1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã tràng xá, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên

71 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Nguyễn Minh Thắng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Thắng
Trường học Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế & Phát triển Nông thôn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
  • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (9)
    • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (10)
  • 1.3. Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài (10)
    • 1.3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học (10)
    • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (10)
  • 1.4. Ý nghĩa đối với sinh viên (10)
  • PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (8)
    • 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài (11)
      • 2.1.1. Vai trò của sản xuất chè (11)
      • 2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè (12)
      • 2.1.3. Một số khái niệm liên quan (13)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (17)
      • 2.2.1. Tiềm năng phát triển ngành chè Việt Nam (17)
      • 2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới (19)
      • 2.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam (22)
  • PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (11)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (27)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (27)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (27)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (27)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 3.4.1. Phương pháp xác định mẫu (28)
      • 3.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (28)
      • 3.4.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (29)
      • 3.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (30)
  • PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (26)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá (31)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (31)
      • 4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội (33)
      • 4.1.3. Một số nét cơ bản về sản xuất chè trên địa bàn xã (36)
    • 4.2. Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra (37)
      • 4.2.1. Đặc điểm chung của đối tượng điều tra (37)
      • 4.2.2. Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra (38)
      • 4.2.3. Chi phí sản xuất chè của nông hộ (40)
      • 4.2.4. Năng suất chè của các hộ được điều tra (42)
      • 4.2.5. Giá bán chè bình quân của các hộ điều tra (43)
      • 4.2.6. Hình thức tiêu thụ của nông hộ (45)
    • 4.3. Nhận thức, nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ tham gia (48)
      • 4.3.1. Sự tham gia trong tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (48)
      • 4.3.2. Nhận thức về sản xuất chè hữu cơ của nông hộ (49)
      • 4.3.3. Nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ (50)
      • 4.3.4. Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ (51)
      • 4.3.5. Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (52)
    • 4.4. Phân tích SWOT đối với sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (55)
      • 4.4.1. Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ được điều tra (55)
      • 4.4.2. Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (56)
      • 4.4.3. Phân tích SWOT (58)
    • 4.5. Giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ (61)
      • 4.5.1. Giải pháp về vốn (62)
      • 4.5.2. Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, đảm bảo chất lượng (63)
      • 4.5.3. Đào tạo nguồn nhân lực sản xuất chè hữu cơ (63)
      • 4.5.4. Đảm bảo đầu vào về giống, phân bón và các chế phẩm hữu cơ (64)
      • 4.5.5. Mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu chè hữu cơ Tràng Xá 57 4.5.6. Đầu tư khoa học, công nghệ cao cho sản xuất và chế biến chè hữu cơ (64)
      • 4.5.7. Giải pháp về cơ chế, chính sách (65)
  • PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (31)
    • 5.1. Kết luận (67)
    • 5.2. Kiến nghị (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)

Nội dung

Là một trong những xã có diện tích chè lớn nhất của huyện Võ Nhai.Từ lâu đời, cây chè luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây.2 Mặc dù là cây trồng chủ lực

Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè, một loại cây công nghiêp lâu năm đem lại giá trị kinh tế cao được trồng phổ biến và rộng rãi ở nước ta.Lịch sử cây chè ở nước ta đã có từ

4000 năm trước, tuy nhiên nó mới chỉ được khác thác và phát triển mạnh trong khoảng 50 năm gần đây

Cây chè có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng trung du và miền núi phía Bắc Cây chè đem lại nguồn thu nhập tương đối ổn định cho người trồng chè, mỗi năm cho thu hoạch từ 8 - 9 lứa, cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất chống đồi trọc, tạo việc làm cho người lao động nông thôn Phát triển sản xuất chè là biện pháp tích cực giải quyết việc làm, tạo ra nguồn thu nhập chắc chắn, ổn định cho người dân, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của cả nước nói chung và vùng trung du miền núi phía Bắc nói riêng

Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có khí hu nhiệt đới gió mùa, chỉ có một mùa đông ngắn, thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó có cây chè Là một trong những vùng sản xuất chè lớn của cả nước, với diện tích gần 22 nghìn ha, cây chè đã trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống người dân Với thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu đặc thù, người dân giàu kinh nghiệm trồng và chế biến đã tạo nên thương hiệu chè Thái Nguyên không chỉ trên thị trường trong nước mà còn trên cả thị trường quốc tế Tỉnh có vùng trồng chè tập trung, chế biến, đóng gói, tiêu thụ mang tính chất chuyên nghiệp tại các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương và TP Thái Nguyên (1)

Huyện Võ Nhai, một trong chín vùng chè ngon của tỉnh Thái Nguyên Vùng chè Võ Nhai hiện nay có diện tích khoảng 1.250 ha, tập chung chủ yếu tại xã Tràng Xá, Liên Minh và Phú Thượng Xã Tràng Xá, với hơn 300 ha chè, trong đó khoảng 500 ha chè trung du, còn lại là chè cành với các giống chủ yếu: LDP1, TRI777, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên Là một trong những xã có diện tích chè lớn nhất của huyện Võ Nhai.Từ lâu đời, cây chè luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây.(2)

Mặc dù là cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân nhưng chủ yếu sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, sản xuất theo tư duy truyền thống, người sản xuất chè đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật do đó hiệu quả sản xuất không cao, chất lượng chè thấp, các chất hóa học tồn dư trong đất và nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè trong nước và quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè với chất lượng ngày một cao hơn.Bởi chất lượng thấp nên giá bán chè tại đây rất thấp, chênh lệch từ 20 – 40 ngàn đồng/ kg so với các sản phẩm chè cùng loại của vùng chè khác trong tỉnh, thậm chí cả trăm ngàn đồng/kg (so với vùng chè đặc sản Tân Cương)

Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, tận dụng tối đa thế mạnh của địa phương, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và tạo ra sản phẩm an toàn chất lượng cao đối với cây chè tại Tràng Xá, cần thiết tiến hành đề tài “Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu thực trạng sản xuất chè.Đánh giá nhận thức, nhu cầu về sản xuất chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá Từ đó đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Tìm hiểu thực trạng sản xuất chè của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá nhận thức và nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc chuyển từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ tại Tràng Xá

- Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài

Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Cung cấp những thông tin về thực trạng sản xuất chè năm 2019 và hiểu biết về chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Nhu cầu và những khó khăn cản trở tham gia sản xuất chè hữu cơ của họ.

Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ trồng chè đồng thời tận dụng tối đa thể mạnh về tự nhiên và xã hội của địa phương để phát triển sản xuất.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Cây chè, các hộ trồng chè và các hoạt động liên quan đến sản xuất chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài khảo sát tình hình sản xuất chè và nhu cầu sản xuất chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá Từ đó đưa ra một số giải pháp chuyển từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Tràng xá, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong năm 2020.

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020.

Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra

- Nhận thức về chè hữu cơ và nhu cầu chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của các trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thuận lợi, khó khăn khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

- Các giải pháp đề xuất để thực hiện chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ cho các trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá

Xã Tràng Xá nằm ở phía Nam huyện Võ Nhai, là cái nôi của Cách mạng Việt Nam những năm kháng chiến chống pháp, xóm Đồng Ruộng (Tràng Xá) nơi thành lập Trung đội Cứu quốc quân II (tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam) Tràng Xá là địa bàn chiến lược kinh tế - Quốc phòng của huyện Võ Nhai.Tổng diện tích xã là 47,80 km², với dân số 7.057 người, mật độ dân số đạt

148 người/km² Phía Đông giáp xã Dân Tiến và Phương Giao, phía Tây giáp Xã Liên Minh, phía Nam giáp xã Dân Tiến, phía Bắc giáp thị Trấn Đình Cả, xã Lâu Thượng và xã Phú Thượng với danh lam thắng cảnh Hang Phượng Hoàng, một địa danh du lịch nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên

Khí hậu và Tài nguyên thiên nhiên

Tràng Xá mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính, chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4, kết thúc vào đầu tháng 10 hàng năm.Trong thời gian này gió mùa đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 41,5 0 C, nhiệt độ trung bình 28,5 0 C Mùa khô bắt đầu từ gần cuối tháng 11 năm trước đến gần cuối tháng 3 năm sau, gió mùa đông bắc chiếm ưu thế tuyệt đối, trong thời gian này, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,5 0 C, nhiệt độ thấp tuyệt đối xuống đến 3 0 C Độ ẩm không khí trên địa bàn xã khá cao Mùa mưa độ ẩm dao động từ 78% đến 86%, mùa khô từ 65% đến 70%

Xã Tràng xá nằm trong vùng có lượng mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3 mm, phân bố theo mùa, và có sự chênh lệch lớn giữa 2 mùa Mùa mưa, lượng mưa chiếm tới 80% lượng mưa cả năm.Số ngày mưa trên 100mm trong một năm khá lớn.Mùa khô thời tiết lạnh và hanh khô.Tổng lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm (300 mm).Trong đó đầu mùa khô thời tiết hanh khô có khi cả tháng không có mưa, gây nên tình trạng hạn hán Cuối mùa khô không khí lạnh và ẩm do có mưa phùn

Xã Tràng Xá có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú:

- Tài nguyên đất: Tràng Xá có nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa tập trung ở một số xóm Đồng Ẻn, Cầu Nhọ; đất đen ở hầu hết các xóm trên địa bàn xã và đất xám bạc màu chiếm trên 70% phân bố ở thung lũng, đồi thấp Nhìn chung xã Tràng Xá có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiệu loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là đất đồi núi

- Tài nguyên rừng: Rừng ở Tràng Xá chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây Bưởi, Cam, Nhãn Cây lương thực chủ yếu là cây Lúa nước, Ngô, Đậu

- Nguồn nước: Trên địa bàn xã có sông Dong (một nhánh của sông Thương) chảy qua và nhiều khe suối nhỏ do đó nguồn nước mặt tương đối phong phú nhưng phân bố chưa đều

- Du lịch sinh thái: Với địa hình có dãy núi đá vôi xen lẫn núi đất trung điệp tạo nên những thắng cảnh đẹp tự nhiên của núi rừng Hang Huyện và rừng Khuôn Mánh là nhân chứng lịch sử cho cuộc chiến chống giặc ngoại xâm hào hùng của ông cha ta

4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Trong những năm vừa qua xã đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, mạnh dạn đưa ra các giống cây trồng mới có năng suất cao vào sản xuất, hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn mở rộng quy mô sản xuất tạo ra những chuyển biến rõ rệt, đời sống vật chất tinh thần của người dân trong địa bàn xã ngày càng được nâng cao

Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2019 của toàn xã đạt 8.489,53 tấn Cây ăn quả được xác định là cây mũi nhọn của địa phương, nhân dân tích cực chăm sóc, hiện nay diện tích cây ăn quả các loại khoảng 260ha trong đó diện tích bưởi là 185ha (diện tích cây bưởi đã cho sản phẩm là 103ha); Thu nhập từ cây bưởi diễn khoảng hơn 400 triệu đồng/ha Các xóm có diện tích cây ăn quả nhiều: Thắng Lợi, Mỏ Đinh, Lò Gạch, Hợp Nhất Trong năm 2019, UBND xã đã phối hợp cùng Trường Đại học KT&QTKD Thái Nguyên triển khai trồng mới 20ha na dai; trên địa bàn xã trong năm 2019 có 50ha bưởi diễn được công nhận sản xuất theo quy trình VietGAP Đàn lợn duy trì ở mức 3.000 - 4.000 con/năm; đàn gia cầm duy trì ở mức 37.000- 40.000 con; đàn trâu, bò năm 2015 là 1.080 con, năm 2019 là 1.155 con; thuỷ sản duy trì 80 tấn Tổng sản lượng thịt lợn hơi hàng năm bình quân 320 tấn

Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đã và đang phát triển tốt góp phần đẩy mạnh xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng, thay đổi bộ mặt nông thôn mới góp phần tăng tỷ trọng của tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn toàn xã, giải quyết tốt nguồn lao động tại địa phương

Sản xuất ngói xi măng bình quân 7,5 vạn viên/năm

Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp- dịch vụ đóng góp 30% thu nhập bình quân toàn xã

Trong năm 2017 xã Tràng Xá đã đầu xây dựng nâng cấp Chợ Tràng Xá, đảm bảo cho các hoạt động giao thương buôn, bán diễn ra thuận tiện, thị trường hàng hóa lưu thông phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, đồng thời góp phần quan trọng vào việc tăng tỷ trọng thương mại và dịch dịch vụ trên địa bàn, giải quyết lao động tại chỗ, đóng góp vào tổng thu ngân sách xã

Cơ sở hạ tầng Đường tỉnh 265 chạy dọc theo địa bàn xã nối xã với Quốc lộ 1B tuyến đường huyết mạch Thái Nguyên - Lạng Sơn và xã Quyết Thắng (Hữu Lũng – Lạng Sơn) thuận lợi cho giao thương buôn bán Hiện nay xã đang triển khai dự án xây dựng tuyến đường Tràng Xá - Phương Giao - Bắc Sơn (Lạng Sơn) dài 28,35km với kinh phí 156,5 tỷ đồng

Các tuyến đường liên xóm, trục xóm và đường ngõ xóm, đường nội đồng ở 18/18 xóm trên địa bàn xã và đường vào nghĩa địa… được đầu tư theo chương trình nông thôn mới từ năm 2015-2019 và đối ứng của nhân dân làm mới được là 44,42 km

Xã có 1 trạm y tế, 07 cơ sở có giấy phép hành nghề dược bán thuốc trên địa bàn Năm 2019 tổng số thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại Trạm y tế xã là 7.091 thẻ; số bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại trạm là 4.026 lượt

Giáo dục và đào tạo

Chất lượng giảng dạy của các trường trên địa bàn xã ngày càng được nâng cao Cụ thể:

Trường mầm non: Trên địa bàn xã có 02 trường mầm non, trong đó có

58 cán bộ, giáo viên; có 519 học sinh, số học sinh 5 tuổi hoàn thành chương trình mẫu giáo đủ điều kiện vào lớp 1 là 173/173 học sinh đạt 100%

Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra

4.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng điều tra

Qua quá trình điều tra về tình hình sản xuất chè của xã Tràng Xá tôi thu được kết quả sau (được trình bày trong bảng 4.2.1):

Tổng số hộ điều tra là 100 Cây chè là cây trồng chính và mang lại thu nhập chính cho các hộ Điều này chứng tỏ cây chè đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây

Tuổi trung bình của các hộ điều tra, ở nhóm hộ làm chè truyền thống là

47, nhóm làm chè an toàn là 45 Hầu hết ở lứa tuổi này, các hộ điều tra đã ổn định về cơ sở vật chất.Chủ hộ có vốn sống và số năm kinh nghiệm nhất định Các chủ hộ có am hiểu trong lĩnh vực trồng chè Do vậy đây là thuận lợi đáng kể, góp phần kích thích phát triển sản xuất kinh doanh cây chè trong mỗi hộ

Về trình độ văn hoá của chủ hộ: Trình độ văn hoá của chủ hộ nhìn chung còn tương đối thấp Bình quân trình độ văn hóa của hộ sản xuất chè truyển thống là 7/12 còn đối với hộ sản xuất chè an toàn trình độ văn hóa cao hơn so với hộ sản xuất chè truyền thống, trình độ văn hóa đạt 9/12

Bảng 4.2.1: Đặc điểm chung của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Đơn vị tính

Tổng số hộ điều tra Hộ 90 10

Bình quân trình độ văn hóa Lớp 7 9

Bình quân nhân khẩu/ hộ Người 3.9 4.4

Bình quân lao động trong độ tuổi/ hộ Người 2.7 2.9

Bình quân lao động ngoài độ tuổi/ hộ Người 1.1 1.5

Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ hộ Sào 42 60

Bình quân diện tích đất trồng chè/ hộ Sào 8 19

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Trình độ văn hoá sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định sản xuất, chịu trách nhiệm sản xuất và lựa chọn phương thức sản xuất trong mỗi gia đình Do đó, việc nâng cao trình độ văn hoá của các chủ hộ trong thời gian tới đang trở thành nhiệm vụ hàng đầu Bình quân số nhân khẩu của nhóm hộ làm chè an toàn 4,5 người/hộ cao hơn so với 3,9 người/hộ của nhóm làm chè truyền thống Trong đó, bình quân nhân khẩu trong độ tuổi lao động/hộ ở hộ làm chè truyền thống 2,7 lao động, hộ làm chè an toàn là 2,9 lao động Về bình quân nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động của nhóm hộ sản xuất truyền thống là 1,1 người/hộ, còn hộ sản xuất an toàn là 1,5 người/hộ Như vậy, ta thấy nguồn nhân lực trong sản xuất của các hộ điều tra ở 2 phương thức canh tác về cơ bản là tương đương nhau

Diện tích đất cũng là yếu tố rất quan trọng Bình quân diện tích đất nông nghiệp của hộ sản xuất chè an toàn là 60 sào, gấp 1,5 lần diện tích đất nông nghiệp của hộ sản xuất chè truyền thống là 42 sào Diện tích đất nông nghiệp trồng chè của nhóm hộ sản xuất chè an toàn cũng cao hơn, gấp 2 lần, cụ thể bình quân đạt 19 sào/hộ so với 8 sào/hộ của nhóm sản xuất chè truyền thống.Qua đó ta thấy được diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng chè có ảnh hưởng rất lớn đến lựa chọn hướng sản xuất của hộ trồng chè

4.2.2 Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra

Thực tế cho thấy chất lượng chè thành phẩm phụ thuộc vào chất lượng chè nguyên liệu.Chất lượng chè nguyên liệu lại chịu ảnh hưởng của đặc điểm sinh lý, sinh hoá của giống Do vậy việc chọn được giống chè tốt và cơ cấu giống hợp lý là hết sức cần thiết để mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng chè Điều tra nghiên cứu về cơ cấu giống chè của các hộ tôi thu được kết quả nghiên cứu như sau:

Bảng 4.2.2: Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Hộ sản xuất truyền thống Hộ sản xuất an toàn

Số lượng (sào) Cơ cấu (%) Số lượng (sào) Cơ cấu (%)

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Từ bảng 4.2.2 ta thấy, các nông hộ chủ yếu trồng giống chè hạt (chè trung du), các giống chè TRI 777, chè cành lai LDP2, chè Khúc Vân Tiên, chè Kim Tuyên, chè Keo Am Tích mặc dù phù hợp với thổ nhưỡng của địa phương nhưng là các giống chè mới hiện nay đang nằm trong dự án trồng mới 2019 -

2020 Ở nhóm hộ sản xuất chè truyền thống, giống chè hạt chiếm 43% so với tổng diện tích, giống chè cành lai F1 có diện tích 213 sào chiếm 30% gấp đôi so với giống chè cành lai DLDP1 là 109 sào, chiếm 16% Nhóm sản xuất chè an toàn giống chè cành lai LDP1 chiếm diện tích lớn nhất, chiếm 44% với 82 sào, tiếp đến là giống chè hạt chiếm 43% với diện tích 81 sào, chè cành lai F1 chỉ có 35 sào chiếm 13% Điều này cho thấy diện tích trồng các loại chè giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt ở các hộ sản xuất chè truyền thống còn thấp Vì vậy trong thời gian tới, xã Tràng Xátriển khai nhanh các chương trình dự án trồng mới, trồng thay thế, đưa dần các giống chè có năng suất, chất lượng tốt vào thay thế cho những nương chè đã già và cằn cỗi, để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất chè

4.2.3 Chi phí sản xuất chè của nông hộ

4.2.3.1 Bình quân số lần bón phân và sử dụng thuốc BVTV mỗi lứacủa các hộ được điều tra

Sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chè đạt được.Tuy nhiên ở mỗi hướng sản xuất khác nhau tỷ lệ sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là khác nhau Điều đó được thể hiện ở bảng 4.2.3.1dưới đây:

Bảng 4.2.3.1: Bình quân số lần bón phân và sử dụng thuốc BVTV mỗi lứa của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Đơn vị tính Phương thức sản xuất

Sử dụng thuốc BVTV Lần 2 1

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Nhằm nâng cao năng suất, cả 2 phương thức đều bón phân 1 lần/1 vụ Tuy nhiên chè an toàn yêu cầu hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học trong quá trình sản xuất vậy nên bình quân số lần phun thuốc bảo vệ thực vật của phương thức sản xuất chè an toàn chỉ là 1, còn đối với sản xuất chè truyền thống là 2 lần Mỗi lứa chè cho thu hoạch từ 25 - 30 ngày việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để cải thiện năng suất, chất lượng chè là cần thiết nhưng đối với sản xuất chè truyền thống sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học quá nhiều trong thời gian ngắn như vậy không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như gây ô nhiễm môi trường, trong thời gian tới các hộ được điều tra cần phải điều chỉnh, hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học để chất lượng chè tại đây được tốt hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cải thiện môi trường xanh, sạch đẹp

4.2.3.2 Bình quân chi phí sản xuất mỗi vụ của nông hộ Để thấy được chi phí cho sản xuất cho 1 sào chè mỗi vụ một cách đầy đủ và chính xác Tôi tiến hành điều tra 2 nhóm hộ nông dân sản xuất chè truyền thống và chè an toàn Chi phí trong sản xuất sẽ được tính cho từng nhóm hộ Kết quả tính toán được thể hiện ở bảng 4.2.3.2:

Bảng 4.2.3.2:Bình quân chi phí sản xuất mỗi vụ của nông hộ

Các chi phí Đơn vị tính Phương thức sản xuất

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Qua bảng ta thấy chi phí đầu tư để sản xuất 1 sào chè mỗi vụ của hộ sản xuất chè an toàn cao hơn so với sản xuất chè truyền thống, cụ thể tổng chi phí cho sản xuất 1 sào chè/ 1 vụ của hộ an toàn là 301.000 đồng cao hơn hộ sản xuất chè truyền thống 77.978 đồng so với tổng chi phí là 223.022 đồng, duy nhất chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật của nhóm hộ sản xuất chè an toàn thấp hơn sản xuất chè truyền thống bởi số lần sử dụng ít hơn, cụ thể ít hơn 1 lần tương ứng với 13.133 đồng/sào/vụ Sản xuất chè an toàn yêu cầu hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ có nguồn gốc hóa học, tăng cường sử dụng các loại phân vi sinh Do đó chi phí dành cho phân bón của nhóm hộ sản xuất chè an toàn cao hơn, sở dĩ như vậy bởi giá thành trên thị trường của các loại phân vi sinh thường cao hơn những loại phân bón hóa học thông thường

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa lượng mưa hàng năm lớn, vào mùa khô khí hậu lạnh chè chậm phát triển nên những hộ điều tra chỉ tập trung sản xuất từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm.Khoảng thời gian này mưa nhiều, độ ẩm lớn nên họ không tiến hành tưới nước cho nương chè

Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó, giàu kinh nghiệm sản xuất, tuy nhiên họ quen với tư duy sản xuất lấy công làm lãi, rất ít hoặc không bao giờ hoạch toán kinh tế trong sản xuất Những hộ điều tra cũng vậy, do đó những chi phí như chăm sóc hay những chi phí khác họ không bao giờ hoạch toán

Chế biến là bước quyết định đến chất lượng thành phẩm của chè, đòi hỏi tay nghề của người chế biến cao Cây chè đã có mặt tại Tràng Xá từ hơn 30 năm trước vậy nên người dân tại đây rất giàu kinh nghiệm trong cả sản xuất và chế biến.Qua quá trình điều tra, tôi thấy được tất cả các hộ chế biến chè ngay tại nhà, chi phí cho chế biến là tiền củi và tiền điện do đó chi phí chế biến không cao, đối với sản xuất chè thông thường là 20.455 đồng và chè an toàn là 27.000 đồng

4.2.4 Năng suất chè của các hộ được điều tra

Nhận thức, nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ tham gia

4.3.1 Sự tham gia trong tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Nhằm nâng cao chất lượng chè, thay đổi nhận thức của người dân về phương thức sản xuất các cơ quan, ban ngành tại Tràng Xá đã xây dựng các chương trình tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ Tỉ lệ tham gia vào các khóa tập huấn, hội thảo của các hộ điều tra được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.3.1: Sự tham gia tập huấn sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Chỉ tiêu

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả ở bảng trên cho ta thấy tỉ lệ tham gia vào các chương trình tập huấn, hội thảo của nông hộ được điều tra tương đối cao, 76 hộ sản xuất chè truyền thống đã tham gia ít nhất một chương trình hội thảo hay tập huấn về chè hữu cơ, chiếm 84% trên tổng số 90 hộ Còn đối với hộ sản xuất chè an toàn, 100% các hộ sản xuất chè an toàn đã đều tham gia Có thể thấy rằng các hộ sản xuất chè được điều tra rất quân tâm đến các kiến thức về chè hữu cơ mà các chương trình tập huấn, hội thảo mang lại

4.3.2 Nhận thức về sản xuất chè hữu cơ của nông hộ

Với tỷ lệ tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo về chè hữu cơ tương đối cao, các hộ gia đình được điều tra đã có kiến thức nhất định về sản xuất chè hữu cơ, điều đó được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 4.3.2: Nhận thức về chè hữu cơ của các hộ điều tra

Là hạn chế sử dụng phân bón, thuốc

Là đảm bảo thời gian đủ an toàn sau khi sử dụng thuốc BVTV hóa học 27 30% 0 0%

Là theo quy trình kỹ thuật hoàn toàn tự nhiên 57 63% 10 10%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Qua bảng trên ta thấy, có 57 hộ chiếm 63% trên tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống và 100% hộ sản xuất chè an toàn cho rằng sản xuất chè hữu cơ

“là sản xuất theo quy trình kỹ thuật chăm bón hoàn toàn tự nhiên, sử dụng khoáng chất và chất dinh dưỡng tự nhiên, không dùng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật cùng nguồn đất và nước sạch theo tiêu chuẩn quốc tế.” Tiếp đến là 27 hộ chiếm 30% trên tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống cho rằng sản xuất chè hữu cơ “là sản xuất chè có sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học tuy nhiên từ lúc sử dụng đến lúc thu hoạch có thời gian đủ lâu đảm bảo chất lượng an toàn.” Cuối cùng chỉ có 7% tương ứng với 6 hộ trong 90 hộ sản xuất chè truyền thống nhận định sản xuất chè hữu cơ “là sản xuất chè hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học.”Từ kết quả đã điều tra ở bảng trên ta có thể kết luận đa số các hộ được điều tra đã có nhận thức đúng về định nghĩa sản xuất chè hữu cơ

4.3.3 Nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ Để thấy được nhận thức của hộ gia đình được điều tra về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ, tôi đã tiến hành điều tra và kết quả được thể hiện qua bảng 4.3.3 dưới đây:

Bảng 4.3.3:Nhận thức tầm quan trọng về sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020

Kết quả ở bảng trên cho ta thấy rất quan trọng là nhận thức chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ với100% hộ sản xuất chè an toàn và 42 hộ chiếm 23% trong tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền Tiếp đến là 25 hộ chiếm 28% trong tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống cho rằng sản xuất chè hữu cơ là không cần thiết, còn lại 21 hộ chiếm 23% trong tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống cho rằng sản xuất chè hữu cơ là cần thiết Có thể nói rằng đa số các hộ đều thấy được tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ đặc điệt là đối với những họ đang sản xuất chè an toàn Nhận thức về tầm quan trọng này là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

4.3.4 Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ

Nhân tố là cơ sở hàng đầu để thực hiện hiệu quả một hoạt động nào đó, trong chuyển đổi sản xuất chè cũng vậy cần xác định đúng và làm rõ cơ sở để thực hiện quá trình chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ Dưới đây là nhận thức về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình chuyển đổi sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ được điều tra

Bảng 4.3.4: Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

Cơ quan, tổ chức KN địa phương 16 18% 10 100%

Các đơn vị, doanh nghiệp 6 7% 0 0%

Cá nhân và hộ gia đình 16 18% 0 0%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả từ bảng cho thấy, có 100% số hộ sản xuất chè an toàn và 18% số hộ sản xuất chè truyền thống cho rằng cơ quan, tổ chức Khuyến Nông địa phương với kiến thức, kinh nghiệm sâu rộng về địa phương mình đang quản lý giữ vai trò quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ Có tới 53 hộ chiếm 58% trên tổng số hộ sản xuất chè truyền thống cho rằng Bộ, Ngành Trung Ương với các chương trình, chính sách là nhân tố giữ vai trò quan trọng nhất trong quá trình này Các cá nhân và hộ gia đình sản xuất chè là nhân tố được đánh giá quan trọng thứ 3 bởi các hộ gia đình sản xuất chè truyền thống với số lượng là 16 hộ, chiếm 18%.Các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ chè được đánh giá là nhân tố có ảnh hưởng thấp nhất đến quá trình chuyển đổi

Kết quả trên cũng cho thấy rằng các hộ gia đình có sự tin tưởng, kỳ vọng vào các cơ quan, tổ chức khuyến nông địa phương rất lớn do vậy các cơ quan tổ chức khuyến nông địa phương cần thực hiện tốt và phát huy tối đa vai trò của mình trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang chè hữu cơ, các nhân tố Bộ, Ngành Trung Ương; các đơn vị sản xuất và tiêu thụ chè cần tham gia tích cực hơn nữa để tạo ảnh hưởng, niềm tin đối với các hộ sản xuất chè Ngoài ra, các cá nhân và hộ gia đình sản xuất chè cần phải tự mình ý thức, tham gia có trách nghiệm đối với quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ

4.3.5 Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 4.3.5.1 Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Để đánh giá được nhu cầu và là cơ sở để đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tôi đã tiến hành điều tra nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của nông hộ, kết quả được thể hiện qua bảng 4.3.5.1:

Bảng 4.3.5.1: Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Số liệu từ bảng cho thấy đa số các hộ được điều tra có nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ với 100% số hộ sản xuất chè an toàn và 57 hộ chiếm 63% số hộ sản xuất chè truyền thống, chỉ có 33 hộ chiếm 37% số hộ sản xuất chè truyền thống không có nhu cầu tham gia

4.3.5.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ đã được điều tra Để tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu tôi đã tiến hành điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất chè hữu cơcủa các hộ được điều tra vàthu được kết quả ở bảng dưới đây:

Bảng 4.3.5.2: Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ đã được điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

Tiết kiệm chi phí và công LĐ 5 9% 0 0% Đầu ra ổn định 48 84% 5 50%

Bảo vệ sức khỏe và môi trường 38 67% 9 90%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả ở bảng trên ta thấy được đối với sản xuất chè truyền thống với

Phân tích SWOT đối với sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

4.4.1 Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ được điều tra

Nằm ở vùng thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu thuận hòa các hộ gia đình có những thuận lợi nhất định khi sản xuất chè nói chung và tham gia sản xuất chè hữu cơ nói riêng Những thuận lợi đó được thể hiện qua kết quả ở bảng sau:

Bảng 4.4.1: Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Thuận lợi khigiam gia

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020) Đối với các hộ sản xuất chè truyền thống diện tích là yếu tố thuận lợi lớn nhất của họ khi tham gia vào sản xuất chè hữu cơ với diện tích đất nông nghiệp trung bình 42 sào/hộ họ có thể sẵn sàng mở rộng diện tích sản xuất, có 49 hộ chiếm 54% coi đây là thuận lợi lớn nhất của mình khi tham gia vào sản xuất chè hữu cơ Tiếp đến là 9 hộ chiếm 10% cho rằng nhân công lao động là thuận lợi của họ khi tham gia vào sản xuất chè hữu cơ Có 6 hộ chiếm 7% số hộ sản xuất chè truyền thống tự tin vào nguồn vốn của mình đủ khả năng để tham gia vào hoạt động sản xuất chè hữu cơ Kiến thức, thị trường tiêu thụ lần lượt chiếm 6% và 4% được nông hộ coi là thế mạnh của họ khi tham gia vào sản xuất chè hữu cơ Giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ là thuận lợi đối với chỉ có 1% số hộ sản xuất chè truyền thống.Cơ sở hạ tầng, chính sách nhà nước và các yếu tố khác không phải là thuận lợi đối với các hộ sản xuất chè truyền thống khi tham gia sản xuất chè hữu cơ

Tương tự như các hộ sản xuất chè truyền thống, diện tích là thuận lợi xếp đầu tiên đối với hộ sản xuất chè an toàn, tuy nhiên có tới 100% số hộ sản xuất chè an toàn cho rằng nếu họ tham gia vào sản xuất chè hữu cơ đây sẽ là thuận lợi lớn nhất của họ Có 30% số hộ sản xuất chè an toàn tự tin vào khả năng vốn và nguồn lao động của mình Kiến thức và thị trường tiêu thụ là thuận lợi lớn nhất đối với 10% số hộ trong nhóm sản xuất chè an toàn Giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ; Cơ sở hạ tầng, chính sách nhà nước không phải là thuận lợi của bất kỳ hộ sản xuất chè an toàn nào

Những thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ gia đình điều tra tương đối lớn vì vậy khi chuyển đổi cần tận dụng triệt để những thuận lợi này để đạt hiệu quả cao trong sản xuất chè hữu cơ

4.4.2 Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Mặc dù các hộ gia đình được điều tra có những thuận lợi nhất định khi tham gia sản xuất chè hữu cơ, tuy nhiên họ cũng gặp phải không ít khó khăn, những khó khăn đó cần được giải quyết để đảm bảo sự thành công của hoạt động sản xuất chè hữu cơ, bảng 4.4.2 dưới đây sẽ cho chúng ta thấy được những khó khăn cần giải quyết của các hộ được điều tra:

Bảng 4.4.2: Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Khó khăn ưu tiên khắc phục

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Vốn và kiến thức là 2 yếu tố gây khó khăn, cản trởđược ưu tiên giải quyết nhiều nhất nếu tham gia sản xuất chè hữu cơ đối với nhóm hộ sản xuất chè truyền thống chiếm 86% số hộ sản xuất chè truyền thống ưu tiên giải quyết 2 khó khăn này Tiếp đến là khó khăn cản trở về thị trường tiêu thụ, chiếm đến 40% số hộ trong nhóm này.Giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ cũng là khó khăn cản trở lớn khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của nhóm hộ sản xuất chè truyền thống với 36% số hộ Quy trình sản xuất chè hữu cơ nghiêm ngặt, khắt khe, tốn nhiều công lao động đòi hỏi sự tham gia tỉ mỉ của người lao động và đây cũng là khó khăn cản trở đối với họ khi có 18% gặp phải vấn đề này Diện tích và chính sách nhà nước là những khó khăn cản trở cần được giải quyết của lần lượt 9% và 3% số hộ sản xuất chè hữu cơ Không có một hộ nào gặp phải cản trở do cơ sở hạ tầng hay những khó khăn nào khác

Nhóm hộ sản xuất chè an toàn khó khăn cần được ưu tiên giải quyết nhiều nhất đối với họ cũng là vốn với 70% số hộ gặp khó khăn này, thị trường tiêu thụ với 60% số hộ là khó khăn xếp thứ 2, khó khăn cần được giải quyết là nhân công lao động khi có 40% số hộ sản xuất chè an toàn gặp phải xếp thứ 3

Có 30% hộ ưu tiên giải quyết khó khăn về kiến thức và chính sách nhà nước Cuối cùng khó khăn trở ngại mà nhóm hộ sản xuất chè an toàn gặp phải là giống phân bón, chế phẩm hữu cơ và cơ sở hạ tầng với 20% hộ muốn giải quyết những trở ngại này đầu tiên Không có hộ sản xuất chè an toàn nào gặp khó khăn về diện tích hay những khó khăn khác

Những khó khăn được ưu tiên giải quyết này là cơ sở để xây dựng các giải pháp chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ

Dựa vào kết quả đã điều tra về thuận lợi và khó khăn của các hộ sản xuất chè ta có thể rút ra được kết quả sau:

Bảng 4.4.3: Phân tích SWOT khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Điểm Mạnh (S) Điểm yếu (W)

- Diện tích đất nông nghiệp lớn - Sản xuất chè nhỏ lẻ, manh mún

- Lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ - Đầu vào chưa đủ cung ứng

- Người dân có kinh nghiệm trồng chè - Lao động thiếu kiến thức chuyên sâu về chè hữu cơ

- Sản phẩm chè có thương hiệu - Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm

- Nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lượng của người tiêu dùng lớn

- Khó khăn trong xây dựng vùng sản xuất tập trung

- Các chính sách hỗ trợ thúc đẩy của nhà nước - Chất lượng đầu vào không đảm bảo

- Thị trường còn ít sản phẩm hữu cơ - Sự chênh lệch về trình độ phát triển

- Nông nghiệp hữu cơ ngày càng thu hút sự chú ý - Cạnh tranh gay gắt Điểm mạnh

- Diện tích đất nông nghiệp lớn: Nằm ở phía Nam huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, địa hình chủ yếu là đồi đất và thung lũng tương đối bằng phẳng nên diện tích đất nông nghiệp có thể canh tác chè của xã Tràng Xá rất lớn Sông Dong chảy qua địa bàn xã cung cấp nguồn nước tưới tiêu dồi dào phục vụ cho sản xuất Ngoài ra tại đây còn có chế độ mưa và chế độ nhiệt thích hợp phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cây chè

- Lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ: Trong cơ cấu kinh tế của xã Tràng Xá thì nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chiếm tỷ trọng cao Lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp dồi dào Thêm vào đó, tiền công lao động trong lĩnh vực nông nghiệp rẻ nên sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như sản xuất cây chè nói riêng ở đây đang có lợi thế về lao động dồi dào, nhân công giá rẻ Điểm yếu

- Sản xuất chè nhỏ lẻ, manh mún: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cũng như diện tích sản xuất chè tại xã Tràng Xá là rất lớn (hơn 50ha chè) tuy nhiên sản xuất chè tại đây vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, manh mún theo hộ gia đình là chủ yếu tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không gắn với mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tăng cường công tác quản lý chất lượng và giữ vững thương hiệu

- Đầu vào chưa đủ cung ứng: Hiện nay trên địa bàn xã chưa có một cá nhân, doanh nghiệp nào cung ứng giống, phân bón, thiết bị máy móc và các tư liệu cần thiết khác phục vụ cho sản xuất chè hữu cơ vì vậy việc tiếp cận sử dụng các tư liệu sản xuất trong sản xuất chè hữu cơ của các hộ sản xuất chè tại địa phương vô cùng khó khăn

- Lao động thiếu kiến thức chuyên sâu về chè hữu cơ: Cây chè đã có mặt tại Tràng Xá khoảng 30 năm trước, người dân tại đây rất giàu kinh nghiệm trong canh tác cây chè, tuy nhiên đó là những kinh nghiệm sản xuất truyền thống, khái niệm chè hữu cơ còn khá mới đối với các hộ sản xuất chè họ chỉ được tiếp cận qua các buổi tập huấn hội thảo giới thiệu hoặc qua các phương tiện truyền thông đại chúng chưa thực sự được đào tạo qua bất kì khóa học chuyên môn nào về chè hữu cơ

- Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm:Thị trường đầu ra cho sản phẩm không ổn định, bởi tất cả các khâu từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ nông sản đều thiếu sự quy hoạch, thiếu tính chiến lược, thiếu sự đồng bộ và thiếu sự đầu tư thỏa đáng gây ra những bất ổn và rủi ro đối với việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Ngày đăng: 24/04/2021, 10:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14] Luo Shiming và Stephen R. Gliessman (2017).Nông học tại Trung Quốc: Khoa học, Thực hành và Quản lý bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông học tại Trung Quốc
Tác giả: Luo Shiming và Stephen R. Gliessman
Năm: 2017
[1]Đức Năm(2018). Chủ động phát huy tiềm năng để đón nhận cơ hội mới. Báo Thái Nguyên số ra 05/10/2018 Khác
[2] Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Võ Nhai.Báo cáo Kinh phí thúc đẩy sản xuất chè giai đoạn 2017 – 2019 Khác
[3] Nguyễn Hữu Bình (2018)Ghi chú số ước tính và dự báo.Tổng công ty chè Việt Nam Khác
[4]Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2017).Nông nghiệp hữu cơ - Phần 2: Trồng trọt hữu cơ, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041-2:2017 về nông nghiệp hữu cơ Khác
[5]Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018).Nông nghiệp hữu cơ – Phần 6: Chè hữu cơ, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041-6:2018 về Nông nghiệp hữu cơ Khác
[6] Ngọc Hùng Thành và Hồng Sơn (2017). Sản xuất chè an toàn, nâng cao giá trị gia tăng. Báo nhân dân số ra 08/02/2017 Khác
[7]Tiến Thành và Quang Huy (2020).Giải pháp phát triển thương hiệu chè Việt Nam.Báo Nông nghiệp số ra 14/10/2019 Khác
[8]Trần Trang (2020).Thái Nguyên thúc đẩy sản xuất chè theo hướng an toàn, hữu cơ. Báo Thái Nguyên số ra 29/02/2020 Khác
[9] Trần Liên (2019) Giữ hương chè Đồng Đài.Báo Tuyên Quang số ra 17/11/2019 Khác
[10] Đồng Văn Thưởng (2017). Nghệ nhân chè hữu cơ.Báo Nông nghiệp số ra 21/09/2017 Khác
[11] Ủy ban nhân dân xã Tràng Xá (2019). Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội xã Tràng Xá năm 2019 và nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 Khác
[12] Công an xã Tràng Xá (2019). Báo cáo tổng kết công tác an ninh trật tự xã Tràng Xá năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020 Khác
[13] Ủy ban nhân dân xã Tràng Xá (2019). Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2018 và nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội năm 2019 trên địa bàn xã Tràng XáII. Tài liệu Tiếng nước ngoài Khác
[15]Phòng Tiêu chuẩn Thực phẩm, Cục Công nghiệp Thực phẩm, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (2017).Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w