Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục hiện nay với xu thế “DH tập trung vào người học”, “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” thì ngoài việc hoàn thiện một khối lượng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC - -
TRẦN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH DÙNG TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP PHẦN HỮU CƠ LỚP 12 CƠ BẢN
Khóa luận tốt nghiệp
Đà nẵng, tháng 1 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC - -
TRẦN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
DÙNG TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP PHẦN HỮU CƠ LỚP 12 CƠ BẢN
Chuyên ngành: Sư phạm hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS Phan Văn An
Đà nẵng, tháng 1 năm 2019
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Độc Lập – Tự Do - Hạnh Phúc
KHOA HÓA HỌC
NHIỆM VỤ CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ tên sinh viên: Trần Thị Yến
Số thẻ sinh viên: 314011151154
Lớp: 15SHH Khoa: Hóa học Ngành: Sư phạm Hóa học
1 Tên đề tài luận văn tốt nghiệp:
nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh dùng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần hữu cơ lớp 12 cơ bản
2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá, câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh dùng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần hữu
cơ lớp 12 cơ bản
3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Phan Văn An
4 Ngày giao đề tài: 06/09/2018
5 Ngày hoàn thành: 09/01/2019
PGS TS Lê Tự Hải ThS Phan Văn An
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày
Kết quả điểm đánh giá………
Ngày tháng năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tại Khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm – Đại học
Đà Nẵng, bằng sự nổ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của Thầy, Cô và bạn
bè, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy ThS Phan Văn An đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Hóa học trường
Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã đào tạo và hướng dẫn tôi có đủ khả năng để thực
hiện đề tài khoa học này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, những người thường xuyên động viên,
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Đà Nẵng, ngày 12 tháng 01 năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 11
1.1.1 Những khái niệm về kiểm tra, đánh giá 11
1.1.2.Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục 12
1.1.2.1 kiểm tra đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học 12
1.1.2.2 Kiểm tra đánh giá là công cụ hành nghề quan trọng của giáo viên 12
1.1.2.3 Kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lý giáo dục, quản lý chất lượng dạy học 12
1.1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học 13
1.2 Cơ sở lý luận về câu hỏi trắc nghiệm khách quan 13
1.2.1 Khái niệm trắc nghiệm 13
1.2.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng 17
1.2.3 Một số chỉ dẫn về phương pháp soạn câu hỏi trắc nghiệm 20
1.2.4 Qui trình xây dựng câu hỏi TNKQ cho bài KT – ĐG 22
1.2.4.1 Giai đoạn chuẩn bị 22
1.2.4.2 Giai đoạn thực hiện 23
CHƯƠNG 2 24
XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DÙNG TRONG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP PHẦN HỮU CƠ LỚP 12 (CƠ BẢN) 24
2.1 Mô tả mức độ nhận thức 24
Trang 62.2 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong các chương 25
2.2.1 Chương este – lipit 25
2.2.1.1.Nội dung 25
2.2.1.2 Ma trận phát triển nhận thức 25
2.2.1.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả 26
2.2.1.3.1.Mức độ nhận biết 26
2.2.1.3.2 Mức độ thông hiểu 27
2.2.1.3.3 Mức độ vận dụng thấp 31
2.2.1.3.4 Mức độ vận dụng cao 34
2.2.2 Chương cacbohidrat 36
2.2.2.1 Nội dung 37
2.2.2.2 Ma trận phát triển nhận thức 37
2.2.2.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả 38
2.2.2.3.1 Mức độ nhận biết 38
2.2.2.3.2 Mức độ thông hiểu 40
2.2.2.3.3 Mức độ vận dụng bậc thấp 43
2.2.2.3.4 Mức độ vận dụng bậc cao 46
2.2.3 Chương amin, amino axit và protein 49
2.2.3.1 Nội dung 49
2.2.3.2 Ma trận phát triển nhận thức 49
2.2.3.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả 50
2.2.3.3.1 Mức độ nhận biết 50
2.2.3.3.2 Mức độ thông hiểu 53
2.2.3.3.3 Mức độ vận dụng bậc thấp 57
2.2.3.3.4 Mức độ vận dụng bậc cao 60
2.2.4 Chương polime và vật liệu polime 66
2.2.4.1 Nội dung 66
2.2.4.2 Ma trận phát triển nhận thức 66
2.2.4.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả 66
2.2.4.3.1 Mức độ nhận biết 66
2.2.4.3.2 Mức độ thông hiểu 68
Trang 72.2.4.3.3 Vận dụng bậc thấp 70
2.2.4.3.4 Vận dụng bậc cao 72
2.3 Bộ đề câu hỏi trắc nghiệm khách quan 75
2.3.1 Bộ đề kiểm tra đánh giá 15 phút 75
2.3.1.1 Đề kiểm tra đánh giá 15 phút chương este - lipit 75
2.3.1.2 Đề kiểm tra đánh giá 15 phút chương saccarozo 78
2.3.1.1 Đề kiểm tra đánh giá 15 phút chương amin – amino axit – protein 81
2.3.1.1 Đề kiểm tra đánh giá 15 phút chương polime – vật liệu polime 84
2.3.2 Bộ đề kiểm tra đánh giá 1 tiết 86
2.3.2.1 Đề kiểm tra đánh giá 1 tiết lần 1 86
2.3.2.2 Đề kiểm tra đánh giá 1 tiết lần 2 92
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 101
3.1 Mục đích thực nghiệm 101
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 101
3.3 Tiến trình thực nghiệm 101
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 101
3.3.3 Các bước thực hiện 101
3.3.4 Các phương pháp khảo sát thực nghiệm 101
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Kiến nghị 107
PHỤ LỤC 108
Trang 8BGDĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hiện nay được xác định là “Một động lực thúc đẩy và là điều kiện
cơ bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục hiện nay với xu thế “DH tập
trung vào người học”, “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh”
thì ngoài việc hoàn thiện một khối lượng tri thức khoa học cần thiết thì phải không ngừng nâng cao phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá…Kiểm tra, đánh giá
có vai trò vô cùng quan trọng là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó là khâu mở đầu, đồng thời cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này để mở ra một quá trình dạy học khác, nó có tác động điều tiết trở lại quá trình đào tạo Đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình DH bộ môn từ đó giúp GV điều chỉnh việc dạy và HS kịp thời điều chỉnh việc học của mình, góp phần củng
cố, đào sâu, hệ thống hoá kiến thức của HS và có tác dụng giáo dục HS về tinh thần trách nhiệm, thói quen đào sâu suy nghĩ, ý thức vươn lên trong HT, thái độ làm việc nghiêm túc, trung thực…
Hiện nay, xu hướng ra đề thi tuyển của Bộ, Sở đang có nhiều chuyển biến, nội dung kiến thức trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi THPTQG đã nghiêng hẳn về phần cơ bản, việc đổi mới phương pháp dạy học dẫn đến đổi mới rất nhiều ở khâu kiểm tra đánh giá về phương pháp lẫn nội dung Phương hướng kiểm tra đánh giá
là phương pháp TNKQ Do những quan điểm của PP mang tính khách quan, tính bao quát, tính chuẩn mực và tính kinh tế nên nếu hệ thống câu hỏi được chuẩn bị chu đáo, cẩn thận thì hình thức thi TNKQ sẽ phát huy nhiều tác dụng tích cực Chính vì vậy việc biên soạn bộ câu hỏi xác thực, gắn liên với thực tế có thể sát sao nhất là điều hết sức quan trọng Tuy rằng trên thị trường đã có rất nhiều tài liệu, sách tham khảo viết về câu hỏi TNKQ, nhưng để phù hợp với thực tế dạy học
hiện nay, em chọn đề tài “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh dùng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần Hữu cơ lớp 12 Cơ Bản” với mong muốn đưa ra những bộ câu hỏi xác
thực nhất nhằm đánh giá chính xác, phân mức năng lực HS thông qua các mức độ khác nhau, từ đó đánh giá được cụ thể khả năng của từng học sinh và có biện pháp dạy học phù hợp Hạn chế tình trạng học lệch, hay chọn sai nghành
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPTN, kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ
- Nghiên cứu chương trình, nội dung về phần hữu cơ hóa học lớp 12 cơ bản
- Thực nghiệm SP để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá, về câu hỏi TNKQ
- Nghiên cứu chương trình nội dung SGK, SBT, SGV, và các tài liệu tham khảo về phần Hóa Hữu Cơ lớp 12
- Xác định qui trình xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ
- Xây dựng ngân hàng câu hỏi và kiểm định câu hỏi
7 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ theo định hướng phát triển năng
lực dùng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần hữu cơ hóa học 12
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 11CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học
1.1.1 Những khái niệm về kiểm tra, đánh giá
1.1.1.1 Khái niệm về đánh giá
Theo JM De Ketele, “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu
đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó”
Xét từ bình diện chức năng cũng như mục đích đối tượng, “ Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo” Đánh giá được xem như một quá trình liên tục và là một phần của hoạt động giảng dạy
Gắn liền với khái niệm đánh giá, quá trình đánh giá gồm các khâu sau:
- Đo: “Đo là gắn một số cho một đối tượng hoặc một biến cố theo một quy tắc được chấp nhận một cách lôgic” (J.P.Guiford) Trong dạy học đó là giáo viên gắn các điểm số cho các sản phẩm của học sinh, cũng coi đó là việc ghi nhận thông tin cần thiết cho việc đánh giá kiến thức kỹ năng kỹ xảo của học sinh
- Lượng: Lượng giá là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức, kỹ năng của học sinh làm sáng tỏ trình độ tương đối của một học sinh so với thành tích chung của tập thể hoặc trình độ của học sinh so với yêu cầu của chương trình học tập Do đó người ta nói đến lượng giá theo chuẩn và lượng giá theo tiêu chí + Lượng giá theo chuẩn là so sánh tương đối chuẩn trung bình chung của tập hợp
+ Lượng giá theo tiêu chí là sự đối chiếu với những tiêu chí đã đề ra Đánh giá
là khâu tiếp theo sau lượng giá là khâu đưa ra những kết luận nhận định phán xét về trình độ của học sinh xét trong mối quan hệ với quyết định cần đưa ra (theo mục đích đã định của KTĐG)
1.1.1.2 Khái niệm về kiểm tra
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên năm
1996, thì “kiểm tra là sự xem xét tình hình thực tế để đánh giá,nhận xét” Theo
Trần Bá Hoành thì “việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ
sở cho việc đánh giá”
Như vậy, kiểm tra và đánh giá trong HT là hai công việc có thứ tự và đan xen với nhau, nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về thành tích HT của học sinh Kiểm tra là phương tiện, là hình thức của đánh giá Muốn đánh giá được chính xác phải tiến hành kiểm tra (hoặc thi) theo những quyđịnh chặt chẽ Kiểm tra
và đánh giá có mối quan hệ mật thiết, trong đó kết quả của kiểm tra làm cơ sở cho việc đánh giá, mục đích đánh giá quyết định nội dung và PP kiểm tra
Trang 12Thi cũng là kiểm tra nhưng có tầm quan trọng đặc biệt được dùng khi kết thúc một giai đoạn đào tạo, một quá trình đào tạo Nếu trong kiểm tra tính chất tổng kết có thể nổi trội hơn hoặc không nổi trội so với tính chất định hình thì trong thi tính chất tổng kết luôn luôn là tính chất nổi trội so với tính chất định hình
Các bài kiểm tra trắc nghiệm xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức,
kỹ năng trong quá trình dạy học và khi kết thúc một quá trình dạy học Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra cho phù hợp với mục đích dạy học
ở từng giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc KTĐG kiến thức, kỹ năng
và thái độ
1.1.2 Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục
1.1.2.1 kiểm tra đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học
Theo các nhà lý luận dạy học thì dạy học là một quá trình hoạt động có tính mục đích, nó thường bao gồm các thành tố cơ bản sau: xây dựng mục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá Do vậy kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng, không thể tách rời của quá trình dạy học Kiểm tra đánh giá nhằm cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học
1.1.2.2 Kiểm tra đánh giá là công cụ hành nghề quan trọng của giáo viên
Giáo viên là người trực tiếp tác động tạo ra những thay đổi của người học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Muốn xác định người học đáp ứng như thế nào
so với mục tiêu giáo dục đã đề ra thì người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá Kết quả kiểm tra đánh giá trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin do sử dụng đa dạng các loại hình kiểm tra đánh giá là vô cùng quan trọng để đi đến nhận định, những quyết định khách quan điều chỉnh kịp thời nội dung, phương pháp giáo dục
Kiểm tra đánh giá chỉ thực sự trở thành công cụ hành nghề quan trọng; đạt hiệu quả khi giáo viên xác định rõ mục tiêu đánh giá, hiểu rõ thế mạnh của mỗi loại hình đánh giá, chọn lựa hay thiết kế công cụ đánh giá phù hợp, đáp ứng yêu cầu, đặc tính thiết kế và đo lường, đồng thời giáo viên phải biết xử lý phân tích, sử dụng các kết quả đánh giá đúng mục đích, biết cách phản hổi tư vấn cho phụ huynh và học sinh
1.1.2.3 Kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lý giáo dục, quản lý chất lượng dạy học
Công tác quản lý giáo dục, quản lý chất lượng dạy học rất cần các thông tin
từ kiểm tra đánh giá Bản chất của kiểm tra đánh giá là cung cấp thông tin nhằm xác định xem mục tiêu giáo dục đã đạt được hay chưa, mức độ đạt như thế nào… Các thông tin khai thác từ kết quả kiểm tra đánh giá sẽ rất hữu ích cho các nhà quản
lý, cho giáo viên, giúp họ quan sát quá trình giáo dục, phát hiện các ấn đề, có các quyết định kịp thời nhằm điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện đạt mục tiêu
Trang 13Kiểm tra đánh giá luôn được xem là phương thức quan trọng để giám sát, quản lý con người trong một lớp học, trong tổ chức vận hành nhà trường
1.1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học
GV thường sử dụng xen kẽ, phối hợp với các PP khác khi tiến hành giảng dạy một bài cụ thể trên lớp
1.3.3 Phương pháp viết
Bao gồm hai loại là tự luận và TNKQ (được trình bày ở phần 1.2)
Có thể hình dung hệ thống các PP kiểm tra, đánh giá trong DH qua sơ đồ sau:
1.2 Cơ sở lý luận về câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.2.1 Khái niệm trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một loạt câu hỏi hay bài tập hoặc phương tiện để đo kỹ xảo tri thức, trí tuệ, năng lực của một cá nhân hay một nhóm.Trong giáo dục trắc nghiệm là một phương pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của người học hoặc để kiểm tra đánh giá một số kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ
Các PP kiểm tra, đánh giá
Bài luận
Tiểu luận
Luận văn
Đúng sai
Nhiều lựa chọn
Ghép đôi
Điền khuyết
Trang 14của người học.Trắc nghiệm thường được chia làm hai loại: trắc nghiệm tự luận
và trắc nghiệm khách quan
1.2.1.1 Trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm chủ quan là dạng TN dùng những câu hỏi mở còn gọi là câu hỏi tự luận (ngược với TNKQ), đòi hỏi HS tự xây dựng câu trả lời Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một tiểu luận Dạng này được xem là TN chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm câu trả lời có thể tuỳ thuộc rất nhiều vào chủ quan người chấm, từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khâu đối chiếu bài trả lời với đáp án, biểu điểm… Vì vậy, việc cho điểm thường không có tính tin cậy cao Thông thường một bài TN chủ quan gồm ít câu hỏi hơn một bài TNKQ nên chỉ kiểm tra được phạm vi hẹp của kiến thức Đây là hình thức kiểm tra hiện nay vẫn dùng phổ biến (kiểm tra viết)
* Ưu điểm:
- Trắc nghiệm tự luận cho phép có một sự tự do tương đối nào đó để trả lời một vấn đề được đặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức hơn là nhận biết thông tin và phải biết sắp xếp, diễn đạt ý kiến
để chấm Cho phép người học cân nhắc câu trả lời của mình nhiều hơn và
ở đây cũng phần nào giảm bớt sức ép tâm lý của người học trong kỳ thi,
rèn luyện cho người học có khả năng trình bày một vấn đề
- Riêng đối với bài tiểu luận dài thì người học có thời gian tìm hiểu nghiên cứu tìm tòi từ đó có thể đưa ra những nhận xét phân tích đánh giá được
vấn đề mà nội dung kiểm tra yêu cầu
- Việc soạn thảo câu hỏi mất ít thời gian, không khó khăn lắm đối với giáo
Ghép đôi
Phức hợp
Bằng một từ
Bằng một câu ngắn
Trả lời cả bài theo câu trúc
tự do
Giải bài tập
Các kiểu câu hỏi TN
ểu câu hỏi trắc nghiệm
Trắc nghiệm tự luận (TNTL) Trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
Trang 15* Nhược điểm:
- Bài trắc nhiệm tự luận trong chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan, điểm cho bởi người chấm khác nhau có thể không thống
nhất vì vậy nó còn gọi là trắc nghiệm chủ quan
- Số vấn đề được đề cập đến không nhiều (thậm trí chỉ có một) nên khó đánh giá được kết quả của người học đối với toàn bộ chương trình Đồng thời kết quả sẽ kém khách quan vì người học có thể học tủ và quay cóp
trong thi và kiểm tra
- Việc chấm điểm phụ thuộc vào người đặt thang điểm và phụ thuộc chủ
quan vào người chấm
- Việc chấm đòi hỏi nhiều thời gian và chỉ có các thầy cô đã dạy các môn
đó (có chuyên môn về lĩnh vực đó) mới chấm được bài kiểm tra
1.2.1.2 Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là trắc nghiệm viết có các câu hỏi trả lời ngắn Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như đối với trắc nghiệm tự luận Chính vì vậy mà kết quả chấm điểm sẽ như nhau không phụ thuộc vào việc ai chấm bài đó (việc chấm điểm là khách quan) Thông thường một bài TNKQ nhiều câu hỏi hơn là một bài trắc nghiệm tự luận
* Ưu điểm:
- Bài TNKQ có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và rộng rãi kiến thức, kỹ năng của học sinh tránh được tình trạng
học tủ, dạy tủ
- Bài TNKQ có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một
khoảng thời gian ngắn
- Chấm bài TNKQ rất nhanh, chính xác, kết quả khách quan đồng thời có thể sử dụng các phương tiện hiện đại (như máy vi tính) trong chấm bài và
phân tích kết quả kiểm tra
* Nhược điểm:
- Bài TNKQ rất khó đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và quá trình tư duy của học sinh đi đến câu trả lời, không góp phần rèn luyện
cho học sinh khả năng trình bày, diễn đạt ý kiến của mình
- Việc soạn thảo hệ thống câu hỏi mất rất nhiều thời gian, đòi hỏi sự đầu tư
công sức nhiều của giáo viên
- Tốn rất nhiều giấy, mực để in đề cho mỗi học sinh
1.2.1.3 So sánh TNKQ – TNTL
* Giống nhau:
- Câu hỏi TNKQ hay TNTL đều được dùng với mục đích đo lường kết quả
học tập quan trọng mà một bài kiểm tra có thể khảo sát được
Trang 16- Hai loại câu đều có thể được sử dụng để khuyến khích HS học tập nhằm
đạt các mục tiêu dạy học
- Bài TNKQ và TNTL đều được sử dụng như một phương tiện để cung cấp thông tin phản hồi từ phía người học cho người dạy Thông qua đó người
thấy sẽ điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học và KTĐG
- Giá trị của câu hỏi tự luận và TNKQ đều phụ thuộc tính khách quan và độ
tin cậy của chúng
* Khác nhau:
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
- Với một câu hỏi đòi hỏi học sinh tự
mình soạn câu trả lời và diễn đạt nó
bằng ngôn ngữ của chính mình
- Với mỗi câu hỏi học sinh lựa chọn câu
trả lời đúng trong số câu trả lời có sẵn
- Số lượng câu hỏi ít và tổng quát, chỉ
giới hạn sự suy nghĩ của học sinh trong
một phạm vi xác định
- Số lượng câu hỏi nhiều câu hỏi có tính chuyên biệt phủ khắp nội dung cần kiểm tra nên kiểm tra một cách có hệ thống kiến thức kỹ năng của học sinh tránh tình trạng học tủ
- HS phải mất nhiều thời gian suy nghĩ
và viết vâu trả lời
- HS mất nhiều thời gian đọc và tìm đáp
án đúng
- Khuyến khích phát triển lập luận lôgic
và ngôn ngữ diễn đạt, đồng thời kiểm tra
được cả quá trình tư duy của học sinh
khi tìm câu trả lời
- Cho phép sự phỏng đoán suy xét và lựa chọn không hoặc khó đánh giá khả năng diễn đạt sử dụng ngôn ngữ, quá trình tư duy trả lời câu hỏi
- HS khó tự đánh giá kết quả học tập của
mình một cách chính xác
- Tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình một cách chính xác
- HS có thể bộc lộ khả năng sáng tạo của
- Chất lượng đề phụ thuộc vào kiến thức
của người soạn và người phản biện
- Chất lượng đề phụ thuộc nhiều vào kỹ năng, tư duy theo nhiều khía cạnh và phỏng đoán được những lỗi mà học sinh thường mắc phải của người soạn
- Chấm bài mất nhiều thời gian, khó
chính xác, mang tính chủ quan ở người
chấm; không sử dụng phương tiện máy
móc hiện đại trong chấm bài và phân
tích kết quả kiểm tra
- Chấm bài nhanh, chính xác, khách quan; có thể sử dụng phương tiện máy móc hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả KT
Trang 17- Sự phân phối điểm trải trên một phổ
hẹp nên khó có thể phân biệt được rõ
ràng trình độ của HS
- Sự phân phối điểm trải trên một phổ rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng
trình độ của HS
Qua so sánh TNKQ và trắc nghiệm tự luận cho thấy mỗi hình thức kiểm tra
có những ưu điểm và nhược điểm riêng.Vì vậy giáo viên không nên áp dụng một hình thức trong kiểm tra đáng giá Tùy theo đặc điểm của từng môn học, mục đích cần đánh giá của mỗi chương, mỗi học phần mà khi tiến hành kiểm tra thì người giáo viên là người quyết định sử dụng hình thức kiểm tra nào cho đạt được những mục tiêu mà mình đã đề ra của môn học Đồng thời phải đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường, để sau kiểm tra sẽ cho phép đánh giá kết quả học tập của người học một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan; nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo của nhà trường
1.2.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng
1.2.2.1 Loại câu điền khuyết
Một số câu hỏi đòi hỏi phải điền hay liệt kê một hay nhiều từ để hoàn thành một câu hỏi trực tiếp hay một nhận định chưa đầy đủ Với loại câu này học sinh phải tìm hiểu câu trả lời đúng hơn là nhận ra câu trả lời đúng
Ví dụ 1 Điền từ hoặc cụm từ thích hợp vào chỗ trống:
a Phương pháp thường dùng để điều chế este của ancol là đun hồi lưu hoặc
chưng cất ………… với …………., có H2SO4 đặc xúc tác, phản ứng này được
gọi là phản ứng este hóa
b Thuỷ phân este no, đơn chức bằng dung dịch kiềm thu được
• Ưu điểm:
- Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường phát huy óc sáng kiến
- Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra nghĩ ra tìm ra câu trả lời
Loại câu này dễ soạn hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
• Nhược điểm:
- Khi soạn thảo loại câu này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văn các câu
từ trong sách giáo khoa
- Phạm vi kiểm tra của loại câu này chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặn Việc chấm
bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu nhiều lựa chọn
1.2.2.2 Loại câu “đúng - sai”
Trong loại câu này cung cấp một nhận định và học sinh được hỏi để xác định xem điều đó là “đúng” hay “sai” Hoặc có thể là câu hỏi trực tiếp để được trả lời là
là “có” hay “không” Đôi khi chúng được nhóm lại dưới một câu dẫn Các phương
án trả lời là thích hợp để gợi nhớ lại kiến thức được kiểm tra nhanh chóng
Ví dụ 2 Phát biểu dưới đây là đúng hay sai:
(a) Hiđro hóa hoàn toàn glucozơ (xúc tác Ni, đun nóng) tạo ra sobitol
Trang 18(b) Saccarozơ thuộc loại đisaccarit, phân tử được cấu tạo bởi 2 gốc glucozơ (c) Etanol có thể được sản xuất bằng phương pháp lên men các nông sản chứa nhiều tinh bột
(d) Thủy phân hoàn toàn tinh bột trong dung dịch H2SO4 đun nóng, tạo ra fructozơ
• Ưu điểm:
Là loại câu hỏi đơn giản chỉ có hai khả năng xảy ra là đúng hoặc sai, dùng
để kiêm tra kiến thức về những sự kiện, vì vậy viết loại câu này tương đối dễ dàng,
ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm
• Nhược điểm:
Học sinh có thể đoán mò vì vậy có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh thuộc lòng hơn là hiểu Học sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc chọn
“đúng” hay chọn “sai”
1.2.2.3 Loại câu ghép đôi
Loại câu này thường có hai dãy thông tin là câu dẫn và câu đáp, chúng được ghép với nhau theo kiểu tương ứng một – một Hai dãy thông tin này không nên có
số câu bằng nhau để cho cặp câu ghép cuối cùng chỉ đơn giản gắn kết của sự loại trừ liên tiếp
Nhiệm vụ của người học sinh là ghép chúng lại một cách thích hợp
Ví dụ 3 Ghép các phần câu ở hai cột với nhau sao cho phù hợp:
1 Amoniac A Không làm đổi màu dung dịch fenolphtalein
2 Metyl amin B Làm giấy quỳ tím ẩm chuyển sang màu xanh
3 Glyxin C Không làm giấy quỳ tím đổi màu
4 Anilin D Làm dung dịch fenolphtalein hóa hồng
Ưu điểm:
- Dễ viết, dễ dùng
- Loại này thích hợp với trình độ học sinh trung học hơn
- Có thể dùng loại câu này để đo các mức trí năng khác nhau Nó đặc biệt trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
1.2.2.4 Loại câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Loại câu hỏi này thường có dạng hình thức của một câu phát biểu không đầy đủ hay một câu hỏi có câu dẫn được nối tiếp bằng một số câu trả lời mà học sinh phải lựa chọn Câu trả lời hoàn toàn đúng là câu trả lời tốt nhất trong các câu
có vẻ hợp lý
Trang 19Một câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn gồm hai bộ phận:
A Câu dẫn: Ở đầu câu kiểm tra có thể viết dưới dạng một câu hỏi trực tiếp
hay một phát biểu không đầy đủ Điều này có tác dộng như cách phát biểu để tạo ra một kích thích gợi ý câu trả lời cho học sinh
B Câu chọn: Thường gồm từ 3 đến 5 câu là phù hợp, câu lựa chọn không
nên quá ít (2 câu) hoặc quá nhiều (10 câu) dựa vào quy luật tâm lý và các quy luật xác suất thống kê Trong câu chọn chia thành:
- Câu đúng: là câu đúng nhất trong các câu lựa chọn
- Câu sai: Là câu kém chính xác nhất phải lựa chọn
- Câu nhiễu: Là câu trả lời có vẻ hợp lý, nhưng thực tế có chỗ sai, có tác động nhiều đối với học sinh có năng lực tốt và tác động thu hút đối với học sinh
có năng lực nhận biết kém
Ví dụ 4 Phát biểu nào sau đây là đúng:
A Tính axit của phenol yếu hơn của rượu (ancol)
B Cao su thiên nhiên là sản phẩm trùng hợp của isopren
C Các chất etilen, toluen và stiren đều tham gia phản ứng trùng hợp
D Tính bazơ của anilin mạnh hơn của amoniac
• Ưu điểm:
Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau chẳng hạn như:
- Xác nhận mối tương quan nhân quả
- Nhận biết các điều sai lầm
- Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
- Định nghĩa các khái niệm
- Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
- Nhận biết điểm tương đồng hay sự khác biệt giữa hai hay nhiều vật
- Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
- Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật
- Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
Độ tin cậy cao hơn: yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều lần so với các loại TNKQ khác, nhất là khi số phương án lựa chọn tăng lên
Tính giá trị tốt hơn: Với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ hiểu, áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quát hóa, khái quát hóa rất hữu hiệu
Tính khách quan cao khi chấm bài Điểm số của bài TNKQ không phụ thuộc không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh và trình độ người chấm bài
• Nhược điểm:
- Loại câu này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất còn những câu
Trang 20còn lại gọi là câu nhiễu cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra phải soạn câu hỏi thế nào đó
để đo được các khả năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu
- Đối với học sinh có tư duy tốt có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp
án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thỏa mãn
- Các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ
- Tốn kém giấy mực để in đề và cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi
• Lưu ý:
Câu hỏi loại này có thể dùng kiểm tra năng lực nhận thức ở mức biết,
khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp, và ngay cả khả năng phán đoán cao vì vậy khi viết loại câu này cần lưu ý:
- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt
rõ ràng một vấn đề Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì
- Câu chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn, có cấu trúc song song nghĩa là chúng phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn
- Nên có 4 - 5 phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu phương án trả lời ít hơn thì yếu tố đoán mò hay may rủi tăng lên Nhưng nếu có quá nhiều phương án để chọn thì giáo viên khó soạn và học sinh mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi, các câu gây nhiễu phải có vẻ hợp lý, và có sức hấp dẫn như nhau để nhử học sinh kém lựa chọn
- Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, các phương án còn lại thực sự nhiễu
- Không được đưa vào 2 câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên thực sự nhiễu
- Có thể có những biến thể của loại câu nhiều lựa chọn Các biến thể này đòi hỏi học sinh phải tìm hiểu sâu
A Câu nhiều lựa chọn có nhiều câu trả lời
B Câu kết hợp: là loại câu cho phép có thể có nhiều câu trả lời đối với một khối lượng tư liệu hạn chế
1.2.3 Một số chỉ dẫn về phương pháp soạn câu hỏi trắc nghiệm
Trang 21- Hãy tìm và loại trừ chỗ gây hiểu lầm khó hiểu mà ch ưa phát hiện được trong câu
- Đừng cố gắng tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt câu hỏi theo cách phức tạp hơn, trừ khi người soạn muốn kiểm tra về phần đọc hiểu
- Tránh cung cấp những đầu mối dẫn đến câu trả lời, thói quen xây dựng câu trả lời đúng dài hơn câu nhiễu dễ dàng bị phát hiện
- Tránh câu dẫn của một câu hỏi có thể chứa đựng những thông tin cần thiết cho phép trả lời câu hỏi khác
- Tránh gây ra những tác động không mong muốn về mặt giáo dục
- Không khuyến khích học thuộc
- Tránh nêu nhiều hơn một ý tưởng độc lập trong câu dẫn
- Tránh những câu hay từ đoán ra câu trả lời
- Trong một bộ câu hỏi sắp xếp các câu trả lời theo một cách ngẫu nhiên
- Tránh câu hỏi mang tính chất đánh lừa hay gài bẫy
- Cố gắng tránh sự mơ hồ về mặt ý nghĩa trong câu nhận định
- Đề phòng câu hỏi thừa giả thiết
- Để soạn tốt các câu hỏi trắc nghiệm cần phải nắm vững các nguyên tắc dạy học, nhiệm vụ môn học, nội dung chương trình và đối tượng người học để soạn thảo hệ thống câu hỏi vừa đảm bảo nội dung kiến thức vừa phù hợp vời trình độ học sinh
1.2.3.2 Những chỉ dẫn riêng cho từng loại câu hỏi
1.2.3.2.1 Câu hỏi điền khuyết
- Chỉ nên sử dụng câu hỏi này khi rõ ràng chỉ có duy nhất một câu trả lời đúng
- Nếu cần các đơn vị đo lường thì trong câu trả lời phải chỉ rõ các con số có ý nghĩa
- Trong những câu hỏi buộc phải điền thêm chỗ trống không nên để quá nhiều chỗ trống làm cho các câu trả lời trở lên khó hiểu
1.2.2.2 Câu hỏi đúng sai
- Câu nhận định phải rõ ràng để có thể trả lời chính xác đúng hoặc sai
- Câu nhận định phải ngắn, ngôn ngữ phải đơn giản và tránh có hai câu phủ định trong một mệnh đề
- Độ dài và mức độ phức tạp của câu nhận định không nên tạo thành cơ sở cho việc lựa chọn đúng sai
- Đề phòng trường hợp mà câu trả lời đúng tùy thuộc vào một chữ, một từ hay một câu không quan trọng
1.2.2.3 Câu hỏi ghép đôi
- Phải đảm bảo cho hai danh mục đồng nhất
- Nên để các danh mục tương đối ngắn
- Sắp xếp các danh mục một cách rõ ràng
- Giải thích rõ ràng cơ sở ghép đôi
Trang 22- Tránh tạo kiểu ghép đôi một nó tạo nên một quá trình loại trừ dần dần
- Số lượng hai bên cột ghép đôi phải khác nhau để không tạo ra sự ngẫu nhiên cho ghép câu cuối
1.2.2.4 Câu hỏi nhiều lựa chọn
- Dùng một câu hỏi hay một nhận định chưa đầy đủ làm câu dẫn
- Tránh các câu mang tính chất phủ định Nếu phải dùng câu phủ định phải
gạch chân hoặc in nghiêng dưới từ phủ định “không”
- Phải đảm bảo câu trả lời đúng rõ ràng là câu tốt nhất
- Phải đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau vừa đúng ngữ pháp và cùng một dạng hành văn
- Soạn càng nhiều câu nhiễu có vẻ hợp lý và có sức hút càng tốt Nên tạo câu nhiễu trên cơ sở sai lầm của học sinh
- Sắp xếp câu trả lời theo thứ tự ngẫu nhiên, không ưu tiên vị trí nào
- Không nên đưa quá nhiều ý vào một câu hỏi Tập trung vào một ý cho mỗi câu hỏi
- Câu dẫn và câu trả lời phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết; không nên đưa quá nhiều thông tin không thích hợp vào câu dẫn
1.2.4 Qui trình xây dựng câu hỏi TNKQ cho bài KT – ĐG
1.2.4.1 Giai đoạn chuẩn bị
- Xác định mục tiêu:
Xác định mục tiêu muốn kiểm tra – đánh giá cho rõ ràng Cần phân chia nội dung chương trình thành các nội dung cụ thể và xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó để phân bố trọng số Các mục tiêu phải được phát biểu dưới dạng những điều có thể quan sát được, đo được đạt được để đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được của kiến thức kỹ năng
- Lập bảng đặc trưng:
Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, tiến hành lập bảng đặc trưng bằng cách dùng ma trận 2 chiều để phân bố câu hỏi theo trọng số của nội dung và mục tiêu cần kiểm tra Phân loại từng câu hỏi trắc nghiệm theo 2 chiều cơ bản: một chiều là chiều các nội dung quy định trong chương trình
và chiều kia là chiều các mục tiêu dạy học hay các yêu cầu kiến thức, kỹ năng, năng lực của học sinh cần đạt được Sau đó phải kiểm tra lại các nội dung hay các mục tiêu của câu hỏi Số lượng câu hỏi tùy thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung
Tùy theo nội dung dạy học và mục tiêu dạy học mà chọn loại câu hỏi có nội dung định tính, định lượng, câu hỏi có nội dung biết, hiểu, vận dụng Cần chọn ra những câu hỏi có mức độ khó phù hợp với yêu cầu đánh giá và trình độ nhận thưc của học sinh
Trang 23Ngoài ra giáo viên phải chuẩn bị đủ tư liệu nghiên cứu, tài liệu tham khảo để
có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững nội dung chương trình, nắm chắc
kỹ thuật soạn thảo câu hỏi TNKQ
1.2.4.2 Giai đoạn thực hiện
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các bước ở giai đoạn chuẩn bị mới bắt đầu chuẩn bị câu hỏi Để có bài TNKQ chất lượng, nên tuân thủ các quy tắc tổng thể sau:
- Bản thảo câu hỏi nên được soạn thảo trước một thời gian trước khi thực hiện kiểm tra học sinh
- Số lượng câu hỏi ở bản thảo phải nhiều hơn số câu hỏi cần dùng trong bài kiểm tra chính thức
- Mỗi câu hỏi liên quan đến một mục tiêu nhất định Có như vậy câu hỏi mới
có thể biểu diễn mục tiêu dưới dạng đo được hay quan sát được
- Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, không nên dùng những cụm từ có ý nghĩa mơ hồ như: “thường thường”, “đôi khi”, “có lẽ”, “có thể”… vì như vậy học sinh thường đoán mò câu trả lời từ cách diễn đạt câu hỏi hơn là vận dụng sự hiểu biết của mình để trả lời câu hỏi
- Các câu hỏi nên đặt dưới thể xác định hơn là thể phủ định hay thể phủ định kép
- Tránh dùng nguyên văn những câu hỏi từ sách, tài liệu, luận văn, luận án hay bài giảng của người khác
- Tránh để học sinh đoán được câu trả lời dựa vào dữ kiện cho ở những câu hỏi khác nhau
- Kiến thức trong đề thi phân bố theo tỷ lệ khoảng 60% số câu hỏi kiểm tra kiến thức chương trình cơ bản lớp 12, và 40% số câu hỏi mang tính phân loại
- Sắp xếp các câu hỏi theo mức độ khó tăng dần và nhóm các câu hỏi cùng loại gần nhau với lý do sẽ khiến học sinh có cảm hứng làm bài theo mạch tư duy từ
dễ đến khó, không bị tâm lý khi ngay từ đầu đã gặp câu khó Học sinh cũng có thể giảm được thời gian phân loại câu hỏi khó, dễ để tập trung làm bài theo đúng khả năng của mình
- Các chỗ trống để điền câu trả lời nên có chiều dài bằng nhau
- Phải soạn thảo kỹ đáp án trước khi làm bài kiểm tra và cần báo trước cho học sinh cách cho điểm mỗi câu hỏi
- Gửi bản thảo lên hội đồng bộ môn để được các giáo viên phản biện
Trang 24CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DÙNG TRONG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP PHẦN HỮU CƠ LỚP 12 (CƠ BẢN) 2.1 Mô tả mức độ nhận thức
2.1.1 Mức độ “Biết”
- Biết ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc
và nhắc lại, những hoạt động tương ứng với mức độ biết có thể xác định, đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên
- Các động từ tương ứng với mức độ biết: xác định, phân loại, mô tả, phác thảo, lấy ví dụ, liệt kê, gọi tên, giới thiệu, chỉ ra, nhận biết, nhớ lại, đối chiếu
- Các hoạt động trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ Biết: vấn đáp tái hiện, phiếu học tập, các trò chơi, câu đố có hướng dẫn trước, tra cứu thông tin; tìm các định nghĩa
2.1.2 Mức độ “Hiểu”
- Hiểu là khả năng diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn Dự đoán được kết quả hoặc hậu quả Hiểu là mức độ khá gần với nhớ nhưng ở đây học sinh phải có khả năng thấu đáo ý nghĩa của kiến thức Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó mà học sinh phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của mình
- Những hoạt động tương ứng với mức độ hiểu có thể là diễn giải, tổng kết, kể lại, viết lại theo cách hiểu của mình
- Các động từ tương ứng với mức độ hiểu: tóm tắt, giải thích, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng, diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại
2.1.4 Mức độ “Vận dụng cao”
- Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt, hợp nhất các thành phần, rút ra kết luận, các hoạt động liên quan đến mức độ vận dụng cao phân biệt
Trang 25hoặc chia nhỏ các thành phần, thiết kế, đặt kế hoạch, tạo hoặc sáng tác, biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận, giải bài tập hóa học khó
- Các động từ tương ứng thể hiện mức độ vận dụng cao: phân tích, suy luận,
lựa chọn, vẽ biểu đồ, phân biệt, đối chiếu, so sánh, phân loại, liệt kê Xác định đề, đưa ra kết luận, giả thiết, lập kế hoạch, tranh luận, kết luận
2.2 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong các chương
2.2.1 Chương este – lipit
2.2.1.1 Nội dung
- Este
+ Khái niệm, tính chất vật lí, tính chất hoá học, ứng dụng, điều chế este
+ Công thức chung, CTPT, CTCT của este
+ Viết đồng phân của este và biết gọi tên của este
- Lipit
+ Khái niệm về lipit, nắm được 1 số lipit thường gặp
+ Khái niệm chất béo, công thức cấu tạo chung của chất béo
+ Tính chất vật lí, tính chất hoá học
2.2.1.2 Ma trận phát triển nhận thức
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
- Nêu được khái
niệm este - lipit,
- Viết các đồng phân este, chất béo, gọi tên
- Phân biệt được dầu ăn và mỡ bôi trơn về TPHH
- So sánh, giải thích được nhiệt
độ sôi và độ tan của este với hợp chất khác
- Giải thích được một số TN quen thuộc (TN điều chế este etyl axetat)
- Phân biệt, nhận biết được hợp chất chứa chức este với chất có chứa nhóm chức khác như axit cacboxylic, ancol, phenol, andehit,
- Giải được các bài tập đơn giản liên quan đến este, chất béo:
+ Dạng toán thủy phân este, chất béo
+ Dạng toán đốt cháy
- Giải thích được một số hiện tượng
TN liên quan đến thực tiễn
- Giải quyết được các bài tập phức tạp liên quan đến este, chất béo: + Dạng toán thủy phân este đa chức hoặc tạp chức (xác định sản phẩm, có cấu tạo đặc biệt, đa chức, tạp chức…)
+ Dạng toán đốt cháy este, hỗn hợp este, chất béo và các nhóm chức khác
+ Hiệu suất phản ứng este hóa
- Phát hiện được một số hiên tượng trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải thích
Trang 262.2.1.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả
2.2.1.3.1.Mức độ nhận biết
Câu 1 Este no, đơn chức, mạch hở có công thức phân tử chung là
A CnH2nO , n ≥ 2 B CnH2nO2 , n ≥ 2
C CnH2nO2 , n ≥ 1 D CnH2n+2O , n ≥2
Hướng dẫn: Công thức tổng quát của este là: C Hn 2n + 2 2a 2b O2b
Este no, hở tổng số liên kết và số vòng trong phân tử bằng 0, a=0
Este đơn chức có một nhóm chức este (-COOR), b=1
Do đó công thức phân tử chung là CnH2nO2 , n ≥ 2
Đáp án B
Câu 2 Cho các chất có công thức cấu tạo sau đây:
(1) CH3CH2COOCH3; (2) CH3OOCCH3; (3) C2H5OC2H5; (4) CH3COOC2H5; (5) CH3OCOC2H3; (6) HOOCCH2CH2OH; (7) CH3OOC–COOC2H5
Những chất thuộc loại este là:
Những chất không thuộc loại este là (3) và (5) do:
C2H5OC2H5 là ete do chứa chức ete (-O-)
HOOCCH2CH2OH là hợp chất tạp chức của axit (-COOH) và ancol (-OH)
Đáp án B
Câu 3 Chất béo là trieste của axit béo với
A Etanol B Phenol C Glixerol D Etylen glicol
Hướng dẫn: Chất béo là trieste của glixerol và axit béo có công thức chung là:
Đáp án C
Câu 4 Cho các phát biểu sau:
(a) Chất béolà trieste của glixerol và các axit béo
(b) Chất béo nhẹ hơn nước, không tan trong nước nhưng tan nhiều trong dung môi hữu cơ
(c) Phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường kiềm gọi là phản ứng xà
CH 2 - O - CO - R1
CH - O - CO - R2
CH 2 - O - CO - R3
Trang 27phòng hóa
(d) Các este đều được điều chế từ axit cacboxylic và ancol
(e) Tristearin, triolein có công thức lần lượt là:
(d) Sai Với este của phenol thì điều chế từ phenol và anhydrit axit
Ví dụ: có thể điều chế este phenyl axetat từ phenol và anhydrit axetic
(CH3CO)2O
C6H5OH + (CH3CO)2O to CH3COOC6H5 + CH3COOH
anhiđric axetic phenyl axetat
(e) Đúng
Đáp án A
Câu 5 Cho các phát biểu sau:
(a) Trong phân tử triolein có 3 liên kết π
(b) Muối Na hoặc K của axit béo được gọi là xà phòng
(c) Khi Hiđro hóa hoàn toàn chất béo lỏng sẽ thu được chất béo rắn
(d) Xà phòng không thích hợp với nước cứng vì tạo kết tủa với nước cứng
Số phát biểu sai là
Hướng dẫn:
(a) Sai Triolein là este 3 chức tạo bởi axit béo oleic C17H33COOH vốn không
no (có một nối đôi C=C trong phân tử) do đó có 2π => triolein phải có 6π
Số đồng phân của este có công thức phân tử C4H8O2 là:
HCOOCH2CH2CH3, HCOOCH(CH3)CH2, CH3COOCH2CH3, CH3CH2COOCH3
Trang 28 Số este là 4
Chú ý: Trong trường hợp này có thể tính nhanh bằng cách áp dụng công thức tính số
đồng phân đối với este no, đơn chức, mạch hở CnH2nO2 là 2n-2 (1<n<5)
C4H8O2 có số chức este = 1, k =1, n = 4 24-2 = 4 đồng phân este
Đáp án A
Câu 2 Khi thuỷ phân este vinylaxetat trong môi trường axit thu được:
A Axit axetic và rượu vinylic B Axit axetic và andehit axetic
C Axit axetic và rượu etylic D Axit axetat và rượu vinylic
Hướng dẫn: Khi thuỷ phân este vinylaxetat (CH3COOCH=CH2) trong môi
trường axit thu được axit axetic và andehit axetic
Câu 3 Một học sinh thực hiện thí nghiệm sau:
Ban đầu, bạn học sinh cho vào bình cầu: C2H5COOHnguyên chất, C2H5OHvà dung
dịch H2SO4 đặc Sau thí nghiệm, trong bình nón thu được một chất có mùi dứa Tên
gọi của chất đó là
A Etyl axetat B Metyl propionat
C Etyl propionat D Metyl axetat
Trang 29Đáp án C
Câu 4 Một este có công thức phân tử là C3H6O2, có phản ứng tráng gương với
dung dịch AgNO3 trong NH3, công thức cấu tạo của este là
Đáp án A
Chú ý: Este có thể tham gia phản ứng tráng gương thì phải có công thức dạng HCOOR
Câu 5 Từ quả đào chín người ta tách được chất A có công thức phân tử C3H6O2 A
có phản ứng tráng bạc, không phản ứng với Na, trong A chỉ có một loại nhóm chức A có tên là
A Etyl fomat B Metyl axetat
Hướng dẫn: A có công thức phân tử C3H6O2 k = 1
A có phản ứng tráng bạc, không phản ứng với Na, trong A chỉ có một loại nhóm chức A là este của axit fomic CTCT của A: HCOOC2H5 (etyl fomat)
Đáp án A
Câu 6 Cho các este: etyl fomat (1), vinyl axetat (2), triolein (3), metyl acrylat (4),
phenyl axetat (5) Dãy gồm các este đều phản ứng được với dung dịch NaOH (đun nóng) sinh ra ancol là
A (1), (2), (3) B (1), (3), (4)
C (2), (3), (5) D (3), (4), (5)
Hướng dẫn:
HCOOC2H5 + NaOH HCOONa + C2H5OH
CH3COOCH=CH2 + NaOH CH3COONa + CH3CHO
(C17H33COO)3C3H5 + NaOH 3C17H33COONa + C3H5(OH)3
CH2=CHCOOCH3 + NaOH CH2=CHCOONa + CH3OH
CH3COOC6H5 + 2NaOH CH3COONa + C6H5ONa + H2O
Các este đều phản ứng được với dung dịch NaOH (đun nóng) sinh ra ancol
là etyl fomat, triolein, metyl acrylat
Đáp án B
Câu 7 Trilinolein không tác dụng với chất (hoặc dung dịch) nào dưới đây?
Trang 30A H2O (xúc tác H2SO4 loãng, đun nóng)
B Cu(OH)2 (ở điều kiện thường)
C Dung dịch NaOH (đun nóng)
D H2 (xúc tác Ni, đun nóng)
Hướng dẫn:
Glixerin trilinoleat là trieste của glixerol và axit oleic ( axit béo không no có hai liên kết đôi C=C) Có phản ứng thủy phân trong môi trường kiềm và axit, ngoài ra còn có phản ứng hidro hóa do có gốc hidrocacbon không no Không có phản ứng với Cu(OH)2 (ở điều kiện thường)
t
C3H5OH + 3C17H31COONa (C17H31COO)3C3H5 + 2H2 ,
- Số đồng phân triglixerit của 1 loại axit béo: 1.3 = 3 đp
Mà có 3 loại axit béo => có 3 đồng phân
- Số đồng phân triglixerit của 2 loại axit béo: 4.3 = 12 (đồng phân)
Xét 1 cặp: R1, R2
Mà tổng cộng có C3 = 3 cặp axit béo tham gia tạo triglixerit từ 3 loại axit béo => có 12 đp
- Số đồng phân triglixerit của 3 loại axit béo: 3 đồng phân
Tổng cộng số đồng phân trieste: 3 + 12 + 3 = 18 (đồng phân)
Trang 31Đáp án A
Chú ý: Có thể tính nhanh bằng công thức tính số đồng phân trieste tạo bởi
glyxerol và hỗn hợp n axit béo:
Giữa các phân tử este không có liên kết hiđro liên phân tử vì thế este có nhiệt
độ sôi thấp hơn so với axit và ancol có cùng số nguyên tử C Ngoài ra, liên kết hydro liên phân tử giữa các axit bền hơn so với các ancol nên axit có cùng số nguyên tử Cacbon với ancol sẽ có nhiệt độ sôi cao hơn Dãy các chất được sắp
xếp theo chiều nhiệt độ sôi tăng dần:
(2) CH3COOC2H5, (3) C3H7CH2OH, (1) C3H7COOH
H-COO-CH=CH-R + H2O t , Ho HCOOH + RCH2CHO
H-COO-CH=CH-R’ khi thủy phân tạo ra 2 chất đều chưa nhóm chức anđehit CHO) do đó tham gia được phản ứng tráng bạc Vậy công thức cấu tạo của este
(-là H - COO - CH = CH - CH3
Đáp án C
Chú ý: Este sau khi thủy phân cho sản phẩm có khả năng tham gia phản ứng
tráng gương thì phải có công thức là HCOOR hoặc RCOOCH=CH–R’ Đối với trường hợp có hỗn hợp sản phẩm đều có khả năng tham gia phản ứng tráng gương thì phải có công thức dạng HCOOCH=CH–R’
2.2.1.3.3 Mức độ vận dụng thấp
Câu 1 Tỉ khối hơi của este no, đơn chức, mạch hở X so với không khí bằng
2,55 Công thức phân tử của X là
A C2H4O2. B C3H6O2 C CH2O2. D C4H8O2.
Hướng dẫn: Gọi công thức phân tử của este no, đơn chức, mạch hở X là:
CnH2nO2
Trang 32Câu 2 Thuỷ phân hoàn toàn 8,8 gam este đơn chức, mạch hở X với 100 ml dung
dịch KOH 1M (vừa đủ) thu được 4,6 gam một ancol Y Tên gọi của X là
A Etyl fomat B Etyl propionat C Etyl axetat D Propyl axetat
Câu 3 Đốt cháy hoàn toàn 0,15 mol một este X, thu được 10,08 lít khí CO2 (đktc)
và 8,1 gam H2O Công thức phân tử của X là
Trang 33nglixerol= m = 46 = 0,5mol
M 92
Từ PTHH => nchất béo = nglixerol =0,5 mol
Đáp án A
Chú ý: Không nhất thiết phải viết PTHH bài này có thể giải ngay khi các em
áp dụng công thứ : nchất béo = nglixerol =n NaOH
n Với n là số nhóm chức este của glixerol và axit béo, n có thể nhận các giá trị
1,2 hoặc 3
Câu 5 Thủy phân 322,4g chất béo thu được 36,8g glixerol Tên của chất béo là
A Tristearin B Triolein C Tripanmitin D Trilinolein
Hướng dẫn: Gọi CT của chất béo có dạng (RCOO)3C3H5.
Chú ý: Đối với những dạng bài tập như thế này các em nên học thuộc khối
lượng mol của các gốc axit béo để dễ dàng tính toán cũng như chọn đáp án
nhanh
Axit béo
axit panmitic C15H31COOH 211 axit stearic C17H35COOH 239 axit oleic C17H33COOH 237 axit linoleic C17H31COOH 235
Câu 6 Đun 3,0 gam CH3COOH với C2H5OH dư (xúc tác H2SO4 đặc) thu được 2,2 gam CH3COOC2H5 Hiệu suất của phản ứng este hóa là
Trang 34Hiệu suất phản ứng: H = 3 2 5
( ) ( )
Đáp án A
Câu 2 Thủy phân hoàn toàn m1 gam este X mạch hở bằng dung dịch NaOH dư, thu được m2 gam ancol Y (không có khả năng phản ứng với Cu(OH)2) và 15 gam hỗn hợp muối của hai axit cacboxylic đơn chức Đốt cháy hoàn toàn m2
gam Y bằng oxi dư, thu được 0,3 mol CO2 và 0,4 mol H2O Giá trị của m1 là
A 11,6 B 16,2 C 10,6 D 14,6
Hướng dẫn: n Y n H O2 n CO2 0, 4 0,3 0,1mol.
Số C (ancol) = 2 3
Y CO
n
Vì thủy phân X thu được 2 muối đơn chức nên ancol đa chức, Công thức của ancol có dạng C3H8Ox (x ≥ 2) Mặt khác ancol k hòa tan được Cu(OH)2 nên không thể là glixerol
Câu 3 Đốt cháy 1,60 gam một este E đơn chức được 3,52 gam CO2 và 1,152 gam
H2O Cho 10 gam E tác dụng với lượng NaOH vừa đủ, cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được 14,00 gam muối khan G Cho G tác dụng với axit vô cơ loãng thu được G1 không phân nhánh Số lượng CTCT thoả mãn tính chất đã nêu của E là
Trang 35m + m = m nên E phải là este vòng nội phân tử và có các
công thức cấu tạo sau :
Chú ý: Nếu thủy phân este mà khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng
khối lượng của sản phẩm tạo thành thì este đem thủy phân là este vòng
Câu 4 Hỗn hợp X gồm axit HCOOH và CH3COOH (tỉ lệ mol 1:1) Hỗn hợp Y gồm hai ancol CH3OH và C2H5OH (tỉ lệ mol 3:2) Lấy 11,13 gam hỗn hợp X tác dụng với 7,52 gam hỗn hợp Y (có xúc tác H2SO4 đặc) thu được m gam hỗn hợp este (hiệu suất các phản ứng đều bằng 80%) Giá trị m là
Trang 36Câu 5.Thuỷ phân hoàn toàn 444 gam một lipit thu được 46 gam glixerol (glixerin)
và hai loại axit béo Công thức phân tử của 2 axit béo lần lượt là:
Gọi công thức trung bình của Lipit: (RCOO)3C3H5
(RCOO)3C3H5 + 3NaOH 3 RCOONa + C3H5(OH)3
0,5
Từ PTHH: Số mol lipit = 0,5 mol
Khối lượng phân tử của Lipit : 444/0,5 = 888
3R + 173 = 888 237 <R = 238,3 < 239
C17H33 = 237 , C17H35 = 239
Đáp án D
Câu 6 Xà phòng hóa hoàn toàn 1,99 gam hỗn hợp hai este bằng dung dịch NaOH
thu được 2,05 gam muối của một axit cacboxylic và 0,94 gam hỗn hợp hai ancol là đồng đẳng kế tiếp nhau Công thức của hai este lần lượt là:
Thủy phân 2 este trong môi trường kiềm thu được một muối và 2 ancol kế tiếp
công thức tổng quát của 2 este có dạng: RCOOR
'
RCOOR + NaOH H O, t 2 o RCOONa + R'OH (1)
Áp dụng bảo toàn khối lượng:
meste + mNaOH = mmuối + mancol mNaOH = mmuối + mancol - meste
NaOH
m = 0,94 + 2,05 - 1,99 = 1gam
NaOH
n = 0,025mol
Trang 37M = 0,94 : 0,025 = 37,6 15 <R'= 37,6 – 16 -1 = 20,6 < 29 2 ancol đồng đẳng kế tiếp lần lượt là CH3OH, C2H5OH
Đáp án D
2.2.2 Chương cacbohidrat
2.2.2.1 Nội dung
- Glucozơ
+ Khái niệm, phân loại cacbohiđrat
+ Công thức cấu tạo dạng mạch hở, tính chất vật lí (trạng thái, màu, mùi, nhiệt
độ nóng chảy, độ tan), ứng dụng của glucozơ
- Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ
+ Công thức phân tử, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lí (trạng thái, màu, mùi,
vị, độ tan), tính chất hoá học của saccarozơ (thủy phân trong môi trường axit)
+ Tính chất hoá học của tinh bột và xenlulozơ: tính chất chung (thuỷ phân), tính chất riêng (phản ứng của hồ tinh bột với iot, phản ứng của xenlulozơ với axit HNO3; ứng dụng
2.2.2.2 Ma trận phát triển nhận thức
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
- Nêu được khái
niệm, phân loại
ra tính chất hóa học tương ứng
- Viết được các PTHH minh họa cho tính chất hoá học
- So sánh độ ngọt của glucozơ, fructozơ, saccarozơ
- Nhận biết, phân biệt các dung dịch:
saccarozơ, glucozơ, glixerol bằng phương pháp hoá học
- Hiểu được các phản ứng chứng minh cấu tạo glucozơ, fructozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ
- Giải thích được một
số TN quen thuộc (TN
- Giải được các bài tập đơn giản liên quan đến glucozơ,
fructozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ:
+ Tính khối lượng Ag thu được từ phản ứng tráng bạc của glucozơ
+ Dạng toán lên men rượu từ glucozơ hoặc tinh
xenlulozơ
+ Hiệu suất phản ứng lên men
- Giải thích được một số hiện tượng quen thuộc liên quan đến
- Giải quyết được các bài tập phức tạp liên quan đến glucozơ, fructozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ: + Dạng toán lên men rượu từ glucozơ hoặc tinh bột hoặc xenlulozơ sau đó dẫn sản phẩm qua dung dịch nước vôi trong (Ca(OH)2)
+ Dạng toán thủy phân saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ trong môi trường axit
+ Dạng toán tính hiệu suất để sản xuất thuốc
nổ (xenlulozơ trinitrat)
từ xenlulozơ
+ Dạng toán đốt cháy cacbohiđrat
- Phát hiện được một
Trang 38saccarozơ, tinh
bột, xenlulozơ
của glucozơ với Cu(OH)2, TN hồ tinh bột với iot)
2.2.2.3 Hệ thống câu hỏi TNKQ theo các mức độ đã mô tả
Câu 2 Cacbohidrat nhất định phải chứa nhóm chức của
A Ancol B Andehit C Xeton D Este
Hướng dẫn:
Cacbohidrat là hợp chất polihidroxicacbonyl và dẫn xuất của chúng phân tử phải chứa nhóm hidroxy (–OH) là nhóm chức của ancol
Đáp án A
Câu 3.Mô tả nào dưới đây không đúng với glucozơ?
A Chất rắn, màu trắng, tan trong nước và có vị ngọt
B Có mặt trong hầu hết các bộ phận của cây, nhất là trong quả chín
C Còn có tên gọi là đường nho
D Có 0,01% trong máu người
Hướng dẫn:
A Đúng
B Đúng
C Đúng glucozo có nhiều trong quả nho chín nên còn gọi là đường nho
D Sai vì trong máu người có một lượng nhỏ glucozo, hầu như không đổi (nồng
độ khoảng 0,1%)
Đáp án D
Câu 4 Ứng dụng nào không phải là ứng dụng của glucozơ?
A Làm thực phẩm dinh dưỡng và thuốc tăng lực
B Tráng gương, tráng phích
C Nguyên liệu sản xuất ancol etylic
D Nguyên liệu sản xuất PVC
Hướng dẫn:
A Đúng Vì trong y học, glucozơ được dùng làm thuốc tăng lực
Trang 39B, C Đúng Vì trong công nghiệp, glucozơ được dùng để tráng gương, tráng
ruột phích và là sản phẩm trung gian trong sản xuất ancol etylic từ các nguyên liệu
có chứa tinh bột và xenlulozơ
D Sai Vì PVC (polivinylclorua) được sản xuất bởi phản ứng trùng hợp
CH2=CHCl (vinylclorua)
Đáp án D
Câu 5 Khi thủy phân saccarozơ thì thu được
A Ancol etylic B Glucozơ và fructozơ
Câu 6 Saccarozơ có thể tác dụng với các chất
A H2/Ni, t0 ; Cu(OH)2, đun nóng;
B Cu(OH)2, đun nóng ; CH3COOH /H2SO4 đặc, t0
C Cu(OH)2, đun nóng ; dung dịch AgNO3/NH3
D H2/Ni, t0 ; CH3COOH /H2SO4 đặc, t0
Hướng dẫn:
Saccarozơ không có nhóm chức -CHO nên saccarozơ không có tính chất của anđêhit nhưng có tính chất của ancol đa chức (phản ứng với Cu(OH)2) và phản ứng thủy phân, ngoài ra các gốc –OH của saccarozo còn tham gia phản ứng este hóa với CH3COOH /H2SO4 đặc ở nhiệt độ thích hợp
PTHH:
2C12H22O11 + Cu(OH)2 → (C12H21O11)2Cu + 2H2O
C12H14(OH)8 + CH3COOH H SO đac, t 2 4 0C12H14(OOCCH3)8 + 8H2O
Đáp án D
Câu 7 Phát biểu nào sau đây không đúng?
A Tinh bột là polime có cấu trúc dạng mạch phân nhánh và không phân nhánh
B Tinh bột không tan trong nước lạnh Trong nước nóng từ 650C trở lên, tinh bột chuyển thành dung dịch keo nhớt
C Tinh bột không phản ứng với dung dịch H2SO4 loãng, đun nóng
D Etanol có thể được sản xuất bằng phương pháp lên men các nông sản chứa
nhiều tinh bột
Hướng dẫn:
Trang 40A Đúng Vì tinh bột gồm hỗn hợp hai polisaccarit là amilozơ và amolopectin
Thành phần không phân nhánh là aminozo, thành phân phân nhánh là aminopectin
Câu 8 Xenlulozo điaxetat được dùng để sản xuất phim ảnh hoặc tơ axetat Công
thức đơn giản nhất của Xenlulozo điaxetat là
A C10H12O5 B C12H14O7 C C10H14O7 D C12H14O5
Hướng dẫn:
Xenlulozo điaxetat có công thức là [C6H8O3(OCOCH3)2]n
Công thức đơn giản nhất của Xenlulozo điaxetat là C10H14O7
Đáp án C
2.2.2.3.2 Mức độ thông hiểu
Câu 1 Để chứng minh trong phân tử của glucozơ có nhiều nhóm hiđroxyl, người
ta cho dung dịch glucozơ phản ứng với
A Kim loại Na
B AgNO3 trong dung dịch NH3 đun nóng
C Cu(OH)2 trong NaOH, đun nóng
D Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường
Hướng dẫn:
A Sai
B Sai
C Sai Vì phản ứng với Cu(OH)2 trong NaOH chứng tỏ glucozo có nhóm
–CHO do tạo kết tủa màu đỏ gạch Cu2O
HOCH2[CHOH]4CHO + 2Cu(OH)2+NaOHto HOCH2[CHOH]4COONa
+ Cu2O+ 3H2O Natri gluconat
(đỏ gạch)
D Đúng Vì chỉ có ancol đa chức liền kề mới có phản ứng này
Đáp án D
Câu 2 Rượu vang (từ tiếng Pháp là vin) là một loại thức uống có cồn được lên
men từ nước nho Rượu vang đỏ thường được lên men từ nước ép là vỏ quả nho, còn rượu vang trắng được lên men chỉ từ nước nho Rượu vang được làm
từ các loại nho nguyên chất và được lên men một cách tự nhiên Vì nho vốn có