Trên cơ sở nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập kinh tế quốc tế, hãy phân tích vai trò có thể có của bản thân đối với qua trình này
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
thân đối với quá trình này
Nhóm thực hiện: 09
Lớp học phần: 2138RLCP1211
Giáo viên hướng dẫn: Hoàng Văn Mạnh
Hà Nam – 2021 MỤC LỤC
Trang 2Phần mở đầu
Phần I: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 1.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa 1.1.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp 1.1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các mô hình công nghiệphóa
1.2 Tính tất yếu khách quan và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở ViệtNam
1.2.1 Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở ViệtNam
1.2.2 Nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Phần II Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh 4.0 ở Việt Nam 2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lầnthứ tư 2.1.1 Một số vấn đề lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ tư 2.1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến với công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở Việt Nam 2.2 Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lầnthứ tư ở Việt Nam 2.2.1 Một số thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 2.2.2 Một số hạn chế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lần thứ tư ở Việt Nam 2.3 Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạngcông nghiệp lần thứ tư 2.4 Một số giải pháp về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thích ứng với cáchmạng công nghiệp lần thứ tư ra sao? Phần III Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở ViệtNam
3.1 Khái niệm và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 3.1.1 Khái niệm và sự cần thiết khác quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 33.1.2 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 3.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa của ViệtNam 3.2.1 Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế 3.2.2 Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế 3.3 Phương hướng nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong phát triển của ViệtNam Phần IV Vai trò có thể có của bản thân đối với quá trình cách mạng công nghiệp lần thứ
này
luận
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM 09
1 Đỗ Văn Trung - Thuyết trình, phân
công nhiệm vụ, làmpowerpoint
Nhóm trưởng
2 Nguyễn Đình Tuấn - Tổng hợp các bài, làm
word, viết mở đầu
6 Nguyễn Thị Yến - Phần IV, viết kết luận
Trang 4XH cao hơn hay gọi cách khác là Cách Mạng Công Nghiệp
Lịch sử thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng côg nghiệp và đang bắt đầu cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ 4( cách mạng công nghiệp 4.0) Cuộc cách mạng lần này đã xuất hiệncông nghệ mang tính đột phá về chất như trí tuệ nhân tạo, big data, in 3D, giúp thúc đẩy
sự phát triển của LLSX, hoàn thiện quan hệ sở hữu về TLSX, tổ chức quản lý sản xuất vàphân phối sản phảm lao động, đổi mới phương thức quản trị quan hệ phát triển
CN hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cũng đã thích ứng với cách mạng công nghiệp lần thứ
tư một cách nhanh chóng :
* Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, xây dựng nền kinh tế dựa trên nền tảng sáng tạo =>Nângcao năng suất lao động, thúc đẩy nghiên cứu và triển khai, cải thiện khung pháp lý, đẩymạnh trong khu vực doanh nghiệp, phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiêncứu đồng thời kết nối với mạng lưới tri thức toàn cầu
* Thứ nắm bắt việc đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của cách mạng CN 4.0
* Thứ ba, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để ứng phó với những tác động tiêu cực củacách mạng CN 4.0
- Xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và truyền thông
- Phát triển ngành công nghiệp
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, XHtạo điều kiện thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài
Phát huy những lợi thế trong nước để phát triển du lịch, dịch vụ
Trang 5Nhận thức được điều đó nên nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “Trên cơ sở nhận thức vềcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư và hội nhập kinh tế quốc tế, hãy phân tích vai trò có thể có của bản thân đối với quatrình này” làm nội dung thảo luận
Phần I: CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hoá
1.1.1.Khái quát về cách mạng công nghiệp
*Khái niệm cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu laođộng trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá trình pháttriển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về phân công lao động xã hội cũng nhưtạo bước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến nhữngtính năng mới trong kỹ thuật – công nghệ đó vào đời sống xã hội
* Khái quát lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
Lịch sử nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp và đang thực hiện cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0
-Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1.0) từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, cónguồn gốc từ nước Anh: chuyển từ lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc,thực hiện cơ giới hóa sản xuất bằng việc sử dụng năng lượng nước và hơi nước
C.Mác đã khái quát tính quy luật của cách mạng công nghiệp này ở ba giai đoạn phát triểnlà: hiệp tác giản đơn, công trườnng thủ công và đại công nghiệp Đây là ba giai đoạn tăngnăng suất lao động xã hội; phát triển của lực lượng sản xuất gắn với sự củng cố, hoànthiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; xã hội hóa lao động và sản xuất diễn ra trong quátrình chuyển biến từ sản xuất nhỏ, thủ công, phân tán lên sản xuất lớn, tập trung, hiện đại.-Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (2.0) từ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX:gồm việc sử dụng năng lƣợng điện và động cơ điện, để tạo ra các dây chuyền sản xuất cótính chuyên môn hoá cao, chuyển nền sản xuất cơ khí sang nền sản xuất điện - cơ khí vàsang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai cũng đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong giaothông vận tải và thông tin liên lạc
-Cách mạng công nghiệp lần thứ ba (3.0) từ khoảng những năm đầu thập niên 60 đến cuốithế kỷ XX: nổi bật là ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất Các tiến bộ về
hạ tầng điện tử, máy tính và số hóa xuất hiện nhiều vì nó được xúc tác bởi sự phát triểncủa chất bán dẫn, siêu máy tính (những năm 1960), máy tính cá nhân (những năm 1970 và1980) và Internet (những năm 1990) Hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử sửdụng công nghệ số và robot công nghiệp là những tiến bộ kỹ thuật công nghệ nổi bật
Trang 6-Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2011 tại Hội chợtriển lãm công nghệ Hannover (CHLB Đức) và được Chính phủ Đức đưa vào “Kế hoạchhành động chiến lược công nghệ cao” năm 2012 Việc sử dụng thuật ngữ cách mạng côngnghiệp 4.0 với ý nghĩa có một sự thay đổi về chất trong lực lượng sản xuất trong nền kinh
tế thế giới Cách mạng công nghiệp 4.0 được hình thành trên cơ sở cuộc cách mạng số,gắn với sự phát triển và phổ biến của Internet kết nối vạn vật với nhau (Internet of Things
- IoT) Như vậy, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện có những nội dung cốt lõi về
tư liệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động đã thúc đẩy sự phát triển của văn minhnhân loại Cách mạng công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy pháttriển
* Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển:
- Thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Các cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển lựclượng sản xuất của các quốc gia Đồng thời, tác động mạnh mẽ tới quá trình điều chỉnhcấu trúc và vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội Về tư liệu lao động:máy móc ra đời thay thế cho lao động chân tay, máy tính điện tử chuyển nền sản xuấtsang giai đoạn tự động hóa, tài sản cố định thường xuyên được đổi mới, quá trình tậptrung hóa sản xuất được đẩy nhanh
Cách mạng công nghiệp có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực: đòi hỏi cầnnâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cũng tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực.Cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất laođộng, gia tăng của cải vật chất, dẫn đến những thay đổi to lớn về kinh tế - xã hội, văn hóa
và kỹ thuật Cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 đã hình thành hai giai cấp cơ bản trong xãhội là tư sản và vô sản Vì máy móc thay thế lao động thủ công nên đã làm gia tăng nạnthất nghiệp, công nhân phải lao động với cường độ cao, mức độ bóc lột lao động tăng lênlàm cho mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng gay gắt.Cuộc cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để các nước tiên tiên tiếp tục phát triển khoahọc công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất vàđời sống Cuộc cách mạng công nghiệp cũng tạo cơ hội cho các nước đang và kém pháttriển tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học công nghệ, tận dụng lợi thế nhữngnước đi sau; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để bứt phá, rút ngắn khoảng cách vềtrình độ phát triển với các nước đi trước
Cách mạng công nghiệp tạo cơ hội cho các nước phát triển nhiều ngành kinh tế và nhữngngành mới thông qua mở rộng ứng dụng những thành tựu về công nghệ thông tin, côngnghệ số, công nghệ điều khiển, công nghệ sinh học Cách mạng công nghiệp thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành cơ cấu kinh tế mới theo hướng hiện đại, hội nhậpquốc tế và hiệu quả cao Các thành tựu mới của khoa học - công nghệ được ứng dụng đểtối ưu hóa quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và quản lý, quản trị
Trang 7Cách mạng công nghiệp 4.0 mới chỉ bắt đầu ở một vài nước, nhưng cách mạng côngnghiệp 3.0 lại đang tác động mạnh hơn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Một số quốcgia vẫn chưa thực hiện xong các nội dung của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứhai Hiện nay, các nước đang và kém phát triển, trong đó có Việt Nam đều phải nỗ lựcthực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế công nghiệp.
- Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất
+ Biến đổi về sở hữu tư liệu sản xuất Ngay từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất,nền sản xuất lớn ra đời thay thế dần cho sản xuất nhỏ, khép kín, phân tán Quá trình tích
tụ và tập trung tư bản dưới tác động của quy luật giá trị thặng dư và cạnh tranh gay gắt đãtạo ra những xí nghiệp có quy mô lớn Dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ,
sở hữu tư nhân không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của sản xuất và yêu cầu cải tiến
kỹ thuật Tư bản buộc phải liên kết lại dưới hình thức công ty cổ phần và sự phát triển củaloại hình công ty này cho phép mở rộng chủ thể sở hữu tư bản ra các thành phần khác của
xã hội Thực tế trên buộc các nước phải điều chỉnh chế độ sở hữu, thực hiện đa dạng hóa
sở hữu, lấy sở hữu tư nhân làm nòng cốt đồng thời phát huy sức mạnh và ưu thế tối đa của
sở hữu nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã nâng cao hơn nữa năng suất lao động, tiếp tụcthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, từnông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, thương mại, đồng thời dẫn đến quá trình đô thịhoá, chuyển dịch dân cư từ nông thôn sang thành thị
Cách mạng công nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu hoàn thiện với thể chế kinh tế thịtrường, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và trao đổi thành tựu khoahọc công nghệ giữa các nước
Trong lĩnh vực phân phối, cách mạng công nghiệp mà nhất là cách mạng công nghiệp 4.0
đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập vàcải thiện đời sống của người dân
Cách mạng công nghiệp 4.0 giúp cho việc phân phối và tiêu dùng trở nên dễ dàng vànhanh chóng, làm thay đổi đời sống xã hội của con người Tuy nhiên, nó lại có tác độngtiêu cực đến việc làm và thu nhập Nạn thất nghiệp và phân hóa thu nhập gay gắt hơn lànguyên nhân chính dẫn đến gia tăng bất bình đẳng, buộc các nước phải điều chỉnh chínhsách phân phối thu nhập và an sinh xã hội để giải quyết những mâu thuẫn cố hữu trongphân phối của nền kinh tế thị trường
Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, quản lýkinh tế - xã hội giữa các nước Các nước lạc hậu có thể rút ra những bài học kinh nghiệmcủa các nước đi trước để hạn chế những sai lầm, thất bại trong quá trình phát triển Cáchmạng công nghiệp cũng tạo điều kiện cho các nước mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhậpkinh tế quốc tế sâu rộng, huy động cao nhất các nguồn lực bên ngoài cho phát triển, từngbước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tạo khả năng biến đổi các hệ thống sản xuất,
Trang 8quản lý, quản trị kinh tế và doanh nghiệp phát triển những mô hình kinh doanh mới, nângcao sức cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp.
- Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển
Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3.0 làm cho sản xuất xã hội có những bước phát triểnnhảy vọt Công nghệ kỹ thuật số và Internet đã kết nối giữa doanh nghiệp với doanhnghiệp, giữa doanh nghiệp với cá nhân và giữa các cá nhân với nhau trên phạm vi toàncầu, dần hình thành một “thế giới phẳng” Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện đểchuyển biến các nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức
Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ đến phương thức quản trị và điều hành củanhà nước Việc quản trị và điều hành của nhà nước phải được thực hiện thông qua hạ tầng
số và Internet Kỷ nguyên số với các công nghệ mới, nền tảng điều hành mới liên tục thayđổi cho phép người dân được tham gia rộng rãi hơn vào việc hoạch định chính sách Đồngthời, các cơ quan công quyền có thể dựa trên hạ tầng công nghệ số để tối ưu hóa hệ thốnggiám sát và điều hành xã hội theo mô hình “chính phủ điện tử”, “đô thị thông minh
Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tác động mạnh mẽ đến phương thức quản trị và điềuhành của doanh nghiệp Sự thay đổi của công nghệ sản xuất dựa trên ứng dụng công nghệcao vào sản xuất làm cho các doanh nghiệp phải tạo ra các cách thức thiết kế, tiếp thị vàcung ứng hàng hóa dịch vụ bắt nhịp với không gian số
Cách mạng công nghiệp 4.0 yêu cầu các quốc gia phải có hệ thống thúc đẩy đổi mới sángtạo, chuyển đổi hoạt động sản xuất lên một trình độ cao hơn, tri thức hơn, tạo ra năng suất
và giá trị cao hơn, nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế
1.1.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới
* Công nghiệp hoá
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủcông là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo
ra năng suất lao động xã hội cao
* Các mô hình công nghiệp hoá tiêu biểu trên thế giới
- Mô hình công nghiệp hoá cổ điển: tiêu biểu là nước Anh được thực hiện gắn liền vớicuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ, mà trực tiếp
là ngành công nghiệp dệt là ngành đòi hỏi vốn ít, thu lợi nhuận nhanh Sự phát triển củangành công nghiệp này đã kéo theo sự phát triển của ngành trồng bông và chăn nuôi cừu.Ngành công nghiệp nhẹ và nông nghiệp phát triển, đòi hỏi phải cung cấp nhiều máy móc,thiết bị cho sản xuất từ đó đã tạo tiền đề cho sự phát triển của ngành công nghiệp nặng,
mà trực tiếp là ngảnh cơ khí chế tạo máy
Trang 9Nguồn vốn để công nghiệp hoá ở các nước tư bản cổ điển chủ yếu do bóc lột lao độnglàm thuê, làm phá sản những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, đồng thời gắn liềnvới việc xâm chiếm và cướp bọc thuộc địa.
Quá trình này đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tư bản và lao động, làm bùng nổ nhữngcuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại nhà tư bản ở các nước tư bản lúc đó, tạotiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác ra đời
Công nghiệp hoá với mục tiêu và cơ chế nêu trên đã cho phép trong một thời gian ngắncác nước theo mô hình Liên Xô (cũ) đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật
to lớn, hoàn thành được mục tiêu đề ra
Tuy nhiên, khi tiến bộ khoa học, kỹ thuật ngày càng phát triển, hệ thống cơ sở vật chất
-kỹ thuật to lớn ở trình độ cơ khí hoá đã không thích ứng được, làm kìm hãm việc ứngdụng những tiến bộ kỹ thuật mới, đồng thời với cơ chế kế hoạch hoá tập trung mệnh lệnhđược duy trì quá lâu đã dẫn đến sự trì trệ, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu
-Mô hình công nghiệp hoá của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NIC) như HànQuốc, Singapo: thực chất là chiến lược công nghiệp hoá rút ngắn, đẩy mạnh xuất khẩu,phát triển sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu, thông qua việc tận dụng lợi thế vềkhoa học, công nghệ của các nước đi trước, cùng với việc phát huy nguồn lực và lợi thếtrong nước, thu hút nguồn lực từ bên ngoài để tiến hành công nghiệp hoá gắn với hiện đạihoá Việc tiếp thu và phát triển khoa học, công nghệ mới, hiện đại của các nước kém pháttriển có thể thực hiện bằng các con đường cơ bản như:
- Một là, thông qua đầu tư nghiên cứu, chế tạo và hoàn thiện dần dần trình độ công nghệ
từ trình độ thấp đến trình độ cao, diễn ra trong thời gian dài, tổn thất nhiều trong quá trìnhthử nghiệm
- Hai là, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước phát triển hơn, đòi hỏi phải cónhiều vốn, ngoại tệ và chịu sự phụ thuộc vào nước ngoài
- Ba là, xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ nhiều tầng, kết hợp cả côngnghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Kết hợp vừa nghiên cứu chế tạo vừa tiếp nhậnchuyển giao công nghệ từ các nước phát triển hơn, con đường vừa cơ bản, lâu dài và vữngchắc vừa đảm bảo đi tắt và bám đuổi theo các nước phát triển hơn
Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá mới (NICs) đã sử dụng con đường thứ ba để tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kết hợp với những chính sách phát triển đúng đắn vàhiệu quả, từ đó đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong mộtkhoảng thời gian ngắn và gia nhập vào nhóm các nước công nghiệp phát triển Conđường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá mới(NICs) là gợi ý tốt cho Việt Nam trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoánền kinh tế quốc dân
Trang 101.2 Tính tất yếu khách quan và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1.1.2.1 Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt độngsản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện,phương
pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học côngnghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở ViệtNam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam đangtích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Lý do khách quan Việt Nam phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gồm:
Thứ nhất, lý luận và thực tiễn cho thấy, công nghiệp hóa là quy luật phổ biến của sự pháttriển lực lượng sản xuất xã hội mà mọi quốc gia đều trải qua
Thứ hai, đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưnước ta, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuậtcho chủ nghĩa xã hội Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mộtbước tăng cường cơ sở vật chất -kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lựclượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, làm cho nềnsản xuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngườidân không ngừng được nâng cao, trên cơ sở đó từng bước nâng dần trình độ văn minh của
xã hội
1.1.2.2 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
- Một là, tạo lập những điều kiện để có thể thực hiện chuyển đổi từ nền sản xuất - xã hộilạc hậu sang nền sản xuất - xã hội tiến bộ
Qua thực tế phát triển, có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu của kinh tế tri thức nhưsau:
- Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọnghàng đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 11- Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanhchóng, trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất củakhoa học và công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
- Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực và thiết lập được cácmạng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình.Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế
- Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá; sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thànhyêu cầu thường xuyên đối với mọi người và phát triển con người trở thành nhiệm vụtrung tâm của xã hội
- Mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn để toàn cầu hoá kinh tế, có tác động tích cựchoặc tiêu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toànthế giới
* Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả
Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế cũng chính là tổng thể cơ cấu các ngành, cơ cấu các vùng và cơ cấu cácthành phần kinh tế Trong hệ thống các cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp
- nông nghiệp - dịch vụ) giữ vị trí quan trọng nhất vì nó phản ánh kết quả quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
Cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Khai thác, phân bổ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước, thu hút có hiệu quảcác nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội
- Cho phép ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiện đại vào các ngành,các vùng và các lĩnh vực của nền kinh tế
- Phù hợp xu thế phát triển chung của nền kinh tế và yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhậpquốc tế
* Từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta là nhằm xâydựng CNXH, vì vậy phải cung cố và tăng cường địa vị chủ đạo của quan hệ sản xuấtXHCN, tiến tới xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất XHCN trong toàn bộ nềnkinh tế
Phần II:Công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong bối cảnh 4.0 ở Việt Nam
2.1 Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp lần thứ tư
2.1.1 Một số vấn đề lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trang 12-Kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể
- Qui mô và tốc độ phát triển - Chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại
Tốc độ phát triển của những đột phá trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư này làkhông có tiền lệ trong lịch sử Nếu như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây diễn ra
với tốc độ theo cấp số cộng (hay tuyến tính) thì tốc độ phát triển của cách mạng công
Trang 13nghiệp lần thứ tư này là theo cấp số nhân Thời gian từ khi các ý tưởng về công nghệ và
đổi mới sáng tạo được phôi thai, hiện thực hóa các ý tưởng đó trong các phòng thí nghiệmvàthương mại hóa ở qui mô lớn các sản phẩm và qui trình mới được tạo ra trên phạm vitoàn cầu được rút ngắn đáng kể.Những đột phá công nghệ diễn ra trong nhiều lĩnh vựcnhư kể trên với tốc độ rất nhanh và tương tác thúc đẩy nhau đang tạo ra một thế giới được
số hóa, tự động hóa và ngày càng trở nên hiệu quả và thông minh hơn
-Tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp – toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia Các tác động này mang tính rất tích cực trong dài hạn, song cũng tạo ra nhiều thách thức điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn.
Về mặt kinh tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động đến tiêu dùng, sản xuất và giá cả. Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi người dân đều được hưởng
lợi nhờ tiếp cận được với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chi phí thấphơn
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động tích cực đến lạm phát toàn cầu Nhờ những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng (cả sản xuất cũng
như sử dụng), vật liệu, Internet vạn vật, người máy, ứng dụng công nghệ in 3D (hay cònđược gọi là công nghệ chế tạo đắp dần, có ưu việt là giúp tiết kiệm nguyên vật liệu và chi
phí lưu kho hơn nhiều so với công nghệ chế tạo cắt gọt truyền thống v.v… đã giúp giảm mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi sang một thế giới hiệu
quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn
Từ góc độ sản xuất, trong dài hạn, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ tác
động hết sức tích cực. Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa
vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay cho tăngtrưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn
Tuy nhiên cuộc cách mạng công nghệ này đang tạo ra những thách thức liên quan
đến những chi phí điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn do tác động không đồng đều
đến các ngành khác nhau: có những ngành sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và có những ngành sẽ
phải thu hẹp đáng kể. Trong từng ngành, kể cả các ngành tăng trưởng, tác động cũng có
sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, với sự xuất hiện và tăng trưởng nhanh của nhiều
doanh nghiệp tạo ra những công nghệ mới và sự thu hẹp, kể cả đào thải của các doanh nghiệp lạc nhịp về công nghệ.
Chính vì vậy mà Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang vẽ lại bản đồ kinh
tế trên thế giới, với sự suy giảm quyền lực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác tài
nguyên và sự gia tăng sức mạnh của các quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ và đổi mớisáng tạo:
Trang 14* Nhiều quốc gia phát triển song chủ yếu dựa vào tài nguyên như Úc, Canada, Na
Uy v.v… đang phải trải qua một quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhiều thách thức A rập
Xê út gần đây đã chính thức tuyên bố về kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi
mô hình tăng trưởng để giảm mạnh sự phụ thuộc vào dầu mỏ Trừ Ấn Độ, các nước cònlại trong nhóm BRICS đang gặp nhiều thách thức do có nền kinh tế dựa nhiều vào tàinguyên khoáng sản
* Nước Mỹ - đầu tàu thế giới về công nghệ và dẫn dắt cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư đang khôi phục vị thế hàng đầu của mình trên bản đồ kinh tế thếgiới.Các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) cũng tham gia mạnh mẽ vàoquá trình này, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo Trung Quốc cũng là nước cóthể sẽ được hưởng lợi nhiều do sau nhiều năm xây dựng và củng cố khả năng áp dụng vàhấp thụ công nghệ thông qua tăng trưởng xuất khẩu (kể cả bắt chước và sao chép) đã bắtđầu bước vào giai đoạn tạo ra công nghệ với sự xuất hiện mạnh mẽ của một số tập đoànphát triển công nghệ hàng đầu thế giới Điều này giúp Trung Quốc giảm nhẹ được tácđộng của quá trình điều chỉnh đang diễn ra sau giai đoạn tăng trưởng nóng của thập niêntrước
* Tại châu Âu, một số nước như Đức, Na Uy có thể tham gia và tận dụng đượcnhiều cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế châu Âukhác tỏ ra hụt hơi trong cuộc đua này cho dù có hệ thống nguồn nhân lực tốt, được lý giảimột phần là do tinh thần và môi trường khởi nghiệp để thúc đẩy phát triển công nghệ mớikhông bằng so với Mỹ và các nước Đông Bắc Á
Bản đồ sức mạnh của các doanh nghiệp cũng đang được vẽ lại: các tập đoàn lớn
vang bóng một thời và thống lĩnh thị trường trong một giai đoạn dài đang bị các doanhnghiệp trẻ khởi nghiệp trong giai đoạn gần đây trong lĩnh vực công nghệ vượt mặt.Một số
ví dụ điển hình là:
(i) Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các công ty như Google, Facebook v.v…đang tăng trưởng nhanh, trong khi các công ty tiếng tăm khác như IBM, Microsoft, Cisco,Intel, hay một loạt các tập đoàn điện tử lớn của Nhật Bản đang phải trải qua một quá trìnhtái cơ cấu đầy khó khăn Sự sụp đổ của các “ông lớn” như Nokia, hay trước đó là Kodakcho thấy nguy cơ “sai một ly đi một dặm” mà các công ty phải đối mặt trong cuộc cạnhtranh đã khốc liệt lại càng khốc liệt hơn trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệplần thứ tư đang diễn ra với tốc độ của “lũ
(ii) Trong lĩnh vực chế tạo, các công ty ô tô truyền thốngđang chịu sức ép cạnh tranhquyết liệt từ các công ty mới nổi lên nhờ cách tiếp cận mới như Tesla đang đẩy mạnh sảnxuất ô tô điện và tự lái, cũng như Google và Uber
(iii) Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quá trình tái cơ cấu đang diễn ra trên diệnrộng ảnh hưởng đến việc làm của hàng triệu nhân viên trong 10 năm tới do ứng dụngngân hàng trực tuyến di động, và sự cạnh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp khởi nghiệp
từ Silicon Valley cung cấp các dịch vụ tài chính rẻ hơn nhiều cho khách hàng nhờ ứngdụng điện toán đám mây Ngành bảo hiểm cũng đang chịu sức ép tái cơ cấu dưới tác động
Trang 15của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, và tương lai sụt giảm nhu cầu bảo hiểm xe cộ khi xe tựlái trở nên phổ biến trên thị trường
(iv) Cuộc cạnh tranh toàn cầu lại càng thêm khốc liệt với sự nhập cuộc của nhiều công
ty đa quốc gia siêu nhỏ, đang trở thành một xu hướng rõ nét nhờ hạ tầng thông tin Internetcho hiện thực và thương mại hóa một ý tưởng mới trên toàn cầu một cách nhanh chóng dochi phí giao dịch giảm mạnh, giúp giảm đáng kể chi phí và qui mô nhập cuộc
Tác động đến môi trường là tích cực trong ngắn hạn và hết sức tích cực trong
trung và dài hạn nhờ các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu và thân thiệnvới môi trường Các công nghệ giám sát môi trường cũng đang phát triển nhanh, đồngthời còn được hỗ trợ bởi Internet kết nối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục24/7 theo thời gian thực, ví dụ thông qua các phương tiện như máy bay không người láiđược kết nối bởi Internet được trang bị các camera và các bộ phận cảm ứng có khả năngthu thập các thông tin số liệu cần thiết cho việc giám sát
Tác động đến xã hội thông qua kênh việc làm trong trung hạn là điều đáng quan
ngại nhất hiện nay Trong những thập niên gần đây, bất bình đẳng về thu nhập đã có xuhướng tăng nhanh, nổi bật là 1% số người giàu nhất nắm tài sản tương đương với 99% sốngười còn lại Nhưng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư lại càng làm khuyếch đạithêm xu hướng này do lợi suất của ý tưởng tăng mạnh: nhờ có ý tưởng liên quan đến côngnghệ và đổi mới sáng tạo nên đã xuất hiện nhiều tỷ phú đô la chỉ ở độ tuổi trên 20 dưới
30, điều rất khác biệt so với giai đoạn trước đây Lợi suất của kỹ năng, đặc biệt là các kỹnăng thúc đẩy hay bổ trợ cho quá trình số hóa, tự động hóa (bằng người máy hay bằngphần mềm – tức là trí tuệ nhân tạo có khả năng tự học) cũng tăng mạnh.Trong khi đó, các
kỹ năng truyền thống đã từng có vai trò quan trọng trong giai đoạn trước, song đang bịngười máythay thế nên có lợi suất giảm mạnh Nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất làlao động giản đơn, ít kỹ năng do rất dễ bị thay thế bởi người máyvà do vậy có giá đanggiảm nhanh Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng bất bìnhđẳng trên toàn cầu, làm doãng chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa một bên là lao động
ít kỹ năng hay có kỹ năng dễ bị người máy thay thế chiếm tuyệt đại bộ phận người laođộng, và bên kia là những người có ý tưởng hay kỹ năng bổ trợ cho quá trình tự động hóa
và số hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh
Như vậy, ở những nước tư bản phát triển nhất đang diễn ra một mâu thuẫn mangtính nền tảng của kinh tế thị trường: dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ tư, cung gia tăng mạnh mẽ trong khi cầu không theo kịp do nhiều người lao động bịthay thế bởi quá trình tự động hóa nên không có thu nhập Phổ thu nhập ở nhiều nướcphát triển mang tính lưỡng cực với sự phân hóa rất rõ nét, tạo nên một khoảng trống lớn ởgiữa Đây cũng là mâu thuẫn đã được Các Mác chỉ ra giữa sự phát triển lực lượng sảnxuất ở mức cao và phương thức phân phối của chủ nghĩa tư bản Điều này dẫn đến việcmột số nhà kinh tế nổi tiếng của thế giới như Dani Rodrik kêu gọi chủ nghĩa tư bản phảithực hiện thay đổi căn bản lần thứ hai, với việc đưa vào mô hình “Nhà nước sáng tạo”,sau lần thay đổi thứ nhất với sự ra đời của Nhà nước phúc lợi dưới tác động của cuộc đấutranh của giai cấp công nhân Một số chuyên gia khác đề nghị người máy thông qua chủphải đóng thuế thu nhập và đóng bảo hiểm xã hội để dùng tiền đó đào tạo lại và hỗ trợ chonhững công nhân bị thay thế
Trang 16Những ý tưởng về sàn an sinh xã hội – mọi người đề được cấp một khoản tiềnnhất định không phụ thuộc vào việc có đi làm hay không, những manh nha của phươngthức phân phối cộng sản chủ nghĩa “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” - đang đượcxem xét ở một số nước tư bản phát triển Ví dụ, gần đây một số quốc gia như Phần Lan,
Hà Lan, Thuỵ Sỹ và gần đây nhất là Canada đã quyết định thử nghiệm việc “cho tiền”người dân hàng tháng bất kể họ có thất nghiệp hay không
Những kế hoạch này có cơ sở hợp lý nếu xét về mức độ phát triển của lực lượngsản xuất hiện nay ở một số nước có trình độ phát triển cao, đồng thời cũng phần nào giúpgiải quyết những mâu thuẫn cố hữu của hệ thống phân phối của nền kinh tế thị trường cókhả năng phá hủy cân đối cung cầu khi cách mạng công nghệ có khả năng tạo ra nhiềucủa cải vật chất nhờ tự động hóa thay thế nhiều lao động ít kỹ năng
2.1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến với công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
Trong tương tác với quá trình toàn cầu hóa, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
sẽ có tác động mạnh đến Việt Nam, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức, đặc biệt trong trungđến dài hạn
Tương tự như với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
có tác động tích cực đến tiêu dùng, giá cả và môi trường ở Việt Nam Tuy nhiên, khác cácnước tư bản phát triển, đặc biệt là các nước ở trình độ công nghệ cao, quá trình điều chỉnh
Trang 17ở Việt Nam sẽ gặp phải nhiều thách thức hơn do phát sinh ra những vấn đề mới liên quanđến tái cơ cấu trong lĩnh vực sản xuất Tác động này có sự khác biệt giữa các ngành theophân loại truyền thống Để phân tích các kênh tác động đến Việt Nam có thể sử dụng mộtKhung phân tích đơn giản như được trình bày trong Hình 2.
Nhóm ngành năng lượng
Nhóm ngành này cung cấp các đầu vào chiến lược cho nền kinh tế Tuy nhiên tácđộng có sự khác biệt giữa dầu khí và điện năng, do có một sự khác biệt căn bản giữa haiphân ngành này: dầu khí có thể xuất nhập khẩu được và do vậy chịu sự chi phối của giáthế giới, trong khi đó điện năng cơ bản là không
* Ngành dầu khí của Việt Nam hiện nay đang chịu áp lực rất lớn, trước tiên là do
sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc Việc đầu tầu của kinh tế thế giới “ngốn nhiềunăng lượng và nguyên vật liệu” này chạy chậm lại ảnh hưởng mạnh đến các ngành dầu
khí và khai thác tài nguyên. Một nguyên nhân khác mang tính căn bản và có tác động dài
hạn hơn là do có những đột phá trong lĩnh vực năng lượng (khai thác dầu đá phiến, sản
xuất năng lượng tái tạo, ắc qui trữ điện) và vận tải (ô tô điện với chi phí sản xuất và giágiảm nhanh, kinh tế chia sẻ như Uber hay Grab taxi), nhu cầu đối với dầu thô khó có thểtăng mạnh Ngay tại Trung Quốc, như đã nêu trên, nền kinh tế đang chuyển sang “thâmdụng công nghệ” hơn Điều đó có thấy những thách thức mà Tập đoàn dầu khí quốc giaViệt Nam phải đối mặt là mang tính dài hạn, đòi hỏi phải có một quá trình tái cơ cấumạnh mẽ, điều mà một quốc gia dầu mỏ như Ả rập Xê-Út đã bắt đầu phải thực hiện Đồngthời, cần điều chỉnh một cách căn bản và dài hạn các thông số liên quan đến dầu thô trongviệc xây dựng các kế hoạch thu chi ngân sách để có các giải pháp phù hợp
* Ngành điện có thể được hưởng lợi khá nhiều nhờ những đột phá trong công nghệ
năng lượng tái tạo,trước hết là công nghệ ứng dụng năng lượng mặt trời cũng đã tiến bộrất nhiều ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Đức v.v… với tiềm năng phổ biến nhanh trêntoàn cầu nhờ giá sản xuất giảm đáng kể Sức ép tái cơ cấu của ngành điện Việt Nam lại là:làm thế nào để nắm bắt cơ hội tốt nhất để giảm giá đầu vào chiến lược của nền kinh tế,đồng thời giảm thiểu mạnh tác động đến môi trường
Nhóm ngành công nghiệp chế tạo
Đây là nhóm ngành mà Việt Nam sẽ phải chịu tác động mạnh nhất vì ba lý do: Thứnhất, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến nhóm ngành này rất mạnh.Thứ hai, cơ chế lan truyền tác động của công nghệ trong kinh tế toàn cầu rất nhanh thôngqua kênh xuất nhập khẩu do bản chất thương mại quốc tế cao của nhóm ngành này
(tradable sector) Thứ ba, những đột phá về công nghệ, đặc biệt là những tiến bộ vượt bậc
trong tự động hóa và công nghệ in 3D đang làm đảo ngược dòng thương mại theo hướng bất lợi cho các nước như Việt Nam do làm giảm mạnh lợi thế lao động giá rẻ tại đây. Cụ
thể, những tiến bộ vượt bậc trong quá trình tự động hóa và số hóa đã và đang giúp giảmmạnh chi phí chế tạo và vận hành người máy, và do vậy làm tăng khả năng công nghiệpchế tạo quay trở lại các nước phát triển để gần hơn với thị trường tiêu thụ lớn và các trungtâm R&D ở các nước này