Áp dụng phương pháp hoat động nhóm nhỏ kết hợp với PHT trong dạy bài 46 ” cơ chế điều hòa sinh sản” sinh học 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh.” 6 Một số chữ viết tắt trong
Trang 1MỤC LỤC Trang
Phần II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
3 Áp dụng phương pháp hoat động nhóm nhỏ kết hợp với PHT
trong dạy bài 46 ” cơ chế điều hòa sinh sản” sinh học 11 nhằm
phát triển năng lực tự học cho học sinh.”
6
Một số chữ viết tắt trong sáng kiến:
1 Trung học phổ thông: THPT
2 Học sinh: HS
3 Giáo viên: GV
4 Sách giáo khoa: SGK
5 Phương pháp dạy học: PPDH
6 Phương pháp dạy học tích cực: PPDH TC
7 Lớp thực nghiệm: lớp TN
8 Lớp đối chứng: lớp ĐC
Trang 2Phần I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy
và học” [6]
Như vậy đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại là phải dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, nhằm chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, đem lại niềm vui, hứng thú cho người học Các phương pháp dạy học tích cực coi việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.[3]
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý thức tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập
sẽ được nhân lên gấp bội Bởi vậy cần phải nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có
sự hướng dẫn của giáo viên [7]
Để tạo được cho học sinh thói quen, ý thức tự học đòi hỏi phải có sự đổi mới đều tay, đồng bộ ở tất cả các môn học và các cấp học Trong chương trình giáo dục phổ thông thì Sinh học lớp 11 cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, hiện đại, mang tính thực tiễn về cơ thể động, thực vật trong đó có con người Qua đó hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát, kĩ năng tư duy – phân tích, tư duy lí luận, kĩ năng tự học Xây dựng ý thức vận dụng kiến thức và kĩ năng học được vào thực tiễn cuộc sống
Nhưng thực tế hiện nay, trong các trường phổ thông môn Sinh học chưa được coi trọng đúng mức Học sinh chỉ ưu tiên tập trung vào các môn thi Đại học, thậm chí mục tiêu tốt nghiệp THPT với môn Sinh chỉ là chống liệt Nhiều giáo viên không tìm tòi, cập nhật tích lũy thêm những kiến thức áp dụng của môn Sinh học trong thực tiễn đời sống, sản xuất để mở rộng bài học, kích thích hứng hứng thú từ người học Sĩ số lớp học đông, cơ sở vật chất phục phụ cho dạy học còn thiếu thốn, nên việc triển khai các phươg pháp DHTC hiện đại không thường xuyên, mang tính hình thức Khiến môn Sinh học dần trở thành một môn học lý thuyết khô khan, không chiếm được hứng thú của người học
Do đó, số lượng HS ham mê, yêu thích môn học này ngày càng giảm dần
Là một giáo viên đứng lớp đã nhiều năm tôi đã luôn trăn trở mong đem đến niềm hứng thú cho các em với Sinh học Và cách ngắn nhất chính là tạo cho các
Trang 3em niềm hứng khởi mong muốn được học, được tìm tòi, khám phá kiến thức về môn học thay vì bị ép buộc phải học Tôi cũng nhận ra rằng đổi mới PPDH không phải cứ áp dụng phương pháp mới, lạ là có thể mang lại hiệu quả mong muốn Điều quan trọng người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng,
có trình độ sư phạm lành nghề, linh hoạt trong áp dụng các biện pháp, kĩ thuật dạy học, biến cái phức tạp thành đơn giản, biến cái quen, cũ thành điều mới lạ tạo nên hứng thú cho học sinh Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã nghiên cứu
đề tài: “Phương pháp hoat động nhóm nhỏ kết hợp với PHT trong dạy bài 46
-Cơ chế điều hòa sinh sản - sinh học 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh.”
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế, xây dựng giáo án dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm nhỏ kết hợp với PHT trong dạy một số bài sinh học 11, nhằm phát triển năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ, quản lí thời gian… cho học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học bài 46 “cơ chế điều hòa sinh sản” sinh học lớp 11
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sinh học 11
- Nghiên cứu hướng dẫn phương pháp dạy bài 46 “cơ chế điều hòa sinh sản”, SGV 11
- Nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp
11 và các tài liệu về phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực bài cơ chế điều hòa sinh sản
4.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm ở trường THPT để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu
4.3 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phân tích, so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng, tổng kết thành kinh nghiệm cho đề tài nghiên cứu
Phần II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lý luận
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực
PPDH TC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH TC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học [5]1
1.Trích dẫn từ TLTK số 5
Trang 41.1.2 Năng lực Năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động có ý nghĩa Khi
thực hiện hoạt động này, người ta phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm sẵn có,
sử dụng các kĩ năng bản thân một cách chủ động và trách nhiệm [5]2
1.1.3 Năng lực tự học
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn : năng lực tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng khả năng trí tuệ, có khi cả cơ bắp và các phẩm chất của người học,
cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình [8]
1.1.4 Phương pháp hoạt động nhóm nhỏ
Là phương pháp mà học sinh được phân chia thành các nhóm nhỏ, riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được liên kết lại hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung [5]3
1.2 Ưu điểm của phương pháp hoạt động nhóm nhỏ.
- Học sinh học cách hợp tác trên nhiều phương diện
- Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao của nhóm Qua cách học đó kiến thức của học sinh sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học;tư duy phê phán của các em được rèn luyện và phát triển
- Các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công của lớp [5]4
- Nhờ có sự thảo luận cởi mở mà học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó giúp các em hòa nhập vào cộng đồng nhóm, giúp các em tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt
- Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học sinh thêm phong phú, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của học sinh được phát triển
1.3 Hạn chế
- Một số học sinh nhút nhát hoặc vì một lí do nào đó mà không tham gia hoạt đông chung của nhóm, nên nếu giáo viên không phân công hợp lí thì dễ gây nên tình trạng chỉ một vài học sinh học khá trong nhóm tham gia, còn đa số học sinh không hoạt động
- Thời gian có thể bị kéo dài so với dự kiến
2.Trích dẫn từ TLTK số 5
3.Trích dẫn từ TLTK số 5
4.Trích dẫn từ TLTK số 5
Trang 5- Với những lớp có sĩ số đông, không gian chật hẹp, bàn ghế khó di chuyển thì khó tổ chức hoạt động nhóm Khi tranh luận dễ dấn đến ồn ào gây ảnh hưởng đến lớp khác
1.4 Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm nhỏ (cụ thể hơn)
Cách thức tiến hành phương pháp hoạt động nhóm nhỏ gồm các bước sau:
- Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm một cách rõ ràng, tương đối đơn giản Nội dung đó có thể chuẩn bị ở nhà hay tại lớp tùy theo từng bào học với mục tiêu cụ thể Nếu chia nhóm hoạt động tại lớp giáo viên phải quy định rõ thời gian chuẩn mực
- Các nhóm nhận nhiệm vụ, có thể tự cử nhóm trưởng và thư kí nếu cần, thảo luận, xây dựng nội dung
- Các nhóm lần lượt thực hiện nhiệm vụ ( trình bày kết quả, nhận xét,đánh giá các nhóm khác…)
- GV kết luận chốt lại các vấn đề: nội dung, cách trình bày, công tác chuẩn bị của HS và rút kinh nghiệm
1.5 Một số lưu ý.
- Có nhiều cách chia nhóm, có thể chia theo vi trí ngồi hay có cùng lựa chọn…, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay các nghiệm vụ khác nhau
- Quy mô nhóm nhỏ thường từ 3- 6 học sinh
- Cần giao nhiệm vụ cụ thể, mục tiêu rõ ràng, quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận của các nhóm
- Kết quả thảo luận nhóm có thể trình bày dưới nhiều hình thức ( bằng lời, bằng tranh vẽ, bằng tiểu phẩm, bằng các slide trình chiếu …) có thể do một người thay mặt nhóm trình bày hoặc do nhiều người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau
- Trong quá trình học sinh thảo luận giáo viên nên đến các nhóm, quan sát, lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ khi cần thiết
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Thực trạng dạy học Sinh học 11 ở trường THPT
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn sinh học đã được triển khai rộng rãi ở các trường PTHT, nhiều phương pháp mới đã dược sử dụng như: thực hành, thí nghiệm, vấn đáp tìm tòi, trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm, đóng vai, chuyên gia… Tuy nhiên, qua thực tế dự giờ thăm lớp ở trường THPT Sầm Sơn và qua trao đổi với các trường bạn, tôi nhận thấy việc sử dụng các phương pháp trên không thường xuyên, liên tục, còn mang nặng tính hình thức, biểu diễn Mục tiêu của việc sử dụng các phương này vẫn là tiếp cận nội dung, tức là quan tâm đến việc học sinh học được cái gì, chứ chưa theo hướng tiếp cận năng lực của người học Giờ học vẫn nặng lí thuyết hàn lâm, kém hiệu quả Chưa phát huy được tính chủ động, tích cực, tìm tòi khám phá của học sinh Giáo viên thì ngại đầu tư thời gian, công sức tìm tòi áp dụng PPDHTC, Với học sinh lớp chọn
Trang 6thì học nhồi nhét các môn khối, đảm bảo mục tiêu vào đại học Với học sinh lớp đại trà thì thờ ơ, ngại học, kết quả đa phần các em quay lưng lại với Sinh học Trước thực trạng đó, việc việc đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh, trong đó chú trọng năng lực tự học ở trường tôi là cấp thiết
2.2 Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Sinh học 11 ở trường THPT hiện nay.
Bản thân môn học toàn nội dung lí thuyết, kiến thức lắt nhắt theo bài, khó nhớ nên học sinh ngại học Mặt khác nhiều năm qua trong chương trình thi THPTQG không có hoặc ít nội dung của sinh học 11, nên đa số giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc đầu tư phương pháp tích cực vào dạy học Hơn nữa việc sử dụng các PPDHTC trong mỗi bài học đòi hỏi giáo viên phải tốn nhiều thời gian, chuyên môn vững, có kinh nghiệm trong việc thiết kế, tổ chức và điều khiển học sinh mới đem lại hiệu quả Ít trường đại học xét tuyển khối B, nên đa phần học sinh không coi trọng môn Sinh
3 Áp dụng phương pháp hoạt động nhóm nhỏ vào dạy bài 46 “ cơ chế điều hòa sinh sản” sinh học 11.
Đây là bài khó, kiến thức nhiều, liên quan đến cơ chế sinh học và mang tính thực tế Với mục tiêu giúp học sinh tự lực khai thác nội dung bài học, qua
đó hình thành và phát triển năng lực tự học, năng lực giao tiếp, phát hiện và giải quyết vấn đề… tôi đã tiến hành soạn dạy theo hướng tổ chức hoạt động học cho học sinh thông qua các nhóm nhỏ làm việc với PHT
Quy trình cụ thể như sau:
I.Mục tiêu Sau khi học xong bài này HS phải:
1 Kiến thức
- Nêu được cơ chế điều hoà sinh tinh
- Nêu được cơ chế điều hoà sinh trứng
- Chỉ ra được ảnh hưởng của môi trường đến quá trinhd sinh trứng và sinh tinh
2 Kỹ năng
- Rèn luyện và phát triển kỹ năng quan sát, phân tích hình ảnh, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa
3 Thái độ
- Thêm yêu thích môn học, tìm tòi, khám phá khoa học, liện hệ áp dụng kiến thức vào thực tiễn
- Có ý thức giữ gìn sức khỏe sinh sản
4 Năng lực.
- Hình thành và phát triển năng lực tư duy logic, giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ, làm việc nhóm
II Phương tiện
- Sơ đồ hình 46.1, 46.2 sgk 11
- Máy chiếu
- PHT
III Tiến trình tổ chức giờ học
1 Hoạt động khởi động
Trang 7H1: Tại sao các bạn nữ khi dậy thì sẽ xuất hiện kinh nguyệt
H2: Tại sao khi mang thai phụ nữ không có kinh nguyệt
2 Hình thành kiến thức mới
GV chia lớp thành 8 nhóm nhỏ ( mỗi nhóm 6 – 8 bạn), yêu cầu các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí; giao nhiệm vụ: Thư ký tập hợp ý kiến thảo luận thành ý kiến chung Nhóm trưởng đôn đốc nhắc nhở các thành viên nhóm làm việc, thay mặt nhóm báo cáo kết quả
I Cơ chế điều hòa sinh tinh
Nhóm 1: Nghiên cứu H 46.1 hoàn thành PHT số 1
Câu 1: Có những yếu tố nào tham gia vào điều hòa sinh tinh ?
Câu 2: Vùng dưới đồi ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh như thế nào
Nhóm 2: Nghiên cứu H 46.1 Hoàn thành PHT số 2
GnRH FSH LH Testostrerol
Nhóm 3: Nghiên cứu H 46.1 hoàn thành PHT số 3
Câu 1: Quá trình sinh tinh ở nam giới có mang tính chu kì không? Vì sao? Câu 2: Từ sơ đồ điều hòa sinh tinh hãy đề xuất biện pháp tránh thai hiệu quả cho nam giới
Nhóm 4: Nghiên cứu H 46.1 hoàn thành PHT số 4
Câu 1: Cho biết tại sao quá trình điều hòa sinh tinh được thực hiện theo cơ chế ngược ?
Câu 2: Cho biết môi trường sống ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh như thế nào ?
II Cơ chế điều hòa sinh trứng
Nhóm 5: Nghiên cứu H 46.2 hoàn thành PHT số 5
Câu 1: Có những yếu tố nào tham gia vào điều hòa sinh trứng ?
Câu 2: Vùng dưới đồi ảnh hưởng đến quá trình sinh trứng như thế nào
Nhóm 6: Nghiên cứu H 46.2 Hoàn thành PHT số 6
GnRH FSH LH Ơstrogen
Progesterôn
Nhóm 7: Nghiên cứu H 46.2 hoàn thành PHT số 7
Câu 1: Quá trình chín, rụng trứng ở nữ giới có mang tính chu kì không ? Vì sao?
Câu 2: Từ sơ đồ điều hòa sinh trứng hãy đề xuất biện pháp tránh thai hiệu
Trang 8quả cho nữ giới
Nhóm 8: Nghiên cứu H 46.1 hoàn thành PHT
Câu 1: Cho biết tại sao quá trình điều hòa sinh trứng được thực hiện theo cơ chế ngược ?
Câu 2: Cho biết môi trường sống ảnh hưởng đến quá trình sinh trứng như thế nào ?
B1 : phát PHT đến tay từng học sinh trong nhóm, điều này yêu cầu tất cả học sinh đều phải làm việc, sau đó đưa ra ý kiến thảo luận chung; tránh hiện tượng ỉ lại khi hoạt động nhóm thông thường
B2: Học sinh làm việc cá nhân với PHT
B3: Thảo luận nhóm
B4: Thư kí tổng hợp và báo cáo kết quả
SỞ GD & ĐT THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT SẦM
SƠN
BÀI KIỂM TRA 15 PHÚT HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2019 – 2020 MÔN SINH HỌC LỚP 11
I TRẮC NGHIỆM ( 5 điểm)
A ống sinh tinh sản sinh ra tinh trùng
B tế bào kẽ sản sinh ra testosteron
C phát triển ống sinh tinh và sản sinh ra tinh trùng
D tuyến yên sản sinh LH
phồng lên, tích đầy máu trong mạch chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi trong dạ con là hoocmôn
A Progesteron và ơstrogen
B kích thích nang trứng, progesteron
C tạo thể vàng và ơstrogen
D thể vàng và progesteron
A.FSH và LH
B.Testosteron và FSH
C LH và Ơstrogen
D GnRH và progesteron
trứng là hoocmôn
A kích thích nang trứng (FSH), progesteron và ơstrogen
B progesteron, hoocmôn thể vàng (LH) và ơstrogen
C kích thích nang trứng, hoocmôn tạo thể vàng và ơstrogen
D kích thích nang trứng, hoocmôn tạo thể vàng và progesteron
Trang 9A ức chế tuyến yên tiết GnRH, FSH và LH
B ức chế tuyến yên và vùng dưới đồi tiết GnRH, FSH và LH
C kích thích tuyến yên tăng tiết GnRH, FSH và LH
A ống sinh tinh sản sinh ra tinh trùng
B tế bào kẽ sản sinh ra testosteron
C phát triển ống sinh tinh sản sinh ra tinh trùng
D tuyến yên tiết FSH
A Progesteron B FSH C HCG D LG
II TỰ LUẬN ( 3 điểm)
Câu 8: Hằng ngày, phụ nữ uống viên thuốc tránh thai (chứa prôgestêrôn hoặc
prôgestêrôn + ơstrôgen) có thể tránh được mang thai, tại sao?
SỞ GD & ĐT THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT SẦM
SƠN
HƯỜNG DẪN CHẤM BÀI KIỂM TRA 15 PHÚT
HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2019 – 2020 MÔN SINH HỌC LỚP 11
I Câu hỏi trắc nghiệm: 5 điểm (mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm)
II.Câu hỏi tự luận ( 5 điểm ).
8 - Uống thuốc viên tránh thai hằng ngày làm cho nồng
độ prôgestêrôn và ơstrôgen nhân tạo trong máu cao, gây
ức chế lên tuyến yên và vùng dưới đồi - Vùng dưới đồi giảm tiết GnRH, tuyến yên giảm tiết FSH và LH
- Do nồng độ các hoocmôn GnRH, FSH và LH giảm nên trứng không chín và không rụng, giúp tránh được mang thai
1.0 1.0
1.0
4 Kết quả:
4.1 Kết quả định lượng
Lớp thực nghiệm (TN): 11A2, 11A4
Lớp đối chứng (ĐC): 11A1, 11A3
Bảng 2: Kết quả học tập qua nghiên cứu của lớp 11A 2 , 11A 1 , 11 A 4 , 11A 3
Trang 1011 A1 44 3 6,8 25 56,8 16 36,4
Qua kết quả nghiên cứu tôi nhận thấy rằng ở lớp thực nghiệm tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi đều cao hơn so với lớp đối chứng Ngược lại tỷ lệ học sinh đạt điểm yếu lại thấp hơn rõ rệt
4.2 Kết quả định tính
Qua phân tích kết quả thu được từ việc thực hiện các nhiệm vụ học tập trên lớp với tinh thần hồ hởi, tích cực, cũng như qua các bài kiểm tra của HS, tôi nhận thấy mức độ hiểu sâu sắc kiến thức đã học, mức độ tư duy, phân tích của
HS lớp TN có sự tiến bộ, thành thạo hơn hẳn so với lớp ĐC Cụ thể ở lớp TN (11A2 , 11A4) đa số các em chọn được đáp án đúng phần trắc nghiệm, phần tự luận trình bày khá đầy đủ, còn các em lớp ĐC (11A1 , 11A3 ) trả lời sơ sài, thiếu logic
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1 Kết luận
Thiết nghĩ không có phương pháp dạy học nào là tối ưu cho mọi bài học và mọi đối tượng học sinh; cũng không nhất thiết phải có phương pháp hiện đại với trang thiết bị hiện đại mới mang lại thành công cho giờ học Thực tế giảng dạy
cho thấy sự phù hợp là yếu tố quan trọng, trong những bài học lí thuyết như “Cơ chế điều hòa sinh sản - Sinh học 11”, việc xây dựng hệ thống PHT phù hợp kết
hợp chia nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ cụ thể đã giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức một cách hứng thú Đây là việc làm có ý nghĩa thực tiễn, có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tư duy sáng tạo của HS HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn khắc sâu, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, giải thích các hiện tượng sinh học thực tiễn trong cuộc sống
2 Đề nghị
PPDH “ hoạt động nhóm nhỏ với PHT ” là phương pháp hợp tác, giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Thành công của mỗi bài học phụ thuộc nhiều vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên Vì thế yêu cầu đặt ra là:
- Chọn bài phù hợp, lớp phù hợp để áp dụng phương pháp ( sĩ số quá đông khó áp dụng phương pháp hoạt động nhóm nhỏ)
- Giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, hướng dẫn chi tiết, cẩn thận, khích
lệ, tạo hứng thú và tinh thần tự giác làm việc cho học sinh
- Giáo viên cần có biện pháp cụ thể và kiên trì trong sử dụng phương pháp để rèn cho học sinh khả năng độc lập làm viêc kết hợp với hợp tác nhóm
- Tránh lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới
- Khi phân chia nhóm giáo viên phải chú trọng đến trình độ học sinh trong mỗi nhóm