Bài viết trình bày tính chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, tính chất pháp lý của loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Trang 1CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM,
SO CHIẾU VỚI PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA THUỘC
LIÊN MINH CHÂU ÂU
Trần Thị Huệ Nguyễn Văn Cừ **
Người phản biện: PGS.TS Đoàn Đức Lương
Afin de prévenir et de traiter la violation du contrat, le système juridique national
et international prévoient des formes de sanctions civiles et commerciales, chaque forme de sanction entraîne des effets négatifs pour la partie qui viole le contrat En plus des sanctions, la loi prévoit également certain cas dans lesquels la partie violante
ne doit pas subir des effets négatifs du fait de l‟application de sanctions, c‟est-à-dire des cas d‟exclusion de responsabilité du fait de la violation du contrat, y compris l'exclusion de responsabilité de réparation des dommages
Dans le cadre de notre sujet, nous nous concentrons sur la recherche pour clarifier les caractères juridiques de la responsabilité de réparation des dommages causés par la violation du contrat et des cas d'exclusion pour ce type de responsabilité Ainsi, nous allons analyser et clarifier les dispositions de la législation vietnamienne sur les cas d‟exclusion de la responsabilité de réparation des dommages causés par la violation du contrat, en comparaison avec certains aspects juridiques du droit de certains pays membres de l'Union européenne pour tirer des valeurs de référence
Mots-clés: exclusion, responsabilité de réparation des dommages, violation
du contrat, droit vietnamien, l'Union européenne
Dẫn nhập: Hợp đồng là nguồn gốc căn bản và phổ biến nhất làm phát sinh quan
hệ nghĩa vụ giữa các bên xác lập hợp đồng hay hậu quả pháp lý, hậu quả pháp lý được hiểu là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên Khi các chủ thể đã cam kết và đích thực mong muốn tạo ra một quan hệ pháp luật thì họ bị
PGS.TS Trường Đại học Luật Hà Nội
** PGS.TS Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2ràng buộc vào cam kết của mình Điều này được hiểu là các bên chủ thể buộc phải thực hiện hợp đồng theo đúng cam kết một cách thiện chí Để đảm bảo cho việc buộc phải thực hiện này, pháp luật đã dự liệu cho các bên trong hợp đồng cách thức thực hiện và hậu quả của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng Nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng, hệ thống pháp luật các quốc gia và quốc tế đều có quy định các hình thức chế tài trong dân sự và thương mại, mỗi hình thức chế tài mang lại những hậu quả bất lợi khác nhau đối với bên vi phạm hợp đồng Cùng với các chế tài, pháp luật cũng quy định một số trường hợp, theo đó bên vi phạm không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do bị áp dụng các hình thức chế tài, đó là các trường hợp loại trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong
đó có loại trừ trách nhiệm bồi tường thiệt hại
1 Tính chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng và vấn đề của pháp luật thừa nhận và bảo đảm cho hợp đồng thực hiện dược xây dựng trên nền tảng của tự do ý chí và bày tỏ ý chí một cách
tự nguyện Các bên giao kết đã tự khoác lên mình gánh nặng và tự ràng buộc vào gánh nặng ấy để đạt được mục đích nhất định.93 Các bên tự đặt mình vào sự ràng buộc để đạt được múc đích nhất định thì phải tự nghiêm túc triển khai đúng hợp đồng trên thực
tế Do đó, mọi sự vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đều có thể khiến cho bên có quyền phải gánh chịu những tổn thất nhất định về vật chất hoặc tinh thần Theo nguyên tắc “cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”94, thì dù hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả bất lợi cho bên có quyền hay chưa thì bên vi phạm đều phải chịu trách nhiệm với bên có
quyền.“Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời
hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” 95 Tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm và hậu quả của hành vi vi phạm mà bên có nghĩa
93 PGS.TS Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng – Phần chung, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013,
NXB Đại học Quốc gia Hà nội, tr.368
94
Khoản 5 Điều 3 BLDS năm 2015
95 Khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015
4.Điều 360 BLDS năm 2015
5 Khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015
6 PGS.TS Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng – Phần chung, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013,
NXB Đại học Quốc gia Hà nội, tr.391
Trang 3vụ phải chịu trách nhiệm dân sự ở các mức độ khác nhau Song, cho dù phải chịu trách nhiệm ở mức độ nào thì điều đó cũng khiến cho bên vi phạm phải gánh chịu những ảnh hưởng về vật chất hoặc phải thực hiện những hành vi mà bản thân họ không mong
muốn “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải
bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” 96
Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam năm 2015 đã định rõ: Bên có nghĩa vụ mà
vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền97
Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ theo Bộ luật này được định ra hai trường hợp: (1) buộc phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ và (2) phải bồi thường thiệt hại Những nội dung biểu hiện cụ thể của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng được xác định
đó là tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, phải bồi thường thiệt hại, hoặc vừa phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ vừa phải bồi thường thiệt hại Chế tài là một đặc trưng căn bản của
pháp luật, là phương tiện để thi hành quyền hoặc chống việc vi phạm quyền hoặc khác phục các hậu quả của sư vi phạm quyền 98 Trong quan hệ hợp đồng chế tài được hiểu
là quyền trao cho một bên bởi pháp luật hoặc bởi hợp đồng mà bên được trao quyền có thể thi hành đối với sự vi phạm bởi bên đối ước kia99 Không giống như nghĩa vụ dân
sự, trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ xảy ra, trong khi đó nghĩa vụ có thể phát sinh từ nhiều căn cứ khác nhau Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm dân sự là nhằm khắc phục tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu Điều kiện
để áp dụng buộc bên vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vu là có sự vi phạm nhưng chưa gây thiệt hại Điều kiện để áp dụng bồi thường thiệt hại là có sự vi phạm và gây thiệt hại cho người có quyền
Thông thường, trách nhiệm dân sự phát sinh ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ, song đó chỉ là trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ chưa hoàn thành trong thời hạn đã được xác định Như đã chỉ ra, loại trách nhiệm này phát sinh không dựa trên hậu quả của hành vi vi phạm, nghĩa là cho dù hành vi vi phạm nghĩa
vụ đã gây ra hậu quả hay chưa thì bên bị vi phạm Vấn đề đặt ra là khi hành vi vi phạm
đã gây ra thiệt hại cho bên có quyền thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm như thế
Trang 4
nào? Đối với trường hợp này, nếu nghĩa vụ chưa được hoàn thành khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết thì bên vi phạm vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, đồng thời phải bồi thường những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu do sự vi phạm của mình Về lý luận có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ, dẫn đến những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho bên mang quyền Việc áp dụng trách nhiệm bồi thường luôn hướng tới việc
bù đắp tổn thất mà người có quyền phải gánh chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng là một dạng của trách nhiệm pháp lý Vì thế, nó phát sinh trên những căn cứ được xây dựng trên cơ sở chung của trách nhiệm pháp lý Không giống như trách tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có các điều kiện nhất định:
Thứ nhất, có hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Vi phạm nghĩa vụ là
việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ100
Thứ hai, có thiệt hại xảy tế xảy ra Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là những tổn
thất về vật chất hoặc tinh thần mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại xảy
ra Có thể thấy rằng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại xảy ra được biểu hiện ở chỗ hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân, còn thiệt hại xảy ra chính là kết quả của chính sự vi phạm đó
Thứ tư, có lỗi của người vi phạm nghĩa vụ Lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi
của bên vi phạm nghĩa vụ, được biểu hiện ở trạng thái tâm lý và thái độ của người có nghĩa vụ đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ và hậu quả của hành vi đó Về nguyên tắc, một người chỉ bị coi là có lỗi khi người đó có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi thực hiện nghĩa vụ
BLDS năm 2015 không ghi nhận cụ thể về việc trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi có lỗi của chủ thể vi phạm nghĩa vụ như BLDS năm 2005 Song, căn cứ quy định tại Điều 363 BLDS năm 2015 có thể thấy rằng Bộ luật này đã gián tiếp ghi nhận lỗi là
100 Khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015
Trang 5một trong những yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ Cụ thể, Điều này quy định: “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là
do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”
2 Tính chất pháp lý của loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Như nội dung trên đã đề cập, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, dẫn đến những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho bên mang quyền Việc áp dụng trách nhiệm bồi thường luôn hướng tới việc bù đắp tổn thất mà người có quyền phải gánh chịu Tuy nhiên, trong điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dẫn đến chủ thể có nghĩa vụ đã không thể thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trước chủ thể mang quyền Để giải trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ, pháp luật quy định một số trường hợp, theo
đó bên vi phạm không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do bị áp dụng các hình thức chế tài dân sự, thương mại, đó là các trường hợp loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật việc sử dụng thuật ngữ “loại trừ” hay
“miễn trừ” là không thống nhất Về bản chất, việc một bên vi phạm không phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra trong một số trường hợp không phải là căn cứ để “miễn trừ” hoàn toàn hay một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cần phải hiểu rằng, mặc dù bên vi phạm nghĩa vụ đã gây thiệt hại cho chủ thể có quyền nhưng theo qui định của pháp luật hoặc các bên thỏa thuận không phát sinh trách nhiệm pháp lý (giải thoát khỏi trách nhiệm pháp lý), không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ, có nghĩa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại được loại trừ ( không cấu thành trách nhiệm) Tinh thần này được xác định rất rõ trong BLDS
Pháp:“Việc không thể thực hiện nghĩa vụ sẽ giải phóng nghĩa vụ cho bên con nợ nếu
đó là trường hợp bất khả kháng và tình trạng không thể thực hiện đó là vĩnh viễn, trừ trường hợp bên con nợ có thỏa thuận chịu trách nhiệm, hoặc đã được thông báo nhắc nhở từ trước” 101 Còn đối với “miễn trừ” nghĩa là trên thực tế đã xảy ra sự vi phạm
101 Điều 1351 của BLDS Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20-4-2018
Trang 6nghĩa vụ theo hợp đồng và có gây thiệt hại, nhưng không rơi vào các trường hợp được pháp luật loại trừ trách nhiệm, được bên bị thiệt hại đã miễn cho bên kia không phải chịu trách nhiệm về vi phạm đó của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật Theo đó có thể hiểu: miễn trừ là miễn cho khỏi phải chấp hành; loại trừ là loại bỏ, làm cho mất đi, không kể đến vì đã được quy định từ trước
Miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là việc người có quyền trong hợp đồng cho phép bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng một phần hoặc toàn bộ các chế tài nhằm khôi phục tình trạng ban đầu về tài sản và nhân thân cho bên chủ thể bị vi phạm Bản chất của loại trừ trách nhiệm dân sự là việc bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ đáng lẽ phải gánh chịu toàn bộ và đầy đủ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, tuy nhiên, vì thiệt hại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ được loại trừ toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó
Từ những lý giải trên đây, có thể hiểu: Loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng là việc các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà theo đó bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng biện pháp khôi phục một phần hoặc toàn bộ tình trạng ban đầu về tài sản cho bên có quyền
3 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Về nguyên tắc “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự” Song, bất cứ nguyên tắc nào cũng
đều có những trường hợp ngoại lệ nhất định mà trong điều kiện hoàn cảnh đó, quan hệ pháp luật hoặc một chủ thể nào đó không phải tuân theo nguyên tắc luật định Theo đó, ngoại lệ của nguyên tắc chịu trách nhiệm pháp lý chính là những quy định liên quan đến các trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự cho người vi phạm nghĩa vụ Điều này
đã được cụ thể hoá thành quy định liên quan đến các trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ
không phải bồi thường thiệt hại như sau: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực
hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện
Trang 7được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”102
Trong khi đó, LTM năm 2005 lại quy định 04 căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, bao gồm: Thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng103 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “…trường hợp có hợp đồng
trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường”104
Như vậy, giữa quy định của BLDS – Bộ luật chung cho hệ thống luật tư, với quy định của LTM, Bộ luật Lao động năm 2012 liên quan tới vấn đề miễn trừ, loại trừ trách nhiệm trong hợp đồng không thống nhất với nhau Trong khi đồng bộ hóa luật tư
ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết và quan trọng Theo quy định của các văn bản pháp luật trên đây, bên vi phạm nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả
kháng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015, “Sự kiện bất khả kháng là
sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” Quy
định này được hiểu, một sự kiện xảy ra trên thực tế phải thoả mãn các điều kiện như sau mới được coi là sự kiện bất khả kháng:
Một là, sự kiện đó phải là sự kiện xảy ra một cách khách quan Tính khách quan
của sự kiện thể hiện ở chỗ nó phát sinh hay không phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ chủ thể nào Nếu bên có nghĩa vụ hoặc bất cứ bên nào tác động khiến cho
sự kiện xảy ra trái với tính khách quan thì coi như sự kiện đó không xảy ra Ví dụ, sự kiện bão, lụt, động đất, nứi lửa, sóng thần, …
Hai là, bên có nghĩa vụ không thể lường trước được về việc sự kiện đó có xảy ra
102 Khoản 2 và 3 Điều 351 BLDS năm 2015
103
Khoản 1 Điều 294
104 Khoản 1 Điều 130 Bộ luật lao động năm 2012 của Việt Nam
Trang 8hay không Đây là yếu tố thể hiện tính đột ngột, bất ngờ của sự kiện được coi là bất khả kháng Trước khi hoặc trong khi thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ hoàn toàn không có thông tin và cũng không có khả năng dự báo về việc sự kiện có xảy ra hay không Nếu bên có nghĩa vụ đã có thông tin hoặc được dự báo về việc sự kiện đó sẽ xảy ra nhưng vẫn thực hiện nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh xảy ra sự kiện thì coi như bên có nghĩa vụ đã lường trước được sự kiện này Ví dụ, phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin về áp thấp nhiệt đới mạnh lên thành bão, nhưng bên có nghĩa vụ đã
bỏ qua thông tin này mà vẫn thực hiện nghĩa vụ như không hề biết thông tin về việc bão đang kéo đến thì bên có nghĩa vụ vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền Như vậy, các sự kiện xảy ra đột ngột, bất ngờ có thể kể đến như lốc xoáy bất ngờ, trời đang nắng bỗng mưa giông, mưa đá trái mùa bất ngờ ập tới,
Ba là, bên có nghĩa vụ đã áp dụng mọi biện pháp và khả năng cho phép nhưng
vẫn không thể khắc phục được sự vi phạm nghĩa vụ Khi xảy ra sự kiện đột ngột, bất ngờ ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ phải tìm mọi biện pháp trong khả năng cho phép để ngăn chặn những tác động, ảnh hưởng của sự kiện khách quan Nếu bên có quyền chứng minh được bên có nghĩa vụ đã bỏ mặc hoặc không áp dụng hết khả năng cho phép để ngăn chặn sự ảnh hưởng của sự kiện khách quan kéo tới thì bên có nghĩa vụ không được loại trừ trách nhiệm ngay cả khi sự kiện xảy ra hoàn toàn khách quan và bất ngờ Vấn đề đặt ra là bên có nghĩa vụ phải chứng minh việc đã áp dụng mọi biện pháp trong khả khăng cho phép hay bên có quyền phải chứng minh điều ngược lại? Đây là vấn đề hoàn toàn khác so với việc xác định yếu tố lỗi Đây là vấn đề thực tế nên cần phải có những bằng chứng xác thực nhằm chứng minh cho nhận định của mình là phù hợp Do đó, cả bên vi phạm nghĩa vụ và bên có quyền đều phải chứng minh cho những khẳng định của mình xoay quanh việc bên có nghĩa
vụ đã áp dụng mọi biện pháp và khả năng cho phép hay chưa
Trong các thuật ngữ pháp lý Tiếng anh, sự kiện bất khả kháng được gọi là “force majeure” và tiếng Latin gọi là casus fortuitus Sự kiện này xảy ra không phải do lỗi của các bên trong hợp đồng, mà hoàn toàn ngoài ý muốn và các bên không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ Theo đó, bên chịu sự cố này có thể được loại trừ trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hoặc kéo
Trang 9dài thời gian thực hiện hợp đồng Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận…105
Trong BLDS Pháp quy định : « Trường hợp bất khả kháng được xác định khi có
một sự kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên con nợ, bên con nợ không thể được thông báo một cách hợp lý ở thời điểm ký kết hợp đồng và tác động của sự kiện đó không thể tránh khỏi bằng các biện pháp phù hợp, cản trở việc thực hiện hợp đồng của bên con nợ
Nếu việc cản trở là tạm thời, việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tạm hoãn trừ trường hợp sự chậm trễ đi kèm không phải là lý do để hủy bỏ hợp đồng Nếu việc cản trở là vĩnh viễn, hợp đồng sẽ mặc nhiên được hủy bỏ và các bên được giải phóng khỏi các nghĩa vụ theo các điều kiện được quy định tại các điều 1351 và 1351-1 » 106
Đối với Pháp luật Pháp, để một sự kiện được coi là bất khả kháng cần phải chứng minh sự kiện đó thỏa mãn một số điều kiện nhất định như: Sự kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát, tác động của sự kiện đó không thể tránh khỏi bằng các biện pháp phù hợp, cản trở việc thực hiện hợp đồng của bên con nợ, không thể cưỡng lại107,… BLDS Pháp còn quy định các khoản bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng được xác định là một sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của con nợ, vào thời điểm đó không thể lường trước một cách hợp lý về việc ký kết hợp đồng, những ảnh hưởng không thể tránh được bằng các biện pháp thích hợp và điều này ngăn cản con nợ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình108 Ngoài ra, Bộ luật này còn qui định cho trường hợp cụ thể về trách nhiệm bồi thường sẽ được loại trừ khi phần nghĩa vụ không được thực hiện, hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ nếu chứng minh được việc thực hiện nghĩa vụ đã
bị cản trở bởi một sự việc bất khả kháng: “Bên con nợ phải bồi thường cho những thiệt
hại nếu có, hoặc trên cơ sở phần nghĩa vụ không được thực hiện, hoặc trên cơ sở chậm thực hiện nghĩa vụ nếu không chứng minh được rằng việc thực hiện nghĩa vụ đã
bị cản trở bởi một sự việc bất khả kháng” 109
105
Nguyễn Mạnh Linh, Loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật hà Nội, Năm 2018, tr 25
106 Điều 1218 của BLDS Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20-4-2018
107 Đoạn 1, Điều 1218 của BLDS Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20-4-2018
108
Điều 1218 của BLDS Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20-4-2018
109 Điều 1231-1 của BLDS Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20-4-2018
Trang 10Đạo luật hàng hóa của Na Uy (Norwegian Sale of Goods Act năm 1988) cũng quy định rằng không có trách nhiệm của bên có nghĩa vụ đối với các thiệt hại nếu việc không thực hiện là do sự kiện bất khả kháng Các điều kiện để chứng minh về sự kiện bất khả kháng bao gồm: đây là những sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của các bên; không thể lường trước được vào thời điểm hợp đồng được ký kết; không thể bị ngăn chặn bởi bên bị ảnh hưởng
Ở Anh, việc xử lý một sự kiện bất khả kháng xuất phát từ nội dung hợp đồng Thông thường các tòa án Anh áp dụng các quy định cụ thể hợp đồng một cách nghiêm ngặt, theo cách diễn đạt của các chủ thể và tôn trọng quyền tự do của các bên trong hợp đồng theo các điều khoản mà họ thấy phù hợp Các bên có thể chọn một định nghĩa rộng hoặc hẹp về bất khả kháng tùy thuộc vào nhu cầu của họ Theo đó, soạn thảo hợp đồng cần phải cẩn thận và đầy đủ nội dung Tương tự, Pháp luật Thụy Điển cũng quy định các bên được tự do thỏa thuận định nghĩa bất khả kháng và hậu quả của bất kỳ sự kiện nào như vậy trong hợp đồng của họ
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, khái niệm sự kiện bất khả kháng được quy định còn sơ sài, không có một quy định cụ thể nào trong chế định nghĩa vụ và hợp đồng về sự kiện bất khả kháng Khoản 1 Điều 156 BLDS 2015 chỉ đặt
ra quy định sự kiện bất khả kháng liên quan đến phần thời hiệu, cụ thể là để xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự chứ không phải là một quy định cụ thể hoặc khái niệm cụ thể về sự kiện bất khả kháng Luật Thương mại (LTM) năm 2005, cũng không có quy định nào đề cập cụ thể về khái niệm sự kiện bất khả kháng Tại các Điều 294, 295 và 296 LTM năm 2005 cũng quy định về sự kiện bất khả kháng, tuy nhiên, quy định theo hướng khi
có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên vi phạm hợp đồng phải có sự thông báo ngay cho bên kia về trường hợp loại trừ trách nhiệm trong một khoảng thời gian thích hợp, nếu không thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trên cơ sở tham chiếu quy định pháp luật của các quốc gia Liên minh Châu Âu, Pháp luật Việt Nam cần phải có một số sửa đổi, bổ sung về sự kiện bất khả kháng đối với các nội dung đã được đề cập
ở các mục trên Đặc biệt là BLDS 2015, LTM năm 2005 liên quan trực tiếp đến các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng