1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng ngư dân vùng đồng bằng sông cửu long qua lễ hội nghinh ông ở bình thắng, bình đại, bến tre công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka năm 2007

47 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín ngưỡng ngư dân vùng đồng bằng sông cửu long qua lễ hội nghinh ông ở bình thắng, bình đại, bến tre
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc, Đỗ Thị Trâm, Trần Thu Trang, Nguyễn Quế Chi
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan An
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Công trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 4,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I..........................................................................................................6 (9)
    • 1. Cơ sở lý luận (8)
    • 2. Khái quát về lễ hội dân gian (8)
    • 3. Sơ lược vài nét về cá Ông (8)
    • 4. Tục lệ thờ cá ông và nguồn gốc của lễ hội nghinh Ông (8)
  • CHƯƠNG II (20)
    • 1. Khái quát về Bình Thắng (8)
    • 2. Diễn trình buổi lễ (8)
    • 3. So sánh lễ hội Nghinh Ông ở Bình Thắng với những vùng khác (8)
  • KẾT LUẬN (8)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (43)

Nội dung

Tục lệ thờ cá ông và nguồn gốc của lễ hội nghinh Ông

1 Khái quát về Bình Thắng

3 So sánh lễ hội Nghinh Ông ở Bình Thắng với những vùng khác

Một số ý kiến đề nghị

LỄ HỘI NGHINH ÔNG Ở NAM BỘ

Lễ hội Nghinh Ông là biểu hiện của tín ngưỡng cư dân ven biển, thể hiện lòng tin vào vị thần mà họ tôn thờ Tín ngưỡng này không chỉ là niềm tin mà còn chứa đựng yếu tố tâm linh, phản ánh những khát vọng, niềm tin và lo sợ của con người Điều này cũng phần nào cho thấy sự nhận thức còn hạn chế của người dân trong cộng đồng.

Lễ hội biển là biểu hiện văn hóa đặc sắc của ngư dân, thể hiện sự tôn trọng và gắn bó với môi trường biển Biển không chỉ là nguồn sống mà còn là phần thiết yếu trong đời sống tâm linh của họ Tại các vùng duyên hải Trung và Nam Bộ, lễ hội trở thành hiện tượng văn hóa quan trọng, tôn thờ những hiện tượng tự nhiên và sinh vật có mối liên hệ lâu dài với ngư dân Hình thức tín ngưỡng này không chỉ tích hợp những giá trị văn hóa phi vật thể mà còn là hoạt động văn hóa cộng đồng, mang đậm giá trị nhân văn trong đời sống của ngư dân làm nghề biển.

2 Khái quát về lễ hội dân gian: Đất nước Việt Nam với bề dày lịch sử lâu đời, một nền văn hoá giàu bản sắc cùng những phong tục tập quán, tín ngưỡng đa dạng phong phú là đề tài vô tận cho các nhà nghiên cứu Đi kèm với các phong tục, tín ngưỡng ấy là những lễ hội dân gian được tổ chức định kỳ nhằm thể hiện niềm tin vào những thế lực hữu hình và vô hình, thể hiện ước mong hạnh phúc, no đủ, yên ấm của nhân dân Nếu cây đa, giếng nước, sân đình…là những thành tố gắn bó thân thiết từ bao đời với người dân nông thôn, thì lễ hội truyền thống là thành tố văn hoá không những thân thiết mà còn mang tính thiêng liêng, mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo Đi từ Bắc vào Nam dọc chiều dài đất nước, mỗi năm có hàng trăm lễ hội được tổ chức, với quy mô và mức độ phổ biến khác nhau Tuy nhiên, dù đó là lễ hội truyền thống trong phạm vi cả nước hay chỉ là một ngày hội của làng; thì mỗi một lễ hội đều có thể xem như là một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc

Lễ hội dân gian là hoạt động văn hóa tổng hợp, kết hợp nhiều yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng và nghệ thuật, diễn ra tại một thời điểm và địa điểm nhất định, mang tính chu kỳ Đây là sự kiện tập hợp cộng đồng để thực hiện nghi thức và trò giải trí, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần Lễ hội phản ánh thực tiễn cuộc sống, giúp người dân hướng tới những giá trị tốt đẹp và kết nối với văn hóa truyền thống Những lễ hội này thể hiện sự tôn kính đối với anh hùng, danh nhân và các nhân vật tôn giáo, đồng thời mang lại niềm hạnh phúc cho cộng đồng Lễ hội thường bao gồm hai phần: phần Lễ, với các hoạt động tế lễ và cầu an, mang tính tâm linh; và phần Hội, với các hoạt động văn hóa cộng đồng như múa hát, thi tài và các trò chơi truyền thống.

Lễ hội không chỉ là dịp để người dân thưởng thức văn hóa nghệ thuật mà còn là cơ hội thể hiện tài năng và sáng tạo sản phẩm văn hóa của chính họ Tại Việt Nam, mỗi làng đều có lễ hội riêng, dẫn đến việc lễ hội được coi là lễ hội làng Những lễ hội này được tổ chức vào thời điểm nhất định trong năm, dần dần trở thành truyền thống Mặc dù mỗi làng có lễ hội riêng, nhưng chúng đều có những điểm chung như được tổ chức tại nơi thờ phụng thần thánh và diễn ra vào thời gian đặc biệt liên quan đến nghề nghiệp và đời sống cộng đồng địa phương, thường đi kèm với các hoạt động hội.

Lễ hội Nghinh Ông ở Bến Tre, diễn ra hàng năm vào khoảng ngày 14-16 tháng 6 Âm lịch, là một trong những lễ hội văn hóa cộng đồng mang đậm tín ngưỡng của ngư dân, có nguồn gốc từ người Chăm và được người Việt phát triển Đây là lễ hội nước lớn nhất từ Quảng Bình đến Cà Mau – Kiên Giang, thể hiện lòng tôn kính đối với cá Ông, vị thần linh toàn năng giúp ngư dân trong những lúc hoạn nạn, chỉ dẫn đường và xua đuổi cá vào lưới Lễ hội không chỉ là tín ngưỡng của cư dân ven biển mà còn là chỗ dựa tâm linh, giúp họ vượt qua những khó khăn và tạo sự cân bằng trong cuộc sống Tục thờ cúng cá Ông và lễ hội Nghinh Ông đã được duy trì qua nhiều thế hệ, thể hiện sự kết nối giữa con người và biển cả.

Khi cá Ông chết, dân làng biển sẽ đưa xác cá vào bờ để tổ chức lễ an táng Nếu xác cá quá lớn, họ sẽ dùng đăng quây lại và cử người canh giữ cho đến khi thịt rữa hết, sau đó đưa bộ xương lên lăng thờ Người đầu tiên phát hiện xác cá Ông được coi là người Ông tín nhiệm, vinh dự giữ chức trưởng nam và chịu tang 100 ngày Lăng cá Ông có người trông coi, hương khói và một hội đồng quản lý lăng.

Lễ hội Nghinh Ông, diễn ra hàng năm cùng với tục thờ cúng cá Ông, bao gồm ba thời điểm cúng: lễ cúng nghinh Ông, lễ cúng tiền hiền và hậu hiền, và lễ cúng chánh tế, do một ngư dân cao tuổi có uy tín điều khiển Khác với lễ hội ở đình làng nông nghiệp, Nghinh Ông được tổ chức cả trong đình và ngoài biển, với hoạt động văn nghệ như hát bội diễn ra song song Phần hội bao gồm đua ghe và các hoạt động văn nghệ, thể hiện nét văn hóa riêng của cư dân ven biển Quy mô và kinh phí lễ hội hoàn toàn do người dân tự nguyện đóng góp, không có sự phân bổ nào, tùy thuộc vào lòng thành và thu nhập của mỗi gia đình Lễ hội cũng nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và một số tổ chức kinh tế tùy theo quy mô.

Lễ hội Nghinh Ông không chỉ là một sự kiện văn hóa đặc sắc mà còn mang ý nghĩa cầu ngư của ngư dân, thể hiện ước vọng có một mùa cá bội thu và một năm sung túc, đồng thời tránh khỏi những rủi ro khi làm việc trên biển Chính vì vậy, lễ hội này trở thành ngày hội vui nhất của cộng đồng ven biển, tạo nên một không gian tràn đầy niềm tin và hy vọng.

3 Sơ lược vài nét về cá Ông:

Theo quan niệm của ngư dân, cá ông được xem là sinh vật thiêng liêng trong môi trường biển, đóng vai trò là cứu tinh cho những người đi biển Từ điển Bách khoa nông nghiệp đã ghi nhận rằng cá voi là biểu tượng của sự bảo vệ và may mắn cho ngư dân trong những chuyến ra khơi.

Balaenus, hay còn gọi là cá ông hoặc cá ông voi, thuộc họ động vật có vú Cetacea và họ Balaenidae Mặc dù có hình dáng giống cá, nhưng chúng là động vật máu nóng, thở bằng phổi và nuôi con bằng sữa Tổ tiên của cá voi có thể là những động vật ăn thịt sống trên cạn, đã chuyển xuống nước khoảng 60 đến 70 triệu năm trước Để thích nghi với môi trường có ma sát lớn, cơ thể của chúng đã biến đổi, với thân hình trần, hình thoi và thuôn về phía đuôi, kết thúc bằng vây đuôi và hai cánh nằm ngang Chi trước đã biến thành vây ngực, trong khi chi sau và các bộ phận như da, lông, tuyến mỡ, tuyến mồ hôi và tai ngoài đã thoái hóa Chúng có một hoặc hai lỗ mũi với van, phổi co dãn dễ dàng cho phép lặn lâu dưới nước lên đến 1,5 giờ Thính giác của cá voi phát triển mạnh, cho phép xác định chính xác âm thanh truyền tới, trong khi vị giác và xúc giác cũng khá nhạy Mắt của chúng nhỏ, và thị giác đóng vai trò thứ yếu Cá voi hiện là động vật có vú lớn nhất trên Trái Đất.

Trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, nhân ngư được mô tả là một sinh vật kỳ lạ, không có vảy, với đầu tròn và trơn láng, có khả năng phun nước từ lỗ trên trán Nhân ngư thường xuất hiện khi ngư phủ cầu khấn, giúp họ bắt cá bằng cách dẫn bầy cá vào lưới Khi gặp bão tố, nhân ngư cũng được cho là đã cứu giúp thuyền bè, đưa người vào bờ an toàn Sự hỗ trợ này đã được triều đình công nhận, phong tặng danh hiệu Nam Hải tướng quân Ngọc Lân tôn thần.

Trong tác phẩm Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dũng, có nhắc đến cá Ông với hình ảnh thú vị: “Khi phong ba nổi dậy, thuyền bị đắm dưới biển, cá Ông thường xuất hiện, đội thuyền trên lưng và đưa vào gần bờ, vẫy đuôi bỏ lên.”

Cá Ông, hay còn gọi là Đức Ngư theo tên vua Tự Đức, được mô tả trong sách Đại Nam nhất thống chí với đặc điểm đầu tròn, có lỗ phun nước sắc đen và không có vảy Đuôi của cá Ông chẻ ra như đuôi tôm và nổi tiếng với tính hiền lành, thường cứu giúp con người Trong thời Minh Mạng, cá Ông được gọi là Nhân Ngư, và theo tài liệu Nhị lục ký trong An Nam chí của Cao Hùng Trưng, hải thu là loại cá lớn, phun hơi nước lên không trung Sách Chính Tự thông cũng ghi nhận rằng Bạch ngư dài 20 trượng, có tính cách hiền lành và thường giúp đỡ người gặp nạn.

3 Từ điển Bách Khoa Nông Nghiệp Việt Nam, trung tâm biên soạn Từ Điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1991, tr.85

Trong sách "Thoái thực ký văn" của Trương Quốc Dung, có đề cập đến loài cá kiến đồng đặc biệt ở nước Chân Lạp, với bốn chân, không có vảy và mũi giống như vòi voi, có khả năng hút nước và phun lên cao tới sáu đến bảy mươi thước Năm Minh Mạng thứ 17, hình tượng của loài cá này đã được khắc trên vài nhân đỉnh.

So sánh lễ hội Nghinh Ông ở Bình Thắng với những vùng khác

Một số ý kiến đề nghị

Ngày đăng: 16/05/2021, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại Nam nhất thống chí; tập một, NXB Thuận Hoá, Huế, 1969 2. Đinh Văn Hạnh, Phan An, Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa VũngTàu, NXB Trẻ, 2004 Khác
3. TS. Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian ở Nam Bộ, khía cạnh giao tiếp văn hoá dân tộc, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003 Khác
4. Lê Quang Nghiêm, Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hoà, Sài Gòn, 1970 Khác
5. Nguyễn Chí Bền, Văn hoá dân gian Việt Nam, những phác thảo, NXB VHTT, Hà Nội, 2003 Khác
6. Thạch Phương - Đoàn Tứ (chủ biên), Địa chí Bến Tre, tái bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,2001 Khác
7. Thạch Phương - Lê Trung Vũ, 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, NXB KHXH Hà Nội, 1995 Khác
8. Toan Ánh, Nếp cũ, hội hè, đình đám, quyển hạ, NXB TP.HCM, 1992 9. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, dịch giả Tu trai NguyễnTạo, Tập thượng, nhà văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, 1972 Khác
10. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, dịch giả Tu trai Nguyễn Tạo, Tập trung, nhà văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, 1972 Khác
11. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, dịch giả Tu trai Nguyễn Tạo, Tập hạ, nhà văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, 1972 Khác
12. Tục thờ cá voi, tập san nghiên cứu xã hội Đông Dương Khác
13. Từ điển bỏch khoa nụng nghiệp Việt Nam, Trung tõm biờn soạn từứ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1991 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm