1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hôn nhân xuyên quốc gia động cơ di chuyển và việc gửi tiền về nhà (nghiên cứu tại huyện bình tân và thị xã bình minh, tỉnh vĩnh long)

252 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hôn Nhân Xuyên Quốc Gia: Động Cơ Di Chuyển Và Việc Gửi Tiền Về Nhà (Nghiên Cứu Tại Huyện Bình Tân Và Thị Xã Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long)
Tác giả Ngô Trà My
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Xoan
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau nhiều năm, với những biến đổi xã hội và hiện tượng lấy chồng nước ngoài không còn xa lạ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, động cơ di chuyển của các cô dâu Việt khi lấy chồng nước ng

Trang 1

-

NGÔ TRÀ MY

HÔN NHÂN XUYÊN QUỐC GIA:

ĐỘNG CƠ DI CHUYỂN VÀ VIỆC GỬI TIỀN VỀ NHÀ (Nghiên cứu Tại huyện Bình Tân và Thị xã

Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Xã hội học

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017

Trang 2

NGÔ TRÀ MY

HÔN NHÂN XUYÊN QUỐC GIA:

ĐỘNG CƠ DI CHUYỂN VÀ VIỆC GỬI TIỀN VỀ NHÀ (Nghiên cứu Tại huyện Bình Tân và Thị xã

Trang 3

Cảm ơn Quý Thầy Cô tham gia giảng dạy, đào tạo Cao học Khoa Xã hội học

đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho học viên

Cảm ơn những người bạn trong lớp Cao học khóa 2014 đã đồng hành cùng em trong suốt quá trình học tập, cùng động viên, khích lệ và đốc thúc nhau

Đặc biệt, trong những năm tháng qua, lời cảm ơn có lẽ không đủ để diễn tả hết

sự trân quý của con đối với Bố Mẹ vì đã tin tưởng, ủng hộ và là động lực cho tất cả những phấn đấu của con

Luận văn này như một lời cảm ơn sâu sắc đến những người đã đồng hành cùng

em trên suốt chặn đường dài vừa qua

Trân trọng

Ngô Trà My

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Xoan Các dữ liệu sử dụng

trong luận đều do tôi thu thập hoặc được sự cho phép của chủ nhiệm đề tài

khoa học

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá, cũng như số

liệu từ nhiều nguồn khác nhau đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về nội dung luận văn của mình

Ngô Trà My

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 2

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH 6

PHẦN A: MỞ ĐẦU 1

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Tổng quan tài liệu 4

1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tác động đến việc lấy chồng nước ngoài 5

1.2.2 Tổng quan về các nghiên cứu đề cập đến việc gửi tiền về quê của các cô gái lấy chồng nước ngoài 11

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 16

1.4 Mục tiêu cụ thể 16

1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 16

1.6 Phạm vi nghiên cứu 17

1.7 Phương pháp nghiên cứu 17

1.7.1 Phương pháp thu thập thông tin 17

1.7.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 23

1.8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 23

1.8.1 Ý nghĩa khoa học 23

1.9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn 24

1.10 Kết cấu của luận văn 24

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 25

2.1 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu 25

2.1.1 Lý thuyết kinh tế vĩ mô (Todaro, 1970) 25

2.1.2 Lý thuyết về "Lực hút, lực đẩy" của Evertt S Lee 26

2.1.3 Lý thuyết về hành vi gửi tiền về nhà 28

Trang 6

2.1.4 Lý thuyết về mạng lưới xã hội của Massey 30

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 31

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 32

2.4 Khung lý thuyết 32

2.5 Khái niệm liên quan đến đề tài 32

2.5.1 Hôn nhân có yếu tố nước ngoài 32

2.5.2 Kiều hối 33

PHẦN B: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

CHƯƠNG 1 ĐỘNG CƠ KẾT HÔN CỦA CÔ DÂU VIỆT 34

1.1 Thực trạng hôn nhân xuyên quốc gia 34

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kết hôn của cô dâu Việt với chủ rể Hàn 38

1.2.1 Bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội Vĩnh Long 38

1.2.2 Bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội Hàn Quốc 47

1.3 Các yếu tố xúc tác trong quyết định kết hôn của cô dâu 50

1.3.1 Tương đồng văn hóa, gần gũi về địa lý 50

1.3.2 Kết hôn thông qua mai mối 55

CHƯƠNG 2 VIỆC GỬI TIỀN VỀ QUÊ CỦA CÔ DÂU 65

2.1 Thực trạng gửi tiền về quê của vợ chồng cô dâu sau khi kết hôn 65

2.2 Tác động của việc gửi tiền về quê cô dâu Việt đến gia đình và cộng đồng địa phương 77

2.2.1 Tác động đến kinh tế hộ gia đình 77

2.2.2 Mâu thuẫn gia đình mới 78

2.2.3 Thay đổi phương thức hỗ trợ gia đình 82

C KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 1 1 Tình trạng đang kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Hải Phòng (Đv: Trường hợp)

35

Bảng 1 2 Tình hình phụ nữ di trú kết hôn theo quốc tịch tại Hàn Quốc (Đv: Trường hợp) 36 Bảng 1 3 Vấn đề kết hôn với người ngoài tại tỉnh Vĩnh Long (Đv: trường hợp) 37

Bảng 1 4 Nghề nghiệp của người trả lời (Đv: %) 39

Bảng 1 5 Kì vọng của gia đình về kinh tế sau khi cô gái kết hôn (Đv: %) 43

Bảng 1 6 Kinh tế của hộ gia đình không kì vọng về kinh tế sau khi cô gái kết hôn (Đv: %) 44

Bảng 1 7 Lý do kết hôn của cô dâu Việt (Đv: hộ) 45

Bảng 1 8 Người mai mối cho cô dâu lấy chồng nước ngoài (Đv: Hộ) 55

Bảng 1 9 Nghề nghiệp của cô dâu sau khi kết hôn (Đv: người) 61

Bảng 2 1 Việc gửi tiền của vợ chồng cô gái sau khi kết hôn cho đến nay (Đv: hộ) 65 Bảng 2 2 Số tiền trung bình 1 tháng vợ chồng cô dâu gởi về gia đình (Đv: đồng) 65 Bảng 2 3 Học vấn của cô dâu lấy chồng Hàn Quốc (Đv: người) 66 Bảng 2 4 Nghề nghiệp của cô dâu sau khi kết hôn (Đv: người) 67 Bảng 2 5 Nghề nghiệp của cô dâu và quyết định gửi tiền về quê của cô dâu (Đv: người) 69 Bảng 2 6 Nơi ở của cô dâu sau khi kết hôn và lượng tiền gửi về quê của cô dâu (Đv: đồng)

72 Bảng 2 7 Mức độ liên hệ với gia đình ở Việt Nam của cô dâu (Đv: người) 74 Bảng 2 8 Mức độ liên lạc với gia đình của cô dâu và lượng tiền gửi về quê (Đv: đồng) 75

Hình 1 2 Đặc điểm nhân khẩu cô dâu kết hôn qua trung tâm môi giới (Đv: %) 57 Hình 1 3 Nghề nghiệp trước khi kết hôn của cô dâu lấy chồng do tự tìm hiểu, quen biết

Hình 2 1 Nghề nghiệp của cô dâu sau khi kết hôn và lượng tiền gửi về quê (Đv: đồng) 70 Hình 2 2 Nghề nghiệp của chú rể và lượng tiền gửi về quê (đv: đồng) 71 Hình 2 3 Kinh tế hộ gia đình trước và sau khi con gái lấy chồng Hàn Quốc (đv: %) 77

Trang 10

toàn cầu Tại Việt Nam, các hình thái di cư chủ yếu ra nước ngoài bao gồm: di cư lao động, di cư du học, di cư hôn nhân – gia đình (Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt

Nam, 2011) Di cư diễn ra như một chiến lược của gia đình, nhằm tạo ra dòng tiền trợ cấp và chi phí cho cả những người di cư và gia đình họ ở quê (Nancy Luke, 2010) Hôn nhân xuyên quốc gia là một trong những hình thức di cư, cuộc hôn nhân vượt ra khỏi ranh giới của một quốc gia khiến một trong hai đối tượng nam và nữ di chuyển khỏi nơi sinh sống và theo vợ, chồng đến đất nước khác (Nguyễn Thị Hồng

Xoan, 2013) Loại hình hôn nhân này không mới, trái lại đã có lịch sử tồn tại khá

lâu đời và mang tính phổ biến, nó phát triển khi chủ nghĩa tư bản mở rộng hệ thống thuộc địa, khi toàn cầu hóa mở rộng, kéo theo đó là sự chuyển dịch dân cư từ quốc gia nghèo khó đến nơi giàu có hơn (Phan An, 2008)

Ở các nước châu Á, như Nhật Bản, số trường hợp kết hôn với người nước ngoài tăng từ 4.386 trường hợp trong năm 1980 lên đến 20.026 trường hợp trong năm 1990 Đài Loan, Hàn Quốc cũng là hai trong số các quốc gia tiếp nhận luồng

di dân hôn nhân bắt đầu từ các thập kỷ cuối thế kỷ 20 Điển hình, trong giai đoạn

1987 - 2006, Đài Loan ghi nhận có khoảng 370.000 cuộc hôn nhân xuyên quốc gia

Trang 11

và cô gái chủ yếu đến từ các nước như Trung Quốc, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác (Dương Hiền Hạnh, 2008)

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, từ năm 2005 đến năm 2010, số công dân Việt Nam kết hôn và ghi chú kết hôn với người nước ngoài là 133.289 người, trong đó

có 91.210 trường hợp kết hôn và 42.079 trường hợp ghi chú kết hôn Mặc dù phụ

nữ Việt Nam kết hôn với nam giới của 50 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, song chủ yếu tập trung tại hai địa bàn chính là Hàn Quốc, Đài Loan (Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2011) Thống kê từ Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, trong giai đoạn từ 2000 đến 2008, đã có khoảng 35.390 phụ nữ Việt Nam kết hôn với nam giới nước này

Hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc tăng nhanh, tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Trần Thị Kim Xuyến, 2004 và Nguyễn Văn Tiệp, 2008) Là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long được xem là một trong những “điểm nóng” của các tỉnh có hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia Thống kê từ Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long, từ năm 2005 đến đầu năm 2015, Vĩnh Long có 4.689 trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Sự gia tăng

số lượng các cuộc hôn nhân đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội của người dân trong tỉnh

Các nghiên cứu tiến hành ở Việt Nam lý giải động cơ kết hôn của cô dâu tập trung vào yếu tố kinh tế Hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông anh chị em, trình độ học vấn, tay nghề thấp, cộng với kì vọng của gia đình quá lớn, các cô gái mong muốn đổi đời và giúp đỡ kinh tế gia đình cho nên đã quyết định lấy chồng nước ngoài (Trần Thị Kim Xuyến, 2004; Nguyễn Văn Tiệp, 2008) Chính từ sự kì vọng

về thay đổi kinh tế mà họ xem yếu tố lợi ích vật chất, tiền bạc là yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn người sẽ kết hôn (Nguyễn Hồi Loan, 2006)

Trang 12

Sau nhiều năm, với những biến đổi xã hội và hiện tượng lấy chồng nước ngoài không còn xa lạ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, động cơ di chuyển của các cô dâu Việt khi lấy chồng nước ngoài liệu có còn đặt nặng vấn đề kinh tế, mức

độ kì vọng của gia đình vào việc kết hôn của con gái để cải thiện cuộc sống có còn cao như trước, còn những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định kết hôn của họ…là những câu hỏi còn bỏ ngỏ Chính vì vậy, trong luận văn này, tác giả tập trung đi tìm hiểu những biến đổi trong động cơ kết hôn của cô dâu

Thông qua các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia, các cô gái đã đóng góp rất lớn trong việc cải thiện đời sống kinh tế, xã hội cho gia đình ở Việt Nam bằng lượng kiều hối gửi về Lượng kiều hối này như một sự duy trì các mối quan hệ với gia đình

cô dâu ở quê, nhằm nhận được sự trợ giúp về tinh thần từ gia đình và người thân ở Việt Nam: sự động viên tinh thần, giúp những cô dâu mới có thể giải quyết những

lo âu, căng thẳng trong thời gian đầu di chuyển sang một đất nước hòa toàn xa lạ (Nguyễn Văn Tiệp, 2008) Đồng thời, lượng kiều hối này cũng mang lại những tác động về kinh tế - xã hội cho cộng đồng xuất cư như: nam thanh niên Việt tại địa phương khó khăn hơn trong việc tìm vợ, sự xuất hiện của các trung tâm môi giới hôn nhân trái phép hay xuất hiện vấn đề về nguồn nhân lực và cơ cấu giới tính (Hoàng Bá Thịnh, 2012)

Nghiên cứu về kiều hối, chuyển tiền trong di dân rất quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác Tuy nhiên, chuyển tiền trong di dân hôn nhân lại là mảng đề tài còn bỏ ngỏ, mặc dù có đề cập đến sự hỗ trợ của các cô dâu sau khi kết hôn về cho gia đình tại quê nhà nhưng những nghiên cứu trước chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát Những kết quả cụ thể về lượng tiền gửi về hằng tháng, phương thức gửi tiền và những tác động từ việc gửi tiền… chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Trong luận văn này, tác giả cũng tập trung khai thác những khía cạnh về việc chuyển tiền của cô dâu như: lượng tiền gửi về hằng tháng, phương

Trang 13

thức chuyển tiền, lượng tiền và mức độ gửi tiền về giữa các nhóm cô dâu, cách thức tạo ra thu nhập để gửi tiền về quê, những tác động của việc gửi tiền đến kinh tế - xã hội của gia đình tại Việt Nam và gia đình mới của cô dâu tại Hàn Quốc, cũng như những tác động đến cộng đồng địa phương nơi cô dâu từng sinh sống

Từ những phân tích trên, để làm rõ sự biến đổi trong động cơ kết hôn của các

cô dâu Việt, cũng như ảnh hưởng của việc gửi tiền về quê của cô dâu đến gia đình, địa phương, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hôn nhân xuyên quốc gia: động

cơ di chuyển và việc gửi tiền về nhà (Nghiên cứu tại Huyện Bình Tân và Thị xã Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long)” Nghiên cứu được dựa trên kết quả khảo sát năm

2015 tại tỉnh Vĩnh Long của Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trong đề tài khoa học: “Các tác động xã hội của hôn nhân xuyên quốc gia tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”

1.2 Tổng quan tài liệu

“Hôn nhân xuyên quốc gia” được khá nhiều nhà nghiên cứu xã hội học quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học thực hiện xung quanh chủ đề này Trong nghiên cứu của mình, tác giả tổng quan dựa trên các nguồn tài liệu: sách, các bài báo cáo khoa học, các bài viết đăng trên tạp chí khoa học, bài viết tham dự hội thảo trong nước và quốc tế của những nhà nghiên cứu uy tín Tác giả tổng quan trên hai mảng chủ đề chính: các yếu tố tác động đến việc kết hôn với người nước ngoài của các cô dâu Việt và việc gửi tiền về gia đình sau khi kết hôn của cô dâu

Trang 14

1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tác động đến việc lấy chồng nước ngoài

Theo Phan An và cộng sự trong bài viết “Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan” thì những nghiên cứu về hôn nhân xuyên quốc gia thực hiện khi xảy ra những hệ lụy do hiện tượng này gây ra khiến dư luận chú ý Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan đã xảy ra vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước (năm 1995, theo thống kê có 1476 trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng là người Đài Loan), nhưng mãi đến năm 2004, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiên cứu về hiện tượng này Giai đoạn đầu tập trung vào những trường hợp các cô dâu Việt kết hôn với chú rể Đài Loan do số lượng cuộc hôn nhân Việt – Đài tại thời điểm đó chiếm tỷ lệ cao nhất

Nghiên cứu trên quy mô lớn tại 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long gồm Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang và Vĩnh Long năm 2004, đề tài

“Tìm hiểu thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm nghiên cứu do Trần Thị Kim Xuyến làm chủ nhiệm đã đưa ra bức tranh tổng thể về các cuộc hôn nhân Việt – Đài Mô tả thực trạng kết hôn, dư luận cộng đồng, thái độ của người dân, đặc điểm nhân khẩu, xã hội của cô dâu – chú rể và cuộc sống sau hôn nhân Trong đó phân tích sâu về nguyên nhân kết hôn của cô dâu Việt, do cuộc sống khó khăn chỉ đủ ăn qua ngày, những lúc gặp thiên tai lại càng khó khăn hơn cho nên kỳ vọng của cha mẹ vào sự cải thiện về kinh

tế gia đình thông qua việc kết hôn với người Đài Loan của con gái là rất lớn Đồng thời, “không có sự phản đối với kết hôn với người nước ngoài vì đồng cảm với hoàn cảnh khó khăn của gia đình và sự báo hiếu của các cô gái với cha mẹ” đã nhấn mạnh thái độ chấp nhận của cộng đồng trong việc thúc đẩy các cô gái lấy chồng nước ngoài

Trang 15

Trong bài viết “Hôn nhân xuyên quốc gia – những tín hiệu tích cực và những vấn đề tồn tại” của Lưu Phương Thảo năm 2005, đa số các cô gái gặp gỡ người chồng Đài Loan là do dịch vụ môi giới giới thiệu Các cô dâu địa phương không biết

gì về nơi mà mình sẽ sinh sống với chồng Đài Loan trong tương lai Tuy nhiên, họ vẫn quyết tâm lấy chồng xứ lạ vì được xây dựng hình ảnh một đất nước Đài Loan đẹp và sang trọng qua các bộ phim truyền hình xem hằng ngày mà không hề lường trước những rủi ro, sóng gió đang chờ đợi họ Các ông chồng Đài Loan không có nhiều thời gian, họ được dịch vụ môi giới giới thiệu và những cuộc làm quen chớp nhoáng trong một, hai ngày là tổ chức đám cưới, thường là tổ chức đám cưới tại TP

Hồ Chí Minh – nơi trung chuyển trước khi hoàn tất thủ tục, giấy tờ để các cô gái nhập cảnh về Đài Loan

Trần Mạnh Cát cũng thể hiện quan điểm đồng tình với hai tác giả trên trong bài viết “Vấn đề cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan” trên tạp chí Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 3 năm 2007 khi cho rằng phần lớn các cô gái không thể tự tìm đến với chú rể mà phải thông qua những người giới thiệu Cụ thể là những người đã lấy chồng Đài Loan, những người thân trong gia đình, người trong họ hàng và hàng xóm Qua đó, ta thấy mạng lưới xã hội của các cô gái như người thân trong gia đình,

họ hàng, hàng xóm cũng là những yếu tố tác động, thôi thúc các cô gái đi đến quyết định lấy chồng nước ngoài (Nguyễn Duy Bính, 2004)

Liên quan đến thái độ của cộng đồng, Trần Thị Thu Lương (2012) cho rằng bối cảnh văn hóa xã hội ở miền Nam đậm chất phóng khoáng, thích phiêu lưu nên

dư luận xã hội khá thoáng và cởi mở Chính điều này đã khiến người dân dễ dàng chấp nhận việc các cô gái kết hôn với người nước ngoài Dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới xã hội mở, không bền chặt nên người dân không quá gắn bó và dễ rời bỏ địa phương

Trang 16

Dựa trên những kết quả nghiên cứu nhóm hôn nhân Đài Loan – Việt Nam, là

cơ sở cho những cuộc nghiên cứu hôn nhân Hàn Quốc – Việt Nam sau này

“Di cư hôn nhân Việt Nam – Hàn Quốc: những vấn đề đặt ra” của Lê Thị Quý trên tạp chí Nghiên cứu gia đình và Giới số 5, năm 2010, nhận định khi gia đình nghèo, làm nông nghiệp và có trình độ học vấn thấp thì lựa chọn kết hôn như một phương thức thoát nghèo của hộ gia đình Khảo sát 150 hộ gia đình ở Hải Phòng năm 2009 của Hoàng Bá Thịnh còn nhấn mạnh “một trong những động lực thúc đẩy phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Hàn Quốc nói riêng

là yếu tố kinh tế Yếu tố kinh tế, chính là “sức hút” từ các nước phát triển lôi kéo các cô gái từ các nước nghèo, và sự nghèo khó cũng là “lực đẩy” các cô gái này rời

bỏ quê hương đất nước về xứ người (Phan An, 2008) Tuy nhiên, cả ba bài viết đều thực hiện nhiều mảng khác như đời sống sau hôn nhân, vấn đề con lai, ly hôn nên chưa có những phân tích chi tiết hay những thống kê cụ thể về yếu tố kinh tế trong thúc đẩy hôn nhân hai nước

Theo Nguyễn Thị Nhung trong bài viết “Hôn nhân Việt Hàn : Thực trạng và giải pháp” tạp chí Đông Bắc Á số 2 năm 2010, thì phần lớn các cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc chủ yếu sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên khó tiếp cận với các nguồn thông tin từ bên ngoài, dễ gây ra những ngộ nhận về việc lấy chồng là người nước ngoài Chính vì vậy, nhiều cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc là những người hâm mộ văn hóa của xứ sở kim chi, qua những bộ phim, những sản phẩm của đất nước này (mỹ phẩm, đồ điện tử,…), làn sóng văn hóa đại chúng Hàn Quốc đã truyền tải những hình ảnh của đất nước này về văn hóa và cuộc sống đã thể hiện sự thành công trong sự cân bằng giữa truyền thống và hiện đại (Hoàng Bá Thịnh, 2008) Tuy nhiên, tác giả cũng nhận định, kết quả nghiên cứu này chỉ là một

“phác thảo xã hội học” về hôn nhân Việt – Hàn dựa trên phỏng vấn cá nhân và dữ liệu thống kê, chưa được khảo sát trên địa bàn cụ thể

Trang 17

Năm 2009, hội thảo quốc tế “Hôn nhân đa văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa” tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 8 năm 2008 gồm 4 chuyên đề, trong đó có chuyên đề III là “Hôn nhân xuyên quốc gia: trường hợp Hàn – Việt” với

4 bài báo cáo của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc Tuy nhiên, các báo cáo này tập trung vào khai thác cuộc sống sau hôn nhân của các cô dâu Việt tại Hàn Quốc, những chính sách xã hội hỗ trợ cho cô dâu Việt hòa nhập với cuộc sống tại Hàn và giải quyết vấn đề giáo dục con cái trong gia đình đa văn hóa Trong đó, có bài viết “Tìm hiểu những nhân tố kinh tế, xã hội và văn hóa dẫn đến hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia Hàn – Việt” của tác giả Nguyễn Văn Tiệp Bài viết lấy kết quả của một trong những nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi sự kết hợp giữa Việt Nam và Hàn Quốc về hôn nhân giữa công dân hai nước là đề tài “Nghiên cứu hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc: thực trạng, xu hướng và giải pháp”

do Nguyễn Văn Tiệp và các đồng sự thực hiện năm 2008 dưới sự tài trợ của quỹ POSCO TJ Park, Hàn Quốc Nghiên cứu đã chỉ ra số lượng cô dâu kết hôn với người Hàn Quốc ở các tỉnh phía Nam nhiều hơn so với các tỉnh phía Bắc tại Việt Nam Tác giả còn phân tích nguyên nhân các cô dâu kết hôn với người Hàn Quốc không chỉ trên góc độ kinh tế mà còn trên góc độ văn hóa – xã hội Những yếu tố tác động đến động cơ đó không chỉ là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn mà cả những quan niệm được hình thành từ hệ thống giá trị của cộng đồng trong đó có quan niệm báo hiếu cha mẹ được đề cao Nghiên cứu này được thực hiện tại 1 một số tỉnh thành trên cả nước, mang tính khái quát chung chứ không chỉ mang đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long

Một số nghiên cứu tập trung vào sự nở rộ của các trung tâm môi giới mang tính thương mại ở cả hai nước đã thúc đẩy “phong trào” lấy chồng Hàn Quốc của các cô dâu Việt trong những năm gần đây Bài viết “Hôn nhân xuyên quốc gia - lý thuyết và thực tiễn: Hôn nhân Đài - Việt, Hàn - Việt” của Phan An xuất bản năm

2008, nhận định các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia được thực hiện mang tính sắp

Trang 18

xếp (hoặc dàn xếp) thông qua các dịch vụ môi giới hôn nhân, đóng vai trò chi phối các cuộc hôn nhân, và hưởng lợi khá lớn bởi các dịch vụ mai mối, tìm kiếm đối tác Nhưng đến năm 2010, Lê Thị Quý kết luận kết hôn thông qua các công ty, dịch vụ môi giới mang tính rủi ro cao, các dịch vụ này đã làm việc không đúng như mong đợi, thậm chí có một số tổ chức buôn bán phụ nữ trá hình Thủ đoạn của họ là lừa gạt phụ nữ bằng hình ảnh những người chồng đẹp trai, khỏe mạnh, giàu tình cảm, giàu có và vẽ ra cuộc sống hôn nhân no đủ tại nước ngoài Khiến các cô dâu mơ tưởng, cả tin và quyết định nghe theo lời họ, lấy chồng người nước ngoài Đúc kết qua nhiều năm trung tâm môi giới hoạt động, năm 2013 Moon Heung Ahn tiếp cận trên góc độ luật pháp trong bài viết “Tình hình kết hôn quốc tế và những vấn đề về luật pháp của kết hôn quốc tế Việt- Hàn” đã chỉ ra những hạn chế trong pháp luật

áp dụng cho trung tâm môi giới kết hôn quốc tế Trong trường hợp khách hàng chịu hậu quả vì sự giới thiệu không đúng của trung tâm môi giới thì rất khó nhận được

sự bảo hộ của những trung tâm này Đến thời điểm nghiên cứu (năm 2015), với những thông tin trái chiều về uy tín của các trung tâm môi giới kết hôn trên các phương tiện truyền thông đại chúng: những câu chuyện hôn nhân viên mãn xen lẫn những câu chuyện về các đường dây buôn bán phụ nữ dưới danh nghĩa môi giới kết hôn khiến các cô gái cẩn trọng hơn, liệu những trung tâm môi giới này có còn tác động đến quyết định kết hôn của các cô dâu Việt không Đây cũng là một vấn đề quan trọng cần quan tâm

Khác với những cuộc nghiên cứu đã đề cập ở trên, trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Một số vấn đề xã hội của phụ nữ Việt Nam lấy chồng và lao động ở nước ngoài” do Nguyễn Thị Thanh Tâm và đồng sự thực hiện năm 2011, xem xét vấn đề dựa theo cách tiếp cận di cư lao động, cho rằng các cô dâu Việt Nam với ước muốn được đổi đời đã chấp nhận đến một nơi mà bản thân mình chưa có những sự hiểu biết về nơi đó Xem đây là cơ hội tìm được một công việc tốt mà không phải tốn chi phí, vì nếu muốn ra nước ngoài xuất khẩu lao động thì phải tốn phí, còn với lí do

Trang 19

lấy chồng rồi được đi nước ngoài làm việc thì thu nhập sẽ cao và không phải nộp phí xuất khẩu lao động cho các công ty môi giới việc làm Đối tượng của nghiên cứu này là cô dâu kết hôn với người nước ngoài chứ không riêng gì với chú rể Hàn Quốc, chủ yếu chú trọng đến động cơ lao động của cô dâu và chưa quan tâm đến những yếu tố khác

Ngoài những động cơ phổ biến như lấy chồng nước ngoài để giúp đỡ gia đình hay để có cuộc sống sung túc hơn, Trần Thị Kim Xuyến (2005) cũng có đề cập đến việc các cô gái quyết định kết hôn vì động cơ tình yêu Tuy nhiên, tác giả không phân tích nhiều do số lượng ở thời điểm đó rất ít Điều này được phân tích rõ hơn trong đề tài luận văn thạc sĩ “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp” của Phạm Thị Thu Hoài (2011) đã nêu lên một khía cạnh mới về động

cơ lấy chồng nước ngoài của các cô dâu Việt, đó là tình yêu tự nguyện Các cặp đôi

có thời gian tìm hiểu nhất định và có sự hòa hợp về tính cách Họ gặp nhau ở các công ty, xí nghiệp của các doanh nhân Đài Loan đầu tư ở Việt Nam Đó là những người Đài Loan và bạn bè của họ đến Việt Nam làm ăn, sau đó quen biết các cô gái Việt Nam Một số cặp đôi quen nhau thông qua các chuyến du lịch Việt – Đài Tuy nhiên, đây đều là kết quả nghiên cứu trên hôn nhân Đài – Việt, chưa có những kết quả thống kê cụ thể tương tự trên hôn nhân Hàn – Việt Đây cũng là một gợi ý để tác giả khai thác trong luận văn của mình

Vĩnh Long là một trong những tỉnh có số lượng cô dâu kết hôn với người nước ngoài cao trong những năm gần đây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể quan tâm về động cơ di chuyển của các cô dâu tại đây

Nhìn chung, các nghiên cứu giai đoạn đầu tập trung vào lý giải động cơ kinh

tế trong quyết định kết hôn của cô dâu Việt với chú rể Hàn như một nhân tố nổi bật

và chính yếu, bên cạnh đó còn có những yếu tố về văn hóa – xã hội nhưng chưa

Trang 20

được khắc họa rõ nét Qua các năm, động cơ di chuyển của cô dâu lấy chồng nước ngoài đã có sự thay đổi nhưng chưa được thống kê cụ thể Chính vì vậy, tác giả muốn khai thác sự biến đổi trong động cơ kết hôn của các cô dâu Cụ thể như: sự thay đổi trong kì vọng của gia đình về kinh tế khi con gái kết hôn, sự thay đổi trong

lý do kết hôn của cô dâu và có những yếu tố mới nào xuất hiện tác động đến quyết định kết hôn

1.2.2 Tổng quan về các nghiên cứu đề cập đến việc gửi tiền về quê của các cô gái lấy chồng nước ngoài

Vấn đề di cư trong nước, quốc tế và tiền chuyển về đã trở thành chiến lược

đa dạng hóa sinh kế cho nhiều hộ gia đình cũng như cộng đồng nông thôn, cũng là mối quan tâm của những nhà nghiên cứu Trong bài viết “Di cư quốc tế, Chuyển tiền và Phát triển: huyền thoại và sự thật” (Money and mobility: transnational livelihood strategies of the Somali diaspora) của Hein De Haas kết luận kiều hối đã giúp cải thiện đáng kể điều kiện sống của hàng triệu hộ gia đình ở các nước gửi di

cư Kiều hối được cho là thường dành cho các vùng nông thôn tương đối lạc hậu, cần nhiều vốn phát triển (Jones, 1998) Kiều hối dường như là một công cụ hiệu quả hơn cho phân phối lại thu nhập hơn là các chương trình phát triển quan liêu ở các nước đang phát triển hoặc viện trợ phát triển Sự trợ giúp này dường đi thẳng tới những người thực sự cần nó, không đòi hỏi một bộ máy quan liêu tốn kém ở bên gửi, và ít có khả năng bị chảy vào các túi của các quan chức chính phủ tham nhũng (Kapur, 2003)

Được thực hiện vào những thập niên 1960 và 1970 ở vùng cận Sahara ở châu Phi và ở Kenya, các tác giả Lucas và Stark (1985); Stark và Lucas (1988) đã chỉ ra những khoản tiền lớn được chuyển về các gia đình chiếm từ 6% đến 30% thu nhập của người di cư ở nước ngoài, và những nguồn này thường rất quan trọng giúp giảm bớt khó khăn kinh tế cho gia đình ở quê nhà Nghiên cứu này kết luận rằng những

Trang 21

mối quan hệ xã hội mạnh hơn với gia đình và các cộng đồng ở quê nhà làm tăng thêm xu hướng gửi tiền về cũng như mức độ hỗ trợ bằng tiền, điều này cũng tương

tự như vậy ở trên toàn cầu (Hoddinott 1994; VanWey 2004; Piotrowski 2006) Phần lớn số tiền chuyển về được sử dụng cho chi tiêu hộ gia đình và phần còn lại được tiết kiệm hoặc sử dụng cho việc đầu tư nhỏ (Wimaladharma và cộng sự, 2004)

Cindy Horst trong tác phẩm “Tiền và sự di động: các chiến lược sinh kế xuyên quốc gia của cộng đồng Somali” (Money and mobility: transnational livelihood strategies of the Somali diaspora) xuất bản năm 2004, đã phân tích rằng những người di cư rất ý thức được vai trò quan trọng của họ đối với người thân tại quê nhà, thông qua việc gửi tiền ít hoặc nhiều Khoản tiền trợ cấp này chủ yếu được

sử dụng vào chi tiêu hộ gia đình và phần còn lại được tiết kiệm hoặc sử dụng cho việc đầu tư nhỏ Các nghiên cứu này đều nghiên cứu di cư quốc tế, chưa có những phân tích cụ thể cho những trường hợp di cư hôn nhân

Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) Việt Nam, đã chủ trì thực hiện nghiên cứu “Giới và tiền chuyển về của lao động di cư” tại ba quận ở Hà Nội năm 2012, xuất phát từ cách tiếp cận giới Kết quả cho thấy nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho gia đình khiến mỗi người lao động phải chịu những áp lực khác nhau trong việc kiếm và gửi tiền, trong đó nhóm đã kết hôn phải chịu áp lực nhiều hơn nhóm chưa kết hôn Số tiền gửi về chi tiêu cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe, trả nợ, sắm đồ, kiến thiết nhà cửa và mua sắm công cụ sản xuất Nghiên cứu này thực hiện phỏng vấn cả nam và nữ di cư trong nước chứ không đề cập đến di cư quốc tế hoặc có mảng riêng cho di cư hôn nhân

Tập trung vào di cư kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới các nước Đông Á, trong đó có sự định cư lâu dài của phụ nữ Việt Nam tại các nước sở tại, luận văn thạc sĩ “Di cư kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài và tác động của nó ngoài và tác động của nó tới hộ gia đình gốc” được Trần Giang Linh

Trang 22

tiến hành vào tháng 8 năm 2007, tại 3 xã của huyện Thốt Nốt thuộc thành phố Cần Thơ Khi kết hôn gia đình sẽ nhận được tiền hoặc những phần quà có giá trị từ chú

rể Cô dâu cho biết khi gửi tiền về, họ nhận thấy vai trò và quyền lực của bản thân đối với gia đình được nâng cao hơn do những đóng góp kinh tế mà họ mang lại

Nguyễn Văn Tiệp (2008) đồng quan điểm rằng “những hộ gia đình có con gái lấy chồng Hàn Quốc nói riêng và lấy chồng nước ngoài nói chung đều được con gái gửi tiền về để giúp đỡ gia đình, xây được nhà cửa khang trang, mua sắm trang thiết bị đồ dùng trong nhà, có gia đình còn mua được đất để canh tác hoặc có vốn kinh doanh buôn bán nhỏ” Nhiều gia đình có con lấy chồng nước ngoài đã có sự thay đổi về cuộc sống tạo nên sự khác biệt đáng kể về mức sống giữa những hộ có con lấy chồng nước ngoài và những hộ khác Nhưng những nghiên cứu này chưa đưa được thống kê cụ thể lượng tiền cô dâu gửi về cũng như những hỗ trợ ngoài việc gửi tiền của cô dâu

Theo kết quả khảo sát của nhóm Chu Thúy Ngà - Lê Thu (2011), gia đình ước tính số tiền mà con gái gửi về hằng tháng cao hơn tổng thu nhập của họ Cô dâu Việt có đóng góp tài chính quan trọng cho gia đình cha mẹ ruột Trần Thị Kim Xuyến (2005), Nguyễn Văn Tiệp (2011) cho rằng bên cạnh sự đóng góp về kinh tế cho chính gia đình của những cô gái lấy chồng nước ngoài, thì với việc gửi nguồn ngoại tệ về Việt Nam, các cô gái lấy chồng nước ngoài cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cải thiện kinh tế cho chính quê hương của họ Đời sống kinh

tế của vùng đều được nâng cao Khi tiến hành nghiên cứu điền dã tại cộng đồng cho thấy, ấp nào, xã nào có nhiều cô gái lấy chồng nước ngoài thì đời sống các hộ gia đình xã đó khá giả hẳn lên Những nghiên cứu này chủ yếu là kết quả khảo sát các cặp đôi Đài – Việt

Bên cạnh nhận định nói trên cũng có nghiên cứu cũng đưa ra một kết quả ngược lại, việc lấy chồng nước ngoài của các cô gái Việt chưa thật sự đóng góp

Trang 23

nhiều về mặt kinh tế, cuộc sống của họ cũng không có gì khác biệt, nổi trội, khác thường so với trong thôn xóm (Văn Thị Ngọc Lan, 2008) Gia đình cô dâu cũng không nhận được tiền hay quà sau khi cho con gái lấy chồng nước ngoài (Trần Giang Linh, 2007) Tuy nhiên, các tác giả chỉ gợi mở vấn đề chứ chưa phân tích hoặc đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân

Việc tạo ra thu nhập để gửi về quê nhà tạo ra áp lực đối với sinh kế với người

di cư nói chung Chính vì vậy, sau một thời gian chu cấp, những người di cư trong cộng đồng Somali cố gắng hỗ trợ cho người thân bằng những phương thức khác như: đưa người thân di cư cùng, tìm việc làm để cùng tạo ra thu nhập, hoặc khuyến khích các khoản đầu tư cho phép sự tự cung tự cấp của người thân tại quê nhà, trong

đó nhấn mạnh vai trò của các sáng kiến phát triển cộng đồng… Qua đó, việc gửi tiền về không còn cần thiết hoặc giảm dần (Cindy Horst, 2004) Tuy nhiên, chưa có những kết quả nghiên cứu tương tự ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước đều có nhìn nhận chung về việc các

cô dâu sau khi kết hôn thường gửi tiền về trợ cấp cho gia đình tại quê nhà, lượng tiền này cao hơn tổng thu nhập hằng tháng của gia đình, cải thiện kinh tế hộ và đóng góp một phần không nhỏ trong việc cải thiện kinh tế cho cộng đồng địa phương ở quê nhà Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa chỉ ra được lượng tiền cụ thể mà các cô dâu chu cấp cho gia đình, sự thay đổi trong nguồn gốc lượng tiền gửi về, cũng như khai thác các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền, mức độ thường xuyên gửi tiền của cô dâu Đồng thời, những trường hợp sau khi kết hôn cô dâu không hỗ trợ gia đình hoặc ngoài việc hỗ trợ trực tiếp bằng tiền tệ, các cô dâu có những cách thức nào để hỗ trợ gia đình sau khi kết hôn hay không, đó còn là một mảng đề tài còn bỏ ngỏ

Trang 24

Tóm lại

Qua phần tổng quan các tài liệu về động cơ kết hôn với người nước ngoài của cô dâu Việt, cho thấy các nhà nghiên cứu đặt động cơ kinh tế lên hàng đầu trong quyết định thực hiện cuộc hôn nhân xuyên quốc gia của các cô dâu Việt Ngoài ra,

sự kì vọng của gia đình, ảnh hưởng truyền thông của các trung tâm môi giới hôn nhân và sự đồng tình của dư luận địa phương cũng thúc đẩy các cô kết hôn Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Vĩnh Long nói riêng đã có nhiều bước phát triển trong mười năm qua, điều kiện sống của người dân được cải thiện

rõ nét, liệu động cơ kinh tế có còn là là yếu tố chính yếu Do đó, khi thực hiện luận văn, nhà nghiên cứu hướng đến tìm ra sự biển đổi trong động cơ kết hôn, sự thay đổi trong kì vọng kinh tế của gia đình, sự thay đổi trong lý do kết hôn và sự thay đổi trong tỷ lệ các cuộc hôn nhân được mai mối từ họ hàng, bè bạn, những cuộc hôn nhân do hai bên tự tìm hiểu và phát sinh tình cảm…

Bên cạnh đó, những nghiên cứu về việc gửi tiền về quê thường tập trung vào các trường hợp di dân nói chung, chưa có những quan tâm đến việc gửi tiền về quê trong di dân hôn nhân nói riêng Các cuộc nghiên cứu về hôn nhân xuyên quốc gia

có đề cập về việc cô dâu hỗ trợ cho gia đình sau khi kết hôn chỉ dừng lại ở mức độ

mô tả khái quát về việc gởi tiền chứ chưa đề cập cụ thể lượng tiền cũng như phương thức gửi, các yếu tố ảnh hưởng đế việc gửi tiền của cô dâu Những nghiên cứu về gửi tiền cũng bỏ qua nhóm cô dâu không chu cấp cho gia đình và nhóm cô dâu hỗ trợ bằng các phương thức khác ngoài gửi tiền

Chính vì vậy, trong luận văn này tác giả phân tích những yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi sinh sống sau khi kết hôn của cô dâu, mức độ liên hệ với gia đình…tác động đến việc gửi tiền cho gia đình sau khi kết hôn của cô dâu Việt Tìm hiểu những yếu tố nào tác động đến quyết định không hỗ trợ cho gia đình hay những cách thức hỗ trợ khác ngoài việc gửi tiền về quê nhà của các cô dâu Đồng

Trang 25

thời nghiên cứu những ảnh hưởng của việc gửi tiền về quê của cô dâu đến gia đình, cộng đồng tại quê nhà

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự thay đổi trong động cơ kết hôn và mô tả thực trạng việc gửi tiền về quê của cô dâu Việt Nam trong cuộc hôn nhân với chú rể Hàn Quốc Đồng thời tìm hiểu những tác động kinh tế - xã hội từ nguồn tiền của cô dâu Việt đến gia đình, cộng đồng ở Vĩnh Long

1.4 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, trong khuôn khổ đề tài, tác giả tập trung vào các vấn đề sau:

- Thực trạng việc kết hôn với người Hàn Quốc của các cô dâu ở Vĩnh Long

- Tìm hiểu sự biến đổi trong động cơ di chuyển của các cô gái lấy chồng Hàn Quốc

- Việc gửi tiền về nhà của các cô dâu lấy chồng Hàn Quốc

- Tác động kinh tế, xã hội của việc tiền gửi về quê đến gia đình mới của cô dâu

ở Hàn Quốc, đến gia đình và cộng đồng địa phương ở Việt Nam

1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hôn nhân xuyên quốc gia: động cơ di chuyển và việc gửi tiền về nhà

Khách thể nghiên cứu: Thông qua hộ gia đình có con gái lấy chồng Hàn Quốc, cô dâu lấy chồng Hàn Quốc và cán bộ công tác tại cơ quan liên quan (Bộ tư pháp, cán bộ UBND Phường/Xã) tại Vĩnh Long

Trang 26

1.6 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2015 đến tháng 10/2017

Không gian nghiên cứu: huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

1.7 Phương pháp nghiên cứu

1.7.1 Phương pháp thu thập thông tin

Tác giả sử dụng dữ liệu khảo sát trong đề tài “Các tác động xã hội của hôn nhân xuyên quốc gia tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” do Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện vào tháng 10 năm 2015 tại tỉnh Vĩnh Long

Trong cuộc khảo sát, khái niệm “hôn nhân xuyên quốc gia” được định nghĩa

là “giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài”, đặc biệt chú trọng nghiên cứu trường hợp phụ nữ Việt Nam kết hôn với nam giới người nước ngoài Nhóm mục tiêu bao gồm những gia đình có con gái Việt Nam đã lấy chồng nước ngoài sống trong 3 xã Thuận An, xã Tân An Thạnh và xã Tân Lược thuộc thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Địa điểm nghiên cứu:

Mẫu nghiên cứu được chọn ở 3 xã, đơn vị mẫu được xác định dựa trên mức

độ tập trung của những gia đình có con gái kết hôn với người nước ngoài qua số liệu thống kê cũng như qua thảo luận với cơ quan nhà nước có liên quan

Theo thống kê từ Sở Tư Pháp tỉnh Vĩnh Long, từ năm 2005 đến đầu năm

2015, Vĩnh Long có 3.840 trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Trong

đó, nổi bật về số lượng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài tập trung ở hai huyện

Trang 27

Bình Tân và thị xã Bình Minh Sau khi chọn được khu dân cư, chính quyền cấp huyện và thị xã cấp cho nhóm nghiên cứu thư giới thiệu đến chính quyền cấp xã và nhờ sự hỗ trợ để thực hiện dự án Nhóm nghiên cứu đã có cuộc trao đổi với chính quyền cấp xã và xin thông tin về các hộ gia đình có con gái lấy chồng nước ngoài tại xã cũng như sắp xếp thời gian cho các cuộc phỏng vấn Đại diện chính quyền địa phương cấp xã cùng nhóm nghiên cứu xuống địa phương để gặp và trao đổi với đại diện hộ gia đình, giới thiệu nhóm nghiên cứu và xin phép phỏng vấn đại diện hộ gia đình

Vì khách thể của cuộc nghiên cứu là hộ gia đình có con gái lấy nước ngoài,

cô dâu lấy chồng nước ngoài, nên ở các buổi tiếp xúc với đại diện chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu đã yêu cầu họ cung cấp danh sách mẫu, trong đó là thông tin về hộ gia đình, ghi nhận các đặc điểm như nơi sinh sống, độ tuổi, nghề nghiệp của cô dâu trước khi kết hôn, quốc tịch của chú rể Sau khi nắm danh sách các hộ, cán bộ địa phương dẫn phỏng vấn viên đến hộ để giới thiệu và thu xếp thời gian phỏng vấn

Kết quả, đề tài khảo sát được tổng cộng 443 đại diện hộ gia đình có cô dâu lấy chồng nước ngoài trên địa bàn 03 xã Vì mục tiêu của luận văn là nghiên cứu trường hợp cô dâu lấy chồng Hàn Quốc nên tác giả đã dùng phần mềm SPSS (bản

Trang 28

20.0) trích lọc ra các trường hợp là cô dâu kết hôn với chủ rể người Hàn Quốc, kết quả có 159 trường hợp để tiến hành xử lý và phân tích dữ liệu Cụ thể:

Bảng 1 1 Hộ có con gái lấy chồng nước ngoài theo địa bàn cư trú (Đv: trường hợp)

cuộc sống hôn nhân hiện tại của con gái và cuối cùng là trẻ em của cuộc hôn nhân

Phỏng vấn sâu:

Thực hiện tổng cộng 38 cuộc phỏng vấn sâu Trong đó, có 13 cuộc phỏng vấn đại diện hộ gia đình có con gái lấy chồng nước ngoài Nhiều thông tin được ghi nhận từ các cuộc phỏng vấn này về như đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ, nguyên nhân kết hôn của cô dâu, sự hỗ trợ của cô dâu về gia đình sau khi kết hôn… Ngoài

ra trong thời gian khảo sát có 09 cô dâu hiện đang về địa phương thăm gia đình, những thông tin về gia đình chú rể, cuộc sống sau hôn nhân của cô dâu, sự hòa nhập với môi trường mới, cách thức hỗ trợ gia đình ở quê nhà và những dự định trong tương lai của cô dâu cũng được khai thác

Trang 29

Để tìm hiểu ý kiến của chính quyền địa phương, phỏng vấn viên có một số buổi tiếp xúc, bao gồm 16 cán bộ ở thị xã Bình Minh, huyện Bình Tân, và 3 xã: Thuận An, Tân An Thạnh và Tân Lược Các câu hỏi xoay quanh nhận định của họ đối với các gia đình và các cô gái lấy chồng nước ngoài trên địa bàn

Trong luận văn, tác giả chỉ sử dụng 5 biên bản phỏng vấn sâu hộ gia đình có con gái kết hôn với người Hàn Quốc và 6 biên bản phỏng vấn sâu cô dâu lấy chồng Hàn Quốc hiện đang ở Việt Nam (trong đó có 3 cô dâu đã ly hôn và trở về Việt Nam sinh sống, 3 cô dâu về Việt Nam thăm gia đình) Cụ thể:

Trang 30

Trường hợp

Người giới thiệu Tình

trạng hôn nhân

Trình độ học vấn của cô dâu

Nghề nghiệp hiện tại

Nơi sinh sống của cô dâu ở Hàn Quốc

Cô dâu gửi tiền

về gia đình

Cô dâu 01

Tự tìm hiểu, nảy sinh tình cảm tiến tới hôn nhân

Kết hôn

THPT, qua Hàn Quốc học tiếp 2 năm

Dịch thuật Ở chung với gia

Kết hôn

THPT, qua Hàn Quốc học tiếp mấy tháng

Đưa bố mẹ qua Hàn Quốc làm việc

Cô dâu 05

Họ hàng đã lấy chồng Hàn Quốc giới thiệu

Kết hôn Lớp 10

Công nhân trong công ty đông lạnh

Ở chung với gia đình chồng

Đưa bố mẹ qua Hàn Quốc làm việc

Trang 31

Cô dâu 06 Bạn bè đã lấy chồng

Hàn Quốc giới thiệu Ly hôn Không đi học Làm thuê

Ở chung với gia đình chồng Không gửi tiền

Trường hợp

Người giới thiệu Tình

trạng hôn nhân

Trình độ học vấn của cô dâu

Nghề nghiệp hiện tại

Nơi sinh sống của cô dâu ở Hàn Quốc

Cô dâu gửi tiền

về gia đình

Hộ gia đình 02 Hội Phụ nữ giới

THPT, qua Hàn Quốc học tiếp mấy tháng

Đưa bố mẹ qua Hàn Quốc làm việc

Trang 32

Tư liệu sẵn có:

Thu thập các tài liệu, số liệu mô tả, thống kê về tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Vĩnh Long có liên quan đến đề tài Lấy số liệu thống kê từ Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, các ban ngành đoàn thể và các tổ chức xã hội các báo cáo, tư liệu liên quan đến đề tài kết hôn với người nước ngoài như: thống

kê số lượng kết hôn với người nước ngoài hằng năm, chương trình/báo cáo về tư vấn hôn nhân, chương trình giáo du ̣c về tình yêu, hôn nhân cho thanh niên…

Đối với dữ liệu định tính, sau khi thu thập, dữ liệu được mang đi gỡ băng và thực hiện phân tích nội dung nhằm giải thích cho các vấn đề và bổ sung thông tin cho các dữ liệu định lượng

1.8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.8.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn là kết quả nghiên cứu về động cơ di chuyển cũng như việc gửi tiền

về quê nhà của các cô dâu Việt ở Hàn Quốc, là tài liệu tham khảo, bổ sung và làm phong phú thêm phương pháp luận, cách tiếp cận cho những công trình nghiên cứu

về hôn nhân xuyên quốc gia của những nhà nghiên cứu sau

Trang 33

1.8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Là tài liệu tham khảo với địa phương - nơi có nhiều cô gái kết hôn với người Hàn Quốc - thực hiện các hoạt động hỗ trợ có hiệu quả đối với các cô dâu có ý định kết hôn, giảm thiểu những rủi ro và thương tổn

1.9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn

Luận văn được viết dựa trên dữ liệu khảo sát của đề tài nghiên cứu khác với nhiều mảng chủ đề lớn hơn, nên chưa có sự chủ động trong việc thu thập thông tin cần thiết cho luận văn, tác giả đã cố gắng tìm thêm những thông tin bổ sung qua các cuộc phỏng vấn sâu sau đó Đồng thời, luận văn nghiên cứu về việc gửi tiền của cô dâu Việt ở Hàn Quốc về gia đình, nhưng tác giả chưa có điều kiện để thực hiện nghiên cứu và thu thập thông tin ở Hàn Quốc để bổ sung những minh chứng có tính thuyết phục hơn trong bài viết

1.10 Kết cấu của luận văn

Luận văn được chia làm ba phần, bao gồm phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu và phần kết luận

Ở phần mở đầu, tác giả trình bày về lý do chọn đề tài, sơ lược về tình hình nghiên cứu, mục tiêu, nội dung, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và thực tiễn và những hạn chế của luận văn

Trong phần nội dung, tác giả tiến hành mô tả thực trạng kết hôn với người nước ngoài của cô dâu Việt Từ mô tả và phân tích các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, tìm ra các động cơ kết hôn với người Hàn Quốc của cô dâu Việt Thông qua động cơ kết hôn và các đặc điểm nhân khẩu của các cô dâu Việt để tìm hiểu, phân tích thực trạng việc gửi tiền về quê của cô dâu sau khi kết hôn và các yếu tố tác động đến việc gửi tiền Đồng thời phân tích cách tác động của việc gửi tiền đến gia đình mới của cô dâu, gia đình tại quê nhà và cộng đồng

Trang 34

Trong phần kết luận, tác giả tóm lược lại những vấn đề phân tích ở phần nội dung và đưa ra một số lưu ý cho các cho các cô dâu Việt có ý định kết hôn với người Hàn Quốc

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu

2.1.1 Lý thuyết kinh tế vĩ mô (Todaro, 1970)

Mô hình Todaro đề cập đến vấn đề di dân tới các thành phố có thể mang lại lợi ích cá nhân cho bản thân người nhập cư, và dựa trên phân tích chi phí lợi ích hợp

lý Các đặc điểm chính của Mô hình di cư Tadora:

Cá nhân đưa ra quyết định di dân dựa vào sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích Chi phí bao gồm: chi phí về kinh tế, chi phí cơ hội và chi phí tinh thần Lợi ích dựa vào mục đích của người di chuyển: kinh tế, môi trường, sức khỏe Nếu chi phí lớn hơn lợi ích thì cá nhân không quyết định di chuyển và ngược lại

Sự khác biệt về phát triển giữa các vùng là nguyên nhân của sự di cư Sự khác biệt

về cung cầu đối với việc làm giữa các vùng địa lý, chênh lệch tiền lương dẫn đến di dân Sự phát triển nhanh các khu công nghiệp ở các vùng đô thị đang tạo ra nhiều

cơ hội việc làm với thu nhập cao hơn thu hút lao động từ nông thôn

Việc suy xét chi phí và lợi ích phụ thuộc vào các đặc tính cá nhân và nguồn thông

tin mà cá nhân thu nhận được

Từ quan điểm của lý thuyết này, trong đề tài của mình, tác giả nhận thấy quyết định kết hôn với nam giới Hàn Quốc không chỉ là quyết định của cá nhân các

cô dâu mà còn là sự cân nhắc và tính toán của gia đình Mọi tính toán và cân nhắc này nhằm đem đến những kết quả có thể đáp ứng kỳ vọng về cuộc sống hạnh phúc giàu có ở Hàn Quốc và đem lại tín hiệu tích cực cho kinh tế gia đình ở Việt Nam

Trang 35

Khi quyết định kết hôn, cô dâu Việt Nam đã có sự cân nhắc, suy tính thiệt

hơn về những lợi ích Những cân nhắc chọn bạn đời có thể dựa trên thu nhập, địa vị

xã hội, ngoại hình, gia cảnh, học vấn,… Tuy nhiên, khi những kì vọng không được đáp ứng: chú rể không đủ khả năng kinh tế để hỗ trợ cho gia đình cô dâu, sức khỏe kém, bạo lực gia đình thì hôn nhân có nguy cơ tan vỡ

Chi phí ban đầu gồm: chi phí cho người môi giới để làm quen và tìm kiếm đối tượng kết hôn phù hợp, chí phí sinh hoạt trong những ngày ở thành phố dợi được gặp mặt nam giới Hàn Quốc, những chi phí này được dự tính là nhỏ hơn những lợi ích thu lại sau khi kết hôn như sự sính lễ của chú rể cho gia đình, sự hỗ trợ của cô dâu về nhà sau khi kết hôn, cơ hội việc làm của người thân ở Hàn Quốc

Đồng thời sự chênh lệch về mức sống giữa khu vực nông thôn Việt Nam và Hàn Quốc cũng thúc đẩy các cô dâu có ý định kết hôn Hàn Quốc xây dựng hình ảnh về một đất nước giàu mạnh và có môi trường sống tốt trong mắt người dân Việt Nam, đặc biệt là những cô gái đang có ý định kết hôn với người nước ngoài Các cô dâu hình dung về một đất nước Hàn Quốc hiện đại, tiên tiến và so sánh với điều kiện thực tế tại địa phương Vĩnh Long Ở khu vực có lượng người kết hôn với người nước ngoài cao, hình thành nên các mạng lưới các cô dâu kết hôn với người nước ngoài tại địa phương, mạng lưới này hỗ trợ các cô gái có ý định kết hôn như mô tả, bảo đảm về các thông tin liên quan đến đối tượng nam giới nước ngoài và không tốn chi phí ban đầu

2.1.2 Lý thuyết về "Lực hút, lực đẩy" của Evertt S Lee

Everett S Lee trong tác phẩm “Lý thuyết di dân” (A Theory of Migration) xuất bản năm 1966 đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di dân và chia thành những nhóm nhỏ

+ Nhóm nhân tố gắn liền với nơi xuất phát, nơi gốc của di dân (origin) Các yếu tố mang tính lực đẩy được Everett S Lee chỉ ra bao gồm những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa…

Trang 36

+ Nhóm nhân tố gắn liền với nơi đến của người di dân (migration’s destination) Trong các nghiên cứu di dân, việc xác định tại sao người di cư lại chọn một vị trí nào đó làm nơi đến có một ý nghĩa rất quan trọng Những yếu tố thuận lợi cho người di dân chọn làm nơi đến được Everett S Lee gọi là những nhân tố “lực hút” Các yếu tố lực hút có thể do thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, chính sách phát triển kinh tế khu vực đã tạo ra những cơ hội khác đối với người nhập

+ Nhóm những trở ngại, trở lực giữa nơi xuất phát và nơi đến mà người di dân phải vượt qua (Everett S Lee gọi đó là những trở ngại trung gian - intervening obstacles) Trước khi đi đến quyết định chuyển cư, những di dân tiềm năng cũng phải tính toán đến các yếu tố những trở ngại trung gian có thể xuất hiện

+ Nhóm những nhân tố mang tính cách cá nhân, tính cách riêng của di dân

Áp dụng cách tiếp cận “Lực hút – lực đẩy” trong phân tích hôn nhân xuyên quốc gia nhấn mạnh đến các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc kết hôn và di chuyển đến Hàn Quốc sinh sống Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nông thôn Việt nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra sự phân tầng xã hội sâu sắc, trong đó những nông dân không có đất, không có vốn, trình độ học vấn thấp bị gạt ra ngoài của sự phát triển, rơi vào cảnh nghèo đói, và cho con gái đi lấy chồng nước ngoài như một chiến lược sinh kế của hộ gia đình

Trong đề tài của mình, tác giả nhận thấy các yếu tố lực hút trong hôn nhân xuyên quốc gia là sự chênh lệch về mức sống giữa khu vực nông thôn Việt Nam và Hàn Quốc Hàn Quốc là đất nước hấp dẫn (đặc biệt với đối tượng cô gái chưa kết hôn) qua thông tin đại chúng, qua tivi, quảng cáo, và đặc biệt, qua những "tấm gương" - những cô gái cùng quê hương đã di cư đến Hàn Quốc từ trước Sự thuận lợi trong chính sách kết hôn với người nước ngoài cũng là một lực hút quan trọng trong quyết định của cô dâu Đối với các cô gái trẻ, những ký ức, kỷ niệm, các mối quan hệ ở nơi sống không sâu sắc như phụ nữ lớn tuổi, những yếu tố mới, tiên tiến, hiện đại ở các đô thị, thành phố ở Hàn Quốc có sức hấp dẫn đặc biệt đối với bản tính

Trang 37

Về nhân tố trở ngại trung gian, tác giả nhận thấy các cô gái sau kết hôn và đến sinh sống tại Hàn Quốc sẽ chịu sự chia cắt những mối quan hệ gia đình, bạn bè, láng giềng ở Việt Nam, phải mất thời gian để thích ứng với văn hóa trong môi trường mới ở Hàn Quốc Ngoài ra, những nhân tố mang tính cách cá nhân, tính cách riêng của di dân như sở thích của cô dâu như: xem phim Hàn Quốc và ngưỡng mộ văn hóa, lối sống của người Hàn, thích được đi máy bay, thích được đi du lịch,…cũng

có tác động đến quyết định kết hôn

2.1.3 Lý thuyết về hành vi gửi tiền về nhà

Lý thuyết về hành vi gửi tiền về nhà được giới thiệu vào năm 2010 bởi nhà

Xã hội học Nancy Luke với việc xuất bản tác phẩm “Migrants’competing Commitments: Sexual Partners in Urban Africa and remittances to the Rural Origin” Nancy Luke nghiên cứu về lý thuyết và kinh nghiệm về hành vi gửi tiền về nhà khởi nguồn từ khía cạnh trao đổi và nhận thấy rằng: sự gia tăng các nguồn lực dành cho một mối quan hệ mới sẽ liên quan tới sự giảm sút các nguồn lực được cam kết cho mối quan hệ đang tồn tại, nếu hai mối quan hệ này có thể thay thế cho nhau

Lý thuyết về sự thay thế có thể được áp dụng vào hàng loạt các ngữ cảnh xã hội liên quan đến các mối quan hệ đa dạng, sự trao đổi đối tượng, và cam kết về các nguồn lực

Nancy Luke kiểm chứng phạm vi lý thuyết của mình trong những người di

cư đô thị Di cư là một chiến lược của gia đình nhằm tạo ra dòng tiền trợ cấp và chi phí cho cả người di cư và gia đình họ ở quê Trong bối cảnh này, những người di cư duy trì các mối quan hệ với gia đình họ ở quê nhà sau khi họ đến nơi ở mới Gia đình mở rộng ở quê nhà cung cấp cho người di cư những lợi ích vật chất và phi vật chất đáng giá như thông tin việc làm, động viên tinh thần, và lời hứa thừa kế của gia đình Đáp lại, những người di cư cũng gửi về những khoản tiền lớn cho các mối quan hệ này ở quê nhà, trong ngữ cảnh trao đổi qua lại này, các khoản tiền gửi về là nghĩa vụ đáp lại chính của người di cư Ngoài ra, người di cư gửi tiền về nhà trong

Trang 38

những năm tháng sinh sống tại nơi ở mới để hoàn trả lại cho gia đình mình những khoản gia đình đã đầu tư cho họ ăn học và để đảm bảo phần thừa kế của họ

Mối quan hệ xã hội mạnh hơn với gia đình và các cộng đồng ở quê nhà như

sự liên hệ với gia đình càng nhiều, mức độ thân cận trong mạng lưới quan hệ càng gần, thì sẽ càng tăng xu hướng gửi tiền về cũng như mức độ hỗ trợ bằng tiền Đồng thời, những người di cư tạo lập những mối quan hệ mới và dành những khoản tiền cho mối quan hệ mới này, họ là những người đem lại cho những người di cư những

sự trợ giúp về mặt tâm lý xã hội và vật chất tương tự như của gia đình, và sau đó cạnh tranh để giành lấy một phần những nguồn lực của người di cư Những khoản chi trả tăng lên cho mối quan hệ mới sẽ liên quan đến sự sụt giảm các cam kết về nguồn lực cho mối quan hệ đang tồn tại, sức mạnh của mối liên quan này phụ thuộc vào mức độ bền vững của hai mối quan hệ

Từ quan điểm của lý thuyết này, trong phạm vi đề tài, tác giả nhận thấy sau khi kết hôn với chú rể Hàn Quốc, các cô dâu có xu hướng gửi tiền về quê nhà như một hình thức báo hiếu cho cha mẹ, trả ơn công sinh thành và nâng cao chất lượng sống cho người thân Gia đình ở quê hỗ trợ về tinh thần cho cô dâu bằng cách đưa

ra những lời khuyên về cách ứng xử và giải quyết vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, cách thức chăm sóc sức khỏe khi mang thai, giáo dục con cái… Những cô dâu thường xuyên liên lạc với gia đình ở quê có xu hướng gửi tiền về và lượng tiền gửi

về cho gia đình cao hơn những cô dâu ít liên lạc

Sau khi kết hôn, cô dâu Việt chính thức trở thành vợ của chú rể Hàn Quốc, khi trở về Hàn Quốc, cô dâu tiếp tục mở rộng mối quan hệ với họ hàng nhà chú rể Với những trường hợp sống chung với cha mẹ chú rể, việc gửi tiền về quê nhà sẽ bị ảnh hưởng bởi sự chấp thuận của ba mẹ chồng Sau khi có con cái, khoản tiền gửi

về quê bị thu hẹp bởi cô dâu cần dành khoản chi phí đó cho việc chăm sóc, giáo dục con cái cũng như tích lũy tài sản cho những trường hợp rủi ro Khi việc hỗ trợ gia đình ở quê bằng hình thức gửi tiền không còn phù hợp, các cô dâu phải tính toán để

Trang 39

2.1.4 Lý thuyết về mạng lưới xã hội của Massey

Lý thuyết mạng lưới xã hội được Massey và cộng sự nghiên cứu năm 1987

Lý thuyết mạng lưới xã hội chỉ ra tầm quan trọng của quan hệ xã hội, sự kết hợp giữa những người cả ở nơi xuất cư và nơi nhập cư trong việc quyết định di dân Quan hệ với người quen ở nơi đến sẽ làm gia tăng khả năng kiếm được việc làm, trong khi quan hệ thân thích giúp cho người di cư an tâm trong quá trình di chuyển, giúp giảm chi phí, đảm bảo tính hiệu quả và giảm bớt rủi ro trong quá trình di cư để

từ đó người di dân có thể tối đa hóa lợi ích

Các học giả kinh tế phát triển lý thuyết mạng lưới xã hội để lý giải hiện tượng

di dân Họ chỉ ra rằng các mối quan hệ xã hội ở nơi đến đóng vai trò quan trọng trong di dân ở các quốc gia đang phát triển, do gia đình và bạn bè ở khu vực đô thị giúp người có ý định di dân có được thông tin chính xác về thành phố trước khi đến, cũng như các hỗ trợ ban đầu Một khi đã hình thành, mạng lưới xã hội sẽ ngày càng phát triển và quá trình di cư sẽ được duy trì mà không cần đến sự can thiệp của các yếu tố bên ngoài Quyết định di cư ban đầu chịu lực đẩy của yếu tố bên ngoài nhưng dần dần nó có được nội lực thông qua mạng lưới di cư, mạng lưới này sẽ hỗ trợ và định hướng cho quá trình di cư diễn ra với quy mô ngày càng lớn và tạo điều kiện

để di cư được tiếp diễn Có thể hiểu rằng quyết định di dân là một quá trình tác động

đa chiều bởi các yếu tố kinh tế lẫn phi kinh tế trên cả hai cấp độ vi mô và vĩ mô

Lý thuyết mạng lưới xã hội áp dụng vào lý giải động cơ di chuyển, đồng thời

lý giải mức độ chuyển tiền về quê cho gia đình sau khi kết hôn của cô dâu Việt Mạng lưới xã hội không chính thức như họ hàng, bạn bè, đồng hương là những cô dâu đã kết hôn trước đó… Biểu hiện rõ nhất tác động của mạng lưới xã hội trong hôn nhân xuyên quốc gia là các cuộc hôn nhân diễn ra do có sự tác hợp từ phía những người mai mối, cụ thể là mối quan hệ của cô gái chưa lấy chồng với các cô gái đã kết hôn và chuyển qua Hàn Quốc sinh sống

Các cuộc hôn nhân thông qua các trung tâm môi giới phải tốn chi phí ban đầu,

và thông tin về chú rể qua các trung tâm này không có cơ sở kiểm chứng Trong khi

Trang 40

đó, các cô dâu đã kết hôn giúp cho các cô dâu có ý định kết hôn có được thông tin

về thành phố, khu vực sinh sống ở Hàn Quốc trước khi đến, cũng như những hỗ trợ ban đầu Điều này khiến các cô dâu mới an tâm và giảm bớt những rủi ro trong quá trình di chuyển từ Việt Nam sang Hàn Quốc, đồng thời gia đình cũng không tốn chi phí mai mối, thúc đẩy quyết định kết hôn của các cô gái Trong mạng lưới xã hội của các cô dâu đã sang Hàn Quốc với những cô dâu có ý định kết hôn với người nước ngoài, cô dâu trở thành người tư vấn, định hướng, chia sẻ những kinh nghiệm cũng như cách thức làm các thủ tục kết hôn, liên hệ người môi giới, phán đoán năng lực tài chính của người chồng Hàn Quốc

Khi đã có mạng lưới giữa các cô dâu Việt sống ở Hàn Quốc, mạng lưới này sẽ ngày càng phát triển do được bổ sung số lượng cô dâu mới vào tăng quy mô của mạng lưới, đồng thời có được nội lực để hỗ trợ và định hướng cho những cô gái có

ý định kết hôn với người Hàn Quốc khác, quá trình di cư theo hôn nhân được tiếp diễn Bên cạnh đó, mạng lưới xã hội còn phát huy vai trò tích cực trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm cho các cô dâu sau khi kết hôn, từ đó tạo ra thu nhập và chuyển

về gia đình ở Việt Nam Các cô dâu di cư theo hôn nhân sau khi đến Hàn Quốc vẫn duy trì các mối quan hệ với gia đình họ ở Việt Nam Những mối quan hệ xã hội mạnh hơn với gia đình và các cộng đồng ở quê nhà làm tăng thêm xu hướng gửi tiền

về cũng như mức độ hỗ trợ bằng tiền của các cô dâu

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Động cơ di chuyển của các cô gái lấy chồng Hàn Quốc đã có những thay đổi

gì so với trước đây?

Việc gửi tiền về nhà của các cô dâu lấy chồng Hàn Quốc diễn ra như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền về của cô dâu?

Việc gửi tiền về quê của cô dâu làm ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội của gia đình và cộng đồng địa phương ở Việt Nam như thế nào?

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Trần Hữu Yến Loan, 2012, Phân tích những vấn đề của Phụ nữ Việt Nam kết hôn nhập cư tại Hàn Quốc, Kỷ yếu “Hội thảo quốc tế kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn- Việt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc tế kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn- Việt
14. Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Hà Nội, 2015, Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015 -2035.15. Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Longhttp://www.vinhlong.gov.vn/Default.aspx?tabid=1255 truy cập 15/5/2016 Link
1. Cindy Horst, 2004, Money and mobility: transnational livelihood strategies of the Somali diaspora, No. 9, Global Migration Perspectives Working Paper Khác
2. Dong-Hoon Seol, 2008, Women Mariage Immigration in Korea: Immigration Process and Adaptation. Early verson was presented in the seminar organized by The Center for Asia-Pacific Area Studies (CAPAS), Academia Sinica, Taiwan Khác
3. Evertt S. Lee, 1966, A Theory of Migrationcủa Lee, Everett S, In: Demography, Vol 3 No 1, University of Pennsylvania: Population Association of Ameriaca, pp47-57 Khác
4. Kim J H., 2008, Hôn nhân và gia đình của người Hàn có sự so sánh với người Việt, Luận án tiến sỹ Dân tộc học (đã bảo vệ), trang 36 - 37 Khác
5. Nancy Luke, 2010, Migrants’ competing Commitments: Sexual Partners in Urban Africa and remittances to the Rural Origin, American Journal of Sociology, Volume 115 Number 5, pp 1435 - 1479 Khác
7. Phan An, 2008, Hôn nhân xuyên quốc gia - lý thuyết và thực tiễn hôn nhân Đài - Việt, Hàn - Việt, Kỷ yếu Hội thảo khoa họcTIẾNG VIỆT Khác
8. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh, 2010, Tìm hiểu đời sống của các cô dâu Việt ở Hàn Quốc, Luận văn thạc sĩ xã hội học Khác
9. Đặng Nguyên Anh, 2015, Nghèo đa chiều ở Việt Nam: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội TP.Hồ Chí Minh Khác
10. Đặng Nguyên Anh, 2013, Giới và quyết định di cư: tiếp cận lý thuyết và liên hệ với thực tiễn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
11. Báo cáo tổng kết 2004, 2015, Phân tích hiện trạng nghèo đói ở ĐBSCL, Australian Government, trang 11 Khác
12. ThS. Nguyễn Duy Bính, 2004, về hôn nhân giữa người Đài Loan và Việt Nam, tạp chí Dân tộc học.-2004.-Số 1(127).-Tr.36-42 Khác
18. Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2011, Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân việt nam ra nước ngoài Khác
20. Lý Xuân Chung, 2008, Đôi nét về sự tương đồng văn hoá Việt Nam - Hàn Quốc, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á Khác
21. Hạ Thị Thiều Dao, 2013, Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến kinh tế vĩ mô Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 7, tháng 04/2011, trang 14-20 Khác
22. Phạm Mỹ Duyên, 2014, Giảm nghèo bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí cộng sản Khác
23. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ huyện Bình Tân, 2015, Tham luận phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững Khác
24. Nguyễn Thị Hồng, 2007, Cộng đồng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và hiện tượng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan, Tạp chí Xã hội học số 2 Khác
25. Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2011, Một số vấn đề xã hội của phụ nữ Việt Nam lấy chồng và lao động ở nước ngoài, Đề tài cấp bộ 2009 - 2010, Phòng nghiên cứu phụ nữ, Viện Gia Đình và Giới Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w