngắn, sau
đó lại hạ xuống, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước và duy trì nguồn cung lương
thực cho hàng trăm triệu người ở khu vực Nam Á
Nước biển ấm lên sẽ sinh ra những cơn bão nhiệt đới mạnh hơn Với hơn 344 triệu người hiện đang phải đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các xoáy thuận nhiệt đới, các cơn bão mạnh hơn có thể gây thiệt hại nặng nề cho một số nước Hiện
có 1 tỷ người đang sống ở các khu nhà ổ chuột đô thị, trên các triền đồi có nguy cơ
bị sạt lở, hay bên các bờ sông luôn bị ngập lụt đang phải đối mặt với nguy cơ tổn thương nghiêm trọng
Rất khó có thể đánh giá đầy đủ về những ảnh hưởng gián tiếp của mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu Song, có thể nhận thấy các khu vực duyên hải, ven biển sẽ chịu nhiều tác động nhất, mà khu vực này lại là nơi tập trung các đô thị lớn, dân cư đông đúc và các cơ sở hạ tầng quan trọng
Những hậu quả của nước biển dâng cao sẽ liên quan đến các một số lĩnh vực tiềm tàng như thuỷ sản, nông nghiệp, đa dạng sinh học, du lịch Mực nước biển dâng cao còn dẫn tới những khủng hoảng sinh thái, kinh tế và xã hội như tạo ra các dòng người di cư (tị nạn môi trường) thoát khỏi các vùng bị ảnh hưởng, gây xáo trộn về trật tự xã hội và các vấn đề khác về sức khoẻ môi trường Có thể tóm lược các ảnh hưởng tiềm tàng về kinh tế xã hội chính của mực nước biển dâng như sau:
- Tăng nguy cơ thiệt hại về tài sản và các nơi cư trú vùng ven biển
Trang 30- Tăng rủi ro ngập lụt và tỷ lệ thương vong
- Phá huỷ các công trình bảo vệ bờ biển và các công trình cơ sở hạ tầng khác
- Suy giảm các nguồn tài nguyên tái tạo và sinh kế
- Suy giảm các chức năng du lịch, giải trí và giao thông
- Thiệt hại về các giá trị về văn hóa
- Nảy sinh các vấn đề mới về tái định cư
- Tác động đến nông nghiệp và thuỷ sản do suy giảm chất lượng đất và nước
1.3.3 Các tác động của sự dâng cao mực nước biển
Các nghiên cứu về tác động của mực nước biển dâng cao thường tập trung vào đánh giá các tác động và sự ứng phó Mực nước biển, cho dù do nguyên nhân nào thì nó cũng có những tác động như tăng xói lở và ngập lụt Ngược lại các tác
động này lại có những tác động đến kinh tế xã hội gián tiếp tuỳ thuộc vào sự tiếp
xúc của con người trước các thay đổi này Các hệ thống bị ảnh hưởng đồng thời cũng có những sự phản hồi quan trọng như tự điều chỉnh và thích ứng với những biến đổi trên Các vùng ven biển là khu vực bị tác động nhiều nhất khi nước biển dâng Vùng ven biển chính là nơi diễn ra các quá trình tương tác giữa các hệ thống
tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội
Cả hai hệ thống này đều được đặc trưng bởi các mức ảnh hưởng, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng trước mực nước biển dâng cao và các thay đổi khác liên
quan đến khí hậu và các áp lực không liên quan đến khí hậu Tính nhạy cảm và khả năng thích ứng kết hợp với mức độ tiếp xúc sẽ xác định tính dễ tổn thương của mỗi
hệ thống
Mức ảnh hưởng được xác định là tính chất và mức độ, mà một hệ thống khi
tiếp xúc với các thay đổi về khí hậu như nước biển dâng
Tính nhạy cảm, là mức độ mà một hệ thống khi bị ảnh hưởng, hoặc bị ảnh
hưởng nghiêm trọng hoặc hưởng lại từ sự thay đổi khí hậu
Khả năng tự thích ứng, biểu hiện là các phản ứng tự nhiên thích ứng trước
mực nước biển dâng cao Các quá trình thích ứng tự nhiên thường bị giảm nhẹ, hoặc ngừng lại bởi các áp lực do con người
Trang 31Khả năng thích ứng theo kế hoạch (đã xuất hiện trong hệ thống kinh tế xã hội) có thể
giúp giảm thiểu tính tổn thương bằng rất nhiều giải pháp Sự tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội ở các vùng ven biển diễn ra rất phức tạp Do vậy, các hình thức thích
ứng và điều chỉnh trong mỗi hệ thống và giữa hai hệ thống thường nhằm giảm cường độ của
các tác động tiềm tàng khi các tác động này xảy ra Nhờ đó, các tác động thực thường bớt nghiêm trọng hơn so với tác động tiềm tàng được dự báo ban đầu
1.3.4 Tác động của sự biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa của một bán đảo ở Đông Nam Á, kéo dài trên 15 vĩ độ, nằm hoàn toàn trong đổi nội chí tuyến của bán cầu Bắc và chịu
ảnh hưởng sâu sắc của vùng biển Tây Thái Bình Dương và biển Đông
Hoàn lưu khí quyển ở Việt Nam là tổng hoà của hoàn lưu gió mùa Đông Bắc
á và hoàn lưu gió mùa Nam á Dưới tác động của gió mùa Đông Bắc Á, hàng năm
có hơn 26 đợt front lạnh xâm nhập miền bắc
Từ vùng biển Tây Thái Bình Dương và Biển Đông, hàng năm trung bình có hơn 8 xoáy thuận nhiệt đới, bao gồm bão và áp thấp nhiệt đới, đổ bộ vào các vùng ven biển
Biến đổi khí hậu có tính khu vực rõ rệt Liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam là một số đặc tính biến đổi khi hậu ở khu vực nhiệt đới và khu vực châu
Á - Thái Bình Dương
a Ảnh hưởng của nước biển dâng
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô BĐKH và nước biển dâng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển
và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đến các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển
Trang 32Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn,
ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng
b Ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay
đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ có thể
thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại, thậm chí không có vụ đông, vụ mùa thì kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt
độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến đổi của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai
làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
Nhiệt độ và độ ẩm tăng cao làm gia tăng sức ép về nhiệt độ với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại,… liên quan đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản thiết bị, phương tiện, sức bền vật liệu
c Ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan
Sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả
Trang 331.3.5 Tác động của biến đổi khí hậu ở tỉnh Quảng Trị
Khí hậu tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang đầy đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt Nam Trong năm có hai mùa
rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 9 tới tháng 11 Từ tháng 3 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô
và nóng Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc đi liền với mưa phùn và rét đậm
Mưa trong vùng phụ thuộc vào yếu tố địa hình trên từng lưu vực Lượng mưa hàng năm nằm trong khoảng 2.000-2.800mm Lượng mưa 3 tháng mùa mưa chiếm tới 68÷70% lượng mưa năm
Tổng lượng mưa 9 tháng mùa khô chỉ chiếm 30% tổng lượng mưa năm Trong các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 thường có những trận mưa rào nhẹ cách nhau từ 7 đến 8 ngày với lượng mưa từ 20÷ 30mm, do vậy trong vụ đông xuân thường ít phải tưới hơn vụ hè thu Giữa 2 mùa khô có 1 thời kỳ mưa lớn là tháng 5 và tháng 6 gọi là mưa tiểu mãn, nhờ có mưa này mà vụ hè thu, nhu cầu nước cho con người và cây trồng đỡ căng thẳng hơn Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9
đến tháng 11, thậm chí có năm mùa mưa kéo dài đến tận tháng 12 Đây là thời gian
bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động mạnh ở khu vực miền Trung Do đặc điểm địa hình chia cắt nên mưa trong mùa mưa cũng ít khi đồng đều trên toàn tỉnh
Kết quả tính toán cho thấy lượng mưa chiếm tới 68÷70% lượng mưa năm, tập trung vào mùa mưa và đây cũng là thời gian bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động
Trang 34mạnh sẽ tăng nguy cơ lũ lụt trong khu vực với nhiều tác động tiêu cực trừ phi sẽ có những biện pháp thích ứng và phòng ngừa tổng hợp Ngược lại, mùa khô sẽ dài hơn, khắc nghiệt hơn nguy cơ hạn hán sẽ cao hơn Hạn hán sẽ tác động đến lưu lượng nước và dòng chảy các sông trên sông trên địa bàn tỉnh, điều này tác động đến cấp nước sinh hoạt cho khu vực đô thị, cho hệ thống kinh xã hội và các hệ sinh thái vùng hạ lưu Nhiễm mặn sẽ nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến nước ngầm, nước mặt, tác động đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản, du lịch, vùng đất ngập nước Nguy cơ về các tác động tiêu cực của BĐKH đến tỉnh Quảng Trị nói chung
và ven biển nói riêng là rất lớn
Dải ven biển Quảng Trị có chiều dài 75km với hai cửa sông (Cửa Tùng và Cửa Việt) là nơi có tiềm năng phát triển kinh tế biển, có mật độ dân cư đông và còn
là nơi có các cơ sở kinh tế quan trọng của tỉnh, nhưng nơi đây cũng thường xuyên phải gánh chịu những thiên tai khốc liệt như bão, lũ, xói lở, sạt lở bờ biển - cửa sông Đặc biệt là thiên tai sạt lở ngày càng gia tăng cả về quy mô và cường độ, chỉ tính từ năm 1980 đến 1999 ở đây đã xảy ra 30 đoạn bờ biển bị sạt lở với tổng chiều dài tới 34km, có những đoạn bờ bị sạt lở với tốc độ trung bình năm từ 16-55m/năm, trong đó ở Cửa Việt sạt lở bờ biển cửa sông thường xuyên xảy ra, gần đây vào đầu tháng 11/2002 lại xảy ra khá mạnh trên chiều dài hàng trăm mét với tốc độ sạt lở vài chục mét hoặc trong tháng 4/2004 làm thay đổi lòng dẫn ra vào cảng Thiên tai sạt
lở gia tăng đang ngày càng đe doạ sự phát triển kinh tế - xã hội đời sống và tính mạng của nhân dân Quảng Trị nói chung và của khu vực Cửa Việt nói riêng Cần tìm mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư và tài nguyên biển, tác động qua lại giữa hai nhân tố này; về nhận thức và thái độ của cộng đồng đối với tài nguyên biển
và ven biển, đặc biệt là vấn đề đa dạng sinh học biển và các khu bảo tồn biển; về các vấn đề luật pháp, thể chế, chính sách liên quan đến việc quản lý tài nguyên biển; cùng các vấn đề xã hội và nhu cầu về cơ sở hạ tầng Nguồn lợi về sinh vật biển và ven biển đang bị suy giảm, số lượng loài bị biến mất ở địa phương ngày một tăng lên Nguyên nhân bao trùm là do sự khai thác bừa bãi của các hộ ven biển vì mục
đích sinh nhai Cộng đồng ngư dân không còn áp dụng các phương thức khai thác
Trang 35truyền thống mà đa sử dụng phương thức đánh bắt có tính chất hủy diệt Trong khi
đó, các cơ quan có chức năng giám sát và thi hành luật lại rất thiếu thốn về nguồn
nhân lực, tài chính, trang thiết bị và các quyền hạn cần thiết để xử lý vi phạm Vấn
đề quản lý vùng biển khai thác mới chỉ được khoanh vùng chức năng ở mức tối
thiểu Việc mở cửa nghề khai thác cá ở Việt Nam theo kiểu "tự do cho tất cả", cùng thời điểm nguồn lợi sinh vật biển đang bị suy giảm đã tạo nên một sự lộn xộn và tranh giành để thu hoạch nguồn lợi ít ỏi còn lại Các chuyên gia cảnh báo: Khuynh hướng này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đối với đa dạng sinh học các loài sinh vật biển Nếu cứ để tình trạng này kéo dài cùng với sự lỏng lẻo của pháp luật như hiện nay, sẽ rất bất lợi cho khả năng tái phục hồi nguồn lợi này Vệ sinh và rác thải ven biển đều đề cập đến, với nhiều mức độ khác nhau, về tình trạng thiếu thốn nhà
vệ sinh Hầu như các xã ven biển đều thiếu nhà vệ sinh công cộng và tư nhân Người dân vẫn có thói quen xả rác ở bãi biển, đợi thủy triều lên cuốn rác thải ra khơi Ngoài ra, các phương tiện du lịch và giao thông cũng xả thẳng rác xuống biển
mà không hề qua xử lý Khu bảo tồn và ven biển là khái niệm được các cộng đồng dân cư ven biển hiểu biết rất ít, hoặc hầu như không có khái niệm gì Nhiều cộng
đồng cho rằng khu bảo tồn là khu vực hạn chế đánh bắt Họ cho rằng việc thành lập
một khu bảo tồn biển nào đó có nghĩa là một phần diện tích biển trong vùng sẽ vĩnh viễn bị cấm khai thác Sự không ổn định của vùng ven biển tỉnh ven biển đều có hiện tượng nghẽn bùn ở vùng cửa sông, hiện tượng bị xói mòn ven biển, sa mạc hóa các vùng đất nông nghiệp Vào một thời điểm nhất định trong năm, tại một số xã ở vùng cửa sông, tàu thuyền không đi lại được do bị nghẽn bùn Thiếu vốn đầu tư, cơ
sở hạ tầng yếu kém là vấn đề bao trùm trong công tác quản lý môi trường vùng biển
và ven biển Các cộng đồng ven biển đang là nạn nhân của các buôn lái do giá cả không ổn định Lái buôn là người quyết định giá, giá bán thường bị hạ thấp vào mùa
đánh bắt cao điểm Sản lượng đánh bắt trong những năm gần đây đã tăng nhiều so
với trước do người dân đánh bắt xa bờ, tuy nhiên thị trường để tiêu thụ các loài không có giá trị xuất khẩu lại thiếu Vòng lẩn quẩn này khiến cho người đánh bắt chẳng thu được mấy lợi nhuận từ các cố gắng khai thác Các chương trình giáo dục
Trang 36nâng cao nhận thức cho người dân địa phương; cơ chế cho cộng đồng dân cư và các
tổ chức tham gia bảo vệ, quản lý tài nguyên biển và ven biển
a Tác động của biến đổi khí hậu gây ngập lụt
Để đánh giá tác động đến ngập lụt cần phải sử dụng hệ thông tin địa lý
(GIS), từ đó nhận ra ảnh hưởng của nó thông qua so sánh kết quả tính toán với các
dữ liệu thực tế Từ bản đồ ngập lụt và các con số thống kê về tình trạng ngập lụt cũng được đưa ra đầy đủ
Từ kết quả tính toán giá trị mực nước tại các độ cao tính toán được GIS nội suy thành biểu thị cho mặt nước trên toàn bộ khu vực Kết hợp mô hình số độ cao của khu vực (DEM), bản đồ ngập lụt được hình thành Các loại bản đồ ngập lụt mà GIS có thể xuất là;
- Bản đồ độ sâu ngập: biểu thị độ sâu ngập tại mỗi điểm của lưu vực
- Bản đồ so sánh: biểu thị sự thay đổi mức ngập giữa 2 thời điểm
- Bản đồ quá trình lũ: thể hiện thời gian ngập tại mỗi điểm trên bản đồ
b Tác động của biến đổi khí hậu gây hiện tượng xâm mặn
Nước mặn đang ngày càng xâm lấn các vùng ven biển của tỉnh, gây xáo trộn
đời sống sinh hoạt cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản của người dân
Diễn biến xâm nhập mặn các năm gần đây khá phức tạp và có dấu hiệu bất thường so với nhiều năm trước đây Có nhiều nguyên nhân có thể lý giải hiện tượng này, mà trường hợp mùa khô 2010 là một điển hình: Thứ nhất, mùa khô kéo dài, mùa mưa bắt đầu rất trễ Thứ hai, nhiệt độ không khí tăng cao hơn mọi năm khiến khô hạn thêm gay gắt, nguồn nước bị bốc thoát hơi nhiều năm là nguồn nước ngọt giảm nhanh Hiện tượng El Nino toàn cầu vẫn còn tác động ở cuối chu kỳ của nó Thứ ba, triều cường dâng cao hơn, có thể do một phần là hệ quả của hiện tượng nước biển dâng ở quy mô toàn cầu (lưu ý năm 2010 được xem là năm có những kỷ lục về nóng làm băng hà tan nhiều hơn và khối nước ở đại dương giãn nở thêm) Ngoài ra, các công trình khai thác nước trên thượng nguồn sông trên địa bàn tỉnh
đang tích cực mở rộng khiến nguồn nước bị rút đi nhiều hơn
Trang 37Nước mặn sẽ làm cây lúa giảm năng suất, sự tăng trưởng của cây lúa gần như chựng lại và nếu kéo dài lúa sẽ chết Vùng bị nhiễm mặn không canh tác cây rau, cây màu được Đất bị nhiễm mặn kéo dài sẽ bị suy thoái và bạc màu Hệ sinh thái nước ngọt sẽ bị thay thế bằng hệ sinh thái nước lợ và nước mặn Sự đa dạng sinh học cũng sẽ bị xáo trên và suy giảm Không chỉ ở lĩnh vực nông nghiệp, các ngành khác cũng bị ảnh hưởng Vùng bị nhiễm mặn sẽ gặp khó khăn trong cấp nước sinh hoạt, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người Các vỉa nước ngầm cũng sẽ bị nhiễm mặn Các vùng nhiễm mặn cũng là nơi có mật độ muỗi cao hơn các vùng nước ngọt Các công trình sắt thép và bê tông cốt thép sẽ bị giảm tuổi thọ, máy móc bị hư hại nhanh hơn do muối trong nước ăn mòn Chi phí bảo hành và sửa chữa cũng sẽ cao hơn
c Tác động của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học
Tác động của BĐKH đối với đa dạng sinh học là thay đổi môi trường và nơi
cư trú của sinh vật, ảnh hưởng nghiêm trọng dấn đời sống sinh vật cũng như những hoạt động bảo vệ thế giới tự nhiên, trong đó có công tác bảo tồn đa dạng sinh học Tác động của BĐKH đối với đa dạng sinh học phụ thuộc chặt chẽ vào hoàn cảnh cụ thể :
- Đối với vùng ven biển, BĐKH có thể ảnh hưởng đến các nỗ lực nhằm xây
đựng các khu bảo tồn hệ sinh thái ven biển
- Nước biển dâng làm đẩy nhanh quá trình mặn hoá môi trường nước lợ ven biển làm ảnh hưởng đến cấu trúc loài sinh vật hiện có
Tác hại lớn nhất của hiện tượng nước biển dâng cao trên các vùng bờ biển và vùng đất thấp là việc nhiều diện tích nông nghiệp, trồng trọt, sản xuất, giải trí sẽ bị nhập sâu và đường ranh giới bờ biển sẽ đi sâu vào đất liền
Các giải pháp ngăn mặn cũng thu hẹp hệ chuyển tiếp giữa hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái biển, dẫn đến hạn chế khả năng thích ứng ngoại cảnh của nhiều vật nuôi, cây trồng cũng như sinh vật hoang dã
Trang 38- Sự gia tăng tần suất và cường độ bão lụt, hạn hán nắng nóng góp phần thúc
đẩy quá trinh biến đổi môi trường sinh thái, quá trình hoang mạc hoá trên các vùng
cát và do đó gây khó khăn cho việc bảo tồn nguồn giống
Nhiệt độ nước biển tăng lên cũng tạo ra nhiều khó khăn cho công tác bảo tồn các rạn san hô ven biển
d Tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng ven bờ
Vùng ven bờ là vùng đất thấp, nơi tập chung đông dân cư và là vùng phát triển kinh tế của tỉnh Trên chiều dài 75km đường bờ biển đi qua 4 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng Tác động của BDKH nói chung và nước biển dâng nói riêng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, môi trường trên vùng ven
bờ bao gồm:
- Diện tích vùng đất ngập nước, ngập mặn tăng lên trải dài theo chiều dài bờ biển, nhất là khu vực gần hai của biển là cửa Tùng và cửa Việt, đi theo đó làm gia tăng ảnh hưởng của lũ lụt trên vùng hạ lưu các sông;
- Ảnh hưởng tới các hệ sinh thái đất ngập nước, làm mất đi nhiều rừng ngập mặn;
- Xói lở bờ biển, thu hẹp diện tích canh tác và đất cư trú, tác động tiêu cực
đến cuộc sống của dân cư địa phương, bao gồm ngư dân, nông dân và cả ngành du
lịch, đặc biệt ở vùng đầm phá và hạ lưu các sông;
- Đe dọa vùng bờ và vùng đất thấp các khu công nghiệp, các công trình xây dựng, các công trình giao thông, công trình thuỷ lợi đặc biệt là đê biển;
- Gián tiếp gia tăng chi phí xây dựng và bảo vệ các công trình vùng đất thấp
Trang 391.3.6 Kịch bản và ảnh hưởng của BĐKH đối với vùng ven biển
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác
Trong quá trình hình thành và tồn tại của trái đất, khí hậu luôn luôn ở trong trạng thái biến đổi không ngừng Bất luận trong thời dại địa chất xa xưa hay trong thời kỳ lịch sử hiện đại, khí hậu luôn diễn ra theo những chu kỳ nóng lạnh, khô ướt khác nhau Trong hơn 100 năm qua, từ 1906 đến năm 2005, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 0,740C Với tốc độ tăng trong 50 năm gần đây gấp đôi 50 năm trước đó
Có nhiều sự biến đổi trong cơ chế hoàn lưu khí quyển qui mô lớn trên cả lục
độ và đại dương, dẫn đến sự gia tăng về số lượng và cường độ hiện tượng El Nino
cũng như LaNina Đặc biệt mực nước biển dâng lên 1,8mm mỗi năm trong thời kỳ 1961-2000 và lên đến 3,1 mm trong thời đoạn 1993-2003
Từ cuối những năm 1980, nhiều tổ chức quốc tế đã lên tiếng cảnh báo về biến đổi khí hậu (BĐKH), tiêu biểu là nhiệt độ tăng lên và mực nước biển dâng trên phạm vi toàn cầu
Kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu thực chất là ứng phó với những tai biến môi trường đối với đời sống xã hội như sự kết hợp giữa mưa lũ, kết hợp nước biển dâng, đó là hậu quả tích tụ của tình trạng ô nhiễm môi trường, sự ấm lên của trái đất Thông thường các hiện tượng thời tiết bất thường luôn đi liền với nhau, tần xuất không theo chu kỳ, khó dự đoán về diễn biến và mức độ, dẫn đến những thiệt hai về nền kinh tế - xã hội Đặc biệt với một đất nước đang phát triển, cuộc sống của người dân (đặc biệt là nông, ngư dân ven biển) phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Với người nông dân Việt Nam nói chung cũng như người dân Quảng Trị nói riêng,
Trang 40tư tưởng còn rất chủ quan, không ý thức được hết những hậu quả Khi nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên như vậy thì hậu quả của biến đổi khí hậu lại càng trở thành vấn đề nghiêm trọng Để giải quyết được những tồn tại vốn đã thành lối sống lâu đời của người dân thực sự không phải dễ và phải có thời gian
Tuy nhiên, với trình độ khoa học tiên tiến như hiện nay, khi công nghệ GIS
đã góp mặt như một nhân tố làm thay đổi lối sống của người dân ở nhiều nước, thì
việc tận dụng những thành qủa công nghệ đó vào việc hạn chế rủi ro do thiên tai là
điều được các nhà quản lý ở nhiều Quốc gia đã làm Ở Việt nam, đã đến lúc cần
phải có những thay đổi từ tư tưởng đến hành động ở mọi cấp mọi ngành và mọi địa phương Những quyết sách trong tổ chức, quản lý đặc biệt là ứng phó với tình trạng khẩn cấp đòi hỏi phải có thông tin sát thực, kịp thời dựa trên các kết quả phân tích khách quan
Giải pháp cho các kịch bản đối phó với biến đổi khí hậu xoay quanh tiêu chí: Với mức thông tin địa lý nền hiện có, các nhà chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội có liên quan sẽ cần bổ sung những lớp thông tin nào để
hỗ trợ lãnh đạo trong các nhiệm vụ chính trị:
- Quyết định ứng phó kịp thời với tình trạng khẩn cấp
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội bền vũng: Xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, bố trí lại dân cư…để ứng phó với biến đổi khí hậu
- Cảnh báo, đề xuất những giải pháp hữu hiệu để hạn chế tối đa rủi ro, thiệt hại do thiên tai cho người dân
Dựa trên nhu cầu thông tin và phân tích thông tin, công nghệ xây dựng các phần mềm GIS sẽ giải quyết các ứng dụng hỗ trợ tự động để người dùng trong phạm vi nhiều ngành, lĩnh vực chuyên môn khác nhau có thể chia sẻ, kết nối và cập nhật sao cho luôn đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời và sát thực với người dùng Tuy nhiên, để công nghệ GIS phát triển đòi hỏi phải có một số điều kiện cơ bản sau:
- Một cơ chế chính sách công nghệ định hướng theo “Chính phủ điện tử”
- Hạ tầng truyền tin đủ mạnh