Kết quả của nghiên cứu bổ sung lý thuyết mô hình ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, đồng thời là một tài liệu tham khảo hữu ích ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN MỨC
ĐỘ TRÁNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN MỨC
ĐỘ TRÁNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán Hướng đào tạo: hướng nghiên cứu
Mã ngành: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG
TP Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến mức độ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả công bố trong luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Quyên
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới của nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 7 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài 7
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài 7
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của một số nhân tố khác đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài 10
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam 14
1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam 14
1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam 15
1.3 Khe hổng nghiên cứu 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 23
2.1 Một số nội dung cơ bản về QTLN 23
2.1.1 Một số thuật ngữ và các khái niệm 23
2.1.2 Phân loại và cách thức QTLN 24
Trang 52.1.3 Các phương pháp đo lường quản trị lợi nhuận 27
2.2 Một số nội dung cơ bản về tránh thuế 32
2.2.1 Một số thuật ngữ và các khái niệm 32
2.2.2 Một số khái niệm khác liên quan đến tránh thuế 33
2.2.3 Các phương pháp đo lường mức độ tránh thuế TNDN 35
2.3 Lý thuyết nền tảng 42
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 42
2.3.2 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) 44
2.4 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 45
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 45
2.4.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
3.1 Phương pháp nghiên cứu 51
3.2 Quy trình nghiên cứu 52
3.3 Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình 54
3.3.1 Mô hình hồi quy 54
3.3.2 Đo lường biến trong mô hình 54
3.4 Thiết kế nghiên cứu 60
3.4.1 Mẫu nghiên cứu 60
3.4.2 Thu thập dữ liệu 61
3.4.3 Quy trình phân tích dữ liệu 62
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 68
4.1 Thống kê mô tả 68
4.1.1 Thống kê mô tả thuế suất hiệu dụng 68
4.1.2 Thống kê mô tả mức độ QTLN 71
4.1.3 Thống kê mô tả các biến kiểm soát 74
4.2 Phân tích tương quan 76
4.3 Phân tích hồi quy 77
4.3.1 Lựa chọn mô hình phù hợp 77
4.3.2 Kiểm định khuyết tật mô hình do vi phạm các giả định 82 4.3.3 Kết quả hệ số Beta và mức ý nghĩa thống kê của mô hình nghiên cứu 84
Trang 64.4 Tổng hợp kết quả phân tích và bàn luận kết quả 85
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Kiến nghị 91
5.2.1 Đối với các công ty niêm yết 91
5.2.2 Đối với các đối tượng khác 92
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 92
5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 93
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
BTD Chênh lệch giữa kế toán và thuế
OLS Ước lượng bình phương bé nhất
QTLN Quản trị lợi nhuận
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TTCK Thị trường chứng khoán
VAS Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố
đến mức độ tránh thuế TNDN từ các nghiên cứu trước 19
Bảng 3.1 Danh sách biến kiểm soát và phương pháp đo lường 58
Bảng 4.1 Thống kê mô tả thuế suất hiệu dụng của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018 theo ngành 69
Bảng 4.2 Thống kê mô tả thuế suất hiệu dụng của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 - 2018 70
Bảng 4.3 Thống kê mô tả mức độ QTLN theo ngành nghề kinh doanh của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 - 2018 72
Bảng 4.4 Thực trạng QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 73
Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến CINT, INVINT, SIZE, ROA và LEV 75
Bảng 4.6 Thống kê mô tả biến NOL 76
Bảng 4.7 Thống kê mô tả biến BIG4 76
Bảng 4.8 Ma trận tương quan mô hình nghiên cứu 77
Bảng 4.9 Kết quả ước lượng Pooled OLS 78
Bảng 4.10 Kết quả so sánh giữa mô hình FEM với mô hình Pooled OLS 79
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy mô hình REM 80
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian Multiplier 80
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Hausman 81
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy 82
Bảng 4.15 Giá trị VIF của mô hình 82
Bảng 4.16 Bảng kết quả hồi quy mô hình FGLS 85
Bảng 4.17 Tổng hợp kết quả phân tích 85
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 47
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 54
Biểu đồ 4.1 Giá trị trung bình của ETR theo ngành 69
Biểu đồ 4.2 Giá trị trung bình của ETR qua các năm 71
Biểu đồ 4.3 Giá trị trung bình của QTLN theo ngành 73
Biểu đồ 4.4 Giá trị trung bình của QTLN qua các năm 74
Biểu đồ 4.5 Biểu đồ phần dư có phân phối chuẩn 83
Hình 4.1 Kết quả kiểm định Ward về giả định phương sai của sai số không đổi 83
Hình 4.2 Kết quả kiểm định Wooldridge về giả định tự tương quan 84
Trang 10Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến mức độ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
TÓM TẮT
Thuế TNDN là một trong những chi phí kinh doanh quan trọng nhất của công
ty, có tác động trực tiếp đến lợi nhuận và giá trị cổ đông Do đó, bên cạnh mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường, các NQL cũng xem xét đến việc can thiệp vào lợi nhuận
để tiết kiệm chi phí thuế TNDN nhằm gia tăng tỉ lệ hoàn vốn sau thuế, tạo nên dấu hiệu tích cực để thu hút đầu tư Nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tránh thuế TNDN phần lớn là nghiên cứu chung về các nhân tố ảnh hưởng, ảnh hưởng của yếu tố sở hữu đến tránh thuế Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu riêng nào về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định và phân tích ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018 Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong
đó phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu chính Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng với các công ty có QTLN càng nhiều, mức độ tránh thuế TNDN càng cao Bên cạnh đó, các công ty có mức độ sử dụng vốn nhiều, quy mô công ty lớn, lợi nhuận nhiều và nhận được khoản chuyển lỗ hoạt động sẽ có mức độ tránh thuế TNDN càng cao; ngược lại, công ty có mức độ tồn kho càng nhiều, mức độ tránh thuế càng thấp Mặt khác, đòn bẩy và loại công ty kiểm toán là các nhân tố không tác động Kết quả của nghiên cứu bổ sung lý thuyết mô hình ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, đồng thời là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng có liên quan như nhà quản lý, nhà đầu
tư, chủ nợ, các nhà ban hành chính sách
Từ khóa: Quản trị lợi nhuận, tránh thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 11Effects of earning management to corporate income tax avoidance of listed companies on Vietnam stock market
ABSTRACT
Corporate income tax is one of the most important expenses of the company which has a direct impact on profits and shareholder value Therefore, in addition to the goal of maximizing the market value, managers also consider intervening in profits to save corporate income tax expenses to increase the rate of return after tax and create a positive signal to attract investment Research on the effects of earnings management on the corporate income tax avoidance has received much attention from researchers around the world In Vietnam, the researches on corporate income tax avoidance are mostly general studies on the influencing factors, the influence of the ownership factor to the corporate income tax avoidance However, there is no specific study on the effect of earnings management on the corporate income tax avoidance The main objective of the research is to identify and analyze the effect of earnings management on the level of corporate income tax avoidance of companies listed on Vietnam stock market from 2016 to 2018 This research has employed a mixed method research in which the quantitative research method is the main one The results of the study indicate that the higher level of earnings management the company engages, the higher the level of corporate income tax avoidance is Besides, companies with a high capital intensity, large firm size, high profitability and receiving net operating loss carry forward will have a higher level of corporate income tax avoidance; conversely, the higher inventory intensity of the company is, the lower the level of corporate income tax avoidance is On the other hand, leverage and type of external auditors are non-impacting factors Results of the study to supplement the model theory of the effect of earnings management on corporate income tax avoidance of companies listed on Vietnam stock market It is also a useful reference for related subjects such as managers, investors, creditors, policy makers
Keywords: earnings management, tax avoidance, corporate income tax
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
BCTC là một kênh cung cấp thông tin về tình hình hoạt động, tài chính của DN cho các đối tượng bên trong và bên ngoài Mỗi đối tượng sử dụng sẽ quan tâm đến các chỉ tiêu khác nhau trên BCTC Trong đó, thuế TNDN là một trong những chỉ tiêu quan trọng, thể hiện nghĩa vụ của DN đối với Nhà nước và là một khoản chi phí của
DN Thuế là một trong những chi phí kinh doanh quan trọng nhất mà các công ty phải gánh chịu, có tác động trực tiếp đến lợi nhuận và giá trị cổ đông (Landry và cộng sự, 2013) Đối với cổ đông, thuế TNDN lại là một khoản chi phí đáng kể (Khan và cộng
sự, 2016), vì thế, các cổ đông không muốn nộp thuế quá nhiều để tận dụng dòng tiền cho các hoạt động tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh hay đơn giản là dùng để chi trả các khoản nợ Lý thuyết truyền thống coi việc tránh thuế là một hoạt động tối
đa hóa giá trị nhằm chuyển sự giàu có của nhà nước sang các cổ đông của công ty (Kim và cộng sự, 2011) Bên cạnh đó, tránh thuế làm giảm giá trị hiện tại của các khoản thanh toán thuế và thường làm tăng tỷ lệ hoàn vốn sau thuế cho các nhà đầu tư trong công ty (Rego, 2003) Do đó, việc lập một kế hoạch thuế hiệu quả để tiết kiệm thuế thông qua các hoạt động tránh thuế được các NQL cân nhắc Tất nhiên, các hoạt động tránh thuế phải tuân thủ các quy định hiện hành
TTCK là một kênh huy động vốn lớn, mở ra rất nhiều cơ hội cho các DN gia tăng nguồn lực để phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh Số liệu BCTC càng
“đẹp”, các công ty càng có nhiều cơ hội thu hút đầu tư để thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường Chỉ tiêu lợi nhuận và các chỉ số tài chính khác có liên quan là những chỉ tiêu quan trọng để các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động của DN QTLN xuất hiện do NQL tham gia vào các hoạt động nhằm điều chỉnh lợi nhuận sao cho đạt được mục tiêu của NQL và các cổ đông Thuế TNDN là một khoản chi phí đáng kể của DN, do đó, bên cạnh mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường, các NQL cũng xem xét đến sự can thiệp vào lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế TNDN Thêm vào
đó, tính linh hoạt của kế toán cũng cho phép những người quản lý DN có thể tham
Trang 13gia vào hoạt động QTLN từ đó can thiệp vào chi phí thuế thu nhập của DN mà không
vi phạm các quy định, nhằm tạo ra sự giàu có cho cổ đông Có thể thấy rằng lợi ích của việc tránh thuế chính là tiết kiệm thuế thông qua việc giảm chi phí thuế phải nộp
và làm tăng lợi nhuận sau thuế – đây cũng là một trong những mục đích của hoạt động QTLN
Một số trường hợp nổi bật về hành vi tránh thuế xảy ra tại các DN lớn hàng đầu thế giới, kể đến như Google, Apple, Amazon Năm 2008, Google đạt doanh thu quảng cáo ở Anh là 1,6 tỷ bảng Anh (tương đương với 2,57 tỷ đô la Mỹ), với doanh thu như vậy, Google sẽ phải đóng một khoản thuế TNDN là 450 triệu bảng Anh (tương đương với 724 triệu đô la Mỹ), tuy nhiên thực tế là Google đã không phải đóng khoản thuế TNDN này Sự việc của Google xét trên phương diện pháp luật tại thời điểm đó là hoàn toàn hợp pháp Tương tự Google, theo nghiên cứu của Công ty tư vấn tài chính Standard & Poor’s, trong giai đoạn từ năm 2007 – 2015, Apple chỉ đóng thuế bằng 15% lợi nhuận, Facebook chỉ 3% lợi nhuận, thấp hơn nhiều so với thuế suất thực tế phải trả tại Hoa Kỳ của 500 công ty có giá trị cao nhất là 27% Năm 2017, Amazon
có lợi nhuận tại Mỹ là hơn 5,6 tỷ đô la Mỹ, tuy nhiên công ty này đã không phải trả
“một đồng thuế liên bang nào”
Trên thế giới, đã có khá nhiều những nghiên cứu đề cập đến vấn đề liên quan
về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN như các nghiên cứu của Frank
và cộng sự (2009), Wilson (2009), Kim và cộng sự (2011), Wang và Chen (2012), Richardson và cộng sự (2016), Tại Việt Nam, theo sự tiếp cận của tác giả đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN còn là một đề tài tương đối mới Các nghiên cứu trong nước chủ yếu nghiên cứu mối tác động giữa thuế suất và QTLN hoặc chưa đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa QTLN và mức độ tránh thuế, điển hình như các nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015), Hoàng Tuấn Nam (2017) Từ những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến mức độ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để kiểm chứng ảnh hưởng
Trang 14của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại TTCK Việt Nam
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận văn đặt ra, nội dung của luận văn cần phải trả lời được hai câu hỏi như sau:
Câu hỏi thứ nhất, QTLN có ảnh hưởng đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hay không?
Câu hỏi thứ hai, ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố khác (gồm quy mô công
ty, đòn bẩy, mức độ sử dụng vốn, mức độ tồn kho, lợi nhuận, chuyển lỗ hoạt động và
Trang 15loại công ty kiểm toán với vai trò là biến kiểm soát) đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam tại hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi là các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, bao gồm các công ty được niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE, ngoại trừ các công ty thuộc ngành nghề tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
Phạm vi về dữ liệu: dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ 2016 –
2018, các dữ liệu này được thu thập trên BCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE; ngoại trừ BCTC hợp nhất của tập đoàn, công ty mẹ Phạm vi về thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu chính cho luận văn Phương pháp định tính được tác giả sử dụng thông qua việc thảo luận với các chuyên gia về việc đưa hai nhân tố mới làm biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu chính thức và kiểm định tại Việt Nam Phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu chính được thực hiện bằng cách sử dụng các lý thuyết nền tảng có liên quan và tổng hợp các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước, tác giả tiến hành kiểm định lại các giả thuyết đặt ra Dữ liệu được thu thập là dữ liệu thứ cấp từ BCTC đã kiểm toán giai đoạn 2016 – 2018 của các công ty phi tài chính được niêm yết trên TTCK Việt Nam
5 Đóng góp mới của nghiên cứu
Trước thực trạng hành vi tránh thuế TNDN tại các công ty niêm yết trên TTCK
Trang 16Việt Nam, luận văn này có tính cấp thiết cao Kết quả nghiên cứu của luận văn có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:
5.1 Về mặt lý luận
Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận văn hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cũng như kiểm định lại ảnh hưởng của một số nhân tố khác đến mức độ tránh thuế TNDN đã được kiểm định trong các nghiên cứu trước Bên cạnh đó, một trong hai biến kiểm soát mới được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu
để kiểm định tại TTCK Việt Nam là biến chuyển lỗ hoạt động cho kết quả có tác động đến mức độ tránh thuế TNDN Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan
5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu được phân tích từ dữ liệu thứ cấp được thu thập trực tiếp từ BCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam đã được công bố
Do đó, dữ liệu có độ tin cậy để phản ánh thực trạng về tránh thuế TNDN của các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn từ năm 2016 – 2018 Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy nhân tố QTLN và một số nhân tố khác có tác động đến mức độ tránh thuế TNDN Vì vậy, nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng có liên quan như các nhà quản trị công ty, nhà đầu tư, chủ nợ, các nhà ban hành chính sách
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết cấu của luận văn bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Phần mở đầu – bao gồm đặt vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của nghiên cứu và kết cấu của luận văn
Chương 1 – Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan: tổng quan các
Trang 17công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân
tố đến mức độ tránh thuế TNDN, từ đó nêu lên khe hổng nghiên cứu cho luận văn
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày các khái niệm,
các phương pháp đo lường mức độ tránh thuế TNDN và QTLN, cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan đến đề tài nghiên cứu, kết hợp với các nghiên cứu trước đã được tổng quan ở Chương 1, đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu phương pháp nghiên cứu,
quy trình nghiên cứu, các bước tiến hành nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và bàn luận: trình bày kết quả nghiên cứu từ
mô hình hồi quy và bàn luận kết quả
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: đề xuất một số kiến nghị mà tác giả cho là
cần thiết để hạn chế tác động tích cực của hành vi QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ
LIÊN QUAN
Nội dung của chương 1 tập trung trình bày tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan và liên quan gần đến đề tài nghiên cứu của tác giả ở Việt Nam và trên thế giới, từ đó tìm ra khe hổng nghiên cứu Nội dung chương 1 gồm các nội dung chính sau:
Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài
Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam
Khe hổng nghiên cứu
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân
tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài
Phân tích sự ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN là một đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới, bởi lẽ liên quan đến thuế TNDN là một khoản chi phí, các NQL sẽ có những can thiệp làm điều chỉnh lợi nhuận với mục đích giảm chi phí thuế TNDN Hầu hết kết quả của các nghiên cứu trước đều ủng hộ quan điểm là các công ty có sự can thiệp vào lợi nhuận để làm giảm thuế suất thuế TNDN thực tế hoặc các công ty thực hiện hành vi QTLN để chuyển dịch lợi nhuận khi có sự thay đổi thuế suất từ cao xuống thấp nhằm thu được những lợi ích từ khoản tiết kiệm thuế
Các nghiên cứu của Guenther (1994) và Roubi và Richardson (1998) được xem
là một trong những nghiên cứu ban đầu có liên quan gần đến nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN Guenther (1994) và Roubi và Richardson (1998) tuy không nghiên cứu trực tiếp ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế
Trang 19TNDN, nhưng hàm ý của các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các NQL đã có những hành vi QTLN nhằm chuyển dịch lợi nhuận từ những năm có thuế suất cao sang những năm có thuế suất thấp để thu được những lợi ích của khoản tiết kiệm thuế, tức hành vi QTLN đã được các NQL sử dụng nhằm thực hiện mục đích tránh thuế TNDN Guenther (1994) nghiên cứu về QTLN để đối phó với thay đổi thuế suất thuế TNDN khi Đạo luật cải cách thuế năm 1986 có hiệu lực giảm thuế suất thuế TNDN từ 46% xuống còn 34% QTLN được đánh giá thông qua các khoản dồn tích hiện tại (current accruals) dựa trên mô hình Jones (1991) Kết quả nghiên cứu cho thấy các khoản dồn tích hiện tại thấp hơn đáng kể tại các công ty có quy mô lớn trong năm trước khi giảm thuế suất Nghiên cứu cũng ủng hộ giả thuyết dự đoán thu nhập dồn tích giảm (thu nhập âm) trong những năm trước khi giảm thuế suất Roubi và Richardson (1998) mở rộng các trường hợp ở các quốc gia khác nhau bao gồm Canada, Malaysia và Singapore nghiên cứu về quản trị các khoản dồn tích có thể điều chỉnh nhằm giảm thuế suất thuế TNDN Kết quả nghiên cứu hỗ trợ dự đoán rằng việc QTLN của các công ty sẽ hướng đến xu hướng tăng chi phí trong năm trước khi có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN và ghi nhận doanh thu hoãn lại trong những năm sau khi thay đổi thuế suất thuế TNDN để hưởng lợi từ sự thay đổi thuế suất Nghiên cứu này cũng chứng tỏ rằng các công ty có sự can thiệp vào lợi nhuận để tiết kiệm số tiền thuế phải nộp nhờ vào sự điều chỉnh thuế suất của chính phủ
Nghiên cứu của Desai (2005) đã bổ sung bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu trên ba trường hợp cụ thể là Enron, Tyco và Xerox về hành vi QTLN liên quan đến hành vi tránh thuế TNDN để từ đó làm rõ cách thức điều chỉnh lợi nhuận kế toán thúc đẩy hành vi tránh thuế TNDN Từ đó tác giả cho rằng về bản chất, vấn đề không đáng tin cậy của lợi nhuận kế toán là vấn đề kép của vấn đề tránh thuế TNDN tăng Các ví
dụ từ ba trường hợp cụ thể từ Enron, Tyco và Xerox cho thấy các công ty này đã can thiệp vào lợi nhuận để nhằm mục đích giảm và tối thiểu hóa thuế TNDN phải nộp Kết quả nghiên cứu của Desai (2005) đã làm tăng thêm sự ủng hộ cho giả thuyết rằng QTLN có ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế TNDN
Trang 20So với các nghiên cứu được tổng quan ở trên, các nghiên cứu của Frank (2009), Wilson (2009), Kim và cộng sự (2011), Wang và Chen (2012), Richardson và cộng
sự (2016) đã xem xét mối quan hệ của QTLN và mức độ tránh thuế TNDN một cách
cụ thể và trực tiếp hơn Kết quả của các nghiên cứu này đều cho thấy hành vi QTLN
có tác động tích cực đến hành vi tránh thuế của DN, tức là các công ty có mức độ QTLN càng cao, mức độ tránh thuế TNDN càng nhiều Cụ thể, Frank (2009) đo lường QTLN thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh theo cách đo lường của Kothari
và cộng sự (2005) – DFIN, mức độ tránh thuế đo lường thông qua BTD và DTAX Kết quả nghiên cứu hồi quy cho thấy có một mối quan hệ tích cực giữa DFIN với BTD và DTAX Chứng tỏ các công ty có tham gia vào QTLN càng nhiều, mức độ tránh thuế của các công ty đó càng cao Wilson (2009) và Kim và cộng sự (2011) đo lường mức độ tránh thuế TNDN thông qua các khoản che giấu thuế Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng hành vi che giấu thuế có liên quan đến việc tạo ra sự giàu có cho các
cổ đông trong các công ty có quản trị DN mạnh mẽ Tác giả cũng cho rằng mặc dù việc che giấu thuế là nguồn gốc của việc tạo ra của cải, nhưng cũng có thể chính sự kết hợp giữa quản trị tốt và che giấu thuế hiệu quả là một dấu hiệu của sự kích thích liên kết mạnh mẽ giữa các NQL và cổ đông dẫn đến hiệu quả vượt trội Wang và Chen (2012) nghiên cứu về động lực để thực hiện hành vi tránh thuế trong QTLN Kết quả nghiên cứu cho thấy QTLN mà đại diện là biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh có tác động tích cực với hành vi tránh thuế TNDN Kết quả này ủng hộ giả thuyết ban đầu của tác giả là hành vi tránh thuế là một động lực của hành vi QTLN Bên cạnh đó, nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2016) cho rằng các công ty có chất lượng lợi nhuận càng cao sẽ có thuế suất hiệu dụng càng cao, chứng tỏ các công
ty này có mức độ tránh thuế TNDN thấp hơn Kết quả nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2016) hàm ý rằng đối với những công ty có chất lượng lợi nhuận càng cao tức là có ít hành vi tham gia vào QTLN, do đó có mức độ tránh thuế TNDN thấp Tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN hoặc với mục đích tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN, các kết quả này đều cho thấy các NQL sẵn sàng can thiệp vào lợi nhuận để thực hiện hành
Trang 21vi tránh thuế TNDN, giảm số thuế TNDN phải nộp Hay nói cách khác, những công
ty có mức độ tham gia vào QTLN càng nhiều, mức độ tham gia vào thực hiện hành
vi tránh thuế TNDN của các công ty đó càng cao
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của một số nhân tố khác đến mức độ tránh thuế TNDN ở nước ngoài
Bên cạnh nhân tố chính là QTLN, tác giả sẽ tổng quan ảnh hưởng của một số nhân tố khác đến mức độ tránh thuế TNDN trên thế giới Các nhân tố này đóng vai trò là biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu của tác giả
1.1.2.1 Mức độ sử dụng vốn (Capital intensity – CINT)
TSCĐ hữu hình trên bảng cân đối kế toán đại diện cho mức độ sử dụng vốn của công ty, khoản mục này có thể ảnh hưởng tới ETR, lý do là việc khấu hao nhanh hơn
so với số năm sử dụng hữu ích của tài sản sẽ làm tăng chi phí khấu hao trong kỳ - đây
là một trong những khoản khấu trừ thuế (Derashid và Zhang, 2003) Để kiểm soát sự khác biệt của chi phí khấu hao theo kế toán và khấu hao theo mục đích thuế tác giả
sử dụng biến CINT làm biến kiểm soát trong mô hình
Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước được chia làm hai xu hướng về sự tác động của mức độ sử dụng vốn mà đại diện là TSCĐ đến với mức độ tránh thuế TNDN Các nghiên cứu của Gupta và Newberry (1997), Derashid và Zhang (2003), Richardson và Lanis (2007), Richardson và cộng sự (2016) cho kết quả tác động tích cực, tức là các công ty đầu tư càng nhiều TSCĐ thì mức độ tránh thuế càng cao, biểu hiện qua ETR càng thấp Kết quả nghiên cứu này cho thấy, các công ty đã tận dụng lợi thế lá chắn thuế bằng khấu hao để làm giảm chi phí thuế TNDN trong kì báo cáo
Trái với kết quả của những nhà nghiên cứu trên, McGuire và cộng sự (2012), Richardson và cộng sự (2013), Landry và cộng sự (2013) chỉ ra rằng mức độ sử dụng vốn có tác động tiêu cực với mức độ tránh thuế TNDN
Trang 221.1.2.2 Mức độ tồn kho (Inventory intensity – INVINT)
Mức độ tồn kho là một trong những thành phần trong cơ cấu danh mục tài sản (asset mix) và cũng được các nhà nghiên cứu đưa vào mô hình với vai trò là biến kiểm soát (Lanis và Richardson, 2012; Richardson và cộng sự, 2013) Ngược lại với trường hợp các công ty có mức độ sử dụng vốn cao trong việc đầu tư nhiều TSCĐ, các công ty có nhiều hàng tồn kho sẽ ít có hành vi tránh thuế hơn, tức có ETR tương đối cao hơn Bằng chứng cho thấy các công ty trong lĩnh vực sản xuất được quan sát
có ETR thấp hơn các công ty thuộc các lĩnh vực bán buôn và bán lẻ (Gupta và Newberry, 1997)
Gupta và Newberry (1997), Richardson và Lanis (2007) cho thấy có mối tương quan tích cực giữa mức độ tồn kho và ETR, tức là mức độ tồn kho càng nhiều, mức
độ tránh thuế sẽ càng ít
Ngược lại với các tác giả trên, Richardson và cộng sự (2013) và Richardson và cộng sự (2016) cho rằng mức độ tồn kho có tác động tiêu cực với mức độ tránh thuế TNDN
Không giống với hai chiều hướng tác động ở trên, Derashid và Zhang (2003) không tìm thấy sự tác động của mức độ tồn kho đến mức độ tránh thuế
1.1.2.3 Quy mô công ty (Firm size – SIZE)
Quy mô công ty là một trong những biến thuộc về đặc điểm của công ty và được
sử dụng làm biến kiểm soát trong các nghiên cứu về tránh thuế TNDN, bởi lẽ cùng với đòn bẩy, tỷ suất sinh lợi và mức độ sử dụng vốn, quy mô công ty là một trong những biến có tác động đến gánh nặng về thuế của công ty (Annuar và cộng sự, 2014) Theo lý thuyết chi phí chính trị, các công ty lớn hơn phải chịu sự giám sát của chính phủ và chuyển giao sự giàu có thông qua các chiến lược hoạch định tài chính lớn hơn
so với các công ty nhỏ hơn, điều này sẽ chuyển thành gánh nặng thuế lớn hơn đối với các DN có quy mô lớn hơn (Rego, 2003)
Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ tránh thuế TNDN đã được rất nhiều nhà nghiên cứu xem xét và cũng cho ra nhiều kết quả khác nhau Nghiên cứu của
Trang 23Zimmerman (1983) là nghiên cứu điển hình về mối quan hệ giữa quy mô công ty và tránh thuế TNDN, kết quả cho thấy mối tương quan tiêu cực giữa quy mô và mức độ tránh thuế TNDN, tức là những công ty có quy mô càng lớn sẽ có mức độ tránh thuế TNDN càng thấp Tương tự với Zimmerman (1983), các nghiên cứu của Omer và cộng sự (1993), Rego (2003), Richardson và cộng sự (2013), Richardson và cộng sự (2016), Gaaya và cộng sự (2017) cho thấy các công ty lớn hơn sẽ có ETR cao hơn, tức là sẽ có mức độ tránh thuế TNDN thấp hơn
Ngược lại, kết quả nghiên cứu của Richardson và Lanis (2007), Dyreng và cộng
sự (2008) chỉ ra rằng các công ty có quy mô càng lớn thì mức độ tránh thuế TNDN càng cao
Mặt khác, nghiên cứu của Gupta và Newberry (1997) lại chỉ ra hai kết quả trái ngược nhau theo giai đoạn nghiên cứu khác nhau
1.1.2.4 Lợi nhuận (ROA)
Nhân tố lợi nhuận được biểu hiện thông qua tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)
là một trong những nhân tố có tác động đến ETR Derashid và Zhang (2003) cho rằng các công ty có ROA cao, là các công ty hoạt động có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh, do đó phải trả thuế hiệu dụng ít hơn một cách đáng kể, tức là các công ty có ROA càng cao thì mức độ tránh thuế TNDN càng cao
Ngược lại, Gupta và Newberry (1997), Richardson và Lanis (2007), Richardson
và cộng sự (2013) và Gaaya và cộng sự (2017) lại cho rằng ROA có mối quan hệ tích cực với ETR, tức là các công ty có ROA cao sẽ có mức độ tránh thuế TNDN thấp hơn Tỷ số ROA được đưa vào mô hình nghiên cứu của luận văn với vai trò biến kiểm soát nhằm “kiểm soát sự hoạt động và sự biến động trong hoạt động của DN” bởi vì các hoạt động của công ty cũng có thể ảnh hưởng đến ETR, ETR có thể bị thay đổi
do sự thay đổi của lợi nhuận kế toán (Richardson và Lanis, 2007)
Mặt khác, Wilson (2009) lại cho thấy không có mối tương quan nào giữa ROA
và mức độ tránh thuế TNDN
Trang 241.1.2.5 Đòn bẩy (Leverage – LEV)
Đòn bẩy là một trong những đặc điểm của công ty và được sử dụng trong hầu hết các mô hình nghiên cứu với vai trò là biến kiểm soát Tỷ lệ đòn bẩy thể hiện cấu trúc vốn của công ty, được đưa vào mô hình để nắm bắt phạm vi của lá chắn thuế của
nợ Một công ty có thể tận dụng tài trợ của nợ vay để bổ sung nguồn vốn hoạt động thay vì sử dụng nguồn tài trợ từ vốn chủ thông qua hình thức góp vốn của cổ đông nhằm giảm chi phí thuế thu nhập, bởi lẽ chi phí lãi vay là một khoản được trừ trong thu nhập chịu thuế TNDN còn tiền góp thêm vốn của cổ đông thì không Kết quả nghiên cứu của Gupta và Newberry (1997) chỉ ra rằng các công ty sử dụng lá chắn thuế lãi vay hay sử dụng đòn bẩy nợ cao hơn sẽ cho ra kết quả ETR thấp hơn, hay nói cách khác, LEV sẽ có tác động tiêu cực với ETR Tương tự với kết quả của Gupta và Newberry (1997), các nghiên cứu của Stickney và McGee (1982), Derashid và Zhang (2003), Richardson và Lanis (2007), Wilson (2009), McGuire và cộng sự (2012) cũng hàm ý rằng những công ty sử dụng đòn bẩy càng nhiều sẽ có mức độ tránh thuế TNDN càng cao
Ngược lại với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, trong nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2013), kết quả hồi quy đều cho thấy những công ty sử dụng đòn bẩy nhiều sẽ có mức độ tránh thuế thấp hơn
1.1.2.6 Loại công ty kiểm toán (BIG4)
Việc được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn thuộc Big 4 có thể có ảnh hưởng lớn đến hành vi tránh thuế TNDN của công ty Các công ty kiểm toán thuộc Big 4 có thể giúp giảm các hoạt động nhằm mục đích tránh thuế TNDN thông qua việc tăng cường giám sát và chất lượng kiểm toán cao hơn Tuy nhiên, các công ty kiểm toán Big 4 có thiên hướng phát triển và tiếp thị một loạt các chương trình liên quan đến thuế cho phép khách hàng kiểm toán của họ báo cáo lợi nhuận cao hơn, đồng thời trả số tiền thuế TNDN thấp hơn đáng kể (Richardson và cộng sự, 2013) Kết quả nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2013) và Gaaya và cộng sự (2017) đều cho thấy các công ty được kiểm toán bởi một trong bốn hãng kiểm toán
Trang 25lớn thuộc Big 4 sẽ tham gia vào hành vi tránh thuế nhiều hơn Tuy nhiên McGuire và cộng sự (2012) lại cho rằng không có mối quan hệ nào giữa loại công ty kiểm toán
và mức độ tránh thuế TNDN
1.1.2.7 Chuyển lỗ hoạt động (Net operating loss carry forward – NOL)
Các nghiên cứu của Rego (2003), Chen và cộng sự (2010), Khurana và Moser (2010), Khurana và Moser (2012), McGuire và cộng sự (2012) đã sử dụng biến chuyển lỗ hoạt động để làm biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu Việc sử dụng chuyển các khoản lỗ hoạt động sang năm sau của công ty là một trong những cách sử dụng lá chắn thuế làm giảm thuế TNDN trong năm Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy, các công ty nếu nhận được một khoản chuyển lỗ hoạt động từ những năm trước chuyển sang sẽ có ETR thấp hơn, tức là NOL sẽ có tác động tích cực với mức độ tránh thuế TNDN
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân
tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam
1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu về thuế, điển hình là các nghiên cứu về tránh thuế TNDN luôn là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm Tuy nhiên theo sự tiếp cận của tác giả đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu riêng nào về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN Chính vì vậy, tác giả sẽ tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và liên quan gần đến đề tài này
Một trong những nghiên cứu có liên quan gần đến đề tài về QTLN và tránh thuế TNDN, giảm thuế TNDN là nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015) Các nghiên cứu này tuy không nghiên cứu trực tiếp ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN nhưng có liên quan đến sự ảnh hưởng của QTLN đến giảm thuế TNDN phải nộp hoặc giảm thuế suất do thay đổi thuế suất thuế TNDN – những hình thức giảm thuế này có thể tồn tại hành vi tránh thuế TNDN Đặng Ngọc Hùng (2015) sử dụng
Trang 26mô hình của Friedlan (1994) để kiểm nghiệm xu hướng điều chỉnh lợi nhuận khi thuế suất thuế TNDN giảm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng với thuế suất thuế TNDN cao (năm 2013), các DN có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm thuế, trong khi đó với thuế suất thuế TNDN giảm (năm 2014), các DN có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ không bị ảnh hưởng bởi quy mô
DN
Đến gần hơn với đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN là nghiên cứu của Hoàng Tuấn Nam (2017), tuy nhiên trong nghiên cứu này, QTLN đóng vai trò là nhân tố kiểm soát, không phải là nhân tố chính Do đó, tác giả
đã không đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN Theo Hoàng Tuấn Nam (2017), QTLN được xác định bằng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) là mô hình điều chỉnh của mô hình Jones (1991), kết quả hồi quy OLS cho thấy biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đại diện cho nhân tố QTLN có tác động tích cực đến hành vi tránh thuế TNDN Điều đó chứng tỏ hành vi QTLN có ảnh hưởng tích cực tới hành vi tránh thuế của DN, hay nói cách khác công ty có sự can thiệp vào QTLN càng nhiều thì mức độ tránh thuế TNDN của công ty đó càng cao Như vậy, nhìn chung các kết quả nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN, giảm thuế TNDN phải nộp hay giảm thuế suất đều có hàm ý chung đó là các NQL sẽ can thiệp nhằm điều chỉnh lợi nhuận sao cho phương án tiết kiệm chi phí thuế TNDN là tối ưu nhất Bằng việc tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng cần thiết có một nghiên cứu riêng về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam để trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả sẽ nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN
1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN ở Việt Nam
Bên cạnh các nghiên cứu có liên quan gần đến ảnh hưởng của QTLN đến mức
Trang 27độ tránh thuế TNDN tại Việt Nam, sau đây tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố khác (mức độ sử dụng vốn, mức độ tồn kho, quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy, loại công ty kiểm toán và chuyển lỗ hoạt động) đến mức độ tránh thuế TNDN tại Việt Nam Đây là các nhân tố được sử dụng trong phần lớn các nghiên cứu về tránh thuế TNDN tại Việt Nam (ngoại trừ loại công ty kiểm toán và chuyển lỗ hoạt động), thể hiện các đặc điểm của công ty, cơ cấu danh mục tài sản và hiệu quả kinh doanh Trong luận văn, tác giả xem xét các nhân tố này dưới dạng là biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu để kiểm soát ảnh hưởng của đặc điểm của công ty cũng như ảnh hưởng của các nhân tố này đến mức độ tránh thuế TNDN, nhằm nâng cao độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu
1.2.2.1 Mức độ sử dụng vốn (Capital intensity – CINT)
Đối với mức độ sử dụng vốn, tại Việt Nam, các tác giả Phan Gia Quyền (2017), Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018), Nguyễn Hà Nam (2019) đều có kết quả nghiên cứu giống nhau, các công ty có mức độ sử dụng vốn cao bằng cách đầu tư nhiều vào TSCĐ sẽ có mức độ tránh thuế cao hơn Chứng tỏ vai trò của lá chắn thuế khấu hao trong việc làm giảm chi phí thuế TNDN phải nộp
1.2.2.2 Mức độ tồn kho (Inventory intensity – INVINT)
Mức độ tồn kho cũng là một trong những nhân tố được các nhà nghiên cứu xem xét trong sự ảnh hưởng đến mức độ tránh thuế TNDN tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu của Hoàng Tuấn Nam (2017) và Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018) cho thấy có mối tương quan tích cực giữa mức độ tồn kho và thuế suất hiệu dụng, hay nói cách khác, các công ty có mức độ tồn kho càng nhiều như các công ty trong lĩnh vực sản xuất, sẽ có mức độ né tránh thuế nhiều hơn
1.2.2.3 Quy mô công ty (Firm size – SIZE)
Quy mô công ty là một trong những biến được nghiên cứu nhiều khi nghiên cứu
về tránh thuế TNDN Ở Việt Nam, có hai chiều kết quả khác nhau về sự ảnh hưởng của quy mô công ty đến mức độ tránh thuế TNDN
Trang 28Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018) cho thấy các công ty lớn hơn sẽ có mức độ tránh thuế TNDN thấp hơn
Ngược lại với hai tác giả trên, Phan Gia Quyền (2017), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018), Nguyễn Hà Nam (2019) có kết quả nghiên cứu hàm ý rằng đối với các công ty có quy mô càng lớn, các công ty này sẽ thực hiện hành vi tránh thuế TNDN nhiều hơn Theo Nguyễn Hà Nam (2019), các công ty có quy mô lớn sẽ có những lợi thế về nguồn lực như con người, công nghệ, đầu tư nhiều vào tài sản, nghiên cứu phát triển… do đó các công ty này có nhiều khả năng thực hiện các hành vi tránh thuế hơn
1.2.2.4 Lợi nhuận (ROA)
Lợi nhuận cũng là một trong những nhân tố có tác động đến mức độ tránh thuế TNDN của DN Các nghiên cứu của Phan Gia Quyền (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018) đều cho thấy các công ty có tỷ suất sinh lợi càng cao sẽ có mức độ độ tránh thuế càng cao Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018) cho rằng, các công ty có lợi nhuận nhiều sẽ có nhiều động cơ hơn trong việc tối thiểu chi phí thuế TNDN để đem lại nguồn lực gia tăng cho các hoạt động đầu tư sinh lợi,
do đó khả năng thực hiện hành vi tránh thuế sẽ cao hơn
Không đồng nhất kết quả nghiên cứu với các tác giả trên, Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Hà Nam (2019) lại cho rằng các công ty có tỷ suất sinh lợi cao sẽ ít
có hành vi tránh thuế hơn Lý do là các công ty có khả năng sinh lợi cao sẽ sử dụng tài sản một cách hiệu quả, làm giảm chi phí, do đó làm cho lợi nhuận trước thuế nhiều hơn, đóng thuế TNDN sẽ nhiều hơn Vì vậy, các công ty này sẽ có mức độ tránh thuế
ít hơn
1.2.2.5 Đòn bẩy (Leverage – LEV)
Đòn bẩy liên quan đến việc sử dụng nợ vay của DN, do đó sẽ xuất hiện lá chắn thuế của nợ Phan Gia Quyền (2017), Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018), Nguyễn Hà Nam (2019) đều có cùng quan điểm về ảnh hưởng của đòn bẩy đến mức độ tránh thuế TNDN Các tác giả cho rằng các công ty này đã tận dụng
Trang 29nguồn tài trợ từ nợ nhằm có được lợi ích của lá chắn thuế từ lãi vay để làm giảm thuế TNDN Do đó, đối với các công ty có đòn bẩy càng cao, các công ty này sẽ có mức
1.2.2.6 Loại công ty kiểm toán
Trong quá trình tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của một số nhân
tố đến mức độ tránh thuế TNDN tại Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng nhân tố loại công ty kiểm toán chưa được xem xét trong nghiên cứu sự ảnh hưởng đến mức độ tránh thuế TNDN Bên cạnh đó, các công ty kiểm toán cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát, phát hiện và giảm các hành động nhằm mục đích tránh thuế TNDN của DN thông qua chất lượng dịch vụ kiểm toán Do đó, nhân tố loại công ty kiểm toán được xem xét là một trong những biến kiểm soát của mô hình nghiên cứu của luận văn nhằm mục đích Chính vì vậy, không thể loại bỏ tác động của nhân tố loại công ty kiểm toán khi xem xét ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN
1.2.2.7 Chuyển lỗ hoạt động
Chuyển lỗ hoạt động là một trong những hoạt động của NQL dưới sự cho phép của các quy định của Nhà nước trong các hoạt động ưu đãi cho DN Theo đó, các NQL sẽ được phép chuyển lỗ hoạt động của những năm trước sang những năm sau
mà DN hoạt động kinh doanh có lãi Hoạt động chuyển lỗ này cũng góp phần làm giảm số thuế TNDN phải nộp của DN Do đó, đây cũng là một nhân tố cần thiết khi xem xét ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN Nhân tố này được sử dụng trong luận văn với vai trò là biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu nhằm kiểm soát các hoạt động chuyển lỗ của DN làm giảm thuế suất thuế TNDN thực tế tại
Trang 30DN mà không phải là do ảnh hưởng của hoạt động QTLN
Bằng việc tổng quan các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của QTLN và một số nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN, tác giả tổng hợp lại các kết quả từ các nghiên cứu trước được thể hiện trong bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN và một số
nhân tố đến mức độ tránh thuế TNDN từ các nghiên cứu trước
sự (2016), Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018)
-
Quy mô
công ty
Richardson và Lanis (2007), Dyreng và cộng sự (2008)
Phan Gia Quyền (2017), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018), Nguyễn Hà Nam (2019)
+
Zimmerman (1983), các nghiên cứu của Omer và cộng
sự (1993), Rego (2003), Richardson và cộng sự (2013), Richardson và cộng sự (2016), Gaaya và cộng sự (2017), Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018)
-
Lợi nhuận
Derashid và Zhang (2003), Phan Gia Quyền (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018), Nguyễn Huỳnh Kim Phương (2018)
Trang 31Đòn bẩy
Gupta và Newberry (1997), các nghiên cứu của Stickney và McGee (1982), Derashid và Zhang (2003), Richardson và Lanis (2007), Wilson (2009), McGuire
và cộng sự (2012), Phan Gia Quyền (2017), Hoàng Tuấn Nam (2017), Nguyễn Diễm Thi (2018), Nguyễn
+
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Ký hiệu: +: tác động tích cực; -: tác động tiêu cực; 0: không tác động
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan và liên quan gần đến đề tài nghiên cứu của tác giả, có thể thấy rằng các đề tài liên quan đến tránh thuế TNDN, mà cụ thể là ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN, luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các nghiên cứu về
đề tài ảnh hưởng của QTLN đến tránh thuế TNDN hầu hết đều sử dụng phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu, trên cơ sở tiếp cận các nghiên cứu trước Các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến hành vi và mức độ tránh thuế TNDN
đã xuất hiện khá lâu và đã được khai thác trên nhiều khía cạnh khác nhau như liên quan đến quyền sở hữu, quy mô DN, đòn bẩy, đặc điểm của vốn,… Mối quan hệ giữa nhân tố QTLN và mức độ tránh thuế cũng đã được một số tác giả nghiên cứu, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu đều xoay quanh sự ảnh hưởng của chính sách giảm thuế suất và động cơ của NQL nhằm tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN
Tại Việt Nam, nghiên cứu về hành vi tránh thuế TNDN, giảm thuế TNDN cũng
đã ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Bằng chứng cho thấy các nghiên cứu tổng quan về hành vi tránh thuế, giảm thuế, không tuân thủ thuế
Trang 32trong những năm gần đây được công bố ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, theo tiếp cận của tác giả, chưa có nghiên cứu riêng nào về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 –
2018 Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu xu hướng QTLN trong giai đoạn
có thay đổi thuế suất, hoặc chỉ ra các nhân tố khác có ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế TNDN mà chưa nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN
Trên cơ sở phân tích tổng quan các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước, những vấn đề đã được nghiên cứu và chưa nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam là cần thiết Trong đó, các chỉ tiêu để đo lường QTLN và mức
độ tránh thuế TNDN được thu thập từ BCTC đã kiểm toán của các công ty Bên cạnh nhân tố chính là QTLN, tác giả cũng sử dụng các biến kiểm soát để đưa vào mô hình nghiên cứu trên cơ sở kế thừa của các nghiên cứu trước có liên quan như đòn bẩy, quy mô công ty, lợi nhuận, mức độ sử dụng vốn, mức độ tồn kho – các biến này cũng
đã được đưa vào nghiên cứu tại Việt Nam để phân tích ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế, né tránh thuế Ngoài ra, tác giả cũng đưa hai biến mới chưa được kiểm định tại Việt Nam vào mô hình nghiên cứu đề xuất là biến giả NOL – chuyển lỗ hoạt động và Big 4 – loại công ty kiểm toán làm biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, bằng việc tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến
đề tài nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả nhận thấy đề tài về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, thông qua sự tiếp cận của tác giả, vẫn chưa có nghiên cứu riêng về ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018 Từ những lí do đó, tác giả đã xác định khe hổng nghiên cứu nhằm tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của QTLN đến mức độ tránh thuế TNDN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn
2016 – 2018
Trang 34CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết được sử dụng, giải thích các khái niệm, thuật ngữ Tiếp theo, đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thuyết cho đề tài nghiên cứu Nội dung chính của chương này như sau:
Trình bày một số nội dung cơ bản của QTLN và tránh thuế, các khái niệm, thuật ngữ có liên quan và các phương pháp đo lường
Trình bày các lý thuyết nền tảng có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Một số nội dung cơ bản về QTLN
2.1.1 Một số thuật ngữ và các khái niệm
2.1.1.1 Quản trị lợi nhuận (Earnings management – EM)
QTLN được định nghĩa là “sự can thiệp có mục đích vào quy trình phát hành BCTC cho các đối tượng sử dụng bên ngoài DN, với mục đích thu được một số lợi ích cá nhân” (Schipper, 1989 được trích trong Beneish, 2001)
Theo Healy và Wahlen (1999) “QTLN xảy ra khi các NQL sử dụng các xét đoán trong BCTC và trong cơ cấu của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa một số bên liên quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty hoặc ảnh hưởng đến kết quả hợp đồng dựa vào số liệu kế toán được báo cáo”
QTLN được thực hiện thông qua sự thận trọng của NQL đối với việc lựa chọn chính sách kế toán và dòng tiền hoạt động Sự thận trọng đối với các khoản dồn tích thường ít được quan sát hơn so với việc lựa chọn các phương pháp kế toán của NQL
và khi thực hiện ít tốn kém hơn so với thay đổi dòng tiền hoạt động Chính vì thế, các khoản dồn tích thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để phát hiện hành vi QTLN (Phillips và cộng sự, 2003)
Một khái niệm khác về QTLN được Akers và cộng sự (2007) định nghĩa là nỗ lực của NQL để tác động hoặc thao túng lợi nhuận được báo cáo bằng cách sử dụng
Trang 35các phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc phương pháp thay đổi), ghi nhận một lần các khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc ghi nhận nhanh các giao dịch liên quan đến doanh thu hoặc chi phí hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế để ảnh hưởng đến thu nhập trong ngắn hạn Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm QTLN theo Akers và cộng sự (2007)
2.1.1.2 Biến kế toán dồn tích
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 01 (IAS 01, 2006) có đoạn “một công ty sẽ phải lập BCTC theo cơ sở dồn tích, ngoại trừ các thông tin lưu chuyển tiền tệ Khi sử dụng
cơ sở kế toán dồn tích, các khoản mục được ghi nhận là tài sản, nợ phải trả, vốn chủ
sở hữu, thu nhập và chi phí (các yếu tố của BCTC) khi chúng thỏa mãn các định nghĩa
và tiêu chí được ghi nhận của các yếu tố đó trong khung lý thuyết”
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – Chuẩn mực chung (VAS 01, 2002)
có quy định “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của DN trong quá khứ, hiện tại và tương lai”
Từ các quy định trên, DN phải lập báo cáo theo cơ sở dồn tích, ngoại trừ báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tức là, lợi nhuận từ báo cáo kết quả kinh doanh là lợi nhuận dồn tích, trong khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ được ghi nhận theo cơ sở tiền Sự chênh lệch của hai biến này chính là biến kế toán dồn tích, nói cách khác “biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong BCTC” (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016)
2.1.2 Phân loại và cách thức QTLN
QTLN được phân thành hai loại chính: QTLN thực (Real earnings management – REM) thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và QTLN dồn tích (Accruals earnings management – AEM) thông qua sự thay đổi trong các chính sách và ước tính
Trang 36kế toán (Lo, 2008) Về cơ bản, QTLN gắn liền với kế toán theo cơ sở dồn tích Kế toán theo cơ sở dồn tích là cơ sở quan trọng chi phối các đối tượng kế toán trong DN liên quan đến việc ghi nhận các khoản doanh thu và chi phí theo nguyên tắc phù hợp, phản ánh đúng kết quả hoạt động của DN
2.1.2.1 Quản trị lợi nhuận thực (Real Earnings Management – REM)
QTLN thực bắt đầu từ thực tế hoạt động bình thường của công ty, được thúc đẩy bởi các NQL mong muốn đánh lừa ít nhất một số bên liên quan để họ tin rằng một số mục tiêu của BCTC đã được đáp ứng trong quá trình hoạt động bình thường (Roychowdhury, 2006) QTLN thực sẽ thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tập trung vào các hoạt động bán hàng, chi phí và sản xuất Theo đó, các NQL sẽ thực hiện các cách nhằm báo cáo lợi nhuận cao trong năm hiện tại, tạo ra giá trị gia tăng cho cổ đông và tạo hình ảnh đẹp trong mắt các nhà đầu tư như:
Thứ nhất, thao túng hoạt động bán hàng bằng cách đẩy nhanh thời gian bán hàng hoặc tạo thêm doanh thu không bền vững thông qua các khoản giảm giá, chiết khấu hoặc bằng các điều khoản tín dụng nhẹ nhàng hơn đối với khách hàng như trả góp lãi suất thấp, trả góp không lãi suất
Thứ hai, cắt giảm chi phí tùy ý như các chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí bán hàng, chi phí hành chính, các chi phí đào tạo nhân viên, bảo trì, đi lại
Thứ ba, thực hiện tăng sản lượng hoặc sản xuất dư thừa nhằm báo cáo giá vốn hàng bán thấp hơn
Các hoạt động này của NQL sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền của DN trong năm hiện tại Tuy nhiên, QTLN thực có thể làm giảm giá trị DN vì các hành động được thực hiện trong giai đoạn hiện tại để tăng thu nhập có thể có tác động tiêu cực đến dòng tiền trong các giai đoạn trong tương lai (Gunny, 2005; Roychowdhury, 2006)
2.1.2.2 Quản trị lợi nhuận dồn tích (Accruals Earnings Management – AEM)
Trong khi QTLN thực sẽ tập trung vào hoạt động bán hàng, vào sản xuất và vào
Trang 37chi phí tùy ý thì QTLN dồn tích lại thông qua biến kế toán dồn tích mà cụ thể là sẽ thông qua các khoản dồn tích bất thường (Roychowdhury, 2004)
QTLN dồn tích là hành vi QTLN thông qua biến kế toán dồn tích, bao gồm hai phần là các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được (discretionary accruals – DA) và các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (non-discretionary accruals – NA), theo đó,
để thực hiện hành vi QTLN, các NQL sẽ có những hoạt động tác động lên DA để điều chỉnh lợi nhuận như mong muốn của NQL QTLN dồn tích được thực hiện bằng cách thông qua việc lựa chọn các phương pháp kế toán sử dụng, NQL sẽ điều chỉnh lợi nhuận nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Các phương pháp kế toán có thể được sử dụng nhằm mục đích tác động đến lợi nhuận kể đến như:
NQL lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí Doanh thu có thể được ghi nhận sớm hơn và chi phí có thể được ghi nhận trễ hơn trong kì báo cáo hoặc ngược lại nhằm tác động tới lợi nhuận nhưng vẫn phù hợp với chế độ kế toán và các quy định Cụ thể, đối với doanh thu, trong lĩnh vực xây dựng, DN được phép ghi nhận doanh thu theo tiến độ phần trăm công việc hoàn thành, điều này phụ thuộc vào ước tính và ước muốn chủ quan của NQL Đối với chi phí,
DN thực hiện việc lựa chọn các chính sách nhằm điều chỉnh chi phí trong kì như việc lựa chọn các phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau có thể làm thay đổi giá thành sản phẩm từ đó tác động đến giá vốn hàng bán trong kì; lựa chọn chính sách tính giá xuất kho khác nhau cũng có thể làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán trong kì; hoặc lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ sẽ cho kết quả chi phí khấu hao là khác nhau giữa mỗi phương pháp NQL vận dụng các phương pháp kế toán thông qua lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán NQL có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận các loại chi phí về sau hoặc ghi nhận sớm hơn sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của kì báo cáo Các loại chi phí có thể lựa chọn thời điểm ghi nhận như: phân bổ chi phí trả trước, công cụ dụng cụ; chi phí quảng cáo; chi phí bảo hành sản phẩm; chi phí bảo hiểm hỏa hoạn; sửa chữa lớn TSCĐ NQL có thể lựa chọn phân bổ các loại chi phí này theo
Trang 38nhiều kì hoặc ghi nhận hết vào niên độ kế toán phát sinh, điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của niên độ báo cáo Đối với các ước tính kế toán, các khoản dự phòng cần lập liên quan đến hàng tồn kho, nợ phải thu khó đòi, chứng khoán, NQL có thể lựa chọn thời điểm ghi nhận hoặc hoàn nhập, xóa sổ hoặc ghi tăng mức dự phòng, hoàn nhập để điều chỉnh lợi nhuận trong kì như mong muốn Bên cạnh đó, DN cũng có thể ước tính đối với khoản trích trước các chi phí như bảo hành sản phẩm, chi phí bảo hành công trình xây lắp, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây lắp và cung cấp dịch
vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí hay ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
để điều chỉnh chi phí khấu hao
Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ: NQL có thể quyết định thực hiện việc đầu tư, mua sắm, nâng cấp, cải tạo TSCĐ là trong kì này hay trong kì sau NQL cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán TSCĐ để can thiệp vào lợi nhuận hay thua lỗ từ hoạt động khác phát sinh trong kì
QTLN dồn tích là một phương pháp QTLN phổ biến, theo đó các NQL sẽ thực hiện hành vi QTLN thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh bằng cách lựa chọn và vận dụng các phương pháp kế toán nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực và chế độ kế toán Phương pháp QTLN sử dụng biến kế toán dồn tích thường được các NQL sử dụng để phục vụ cho mục đích QTLN của mình (Jones, 1991; Dechow và cộng sự, 1995) Chính vì vậy, trong luận văn này, để đo lường mức độ QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018, tác giả sử dụng phương pháp đo lường QTLN dồn tích
2.1.3 Các phương pháp đo lường quản trị lợi nhuận
Như đã trình bày ở phần trên, QTLN bao gồm QTLN dồn tích thông qua biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh và QTLN thực thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Mỗi loại QTLN sẽ có những phương pháp đo lường khác nhau Đối với AEM, các mô hình đo lường AEM điển hình là các mô hình của Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995) Đối với REM, điển hình phải kể đến mô hình của Roychowdhury (2006)
Trang 392.1.3.1 Mô hình của Healy (1985)
Mô hình đo lường QTLN của Healy (1985) là một trong những cơ sở cho các
mô hình đo lường QTLN sau này Theo Healy (1985), tổng dồn tích (ACC) bao gồm các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NA) Tổng biến kế toán dồn tích được ước tính bằng chênh lệch giữa thu nhập kế toán được báo cáo và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và được chia cho tổng tài sản năm trước Healy (1985) giả định rằng tổng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (DA) bằng 0 trong thời gian làm việc của NQL tại công ty Do đó, các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NA) là giá trị trung bình của tổng dồn tích trong giai đoạn ước tính
n
Trong đó :
n : số năm của giai đoạn ước tính
t : năm tính toán thuộc giai đoạn ước tính n
A : tổng tài sản của công ty i năm t-1
2.1.3.2 Mô hình của DeAngelo (1986)
Mô hình DeAngelo (1986) được xem là một trường hợp đặc biệt của mô hình Healy (1985), theo đó, thời gian tính toán cho các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NA) được giới hạn trong năm trước, thay vì cả một giai đoạn như trong mô hình của Healy (1985) DeAngelo (1986) cho rằng, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) chính là kết quả của sự thay đổi khoản tổng dồn tích (TA) giữa hai kỳ tính toán, với giả định sự thay đổi của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh giữa hai kỳ tính toán xấp xỉ bằng 0 Khi đó: NAt = TAt-1
Trang 40Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh theo mô hình của DeAngelo (1986) được thể hiện như sau:
1/ 1
it it it t
Trong đó,
DA : biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
NA : biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh
TA : tổng biến kế toán dồn tích
At-1 : tổng tài sản năm trước
t : năm tính toán
2.1.3.3 Mô hình của Jones (1991)
Mô hình của Jones (1991) khắc phục được khuyết điểm trong mô hình của Healy (1985) và DeAngelo (1986) với giả định rằng các khoản dồn tích không thể điều chỉnh
là không đổi Tổng biến kế toán dồn tích (TA) vẫn bao gồm hai thành phần là biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NA) và biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) Mô hình đo lường biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NA) của Jones (1991) được thể hiện như sau:
A : logarith của tổng tài sản của công ty i năm t-1
Theo đó, NA theo mô hình của Jones (1991) sẽ kiểm soát ảnh hưởng của những