SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT LÊ LỢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ 12 – CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THPT LÊ LỢI Ngư
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG MỘT SỐ BÀI ĐỊA LÍ 12 – CƠ BẢN
Ở TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
Người thực hiện: Phạm Thị Hồng Nhung Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Địa lý
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 22 Môi trường và vấn đề giáo dục môi trường. 4
1 Nội dung có thể lồng ghép giáo dục môi trường trong môn Địa lí
12
5
2 Thực trạng của việc tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi
trường trong môn Địa lí ở trường trung học phổ thông hiện nay.
5
3 Khả năng khai thác nội dung giáo dục môi trường trong các bài
học Địa lí 12.
6
4 Một số bài Địa lí có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
trong Địa lí 12 – cơ bản.
6
1 Các bước thực hiện tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi
trường vào bài học.
7
2.Một số phương pháp lồng ghép, tích hợp cụ thể. 8
2.1 Lồng ghép vào nội dung của một bài học cụ thể. 8
2.2 Lồng ghép giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa. 17
3 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: 21
21
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Môi trường có một vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống Đó khôngchỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi,hưởng thụ và trau dồi những nét đẹp văn hóa, thẩm mĩ…Đó là không gian sinhsống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiếtcho đời sống và sản xuất, là nơi chứa đựng và phân hủy các phế thải do conngười tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất; đồng thời là nơi lưu giữ vàcung cấp thông tin về quá khứ, hiện tại và tương lai ; lưu giữ và cung cấp thôngtin về sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tựnhiên, các cảnh quan thiên nhiên…
Bảo vệ môi trường là một trong những mối quan tâm mang tính toàn cầu
Ở nước ta, bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc Cụthể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 31tháng 1 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về việc tăngcường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nayđến năm 2010 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng
về môi trường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học
và thông qua các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, xây dựng mô hìnhnhà trường xanh – sạch – đẹp phù hợp với các vùng, miền
Từ những năm gần đây, những dấu hiệu cho thấy sự suy thoái môi trường
đã ngày một rõ ràng hơn do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do tác độngcủa con người Phải gánh chịu nhiều hậu quả thiên tai gây ra, con người đã bắtđầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống.Chính vì thế, con người quan tâm hơn công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt làbảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Giáo dục bảo vệ môi trường là việc làm hết sức cần thiết, thường xuyên
và liên tục Bởi giáo dục môi trường sẽ hình thành và phát triển kĩ năng hànhđộng trong môi trường của học sinh, từ đó tạo nên một lối sống có trách nhiệm
và thân thiện với thiên nhiên
Xuất phát từ lý do đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài : “Lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong một số bài Địa lí 12 - Ban cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi”
2 Mục đích nghiên cứu:
Qua việc nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn trong quá trình dạyhọc, việc khai thác, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường ở một số bài họcĐịa lí 12 thì cùng một lúc sẽ đạt được hai mục tiêu: vừa hình thành cho học sinhkiến thức, kĩ năng Địa lí, lại vừa giáo dục môi trường cho học sinh Đó là giúpcho các em không chỉ có được kiến thức mà còn hình thành cho các em kĩ năng,thái độ, thói quen, lối sống thân thiện với môi trường bằng những hành động cụ
Trang 4thể trong bảo vệ môi trường, biết tuyên truyền mọi người cùng bảo vệ môitrường xung quanh.
3 Đối tượng nghiên cứu:
Từ nội dung các bài học, có thể nói kiến thức giáo dục môi trường trongsách giáo khoa Địa lí 12, tập trung vào một số vấn đề sau: Dân số - tài nguyên –môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, suy giảm tính đa dạng sinh học, ônhiễm môi trường, đô thị hóa và vấn đề môi trường, phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường…
4 Phương pháp nghiên cứu:
Giáo viên cần tìm hiểu các tài liệu, tư liệu, điều tra khảo sát các thông tinliên quan đến vấn đề môi trường ở địa phương, trong nước có liên quan đến nộidung các bài học
Cách khai thác nội dung giáo dục môi trường theo phương pháp tích cực:Đối chiếu kiến thức môi trường đã có trong sách với các kiến thức kĩ năng được
bổ sung Giáo viên xác định mục tiêu khai thác, phương tiện dạy học, phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học như tổ chức:
- Cho học sinh hoạt động học tập ở lớp, ngoài lớp để thu được kiến thức
về môi trường thông qua hình thức học sinh làm việc cá nhân, làm việc theonhóm
- Cho học sinh quan sát, tìm hiểu môi trường địa phương thông qua cácbài tập thực hành để rèn luyện kĩ năng và tạo sự quan tâm của học sinh đối vớimôi trường
- Hướng dẫn học sinh vận dụng những điều đã học vào thực tế để hìnhthành cho các em lối sống vì môi trường
Cần có sự kết hợp liên kết ba hoạt động này với nhau trong giáo dục môitrường cho học sinh Trong bài lý thuyết, có thể hình thành cho học sinh kiếnthức, thái độ thông qua hoạt động trong lớp, ngoài lớp Trong các bài thực hànhtìm hiểu địa phương chủ yếu rèn luyện cho học sinh kĩ năng học tập, ngoài racòn có thể hình thành cho học sinh thái độ bảo vệ môi trường ở nhà trường, tìmhiểu môi trường địa phương qua các bài học
Trang 6B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Một số khái niệm.
Môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Con người sống trênTrái Đất nên môi trường của loài người chính là không gian bao quanh Trái Đất,
có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong Địa
lí học, người ta gọi đó là môi trường xung quanh hay môi trường địa lí [1]
Theo S.V Kanesnik ( 1970): Môi trường chỉ là bộ phận của trái đất baoquanh con người, mà ở một thời điểm nhất định, xã hội loài người có quan hệtương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhấtvới đời sống và hoạt động sản xuất con người [2]
Theo UNESCO ( 1981): Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình,trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên vànhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình [3]
Như vậy, Môi trường sống không chỉ là nơi sinh trưởng, tồn tại và pháttriển của con người cũng như của mọi thực thể sinh vật khác mà còn là khungcảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người
2 Môi trường và vấn đề giáo dục môi trường.
Môi trường là một trong những vấn đề toàn cầu bức xúc nhất hiện nay, nókhông chỉ liên quan đến sự thay đổi của tự nhiên mà còn ảnh hưởng trực tiếpđến sự phát triển của xã hội loài người, đến chất lượng cuộc sống dân cư
Năm 1972 Hội nghị quốc tế về môi trường lần đầu tiên được tổ chức tạiStockholm (Thụy Điển), tuyên bố của hội nghị đã nêu: Việc giáo dục môi trườngcho thế hệ trẻ cũng như cho người lớn làm sao cho họ có được đạo đức, tráchnhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ chương pháttriển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội – đảm bảo pháttriển bền vững quốc gia Nhiều văn bản đã được ban hành nhằm thể chế hóacông tác bảo vệ môi trường, trong đó có công tác giáo dục môi trường
Nhìn chung giáo dục môi trường đã và đang thực hiện ở nhiều mức độkhác nhau, ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm nonđến đại học
Giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất,kinh tế nhất và có tính bền vững nhất trong các biện pháp để thực hiện mục tiêubảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước Thông qua giáo dục, từngngười và cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môitrường, năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường
Như vậy, giáo dục bảo vệ môi trường phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kĩ năng bảo vệ môi trường,phù hợp với tâm lí lứa tuổi
3 Ý nghĩa của vấn đề:
Trang 7Việc lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường qua các bài học đãđem lại một số kết quả đáng khích lệ trong việc giúp cho học sinh củng cố, khắcsâu những kiến thức lý thuyết, mở rộng kiến thức đã học, góp phần rèn luyện kĩnăng Địa lí, đồng thời giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Đó là giúp các
em không chỉ có được kiến thức mà còn hình thành cho các em kĩ năng thái độ,thói quen, lối sống thân thiện với môi trường và bảo vệ môi trường
II NỘI DUNGTHỰC HIỆN.
1 Nội dung có thể lồng ghép giáo dục môi trường trong môn Địa lí 12.
Ở nước ta việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường trongmột số môn học ở trường trung học phổ thông không phải là vấn đề hoàn toànmới Căn cứ vào mục đích, nội dung của môn Địa lí ở trường trung học phổ
thông thì phương thức đưa kiến thức giáo dục môi trường cà môn học thuận lợi
nhất là tích hợp và lồng ghép như nhiều quốc gia đã làm
Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống kiến thức Địa lí và kiến thứcgiáo dục môi trường làm một cho chúng hòa quện vào nhau thành một thể thốngnhất Lồng ghép là sự thể hiện sự lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để
có thể đưa vào bài học một mục, một đoạn hay một số câu có nội dung giáo dụcmôi trường Như tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường trong mônĐịa lí không phải là ghép thêm vào chương trình môn học một chủ đề nghiêncứu mà “ nó là một đường hướng hôi nhập vào trong chương trình đó” nhưtuyên ngôn Tbilisi ( UNESCO – UNEP – 1977) đã khẳng định
Dựa vào nội dung chương trình môn Địa lí giáo viên cần phải vận dụngnhững kiến thức, những thông tin môi trường cần thiết để đưa vào bài giảng mộtcách thích hợp nhằm:
- Mở rộng và khắc sâu những kiến thức về môi trường đã có trong sáchgiáo khoa
- Phân tích, giải thích, chứng minh một số khái niệm kết luận đã có trongsách giáo khoa bằng những kiến thức về môi trường và mối quan hệ giữa pháttriển và môi trường một cách thích hợp nhất
Tích hợp giáo dục môi trường vào bài dạy môn Địa lí là quan trọng nhưngkhông phải bài nào cũng lồng ghép, tích hợp được Với những bài cần thiết tíchhợp thì phải chọn đơn vị kiến thức phù hợp với nội dung bài dạy, không áp đặt,phải có tác dụng giáo dục cao, tránh sự nhàm chán, lặp đi lặp lại Đồng thời phảiđảm bảo hiệu quả giáo dục môi trường là mang lại cho học sinh những tình cảmthân thiện với môi trường, những thói quen môi trường tốt đẹp, có lối sống hàihòa với môi trường (Văn hóa sinh thái)
2 Thực trạng của việc tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lí ở trường trung học phổ thông hiện nay.
Giáo dục bảo vệ môi trường là một vấn đề không mới trong dạy học và cũng không xa lạ trong thực tiễn cuộc sống vì nó là lĩnh vực giáo dục liên
ngành Tuy nhiên giáo dục môi trường không chỉ là việc cung cấp cho học sinhkiến thức của môn học phù hợp với đặc điểm lứa tuổi mà điều quan trọng hơn làhình thành và phát triển những kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộcsống của học sinh, đồng thời hình thành và phát triển cảm xúc, thái độ đúng đắn
Trang 8trước các vấn đề liên quan đến nội dung bài học cho các em.Vì vậy, giáo dụcmôi trường phải tích hợp ở nhiều mức độ khác nhau cả về kiến thức, kỹ năng,thái độ Do đó, khi tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường cần đảm bảo nguyêntắc: không gượng ép, không làm nặng nội dung, không làm biến dạng môn học.
Qua thực tế dự một số giờ của đồng nghiệp ở trường hiện nay tôi nhậnthấy, có nhiều giáo viên bộ môn quan niệm rằng: Tích hợp giáo dục bảo vệ môitrường là ghép thêm vào chương trình như một bộ môn riêng biệt hay một chủ
đề nghiên cứu, thậm chí quá sa đà vào kiến thức môi trường và vô hình chunglàm nặng thêm nội dung kiến thức bài học, biến dạng môn học dưới hình thứcđơn điệu, khô cứng, sử dụng rất ít các phương tiện dạy học hỗ trợ¸ thậm chínhiều giáo viên không sử dụng Vì không thấy hết tầm quan trọng của vấn đềcho nên nhiều giáo viên không chú ý đến lượng kiến thức cần tích hợp cho từngbài học, không đầu tư, không coi trọng kiến thức thực tế của cuộc sống ở địaphương Do đó dẫn đến một thực tế là : Các giờ học có tích hợp giáo dục bảo vệmôi trường thường kém sôi nổi, không gây được hứng thú học tập của học sinh,bởi vì giáo viên chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt thông tin đã có ở sách giáo khoahoặc những gì giáo viên biết, hay nói lại những kiến thức học sinh đã được học
ở các bộ môn khác một cách cứng nhắc, buồn tẻ Điều đó, tạo ra tâm lý nhàmchán, học sinh không chú ý trong giờ học, thậm chí không ghi chép bài, làm việcriêng, không có thái độ nhập cuộc
3 Khả năng khai thác nội dung giáo dục môi trường trong các bài học Địa lí 12.
Trong quá trình dạy và học bộ môn Địa lí ở trường trung học nói chungcũng như Địa lí Việt Nam lớp 12 nói riêng, tôi nhận thấy môn Địa lí là một mônhọc có nhiều khả năng giáo dục môi trường cho học sinh Vì kiến thức đặc trưngcủa bộ môn là về các yếu tố của môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế xã hội– là một phần của kiến thức Địa lí Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên cầnkhai thác nội dung giáo dục môi trường trong các bài học sách giáo khoa
Từ nội dung các bài học Địa lí, dựa vào đó để khai thác nội dung giáo dụcmôi trường có thể chia thành ba loại:
- Loại thứ nhất: Nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép trùng hợp
phần lớn hay hoàn toàn với nội dung bài học
- Loại thứ hai: Nội dung giáo dục môi trường là một bộ phận của bài học, đượcthể hiện bằng một mục riêng hoặc một đoạn nào đó trong bài
- Loại thứ ba: Nội dung giáo dục môi trường không được nêu rõ trong sách, nhưng dựa vào những kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên hệ các kiến thức về giáo dục môi trường vào bài giảng (các hiện tượng, số liệu về tìnhtrạng môi trường địa phương, toàn cầu…)
4 Một số bài Địa lí có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường trong Địa lí 12 – cơ bản.
Phương pháp tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong các bài được
cụ thể hóa như sau:
Bài “ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”, nhằm giáo dục học sinhthấy được hiện trạng suy thoái một số tài nguyên ở nước ta như: tài nguyênrừng, suy giảm đa dạng sinh học, sử dụng đất nông nghiệp chưa hợp lí
Trang 9Bài “ Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta”, có thể khai thác nộidung: Dân số nước ta tăng nhanh, nhằm thấy được sức ép của dân số đối với tàinguyên thiên nhiên và môi trường.
Bài “Đô thị hóa”, có thể khai thác nội dung giáo dục môi trường ở khíacạnh tác động của đô thị hóa tự phát đã đưa lại nhiều hậu quả đối với môi trường
và phát triển kinh tế - xã hội
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Các bước thực hiện tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào bài học.
Hiệu quả giáo dục môi trường trong môn Địa lí phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó có phương pháp tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường ởmôn học này Phương pháp tích hợp, lồng ghép có thể chia thành các bước nhưsau:
* Bước 1: Lựa chọn bài
Trong sách giáo khoa có nhiều bài, nhưng không phải bài nào cũng có khảnăng tích hợp, lồng ghép Để tránh sự gượng ép dẫn đến nhàm chán, giáo viêncần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa và chọn những bài có nội dung giáo dục môitrường hoặc bài có khả năng đưa nội dung giáo dục môi trường vào:
- Loại bài 1: Nội dung của bài hoàn toàn phù hợp với nội dung giáo dụcmôi trường
- Loại bài 2: Trong bài có một mục hoặc một đoạn hay một câu có nộidung giáo dục môi trường
- Loại bài 3: Trong bài có một hay nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ sungkiến thức môi trường mà sách giáo khoa chưa đề cập
* Bước 2: Xác định mức độ lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục môitrường vào môn học
* Bước 3: Xác định kiến thức giáo dục môi trường để tích hợp, lồng ghépvào bài
Môi trường là khoa học liên ngành, kiến thức về nó rất đa dạng, vì vậy khilồng ghép nội dung giáo dục môi trường giáo viên phải đảm bảo sự phù hợp vớitrình độ học sinh, phù hợp với nội dung của bài học Đây là bước không đơngiản, yêu cầu giáo viên phải nắm chắc những kiến thức về môi trường cũng nhưcác mục tiêu và nội dung của giáo dục môi trường một cách có hiệu quả
Dựa vào mục tiêu, nội dung của từng bài, cần xác định xem giáo viên vàhọc sinh cần phải chuẩn bị những tư liệu, thông tin hay tìm hiểu thực tế môitrường…nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng học tập, đồng thời là tạo điều kiện
để các em quan tâm đến thực tế môi trường địa phương
* Bước 4: Lựa chọn phương pháp học thích hợp
Giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy họckhác nhau để khai thác nội dung giáo dục môi trường như đàm thoại gợi mở,học tập theo nhóm nhỏ, dạy học không chỉ ở trong lớp mà còn ngoài lớp để họcsinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường Từ đó hình thành cho học sinh không chỉ
Trang 10kiến thức mà còn hình thành thái độ, kĩ năng học tập, ý thức tham gia bảo vệmôi trường.
2.Một số phương pháp lồng ghép, tích hợp cụ thể.
2.1 Lồng ghép vào nội dung của một bài học cụ thể.
Bài 14 SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1 Vấn đề tài nguyên rừng đang bị suy giảm:
Các bước lồng ghép giáo dục môi trường vào phần này cụ thể là:
- Giáo viên cho học sinh xem video về tài nguyên rừng của nước ta trướcđây và hiện nay Sau đó yêu cầu học sinh: Dựa vào những kiến thức đã học, emhãy cho biết rừng có vai trò quan trọng như thế nào đối với môi trường và cuộcsống con người
- Giáo viên gợi ý, HS trả lời, GV chuẩn hóa kiến thức:
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với môi trường và cuộc sống conngười Rừng có tác dụng điều hòa lượng nước, là lá phổi xanh của Trái Đất, gópphần to lớn vào việc hình thành, bảo vệ đất, chống xói mòn Rừng là nguồn genquý giá Cung cấp nhiều lâm sản, đặc sản cho sản xuất, các dược liệu quý đểchữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người
- Giáo viên cung cấp cho HS số liệu:
Suy giảm tài nguyên rừng của nước ta ( Đơn vị: ha)
- Giáo viên đặt câu hỏi, HS làm việc theo nhóm cặp đôi: Nguyên nhân và hậuquả của suy thoái tài nguyên rừng nước ta?
- Đại diện các nhóm trình bày, giáo viên bổ sung và chuẩn hóa kiến thức:
* Nguyên nhân:
- Trước đây do chiến tranh: trong cuộc chiến tranh 1961 – 1971, đế quốc Mỹ
đã rải chất độc hóa học xuống 3104000ha rừng và làm mất mát sản lượng gỗước tính 82830000m3 [5]
- Hiện nay nguyên nhân của sự sụt giảm diện tích rừng chủ yếu bao gồm: khaithác quá mức (50%); chuyển đổi rừng và đất rừng thành đất sản xuất nôngnghiệp (20%); du mục và đói nghèo (20%) và cháy rừng, thiên tai và hiểmhọa (10%) [6]
* Hậu quả:
+ Biến nhiều vùng rừng thành vùng đất hoang cằn cỗi
+ Hệ sinh thái bị đảo lộn, mất cân bằng dẫn đến lũ lụt, sạt lở và xói mòn đất,hạn hán, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, mực nước ngầm hạ thấp
+ Gây ra nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về công ăn việc làm và phát triển xã
Trang 11hội một cách lâu dài và bền vững.
+ Làm cho các loài động vật mất nơi cư trú, làm tăng sự suy giảm đa dạngsinh học nhất là các nguồn gen động thực vật quý hiếm
+ Mất chức năng điều hòa khí hậu, làm cho lượng khí CO2 ngày một tăng, dẫnđến nhiệt độ trái đất ngày một nóng lên
- Giáo viên yêu cầu học sinh: Dựa vào nội dung sách giáo khoa và nhữnghiểu biết của mình, hãy nêu các biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng
* Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng:
+ Theo quy hoạch, chúng ta phải nâng độ che phủ rừng của cả nước từ gần40% hiện nay lên đến 45 – 50%, vùng núi dốc phải đạt độ che phủ khoảng 70– 80%
+ Thực hiện các biện pháp quy hoạch và bảo vệ phát triển từng loại rừng
+ Triển khai Luật bảo vệ và phát triển rừng Giao quyền sử dụng đất và bảo vệrừng cho người dân
[7]
2 Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học:
Giáo viên lồng ghép giáo dục môi trường thông qua việc cung cấp thêmthông tin về thành phần loài động thực vật và hiện trạng của đa dạng sinh học ởnước ta Cụ thể: Sự đa dạng sinh học ở nước ta:
Việt Nam nằm trong khu vực Indo - Burma, là 1 trong 25 điểm nóng về đadạng sinh học toàn cầu Đa dạng sinh học ở Việt Nam đứng thứ 16 trên thế giới.Một thống kê chưa đầy đủ vào năm 2011 cho thấy, Việt Nam là nơi trú ngụ của13.766 loài thực vật, 10.300 loài động vật trên cạn (312 loài thú, 840 loài chim,
167 loài ếch nhái, 317 loài bò sát, trên 7.700 loài côn trùng, và nhiều loài độngvật không xương sống khác) Số loài sinh vật nước ngọt đã được biết đến là hơn1.438 loài vi tảo, 800 loài động vật không xương sống, 1.028 loài cá nước ngọt
Số lượng loài sinh vật biển được biết là hơn 11.000 loài (6.300 loài động vậtđáy, 2.500 loài cá biển, 653 loài rong biển, 657 loài động vật nổi, 537 loài thực
Trang 12vật nổi, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắnbiển, 25 loài thú biển và 5 loài rùa biển).[8]
Các con số thống kê nêu trên chưa thực sự phản ánh đầy đủ tính đa dạngsinh học của Việt Nam, khi mà số lượng loài mới được phát hiện không ngừngtăng nhanh trong những năm gần đây Ví dụ, hơn 18 loài côn trùng mới đượccông bố vào năm 2017 chỉ từ một nghiên cứu, 5 loài mới của một giống thực vậtmới cũng đã được mô tả từ một công trình vào năm 2014 Điều đó chứng minhnguồn tài nguyên về đa dạng loài động, thực vật ở Việt Nam chưa thực sự đượchiểu biết đầy đủ.[9]
Một đặc điểm nổi bật trong nguồn tài nguyên về đa dạng sinh học ở ViệtNam là tính đặc hữu về loài, đồng thời cũng là về nguồn gen quý hiếm Thống
kê từ cơ sở dữ liệu các nhóm động, thực vật cho thấy, Việt Nam có ít nhất 467loài động vật đặc hữu, cao hơn nhiều so với các quốc gia lân cận như Lào,Campuchia, Thái Lan [10]
Bên cạnh đó, Việt Nam có đến 25 giống thực vật có mạch đặc hữu, trongkhi con số này ở Lào là 3 và Campuchia là 1 Rõ ràng nguồn gen thực vật đặchữu này là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà Việt Nam có được Tính đặchữu ở Việt Nam trong khu hệ động vật đã ngày một gia tăng khi số lượng nghiêncứu về côn trùng được mở rộng ra các nhóm đối tượng khác như Chuồn chuồn(Bộ Odonata), Bọ cánh cứng (Bộ Coleoptera), Bọ ngựa (Bộ bọ ngựa Mantodea),
Bọ que (Bộ Phasmatodea) Một số phát hiện điển hình đã gia tăng tính đặc hữu
về động vật ở Việt Nam như phát hiện các giống và loài côn trùng mới cho Việt
Trang 13Nam Những nghiên cứu trên đã thêm khẳng định tính độc đáo về đa dạng sinhhọc của Việt Nam và giá trị to lớn trong sự đa dạng về nguồn gen sinh vật.[11]
Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đang đối diện với nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học và sự mất cân bằng sinh thái diễn ra mạnh mẽ Số loài có nguy cơ tuyệt chủng: [12]
Số loài bị suy giảm:
Loài Trước thập niên 1970 Số liệu 1999 2019