1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp

78 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT VAI TRÕ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THƯƠNG LƯỢNG, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN THỎA ƯỚC LAO ĐỘN

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÖY HẰNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

Tp Hồ Chí Minh, năm 2013

VAI TRÕ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THƯƠNG LƯỢNG, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TẠI DOANH NGHIỆP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

VAI TRÕ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THƯƠNG LƯỢNG, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TẠI DOANH

NGHIỆP

SVTH:NGUYỄN THỊ THÖY HẰNG KHÓA: 34 MSSV: 0955020029

GV HƯỚNG DẪN: ThS BÙI THỊ KIM NGÂN

TP PHỐ CHÍ MINH, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VÀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1.1.Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức Công đoàn 3

1.1.1 Tổ chức Công đoàn thế giới 3

1.1.2 Tổ chức Công đoàn Việt Nam 6

1.2.Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam 10

1.3.Tính chất và vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức Công đoàn Việt Nam 11

1.3.1 Tính chất và vị trí 11

1.3.2 Vai trò và chức năng 13

1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn 14

1.4.Đối thoại xã hội và tầm quan trọng của cơ chế ba bên trong quan hệ lao động 16

1.5.Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể 19

1.5.1 Khái niệm thỏa ước lao động tập thể 19

1.5.2 Đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể 21

1.5.3 Phân loại thỏa ước lao động tập thể 22

1.5.4 Vai trò, ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể 24

1.6.Sơ lược về thỏa ước lao động tập thể một số nước trên thế giới 25

1.7.Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 28

1.7.1 Khái quát về vai trò của Công đoàn đối với thỏa ước lao động tập thể 28

1.7.2 Vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THƯƠNG LƯỢNG, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1.Khái quát về tình hình công nhân lao động và tổ chức Công đoàn của tỉnh Bình Dương 39

2.2.Thực trạng vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại Bình Dương 40

2.2.1 Điểm tích cực: 40

2.2.2 Điểm hạn chế 43

2.2.3 Đánh giá thực trạng 53

2.3.Nguyên nhân làm cho Công đoàn chưa thực hiện tốt vai trò của mình trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể 54

2.3.1 Từ các quy định của pháp luật 54

Trang 4

2.3.2 Nguyên nhân từ tổ chức Công đoàn 57

2.3.3 Nguyên nhân từ người sử dụng lao động 59

2.3.4 Nguyên nhân từ người lao động 60

2.3.5 Nguyên nhân từ phía các cơ quan Nhà nước 60

2.4.Một số kiến nghị góp phần nâng cao vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể 61

2.4.1 Các quy định của pháp luật 61

2.4.2 Trong quá trình thương lượng và đề xuất thương lượng 66

2.4.3 Trong quá trình lấy ý kiến, biểu quyết thông qua thỏa ước 67

2.4.4 Về chủ thể thương lượng 68

2.4.5 Cơ chế thúc đẩy và hỗ trợ thương lượng của Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, cơ quan Nhà nước 68

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động cũng ngày càng phát triển Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động nắm giữ các thế mạnh kinh tế, quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp còn người lao động bao giờ cũng là bên yếu thế hơn, chính vì vậy, bảo vệ người lao động là vấn đề quan trọng

và cần thiết

Để bảo vệ tập thể người lao động, phải thông qua một tổ chức nhất định, đó chính là tổ chức Công đoàn Công đoàn Việt Nam ra đời từ rất sớm với nhiệm vụ, vai trò khác nhau trong mỗi thời kỳ nhưng Công đoàn luôn thể hiện được vai trò đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động Ngày nay, Công đoàn hoạt động rộng khắp, địa vị pháp lý của Công đoàn đã được quy định trong các văn bản pháp luật, Nhà nước trao cho Công đoàn nhiều quyền hạn nhằm giúp Công đoàn thực hiện tốt chức năng bảo vệ người lao động Một trong những quyền hạn đó là đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể là sản phẩm của quá trình thương lượng, thỏa thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động trong doanh nghiệp Thông qua thương lượng, người lao động được đứng ở vị thế ngang hàng với người sử dụng lao động, đưa ra những đề xuất và thương lượng với người sử dụng lao động

để đạt được các điều kiện lao động tốt hơn, đáp ứng quyền lợi cho NLĐ Khi doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện lao động cho người lao động được tốt hơn thì người lao động cũng ý thức được nghĩa vụ của mình mà hoàn thành đúng công việc được giao, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được ổn định, mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng tốt hơn

Với những lý luận về vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể và thực tiễn hoạt động của Công đoàn đối với thỏa ước lao động tập thể cho thấy rằng trong tình hình hiện nay, Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở để người lao động đạt được các điều kiện lao động tốt hơn và cũng

là cơ sở để người lao động bảo vệ quyền lợi cho mình khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên bên cạnh những hiệu quả mà thỏa ước lao động tập thể mang lại, trên thực tế

ở một số doanh nghiệp cũng tồn tại những Công đoàn được lập ra và thỏa ước lao động tập thể được ký kết nhưng chỉ mang tính hình thức, không bảo vệ được quyền lợi cho người lao động Với vai trò quan trọng mà Nhà nước và xã hội đã trao cho

Trang 7

Công đoàn, với những mặt tích cực và hạn chế trong thực tiễn đặt ra, việc nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể là một vấn

đề rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người lao động được tốt hơn Do đó, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trong luận văn, tác giả tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, cơ sở pháp

lý về Công đoàn và vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện TƯLĐTT tại doanh nghiệp, đồng thời thông qua thực tiễn, tìm ra nguyên nhân của thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện TƯLĐTT Để thuận tiện cho việc thu thập tài liệu trên thực tế, tác giả chọn địa bàn tỉnh Bình Dương, một trong những nơi có quan hệ lao động phát triển để nghiên cứu về vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp Nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích

Trang 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VÀ THỎA ƯỚC

LAO ĐỘNG TẬP THỂ

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức Công đoàn

1.1.1 Tổ chức Công đoàn thế giới

Trên thế giới tổ chức Công đoàn ra đời từ rất sớm, cùng với sự ra đời và phát triển của phong trào công nhân qua từng thời kỳ lịch sử Phong trào Công đoàn thế giới phát triển qua các giai đoạn:

Giai đoạn giai cấp vô sản ra đời cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản (1566 - 1917)

Nửa cuối thế kỷ XVII, các quốc gia phong kiến ở Châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Nga, Hà Lan,…) rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế, nhân dân bị bóc lột đến tận cùng của sự sống Xã hội phong kiến Tây Âu ngày càng khủng hoảng trầm trọng, xuất hiện nhiều mâu thuẫn và các cuộc cách mạng tất yếu xảy ra Hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Anh (1640 - 1660), Mỹ (1773 - 1783), Pháp (1789 - 1794), đã thiết lập quyền thống trị của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, đây chỉ là một hình thức bóc lột thay thế cho hình thức bóc lột trước kia và đối tượng bóc lột của giai cấp tư sản chính là giai cấp vô sản Giai cấp vô sản thời kỳ này chưa phát triển mà chỉ phát triển có tổ chức, đông về số lượng, mạnh về chất lượng khi có cách mạng công nghiệp nổ ra

Cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra đầu tiên ở Anh, sau đó là các nước Mỹ, Đức, Pháp,… Với các phát minh như máy kéo sợi, máy hơi nước, máy dệt,… đã đưa năng suất lao động tăng cao nhanh chóng nhưng hệ quả để lại là sự phân hóa giai cấp rõ rệt trong xã hội thời kỳ này bởi cuộc cách mạng công nghiệp làm các nhà sản xuất nhỏ, tiểu thương, tiểu công nghiệp không đủ vốn đầu tư máy móc, nhà xưởng, họ dần bị phá sản và trở thành người làm thuê cho các nhà tư bản lớn Như vậy, cuộc cách mạng công nghiệp là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên giai cấp

vô sản - giai cấp đối lập hoàn toàn với giai cấp tư sản

Nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh như đường sắt, xe lửa, tàu thủy,… chính vì các chính sách phát triển kinh tế của giai cấp tư sản đã làm cho giai cấp vô sản được gần gũi và liên kết với nhau hơn, tư sản càng giàu thì vô sản càng bị bóc lột khốc liệt, họ trở nên bần

Trang 9

cùng hóa và mâu thuẫn giữa hai giai cấp này ngày càng đối kháng gay gắt đến mức không thể điều hòa được

Giai cấp vô sản đã đấu tranh chống áp bức bóc lột, các cuộc đấu tranh ban đầu còn nhỏ lẻ, rời rạc và dần dần phát triển thành những cuộc đấu tranh quy mô hơn Qua đấu tranh, giai cấp công nhân nhận thấy cần thiết phải thành lập một tổ chức, một lực lượng thống nhất đứng ra bảo vệ quyền lợi cho mình, từ đó xây dựng nên tổ chức quần chúng - tổ chức Công đoàn để tiến tới xây dựng tổ chức chính trị là chính Đảng tiền phong của giai cấp công nhân Công đoàn đầu tiên được hình thành ở Anh (1776), thời kỳ này Công đoàn đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, sau

đó các tổ chức Công đoàn trên thế giới được hình thành như Mỹ (1827), Pháp (1789), Đức (1848),

Ngày 28/9/1864, Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (Quốc tế thứ nhất) ra đời, đây là tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp công nhân, đoàn kết tất cả các lực lượng

có tinh thần chiến đấu của giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ Quốc tế thứ nhất đã truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân vào phong trào công nhân thế giới Thông qua tổ chức này, Mác - Ăngghen đã trực tiếp lãnh đạo Công đoàn, một mặt vạch ra những mục tiêu đấu tranh trước mắt như đòi thực hiện ngày làm 8 giờ, hạn chế lao động trẻ em, bảo vệ lao động phụ nữ Mặt khác, nêu rõ nhiệm vụ lâu dài chiến lược của giai cấp công nhân là phải đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chuyên chính vô sản Để làm được việc đó cần phải thành lập Công đoàn rộng khắp, mặt khác thành lập chính Đảng vô sản của giai cấp công nhân1 Với sự soi sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng được củng cố Quốc tế thứ nhất đã trở thành trung tâm lãnh đạo phát triển của Cách mạng thế giới

Những năm cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh ở các nước Âu -

Mỹ và đang có xu hướng chuyển dần sang chủ nghĩa đế quốc Cùng với sự phát triển đó là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng phát triển Trước tình hình đó, ngày 14/7/1889, Quốc tế hai được thành lập đã thống nhất phong trào công nhân, Công đoàn và cộng sản quốc tế

Thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đã giành chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước XHCN (Liên Xô) đầu tiên trên thế giới ra đời đánh dấu sự thành công của giai cấp vô sản, khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đồng thời mở ra con đường cách mạng vô sản cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản và nhân dân các nước thuộc địa, thúc đẩy các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải

Nguyễn Viết Vượng (chủ biên), Nxb Lao động Hà Nội, 2011, tr 46

Trang 10

phóng Từ đây phong trào công nhân và Công đoàn thế giới chuyển sang giai đoạn mới

Giai đoạn chủ nghĩa tư bản khủng hoảng, phong trào cách mạng vô sản trên thế giới phát triển mạnh mẽ (1917 - 1975)

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã đập tan bộ máy Nhà nước của giai cấp bóc lột, xây dựng Nhà nước XHCN và thiết lập nền chuyên chính vô sản Giai cấp công nhân Nga trở thành người làm chủ đất nước và tiến hành thi đua lao động sản xuất để góp phần bảo vệ Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới Cùng với sự phát triển của giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Liên Xô đã có chuyển biến về mọi mặt Lênin đã khẳng định: “Công đoàn nằm trong hệ thống chuyên chính vô sản, là tổ chức quần chúng rộng lớn của giai cấp công nhân, là chỗ dựa vững chắc, người cộng tác đắc lực của cơ quan Nhà nước, là sợi dây chuyền nối liền giữa Đảng với quần chúng”2

Sự thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa đối với Liên Xô mà còn ảnh hưởng rộng rãi đến các quốc gia trên thế giới, các phong trào công nhân và Công đoàn thế giới cũng phát triển mạnh mẽ như Đức, Anh, Pháp, Hunggari và các quốc gia ở Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ Với

sự phát triển của phong trào công nhân và Công đoàn thế giới, ngày 2/3/1919, Quốc

tế Ba (Quốc tế Cộng sản) được thành lập ở Maxcova, sự ra đời của Quốc tế Ba đã dẫn đến việc thành lập nhiều Đảng Cộng sản trên thế giới như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Việt Nam,…

Tháng 7/1920, Hội đồng quốc tế công thương nghiệp (Công hội đỏ quốc tế sau này) ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới trong phong trào công nhân và Công đoàn thế giới, đã hướng dẫn cho Công đoàn các nước xây dựng mối quan hệ hữu cơ với Đảng, đấu tranh để bảo vệ sự đoàn kết giữa những NLĐ và giữa các tổ chức Công đoàn trên thế giới

Sau thắng lợi của Hồng quân Liên Xô, thế chiến thứ hai kết thúc đến 1975, hệ thống các nước XHCN hình thành và phát triển, phong trào giải phóng dân tộc phát triển như vũ bão Trong giai đoạn này, phong trào công nhân, Công đoàn đã có những bước phát triển nhảy vọt, đa dạng và phong phú Nhiều Công đoàn được thành lập như Công đoàn quốc gia, Công đoàn các nước XHCN, đặc biệt là Công đoàn quốc tế được thành lập như Liên hiệp Công đoàn thế giới (WFTU), Liên hiệp quốc tế các Công đoàn tự do (ICFTU), Liên đoàn lao động thế giới (WCL) và trở

Nguyễn Viết Vượng (chủ biên), Nxb Lao động Hà Nội, 2011, tr 93

Trang 11

thành một lực lượng quan trọng trong đời sống xã hội loài người, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:

Đây là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động khi Liên Xô và các nước XHCN sụp đổ, tác động sâu sắc tới phong trào cách mạng thế giới, vị trí và vai trò của Công đoàn ngày càng giảm sút, các thế lực phản động lâm le tìm cách chia cắt, phá hoại Công đoàn, phong trào công nhân và Công đoàn ở Liên Xô và các nước Đông

Âu vô cùng khó khăn Tuy nhiên cho dù gặp phải nhiều khó khăn về mục tiêu và phương thức hoạt động, nhưng phong trào công nhân, Công đoàn trong giai đoạn này vẫn tiếp tục phát triển theo một xu hướng mới, phù hợp với tình hình kinh tế -

xã hội lúc bấy giờ

Ngày nay, các nước đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, vai trò của Công đoàn ngày càng quan trọng hơn, được củng cố hơn, đặc biệt đối với việc bảo vệ NLĐ tránh khỏi sự bóc lột của giới NSDLĐ Công đoàn các nước cần học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất Như vậy, lịch sử phong trào công nhân, Công đoàn thế giới cho thấy rõ sự tồn tại và vững mạnh của Công đoàn mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động trong từng thời kỳ Và qua từng giai đoạn phát triển của xã hội, vai trò của Công đoàn ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, cùng với Đảng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và góp phần không nhỏ đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

1.1.2 Tổ chức Công đoàn Việt Nam

Giai đoạn giai cấp công nhân Việt Nam ra đời đến khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa:

Trước thế kỉ XV, nền sản xuất của Việt Nam vẫn là nông nghiệp trồng lúa nước cùng với việc phát triển thủ công nhỏ lẻ, nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển, giai cấp công nhân chưa xuất hiện Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914), chúng khai khẩn đất hoang của nước ta, xây dựng các khu công nghiệp, đường sá, đồn điền,… ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Hòn Gai,… từ đó giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp (1918 - 1930) khi mà thực dân Pháp tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh Các đô thị và trung tâm công nghiệp ở Việt Nam dần hình thành với đông đảo lực lượng công nhân Do muốn tránh khỏi chế độ phong kiến hà khắc, bóc lột dã man của thực dân Pháp, hàng loạt công nhân đấu

Trang 12

tranh Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng tư tưởng chính trị, văn hóa của các nước tiến

bộ trên thế giới cùng với sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh dựa trên hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, Công đoàn Việt Nam ra đời nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân và NLĐ song song và gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Năm 1921, đồng chí Tôn Đức Thắng thành lập Công hội Ba Son ở Nam kỳ Ngoài ra còn có Liên đoàn công nhân lái tàu trên các bến Viễn Đông (Hải Viên Công hội) cũng được thành lập và hoạt động bí mật nhưng liên hệ mật thiết với công nhân lao động

Quá trình hình thành và phát triển của Công Hội đỏ (Bắc kỳ) gắn liền với lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc Người đặt nền móng, cơ sở cho sự ra đời của các tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân Việt Nam, điển hình là tổ chức Công đoàn Việt Nam Sau một thời gian tham gia Công đoàn Hải ngoại Anh (1914 - 1917), Công đoàn cơ khí Pháp (cuối 1917), năm 1919, Người hướng dẫn cho Nguyễn Tạo thành lập Công đoàn thủy thủ Việt Nam tại Mác-xây

Tháng 6/1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, trực tiếp giảng dạy cho các hội viên, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin cho giai cấp công nhân Việt Nam Người sáng tác ra tác phẩm “Đường Cách mệnh”, trong đó nêu rõ nhiệm

vụ, tính chất của Công hội: “Tổ chức Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”

Từ năm 1928, phong trào công nhân và hoạt động Công hội phát triển sôi nổi, nhiều tổ chức Công đoàn ra đời ở cả Bắc kỳ và Trung kỳ

Ngày 28/7/1929, Ban chấp hành TW lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng quyết định tổ chức Hội nghị đại biểu Tổng Công hội Bắc kỳ lần thứ nhất tại số nhà

15 phố Hàng Nón - Hà Nội, quyết định thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ, Hội nghị đã thông qua chương trình, điều lệ của Tổng Công hội đỏ và cho xuất bản tờ Lao động (số đầu tiên ngày 14/8/1929 do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và Trần Học Hải phụ trách) Từ khi ra đời, Tổng Công hội đỏ phát triển mạnh mẽ, hoạt động rộng khắp, là tổ chức đại diện cho giai cấp công nhân Việt Nam và chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Năm 1931, thực dân Pháp tăng cường đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam khiến cho mối liên hệ giữa Đảng, Công hội với phong trào công nhân trở nên khó khăn, cùng với tình hình khủng hoảng kinh tế trầm trọng, hàng

Trang 13

vạn công nhân bị thất nghiệp, bị giảm tiền lương, cuộc sống khốn cùng Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công hội, phong trào cách mạng dần được phục hồi Giai đoạn 1936 - 1939, Công hội đỏ đổi tên thành Hội ái hữu, chuyển sang hoạt động bán công khai với mục tiêu là đòi tự do nghiệp đoàn, thực hiện dân chủ dân sinh Không lâu sau (28/9/1939), thực dân Pháp ra sắc lệnh giải tán Hội ái hữu, chúng ban hành nhiều chính sách cưỡng bức lao động Trước tình hình đó, Hội nghị lần 6 Ban chấp hành TW Đảng thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (Hội công nhân phản đế sau này đổi tên thành Hội công nhân cứu quốc) nhằm lật đổ chính quyền của bọn thực dân, đấu tranh giải phóng dân tộc Mặc dù Pháp giải tán Hội ái hữu nhưng phong trào bãi công của công nhân vẫn diễn ra sôi nổi Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc bãi công, các cuộc đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang chống phát xít, chính quyền phong kiến diễn ra sôi nổi, đã giành độc lập cho dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9/1945, mở ra thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam

Giai đoạn từ năm 1946 đến khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Ngày 20/6/1946, Hội nghị Cán bộ Công đoàn cứu quốc toàn quốc đã đổi tên

“Hội công nhân cứu quốc” thành “Công đoàn” và thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoảng thời gian từ năm 1946 - 1954 là giai đoạn toàn quốc kháng chiến, Công đoàn Việt Nam vận động đông đảo người dân tham gia vào sản xuất và chiến đấu, mục tiêu và nhiệm vụ của Công đoàn thời kỳ này gắn chặt với công cuộc sản xuất, chiến đấu của công nhân Tháng 1/1949, Công đoàn Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới và đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình, Công đoàn Việt Nam hoạt động công khai

Từ ngày 1/1/1950 - 15/1/1950 tại chiến khu Việt Bắc, Đại hội lần thứ nhất Công đoàn Việt Nam đã họp và đề ra nhiệm vụ mới của giai cấp công nhân và Công đoàn trong kháng chiến Từ năm 1951, Công đoàn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ của phong trào công nhân và Công đoàn thế giới, góp phần to lớn đem lại thắng lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7/5/1954), hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Nhiệm vụ của Công đoàn lúc này là vận động nhân dân tham gia sản xuất nhằm khôi phục kinh tế, văn hóa ở miền Bắc Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 108-SL/L10 ban hành Bộ luật Công đoàn Trong khi đó ở miền Nam, bọn Mỹ - Diệm và bè lũ tay sai ra sức tàn phá, chúng ra sức chống cộng, thanh khiết nghiệp đoàn, không cho nghiệp đoàn làm chính trị, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta Trước tình hình đó, tổ chức

Trang 14

Công đoàn ở miền Nam phải hoạt động bí mật, tìm cách phát triển lực lượng và tiếp tục chiến đấu

Ngày 23/2 - 27/2/1961, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ hai được tổ chức tại Hà Nội, đã đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam với nhiệm vụ vận động công nhân lao động thi đua sản xuất, chiến đấu Công đoàn các cấp thường tổ chức những buổi tọa đàm nhằm nâng cao chất lượng Công đoàn, giúp cho công nhân các ngành thi đua cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, cải tiến tình hình kinh tế miền Bắc và tiếp tục chi viện cho miền Nam

Từ ngày 11/2 - 14/2/1974, Đại hội lần thứ ba Công đoàn Việt Nam đã họp tại

Hà Nội, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu mới Vào thời điểm này, kinh tế miền Bắc phục hồi và phát triển nhanh chóng, giúp đỡ miền Nam Ở miền Nam, phong trào công nhân lao động cũng hoạt động mạnh mẽ, góp phần to lớn vào cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 Và cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:

Từ khi đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn cũng ngày càng quan trọng hơn và có những biến chuyển cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội mới Công đoàn Việt Nam từ khi đất nước giành được độc lập đã trải qua nhiều

kỳ đại hội, đều được tổ chức tại Hà Nội, mỗi kỳ Đại hội gắn liền với từng thời kỳ lịch sử nhất định, qua đó ghi nhận rõ vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn trong từng thời kỳ, đó là các kỳ Đại hội: Đại hội Công đoàn lần IV (8/5 - 11/5/1978), Đại hội Công đoàn lần V (16/11 - 18/11/1983), Đại hội lần VI (17/10 - 20/10/1988), Đại hội lần VII (9/11 - 12/11/1993), Đại hội lần VIII (3/11 - 6/11/1988), Đại hội lần IX (10/10 - 13/10/2003), Đại hội lần X (2/11 - 5/11/2008)3 Đặc biệt, Đại hội lần VI đã đổi tên “Tổng Công đoàn Việt Nam” thành “Tổng liên đoàn lao động Việt Nam”, đây là kỳ Đại hội đánh dấu sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của giai cấp công nhân và NLĐ, là Đại hội đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời cũng đặt ra cơ sở lý luận cho đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam

Cùng với sự hình thành và phát triển tổ chức Công đoàn thì Công đoàn ngày càng được củng cố, địa vị pháp lý cũng được thừa nhận trong các quy định của pháp luật Việt Nam Lần đầu tiên, địa vị pháp lý của Công đoàn được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 (Điều 10), Luật Công đoàn 1957 và được củng cố trong Hiến pháp

người lao động - Vai trò, phương hướng hoạt động của tổ chức Công đoàn cơ sở, Nxb Lao động, 2013, tr

122

Trang 15

1980, tuy nhiên quy định về Công đoàn thời kỳ này chỉ mang tính hình thức do nước ta đang trong thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp Luật Công đoàn

1990 sau đó đã ra đời thay thế Luật Công đoàn 1957 cùng với đó là Hiến pháp

1992, và BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) nhằm cụ thể hóa các quy định về Công đoàn Ngày nay văn bản quy định địa vị pháp lý của Công đoàn đang có hiệu lực là Hiến pháp 1992 và Luật Công đoàn 2012, BLLĐ 2012

Tóm lại, Công đoàn Việt Nam ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển

của phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam, khi mà công nhân lao động biết chăm lo bảo vệ quyền lợi cho chính mình và ý thức được sức mạnh của tập thể công nhân, NLĐ Công đoàn Việt Nam hoạt động ngày càng rộng khắp, được thừa nhận rộng rãi, vị trí của Công đoàn ngày càng quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của giai cấp công nhân Việt Nam

1.2 Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và NLĐ, do NLĐ lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, do vậy các hoạt động nội bộ của Công đoàn như

cơ cấu tổ chức, thu đoàn phí, xét tư cách đoàn viên, nhiệm kỳ của CĐCS,… đều do chính các thành viên của tổ chức Công đoàn quyết định thông qua Cơ cấu tổ chức của Công đoàn hình thành từ sự điều chỉnh nội bộ của tổ chức Công đoàn mà chủ yếu là Điều lệ Công đoàn Tại Điều 8 Điều lệ Công đoàn Việt Nam do Đại hội đại biểu Công đoàn toàn quốc lần thứ X thông qua ngày 5/11/2008 (Điều lệ Công đoàn Việt Nam) quy định cơ cấu tổ chức của Công đoàn như sau:

“Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức thống nhất có các cấp cơ bản

sau đây:

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố), Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn

Công đoàn cấp trên cơ sở

Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn.”

Công đoàn Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ nên hoạt động của các cấp Công đoàn có mối liên hệ mật thiết với nhau, Công đoàn cấp trên chỉ đạo Công đoàn cấp dưới thực hiện nhiệm vụ và hoạt động của Công đoàn cấp dưới có hiệu quả hay không là nhờ vào sự chỉ đạo của cấp trên, ngược lại hoạt động của Công đoàn cấp dưới có hiệu quả thì mới đem lại hiệu quả

Trang 16

và sức mạnh quản lý cho Công đoàn cấp trên Một trong những chức năng quan trọng của Công đoàn là đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động CĐCS là nơi gần gũi với NLĐ nhất, trực tiếp thu thập thông tin, ý kiến, nguyện vọng của NLĐ và từ đó có những bước đi, biện pháp phù hợp để bảo

vệ quyền lợi cho NLĐ một cách tốt nhất, tuy nhiên theo quy định tại Khoản 3 Điều

188 BLLĐ 2012: “Ở những nơi chưa thành lập tổ chức CĐCS, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện trách nhiệm như quy định tại Khoản 1 Điều này” Như vậy theo quy định của pháp luật lao động hiện hành chỉ thừa nhận tổ chức Công đoàn là đại diện duy nhất của NLĐ để chăm lo cuộc sống và bảo vệ quyền lợi NLĐ

Khi nghiên cứu cơ cấu tổ chức của Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu pháp luật lao động bởi hoạt động của Công đoàn trong lĩnh vực bảo vệ NLĐ phải thông qua một hệ thống tổ chức nhất định và nghiên cứu cơ cấu tổ chức của Công đoàn là một biện pháp tìm hiểu quyền hạn của Công đoàn trong lĩnh vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ

1.3 Tính chất và vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức Công đoàn Việt Nam

1.3.1 Tính chất và vị trí

Tính chất của tổ chức Công đoàn là những đặc điểm riêng biệt, tương đối ổn định, phản ánh rõ rệt trong suốt quá trình phát triển của tổ chức Công đoàn

Công đoàn là liên hiệp của công nhân theo nghề nghiệp, là tổ chức chính trị -

xã hội tự nguyện, ra đời để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân, việc thành lập hay tham gia tổ chức Công đoàn là do NLĐ tự nguyện quyết định Như vậy Công đoàn vừa mang tính giai cấp vừa mang tính quần chúng

Tính giai cấp của Công đoàn thể hiện ở chỗ Công đoàn là tổ chức toàn thể của giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ra đời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho giai cấp công nhân và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ - một nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tính quần chúng của Công đoàn thể hiện ở chỗ cán bộ Công đoàn là xuất thân

từ đông đảo những NLĐ, những người công nhân, do tập thể lao động bầu ra; hoạt động nhằm đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của tập thể này và Công đoàn kết nạp đông đảo những người công nhân, lao động, viên chức vào tổ chức Công đoàn nhằm xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng đông về số lượng, mạnh

về chất lượng để có thể bảo vệ NLĐ

Trang 17

Tính giai cấp và tính quần chúng của Công đoàn có vai trò quan trọng, có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng hỗ trợ nhau để tổ chức Công đoàn tồn tại, phát triển

Vị trí của Công đoàn là địa vị của Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội, là mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức đó4

Tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà tổ chức Công đoàn

có vị trí khác nhau Trong thời kỳ lịch sử, Công đoàn liên kết công nhân lao động lại với nhau để chống áp bức bóc lột đòi quyền lợi về kinh tế và đấu tranh giành độc lập, giành chính quyền Khi giành được độc lập, trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội Công đoàn vừa là một tổ chức xã hội, vừa là một tổ chức chính trị, là đại diện cho những người làm chủ xã hội, là chỗ dựa vững chắc cho công nhân lao động và là trung gian giữa Đảng và quần chúng, góp phần chăm lo cho đời sống của NLĐ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Công đoàn là một tổ chức xã hội thể hiện ở việc được hình thành trên cơ sở sự đồng lòng của NLĐ, và tham gia hay không tham gia vào tổ chức Công đoàn là

quyền của NLĐ, được ghi nhận tại điểm c Khoản 1 Điều 5 BLLĐ 2012: “NLĐ có

quyền thành lập, gia nhập, và hoạt động Công đoàn” và Công đoàn ra đời để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, NLĐ Việt Nam Công đoàn Việt Nam

là thành viên của hệ thống chính trị và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện đội ngũ giai cấp công nhân, nhân dân lao động, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây liên kết của Đảng với quần chúng và có vai trò quan trọng giúp Nhà nước thực hiện chức năng của mình

Vị trí của Công đoàn Việt Nam được Hiến Pháp và pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và toàn thể công nhân, viên chức, lao động thừa nhận, cụ thể tại

Điều 10 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai

cấp công nhân và của NLĐ, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những NLĐ khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những NLĐ khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

và tại Điều 1 Luật Công đoàn 2012 cũng ghi nhận: “Công đoàn là tổ chức chính trị

- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh

- Vai trò, phương hướng hoạt động của tổ chức CĐCS, Nxb Lao động, 2013, tr 135

Trang 18

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những NLĐ khác (sau đây gọi chung là NLĐ), cùng với cơ quan Nhà nước,

tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.”

Tóm lại Công đoàn vừa là một tổ chức xã hội vừa là một tổ chức chính trị

1.3.2 Vai trò và chức năng

Vai trò của Công đoàn là tác dụng của Công đoàn đối với các thành viên của

nó, với các đối tác khác trong quan hệ (Nhà nước, NSDLĐ,…) thông qua đó mà phát huy tác dụng đối với toàn xã hội5

Vai trò của tổ chức Công đoàn do vị trí của Công đoàn quyết định Tùy từng thời kỳ khác nhau mà vị trí của Công đoàn sẽ khác nhau, nhưng Công đoàn luôn thể hiện được vai trò đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ Khi chưa giành được chính quyền, Công đoàn là trường học đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, Công đoàn vận động và tổ chức cho công nhân lao động đứng lên đấu tranh chống lại áp bức bóc lột, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp công nhân, NLĐ Các cuộc đấu tranh ngày càng phát triển, đi từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị với mục đích lật đổ ách thống trị, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giành chính quyền

về tay nhân dân

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì vai trò của Công đoàn ngày càng được củng cố và quan trọng hơn Trong nền kinh tế, quan

hệ làm công ăn lương chiếm đại đa số trong đó NSDLĐ nắm giữ quyền lực kinh tế, quản lý điều hành nên có xu hướng chèn ép NLĐ, NLĐ là bên yếu thế hơn do chịu

áp lực về việc làm, thất nghiệp, gia đình nên lệ thuộc NSDLĐ và vai trò quan trọng của tổ chức Công đoàn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, điều này cũng được thể hiện tại Điều 10 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Công đoàn 2012

Chức năng của Công đoàn được hiểu là những phương diện hoạt động chủ yếu của Công đoàn6

Vai trò và chức năng của Công đoàn có mối quan hệ khăng khít với nhau Từ tính chất, vị trí, vai trò của Công đoàn xác định được chức năng của Công đoàn và

Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 2012, tr 150

Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 2012, tr.154

Trang 19

khi thực hiện tốt chức năng của Công đoàn làm cho vai trò của Công đoàn ngày càng được củng cố hơn Chức năng của Công đoàn bao gồm:

Chức năng thứ nhất: đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công

nhân và NLĐ

Chức năng thứ hai: tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước, tham

gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế

Chức năng thứ ba: tổ chức giáo dục, vận động công nhân và NLĐ phát huy

quyền làm chủ của đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Trong ba chức năng của Công đoàn, chức năng bảo vệ NLĐ là một chức năng

vô cùng quan trọng, đó là mục tiêu đầu tiên mà Công đoàn hướng tới, bởi lẻ người

ta chỉ thực hiện những gì thỏa mãn lợi ích cho mình trước tiên Khi đất nước thống nhất, thì công nhân lao động là những người chủ của đất nước, có quyền tham gia quản lý kinh tế, quản lý đất nước Để thực hiện chức năng quản lý, Công đoàn tham gia xây dựng chính sách thiết yếu dành cho NLĐ, tổ chức các phong trào thi đua lao động cho công nhân, xây dựng các chiến lược việc làm và tạo điều kiện làm việc cho công nhân, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của NLĐ,… tất cả những vấn đề đó cũng nhằm thực hiện mục tiêu là bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ, một bên trong quan hệ lao động Đối với chức năng vận động, giáo dục NLĐ, Công đoàn bồi dưỡng kiến thức, năng lực nghề nghiệp, nâng cao nhận thức cho NLĐ, ý chí phấn đấu để hoàn thành công việc, giáo dục cho công nhân truyền thống yêu nước và chống lại những xu hướng sai lầm, đi ngược lại với sự phát triển của xã hội và tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng nhằm hướng cho công nhân, NLĐ có hướng

đi tích cực, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp

Như vậy, các chức năng của Công đoàn đều có vai trò quan trọng và bổ sung cho nhau, cùng tồn tại, trong đó chức năng bảo vệ NLĐ là chức năng được đặt ra hàng đầu của Công đoàn, chức năng tham gia quản lý là chức năng quan trọng để thực hiện được mục tiêu bảo vệ NLĐ và chức năng giáo dục là điều kiện để Công đoàn hoàn thành nhiệm vụ

1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn

Nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn là toàn bộ mục tiêu Công đoàn cần đạt tới7 Nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn dùng để cụ thể hóa chức năng của tổ chức Công đoàn, một chức năng cụ thể chỉ được thực hiện khi đề ra được nhiệm vụ và thực

7 Bùi Thị Kim Ngân, “Công đoàn”, Giáo trình Luật lao động, Trần Hoàng Hải (chủ biên), Nxb Đại học

Quốc gia Tp.HCM, 2011, tr 113

Trang 20

hiện tốt nhiệm vụ đó Như vậy, tùy từng giai đoạn cụ thể của đất nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau thì Công đoàn cũng sẽ có những nhiệm vụ khác nhau Trong giai đoạn hiện nay, Công đoàn có những nhiệm vụ như sau:

Một, đại diện cho NLĐ tham gia với các cơ quan Nhà nước xây dựng và thực

hiện các chương trình kinh tế - xã hội, các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của NLĐ;

Hai, tập hợp, giáo dục, tuyên truyền pháp luật đặc biệt là pháp luật lao động

để NLĐ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình hay của các cơ quan và tổ chức khác

Từ đó làm cho NLĐ có xử sự phù hợp khi tham gia quan hệ lao động với NSDLĐ;

Ba, thực hiện các quyền đã được quy định trong Hiến pháp, trong BLLĐ và

Luật Công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ;

Bốn, tăng cường tham gia và mở rộng quan hệ quốc tế và trong nước nhằm

xây dựng các quan hệ đối nội và đối ngoại rộng rãi góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ hội nhập, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động xã hội

Quyền hạn của Công đoàn là tổng hợp những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho Công đoàn và được Nhà nước đảm bảo thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của NLĐ Như vậy, quyền hạn của Công đoàn có đặc điểm là do Nhà nước quy định chứ không do ý chí của chủ thể nào áp đặt lên Xét về nghĩa hẹp, quyền hạn của Công đoàn chỉ bao gồm những quyền của Công đoàn trong quan hệ lao động và những nghĩa vụ của các chủ thể khác đối với Công đoàn chứ không bao gồm trách nhiệm Xét ở mức độ tổng quát thì quyền hạn của Công đoàn bao gồm các quyền và nghĩa vụ của Công đoàn Quyền và nghĩa vụ của Công đoàn

có mối quan hệ tương hỗ với nhau và được quy định chung trong một điều luật, cụ thể tại mục 1 Chương II Luật Công đoàn 2012

Có nhiều tiêu chí để phân chia quyền hạn của Công đoàn như theo tính chất, theo cơ cấu tổ chức, theo chức năng Nhưng hiện nay sự phân chia quyền hạn của Công đoàn chỉ mang tính ước lệ bởi các quyền của Công đoàn có sự đan xen lẫn nhau, các cấp Công đoàn hỗ trợ, kết hợp với nhau cùng thực hiện những quyền hạn

và trách nhiệm của Công đoàn

Theo quy định tại mục 1 Chương II Luật Công đoàn 2012 thì Công đoàn có những quyền sau:

Quyền đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ8

Quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội9

8 Điều 10 Luật Công đoàn 2012

9 Điều 11 Luật Công đoàn 2012

Trang 21

Quyền trình dự án luật, pháp lệnh, và kiến nghị xây dựng chính sách, pháp luật10

Quyền tham dự các phiên họp, cuộc họp, kỳ họp và hội nghị11

Quyền tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp12

Quyền tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ13

Quyền phát triển đoàn viên Công đoàn và CĐCS14

Đối với những doanh nghiệp chưa có CĐCS, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ

sở có quyền, trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ khi NLĐ ở đó yêu cầu15 Như vậy, hiện nay Việt Nam chỉ thừa nhận Công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ

1.4 Đối thoại xã hội và tầm quan trọng của cơ chế ba bên trong quan

hệ lao động

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa về đối thoại xã hội như sau: “mọi

hình thức thương lượng và trao đổi thông tin giữa đại diện của chính phủ, NSDLĐ, NLĐ về các vấn đề gắn với lợi ích chung có liên quan đến chính sách kinh tế và xã hội”16

Trong quan hệ lao động, NLĐ và NSDLĐ luôn có những mâu thuẫn nhất định

do một bên đem sức lao động của mình ra bán và một bên mua sức lao động, bên bán sẽ dễ dàng bị bên mua chèn ép nhưng không vì thế mà mối quan hệ giữa hai chủ thể này trở nên đối kháng và không thể điều hòa bởi vì họ muốn đạt được lợi ích của mình thì phải hợp tác với nhau, khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì quyền lợi của NLĐ mới được đảm bảo Vì thế, thương lượng để đi tới ký kết TƯLĐTT là vấn đề hai bên rất quan tâm

“Đối thoại xã hội” được thể hiện dưới nhiều thuật ngữ khác nhau như “đối thoại xã hội”, “đối tác xã hội”, “thương lượng tập thể”, “hợp tác xã hội”,… nhưng

dù thể hiện dưới tên gọi nào thì các thuật ngữ đều có ý nghĩa gần như là đồng nhất

10 Điều 12 Luật Công đoàn 2012

11 Điều 13 Luật Công đoàn 2012

12 Điều 14 Luật Công đoàn 2012

13 Điều 15 Luật Công đoàn 2012

14 Điều 16 Luật Công đoàn 2012

43/2013/NĐ-CP Nghị định Quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ

nte%201.pdf

Trang 22

với nhau Tuy nhiên thuật ngữ “đối thoại xã hội” là phù hợp nhất và “thương lượng tập thể” chỉ là một trong số các hình thức của đối thoại xã hội17

Đối thoại xã hội là vấn đề mà NLĐ và NSDLĐ đều quan tâm trong quan hệ lao động Khi nói tới đối thoại xã hội là nói tới nguyên tắc công bằng, dân chủ trong quan hệ lao động và sự tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của các bên Đối thoại xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tham vấn, thương lượng tập thể,

ký kết thỏa ước tập thể và những thỏa thuận khác, sự tham gia của đại diện NLĐ vào quản lý doanh nghiệp, sự tham gia của đại diện hai bên vào giải quyết tranh chấp theo cơ chế hai bên hoặc ba bên18

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 73 BLLĐ 2012 thì “TƯLĐTT là văn bản thỏa

thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể” Như vậy, TƯLĐTT là một dạng của đối

thoại xã hội và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nếu xét ở khía cạnh thương lượng, ký kết TƯLĐTT thì đối thoại xã hội có vai trò quan trọng trong việc tạo sự hiểu biết nhau giữa NLĐ và NSDLĐ, nhằm thỏa thuận về lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, từ đó thống nhất lợi ích với nhau, hợp tác nhau cùng phát triển và xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tạo sự công bằng cho hai bên trong quan hệ lao động, nhằm thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển hiệu quả

Đối thoại xã hội trong lĩnh vực lao động được thực hiện chủ yếu thông qua hai

cơ chế: cơ chế ba bên và cơ chế hai bên19

Theo TS Đào Thị Hằng, cơ chế ba bên được hiểu là cơ chế phối hợp hoạt động giữa chính phủ, đại diện NLĐ, đại diện NSDLĐ với tư cách là các bên độc lập

và bình đẳng khi họ cùng tìm kiếm những giải pháp chung trong các vấn đề lao động, xã hội mà cả ba bên cùng quan tâm và nỗ lực giải quyết20

Cơ chế hai bên là bất kì quá trình nào mà bằng cách đó những sự dàn xếp hợp tác trực tiếp giữa NSDLĐ và NLĐ (hoặc các tổ chức đại diện của họ) được thiết lập, được khuyến khích và được tán thành21 Cơ chế hai bên là hình thức hợp tác của các bên trong quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở dân chủ, bình đẳng như đối thoại, thương lượng, ký kết TƯLĐTT,… Và nếu sự hợp tác đó được thực hiện giữa

Hoàng Hải (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2011, tr 55

Hoàng Hải (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2011, tr 59

Hoàng Hải (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2011, tr 61

nước và Pháp luật, số 1/2005, tr 44

học pháp lý, số 5/2008, tr 21-29

Trang 23

ba bên: đại diện của NLĐ, NSDLĐ và cơ quan Nhà nước thì đó được gọi là cơ chế

ba bên Như vậy, cơ chế hai bên là một phần của cơ chế ba bên22 Khi nói đến cơ chế ba bên thì ngầm hiểu đây là cơ chế ba bên theo nghĩa rộng, bao gồm cơ chế hai bên và cơ chế ba bên theo nghĩa hẹp

Như vậy định nghĩa của ILO về đối thoại xã hội như đã trình bày ở trên được hiểu là đồng nghĩa với cơ chế ba bên

Trong quan hệ lao động, NSDLĐ và NLĐ có những mâu thuẫn nhất định, vì vậy việc hợp tác, thương lượng giữa hai bên càng phải được chú trọng để dung hòa lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, nhằm xây dựng quan hệ lao động tốt đẹp, do đó việc hình thành và phát triển cơ chế ba bên ở Việt Nam là rất cần thiết và quan trọng, tuy nhiên pháp luật Việt Nam trong thời gian qua chỉ quy định gián tiếp về cơ chế ba bên trong quan hệ lao động, được thể hiện qua các điều luật như thương lượng, ký kết TƯLĐTT (Điều 44 BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung); trong việc xây dựng thang, bảng lương (Điều 57 BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung); giải quyết tranh chấp lao động (Điều 156 BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung); quản lý Nhà nước về lao động (Khoản 4 Điều 181 BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung),… mà không có quy định nào trực tiếp thừa nhận cũng như định nghĩa về đối thoại xã hội và cơ chế ba bên trong quan hệ lao động Đối với pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể là BLLĐ 2012 và Luật Công đoàn 2012 cũng không có quy định nào trực tiếp định nghĩa cơ chế ba bên, riêng đối với đối thoại xã hội thì BLLĐ 2012 dành 1 mục để quy định về vấn đề này (mục 1 Chương V BLLĐ 2012) Đây là quy định phù hợp, vì đối thoại xã hội là cách thức nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường hiểu biết giữa NLĐ và NSDLĐ tại doanh nghiệp

để xây dựng quan hệ lao động tốt đẹp; giúp cho việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT được thuận lợi, mang lại hiệu quả cao và quy định này cũng phù hợp với

xu hướng của các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế trong lĩnh vực lao động Đối thoại xã hội chỉ là một hình thức tồn tại của cơ chế ba bên, như vậy pháp luật Việt Nam bước đầu đã chính thức thừa nhận cơ chế ba bên thông qua các quy định về đối thoại xã hội

Về cơ chế ba bên, khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật Việt Nam cần có những quy định cụ thể về vấn đề này cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng như học hỏi kinh nghiệm của các nước tiến bộ trên thế giới nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định trật

tự xã hội và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia

4/2008

Trang 24

1.5 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể

1.5.1 Khái niệm thỏa ước lao động tập thể

Ở thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các quan hệ lao động được thiết lập trên cơ sở mệnh lệnh hành chính, Nhà nước là chủ sở hữu lao động, Giám đốc doanh nghiệp cũng chỉ là người làm thuê, NLĐ được tuyển dụng vào biên chế Nhà nước và được trả lương từ ngân sách Nhà nước, quyền lợi của NLĐ được quy định

cụ thể trong các văn bản pháp luật nên NLĐ và NSDLĐ ít xảy ra mâu thuẫn

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, sự tự do kinh doanh của các thành phần kinh tế trong khuôn khổ của pháp luật

và Nhà nước không can thiệp sâu vào quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ mà chỉ quy định những khung pháp lý làm nền tảng chung, trên cơ sở đó các bên có thể thỏa thuận những điều kiện lao động, những quyền và nghĩa vụ cụ thể cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại, các doanh nghiệp bước vào cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt, doanh nghiệp không có hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ bị đào thải ra thị trường, NLĐ cũng chịu nhiều áp lực về việc làm, thất nghiệp, gia đình,… Nếu NLĐ

và NSDLĐ chỉ quan tâm lợi ích của riêng mình mà không quan tâm tới lợi ích của chung thì quan hệ lao động trong doanh nghiệp không thể phát triển hài hòa, ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh bị kiềm hãm, trì trệ, cuộc sống của NLĐ cũng không được nâng cao, lợi ích của hai bên càng không thể đạt được Vì thế điều cần thiết là NLĐ và NSDLĐ phải liên kết, hỗ trợ lẫn nhau, doanh nghiệp ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng cao, đời sống NLĐ được tốt hơn, và đó cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Để làm được điều đó thì thương lượng, ký kết TƯLĐTT cần được tồn tại trong doanh nghiệp, thông qua thương lượng, ký kết TƯLĐTT thì NLĐ và NSDLĐ sẽ hiểu biết nhau hơn và hợp tác tốt hơn

Theo Điều 73 BLLĐ năm 2012 thì “thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa

thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể” Quan niệm về TƯLĐTT của nước ta rất gần

gũi với quan niệm phổ biến trên thế giới về vấn đề này Theo khuyến nghị số 91 của

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “thỏa ước lao động tập thể là tất cả những bản

thỏa thuận viết liên quan đến việc làm và điều kiện lao động được ký kết giữa một bên là NSDLĐ, một hoặc một nhóm hiệp hội giới chủ với bên kia là một hoặc nhiều

tổ chức của NLĐ Khi không có tổ chức đại diện cho bên lao động thì những người

Trang 25

được tập thể lao động bầu ra và được trao quyền một cách hợp thức theo quy định của pháp luật của quốc gia cũng có quyền ký kết thỏa ước tập thể”23

TƯLĐTT rất uyển chuyển và dễ thích ứng với thực tại xã hội, TƯLĐTT vừa mang tính hợp đồng vừa mang tính pháp quy

Tính hợp đồng của TƯLĐTT thể hiện ở chỗ TƯLĐTT được hình thành trên

cơ sở thỏa thuận, thương lượng giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ, đó là sự đồng thuận

về ý chí của cả hai bên Nếu tập thể NLĐ hay NSDLĐ thấy rằng cần phải có một thỏa ước về điều kiện lao động để ràng buộc trách nhiệm đối với bên kia thì mỗi bên đều có quyền yêu cầu thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được

từ chối yêu cầu đó24, thỏa ước tập thể sẽ được ký kết nếu hai bên cùng thống nhất về một vấn đề và đa số NLĐ trong doanh nghiệp cũng tán thành nội dung thỏa ước Nội dung của thỏa ước là các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, các điều kiện lao động trong doanh nghiệp Những nội dung này đã được pháp luật quy định nhưng hai bên thỏa thuận cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tính pháp quy của TƯLĐTT được thể hiện thông qua nội dung thỏa ước,

trình tự ký kết thỏa ước và hiệu lực của thỏa ước

Thứ nhất, vì các quy định của pháp luật là các quy định chung chung, mang

tính khuôn mẫu, chuẩn mực, NLĐ và NSDLĐ thương lượng, thỏa thuận với nhau nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật lao động cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Nội dung thỏa ước thường được thể hiện dưới dạng quy phạm, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, các vấn đề liên quan đến điều kiện lao động như tiền thưởng, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,… các nội dung của thỏa ước không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật25

Thứ hai, trình tự ký kết thỏa ước phải tuân theo quy định của pháp luật lao

động và các quy định khác của pháp luật có liên quan như BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Quá trình thương lượng, ký kết TƯLĐTT phải được tiến hành công khai cho tập thể NLĐ biết26 Và thỏa ước chỉ được thông qua khi Ban chấp hành Công đoàn đã tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động về nội dung thỏa ước và phải có trên 50% số NLĐ trong doanh nghiệp biểu quyết tán thành nội dung thỏa ước (Điều 74 BLLĐ 2012)

Trang 26

Thứ ba, về hiệu lực của thỏa ước, TƯLĐTT có hiệu lực bắt buộc đối với tất

cả những NLĐ trong doanh nghiệp, kể cả những người vào làm việc sau ngày thỏa ước được ký kết và những người không biểu quyết tán thành với nội dung thỏa ước Những quy định nội bộ trong doanh nghiệp, những thỏa thuận trong hợp đồng lao động nếu trái với thỏa ước theo hướng bất lợi cho NLĐ đều phải sửa đổi lại cho phù hợp với thỏa ước

Như vậy, với tính chất bắt buộc đó, thỏa ước tập thể được ví như “BLLĐ con” tại mỗi doanh nghiệp27 Tuy nhiên, luật này có tính chất “động” bởi có thể được sửa đổi, bổ sung nếu các bên có yêu cầu, miễn là tuân thủ trình tự pháp luật quy định28

Tóm lại, TƯLĐTT vừa mang tính hợp đồng vừa mang tính pháp quy, hai tính

chất này là thống nhất với nhau nhưng tính hợp đồng mang tính nổi trội hơn do bản chất của quan hệ lao động là mang tính chất thỏa thuận và TƯLĐTT chỉ được ký kết khi mà hai bên tập thể lao động và NSDLĐ đã thương lượng và thống nhất ý kiến với nhau

1.5.2 Đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể

TƯLĐTT vừa mang tính chất của một hợp đồng vừa mang tính chất của một văn bản quy phạm pháp luật nên có một số đặc điểm của hợp đồng và văn bản quy phạm pháp luật, bên cạnh đó TƯLĐTT cũng có một số đặc điểm đặc trưng được thể hiện như sau:

Về chủ thể, TƯLĐTT là văn bản thỏa thuận giữa một bên là đại diện tập thể

NLĐ với một bên là NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ29

Đại diện tập thể lao động theo pháp luật Việt Nam hiện hành đó là tổ chức Công đoàn30, tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước không vì lợi ích cá nhân hay lợi ích của một bộ phận lao động mà là vì lợi ích cho cả tập thể NLĐ trong doanh nghiệp hoặc trong phạm vi một ngành kinh tế Như vậy, TƯLĐTT hoàn toàn khác với hợp đồng lao động và văn bản pháp luật bởi hợp đồng lao động chỉ là văn bản được ký kết giữa cá nhân NLĐ và NSDLĐ, chỉ thể hiện ý chí của cá nhân NLĐ

và NSDLĐ còn văn bản pháp luật được ban hành chỉ bởi Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước

27 Đỗ Năng Khánh, “Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thỏa ước lao động tập thể”, Tạp chí nghiên cứu lập

pháp, số 1/2008, tr 48-53

biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 2012, tr 254

Trang 27

Về nội dung và hiệu lực của TƯLĐTT, TƯLĐTT thể hiện quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ lao động, các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể31 TƯLĐTT có hiệu lực bắt buộc đối với những người không biểu quyết tán thành nội dung thỏa ước và những người vào làm việc sau ngày thỏa ước được ký kết32, nhưng nếu so sánh với văn bản pháp luật thì phạm vi hiệu lực của thỏa ước hẹp hơn so với văn bản pháp luật vì văn bản pháp luật có giá trị bắt buộc, được áp dụng trong phạm vi toàn quốc hoặc một vùng, một địa phương nhất định

TƯLĐTT phải được thể hiện dưới hình thức văn bản và phải được gửi tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Điều 75 BLLĐ 2012) Đây là quy định mới, tiến bộ, hạn chế sự can thiệp của cơ quan Nhà nước vào quan hệ lao động

TƯLĐTT là cơ sở để các bên theo dõi các quy định của thỏa ước, là căn cứ để các bên bảo vệ quyền lợi của mình khi có tranh chấp lao động xảy ra, và có ý nghĩa đối với NLĐ khi tìm hiểu để ký kết hợp đồng lao động với NSDLĐ Ở một số nước, đối với những doanh nghiệp đã ký kết TƯLĐTT thì thông thường, NLĐ khi vào làm việc không nhất thiết phải giao kết hợp đồng lao động cá nhân mà đương nhiên được hưởng mọi quyền và nghĩa vụ đã được TƯLĐTT quy định33

Nội dung của TƯLĐTT không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật34, nghĩa là quyền lợi của NLĐ được quy định trong TƯLĐTT không được thấp hơn quyền lợi tối thiểu của NLĐ được quy định trong pháp luật lao động và nghĩa vụ của NLĐ quy định trong TƯLĐTT không được cao hơn nghĩa vụ tối đa của NLĐ được quy định trong pháp luật lao động Đây là đặc điểm quan trọng của TƯLĐTT, do đặc thù trong quan hệ lao động

là NSDLĐ nắm giữ quyền lực về kinh tế, NLĐ là bên bị yếu thế nên khi thương lượng, ký kết TƯLĐTT, để NLĐ đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho mình là rất khó, vì vậy pháp luật có những quy định nhằm bảo vệ NLĐ, tránh sự chèn ép từ phía NSDLĐ, đồng thời tránh được tình trạng TƯLĐTT được ký kết nhưng chỉ là sự sao chép các quy định của pháp luật, không có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ

1.5.3 Phân loại thỏa ước lao động tập thể

Có nhiều cách phân loại TƯLĐTT nhưng pháp luật Việt Nam phân loại TƯLĐTT dựa theo chủ thể ký kết và phạm vi áp dụng, theo đó thương lượng tập thể

Trang 28

diễn ra ở cấp nào thì TƯLĐTT được ký kết ở cấp đó Theo quy định tại Khoản 1 Điều 73 BLLĐ 2012 thì TƯLĐTT bao gồm TƯLĐTT doanh nghiệp, TƯLĐTT ngành và hình thức TƯLĐTT khác do chính phủ quy định Đây là quy định mới, tiến bộ bởi theo BLLĐ năm 1994 sửa đổi năm 2002, 2006, 2007 (gọi chung là BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung) ở Điều 54 chỉ thừa nhận TƯLĐTT doanh nghiệp và TƯLĐTT ngành

TƯLĐTT doanh nghiệp là thỏa ước chỉ có hiệu lực trong phạm vi doanh nghiệp, thỏa ước này được ký kết giữa đại diện tập thể lao động tại cơ sở với NSDLĐ hoặc đại diện của NSDLĐ35 Ở Việt Nam, loại thỏa ước này là phổ biến nhất bởi vì quá trình thương lượng, ký kết dễ thực hiện, vấn đề trao đổi quan điểm, thông tin đơn giản, không đòi hỏi bộ máy đàm phán phức tạp Từ TƯLĐTT doanh nghiệp sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm cho việc xây dựng TƯLĐTT vùng, ngành, tuy nhiên loại thỏa ước này cũng có nhược điểm là điều kiện lao động của NLĐ ở từng doanh nghiệp khác nhau sẽ khác nhau, tạo nên sự phân biệt đối xử khi NLĐ làm việc như nhau mà lợi ích khác nhau Hoặc là đối với những doanh nghiệp hoạt động theo quy mô lớn, cơ cấu tổ chức phức tạp, doanh nghiệp chia ra nhiều bộ phận độc lập với những điều kiện lao động khác nhau thì việc ký kết TƯLĐTT doanh nghiệp là một việc khó khăn, trong khi nếu những doanh nghiệp này ký kết TƯLĐTT bộ phận doanh nghiệp thì sẽ hợp lý hơn Tuy nhiên hiện nay pháp luật nước ta chưa quy định về loại thỏa ước này

TƯLĐTT ngành là thỏa ước được ký kết giữa Chủ tịch Công đoàn ngành và đại diện của tổ chức đại diện NSDLĐ đã tham gia thương lượng tập thể ngành36, có hiệu lực trong phạm vi trong một ngành kinh tế - kỹ thuật TƯLĐTT ngành có ưu điểm là khắc phục được nhược điểm của TƯLĐTT doanh nghiệp, nghĩa là mức lương, điều kiện lao động trong một ngành kinh tế - kỹ thuật sẽ như nhau ở các doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên việc ký kết TƯLĐTT này có khó khăn do đòi hỏi các doanh nghiệp trong một ngành kinh tế - kỹ thuật phải có sự phát triển đồng đều với nhau và phải có sự tương đồng về điều kiện lao động và sử dụng lao động

Do đó mặc dù Việt Nam đã thừa nhận TƯLĐTT ngành nhưng trên thực tế, việc triển khai thực hiện là rất khó khăn và hiện nay pháp luật Việt Nam cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về thỏa ước ngành mà cơ quan có thẩm quyền chỉ mới ban hành Quyết định 1846/QĐ-LĐTBXH ngày 25 tháng 12 năm 2008 về việc thí điểm thương lượng, ký kết TƯLĐTT ngành Dệt May Việt Nam Trên thế giới, loại thỏa ước này được sử dụng phổ biến ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế của

Trang 29

các quốc gia này mà giới chủ sử dụng lao động và NLĐ đều được tổ chức theo ngành

Pháp luật và thực tiễn ở một số quốc gia trên thế giới còn ghi nhận một số loại TƯLĐTT khác như TƯLĐTT bộ phận doanh nghiệp, TƯLĐTT vùng và TƯLĐTT toàn quốc37

Như vậy, mỗi loại TƯLĐTT đều có những ưu, nhược điểm riêng và tùy thuộc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ mà áp dụng loại thỏa ước cho phù hợp, góp phần làm cho quan hệ lao động phát triển ổn định và quyền lợi của NLĐ được bảo vệ một cách tối ưu nhất Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra khuyến nghị rằng: “tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn loại thỏa ước lao động tập thể phù hợp với điều kiện thực tế Với từng loại thỏa ước khác nhau sẽ thống nhất được điều kiện lao động và sử dụng lao động trong cùng một ngành nghề, vùng, địa bàn, doanh nghiệp; hạn chế được sự cạnh tranh cũng như yêu sách cục bộ của các bên”38

1.5.4 Vai trò, ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể

TƯLĐTT góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định giữa NLĐ và NSDLĐ, giúp hai bên trong quan hệ lao động điều hòa lợi ích và giảm thiểu xung đột; giúp hạn chế tranh chấp lao động và đình công

Thông qua sức mạnh của tập thể lao động, NLĐ thương lượng, thỏa thuận với NSDLĐ để đạt được những điều kiện lao động tốt hơn, nâng cao vị thế của NLĐ trong doanh nghiệp đồng thời để NSDLĐ không lạm quyền, cậy thế mà chèn ép, qua đó hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng được nâng cao do NLĐ khi nhận được quyền lợi thì cũng ý thức được nghĩa vụ lao động của mình Như vậy, mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ càng hài hòa, ổn định thì càng giảm thiểu được những mâu thuẫn, tranh chấp lao động không đáng có trong doanh nghiệp

TƯLĐTT là cơ sở để các bên bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể Tranh chấp lao động cá nhân thường là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ về các quy định trong hợp đồng lao động, như vậy lúc này hợp đồng lao động sẽ là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Tuy nhiên đối với những doanh nghiệp đã ký kết TƯLĐTT thì cơ

Trang 30

quan giải quyết tranh chấp sẽ đối chiếu các quy định trong hợp đồng lao động với TƯLĐTT, nếu hợp đồng lao động có những điều khoản bất lợi hơn cho NLĐ so với TƯLĐTT thì lúc này cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào TƯLĐTT để giải quyết tranh chấp

Đối với tranh chấp lao động tập thể thì thường là những tranh chấp liên quan tới những điều khoản được ghi trong thỏa ước, ví dụ như NSDLĐ không tuân theo điều kiện làm việc cũng như tiền lương, tiền thưởng,… của NLĐ được ghi trong thỏa ước hoặc tranh chấp về việc sửa đổi, bổ sung thỏa ước khi TƯLĐTT có những điều khoản không còn phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp Lúc này cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào nội dung của TƯLĐTT để giải quyết tranh chấp lao động tập thể

TƯLĐTT là nguồn quan trọng bổ sung cho pháp luật lao động

Pháp luật chỉ mang tính khuôn mẫu, không quy định cụ thể quyền lợi và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ lao động Hơn nữa, pháp luật phát triển chậm hơn so với sự phát triển của kinh tế xã hội, không thể điều chỉnh hết các quan hệ lao động phát sinh trong xã hội và quá trình xây dựng văn bản pháp luật cũng là một quá trình cần nhiều thời gian, công sức Trước tình hình đó, TƯLĐTT có vai trò quan trọng giúp cho các điều kiện lao động được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn, khắc phục được những thiếu vắng các quy định của pháp luật TƯLĐTT có tính động, trong quá trình thi hành thỏa ước, nếu nội dung của thỏa ước không còn phù hợp với tình hình sản xuất kinh danh của doanh nghiệp thì hai bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung thỏa ước cho phù hợp Đây cũng là kênh quan trọng giúp cho cơ quan Nhà nước xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế

1.6 Sơ lược về thỏa ước lao động tập thể một số nước trên thế giới

Hệ thống pháp luật lao động Việt Nam chỉ thừa nhận TƯLĐTT khi nội dung của thỏa ước không trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật Khác với pháp luật Việt Nam, hiện nay pháp luật ở một

số nước trên thế giới cho phép các bên thương lượng và ấn định điều kiện lao động bất lợi hơn cho NLĐ so với quy định trong pháp luật, điển hình như Thụy Điển, Phần Lan, Đức, Italia,…39 Tuy nhiên để tránh sự lạm dụng và để bảo vệ NLĐ thì chỉ có Công đoàn cấp cao (cấp ngành trở lên) ấn định những thỏa thuận đó hoặc cho

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, tr 50-58

Trang 31

cấp dưới ấn định điều kiện lao động bất lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao động

Pháp luật các nước thừa nhận và bảo vệ quyền tự do liên kết của các bên, quyền thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước tập thể,… nhưng tùy điều kiện kinh

tế - xã hội của từng quốc gia mà có quốc gia rất coi trọng TƯLĐTT, coi đó là công

cụ để quản lý đất nước, bảo vệ NLĐ, tuy nhiên cũng có quốc gia rất coi nhẹ vấn đề này, quy định rất hình thức Ví dụ như ở Hàn Quốc vẫn thừa nhận quyền thương lượng tập thể nhưng các hoạt động của Công đoàn rất hạn chế, bởi vậy thỏa ước tập thể không thể nào phát triển được Hay ở Thái Lan, pháp luật lao động tăng cường tiếp thu và áp dụng những tiêu chuẩn lao động quốc tế đã được đề ra trong Công ước ILO, nhưng các quy định trong pháp luật Thái Lan quy định không rõ ràng về vấn đề này, không có quy định bắt buộc NSDLĐ phải thương lượng tập thể cũng như không có cơ chế để hai bên tuân thủ thỏa ước tập thể đã ký, vì vậy thỏa ước tập thể ở Thái Lan không phát triển, và các doanh nghiệp ký kết thỏa ước tập thể thì nội dung cũng rất sơ sài40

Ở các quốc gia châu Âu như Slovenia, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Italia,… thỏa ước tập thể rất được coi trọng Ở các quốc gia này có nhiều cấp thương lượng tập thể, và Nhà nước không can thiệp sâu vào mối quan hệ giữa các bên, khung pháp lý cho quan hệ lao động cởi mở hơn41 Vì vậy, thỏa ước tập thể ở các quốc gia này được coi trọng và hoạt động hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động một cách tối ưu

Ở các quốc gia như Mỹ, Nhật, Anh, thỏa ước tập thể chủ yếu được ký kết ở cấp doanh nghiệp nhưng tỷ lệ ký kết thỏa ước tập thể ở đây rất thấp Ở Mỹ, tỷ lệ số lao động được áp dụng thỏa ước tập thể trong khu vực ngoài quốc doanh là 8.5% (theo kết quả của cuộc điều tra “xu hướng thương lượng tập thể” được Tổ chức Quốc tế của giới chủ (International Organization of Employer) tiến hành vào tháng 11/2006) Ở Nhật, tỷ lệ lao động được áp dụng thỏa ước tập thể khoảng 20% (2006) Ở Anh, tỷ lệ này là 35%42 Nguyên nhân của tình trạng này ở các quốc gia khác nhau là khác nhau, điển hình như ở Mỹ, NSDLĐ nắm các thế mạnh và họ muốn tự do, họ muốn xử lý công việc với NLĐ trên phương diện cá nhân và giới

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, Chú thích số 11, tr

50-58

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, tr 50-58

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, Chú thích số 13,

tr.50-58

Trang 32

NSDLĐ cho rằng việc thành lập Công đoàn rất tốn thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, hơn thế nữa NSDLĐ sẽ mất tự do trong hành động của mình và cho rằng nếu thành lập Công đoàn, Công đoàn sẽ lãnh đạo NLĐ đình công, làm gián đoạn sản xuất, gây tổn thất cho doanh nghiệp Vì vậy việc thành lập tổ chức Công đoàn

và việc ký kết thỏa ước tập thể ở Mỹ rất hạn chế

Ở Nhật, pháp luật quốc gia cho phép hai bên trong quan hệ lao động xác định điều kiện lao động thấp hơn so với văn bản của Nhà nước bởi người ta cho rằng thỏa ước tập thể là để hai bên thương lượng, thỏa thuận điều kiện lao động với nhau trên cơ sở tự nguyện và hợp tác với nhau nên việc ngăn cấm thỏa thuận những điều kiện lao động bất lợi hơn so với quy định của pháp luật là một điều bất hợp lý

Ở đa số các nước đang phát triển, hoạt động thương lượng tập thể vẫn chưa được chú trọng, thỏa ước tập thể hầu hết chỉ được ký kết ở cấp doanh nghiệp Điển hình như ở Ấn Độ, chỉ khoảng dưới 10% lực lượng lao động trong khu vực kinh tế chính thức có thỏa ước tập thể Ở Trung Quốc, hầu hết các doanh nghiệp ở khu vực

tư nhân và các doanh nghiệp liên doanh không có thỏa ước tập thể, còn ở khu vực kinh tế Nhà nước thì vẫn có khoảng 90% số các công ty có thỏa ước tập thể43 Ngoài ra, ở các nước đang phát triển căn cứ pháp lý cho hoạt động Công đoàn và thương lượng tập thể không phát triển, nhiều quy định chỉ mang tính hình thức, không đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn cuộc sống Quyền tự do thành lập, gia nhập, hoạt động Công đoàn của những quốc gia này cũng không được coi trọng Nhiều quốc gia có thể chế có tính chất cản trở, điều chỉnh khắc khe thậm chí cản trở hoạt động Công đoàn và thương lượng tập thể Nội dung của thỏa ước tập thể bị giới hạn hoặc Công đoàn có thể bị phạt nếu hoạt động dưới tư cách đại diện thương lượng tập thể, và hoạt động đình công bị xem là bất hợp pháp Ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á và Bắc Mỹ, ví dụ như ở Honduras, thương lượng tập thể hoàn toàn không được Chính phủ ủng hộ44 Bên cạnh đó cũng có một số quốc gia đang phát triển dành ủng hộ, khuyến khích hoạt động Công đoàn và thương lượng tập thể như Ấn Độ, Bangladesh,…

Tóm lại, tùy tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước mà tình hình

hoạt động Công đoàn cũng như hoạt động thương lượng, ký kết TƯLĐTT ở các quốc gia khác nhau là khác nhau Tuy nhiên theo tổ chức Lao động Quốc tế ILO, việc ký kết TƯLĐTT là cần thiết để bảo vệ NLĐ trong cơ chế thị trường Các quốc

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, Chú thích số 25, tr

50-58

động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 10/2009, Chú thích số 29, tr

50-58

Trang 33

gia cần học hỏi kinh nghiệm của nhau để cải thiện quan hệ lao động cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh của quốc gia mình ngày càng đem lại hiệu quả cao, góp phần xây dựng quốc gia giàu mạnh

1.7 Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

1.7.1 Khái quát về vai trò của Công đoàn đối với thỏa ước lao động tập thể

Trên thế giới, cùng với sự ra đời của Công đoàn trong các cuộc Cách mạng tư sản ở Châu Âu, TƯLĐTT cũng ra đời từ rất sớm Trong một báo cáo vào giữa thập niên 1930, ILO đã khẳng định TƯLĐTT đã từng bước trở thành một thành tố quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội của một xã hội công nghiệp hiện đại45

Cơ chế thương lượng tập thể phát triển mạnh mẽ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với đó là sự ra đời của nhiều Công ước quốc tế quy định về thương lượng tập thể như: Công ước 87 năm 1948 của ILO về tự do liên kết và bảo vệ quyền lập hội Tại Điều 2 của Công ước 87 quy định NLĐ có quyền hợp thành những tổ chức theo sự lựa chọn của mình, có quyền gia nhập tổ chức đó với một điều kiện duy nhất là theo đúng điều lệ của tổ chức hữu quan Hay Công ước 98 của ILO về việc áp dụng các nguyên tắc về quyền lập hội và thương lượng tập thể Tiếp theo là Công ước 135 năm 1971 “Công ước đại diện của NLĐ cùng với khuyến nghị 143: “khuyến nghị về đại diện NLĐ”, tại Điều 2 Công ước 135 quy định rằng mọi thuận lợi thích ứng trong cơ sở phải được dành cho các đại diện NLĐ, để họ có thể làm tròn chức năng của mình một cách nhanh chóng và có hiệu quả Tuy nhiên đây chỉ là một quy định mang tính hình thức vì không quy định cụ thể quyền hạn của tổ chức đại diện NLĐ Khắc phục những điểm yếu đó, ILO đã ghi nhận quyền thương lượng tập thể của đại diện NLĐ tại Điều 2 Công ước 154

“Công ước thương lượng tập thể” năm 1981 cùng với đó là khuyến nghị 163

“khuyến nghị về thương lượng tập thể”

Qua việc tìm hiểu pháp luật quốc tế cho thấy tầm quan trọng của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT bởi đây là cơ chế vô cùng cần thiết để tạo điều kiện cho NLĐ thể hiện tiếng nói của mình trong quan hệ lao động, nhằm bảo

vệ quyền lợi của mình một cách tốt hơn và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định Hiện nay vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT được nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia ghi nhận và thực hiện như Anh, Pháp, Thái Lan,…

Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2011, tr 206

Trang 34

Ở Việt Nam, nhận thức được vai trò của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, ý nghĩa của việc ký kết TƯLĐTT giữa NLĐ với NSDLĐ và việc tiếp thu học hỏi những kinh nghiệm tiến bộ của các nước trên thế giới nên ngay từ rất sớm hệ thống pháp luật nước ta đã có những điều khoản ghi nhận về vấn đề này, cụ thể Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận, đã quy định về TƯLĐTT Tại Điều thứ 38 Tiết thứ 3 Sắc lệnh 29/SL thì chủ thể ký kết tập hợp khế ước bên phía NLĐ là đại biểu Công đoàn, nếu không có Công đoàn thì đại biểu công nhân nhưng phải có giấy ủy quyền Do ban hành quá sớm và do hoàn cảnh, điều kiện kinh tế xã hội lúc bấy giờ, Việt Nam đang phải đối mặt với các cuộc kháng chiến nên mặc dù quy định về TƯLĐTT nhưng không thể triển khai thực hiện và trên thực tế cũng không tồn tại bất kì một tập hợp khế ước nào

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954, nước ta tập trung khôi phục kinh tế miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Để đáp ứng đòi hỏi của

xã hội, Điều lệ tạm thời về hợp đồng tập thể được ban hành kèm Nghị định 172/NĐ-CP ngày 21/11/1963 đã ra đời Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định 172 thì chủ thể ký kết hợp đồng tập thể là giám đốc xí nghiệp và Ban chấp hành Công đoàn, và các hợp đồng tập thể được ký kết trong giai đoạn này là nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động, từ đó hoàn thành các kế hoạch mà Nhà nước đã đề ra

Đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, Nhà nước thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và cho các chủ thể tự do thỏa thuận về điều kiện lao động trong khuôn khổ pháp luật Nghị định 172/NĐ-CP không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội mới Để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới, Nhà nước ban hành Nghị định 18/NĐ-CP ngày 26/12/1992 Hàng loạt các TƯLĐTT trong thời kỳ này được ký kết, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp Nghị định số 18/NĐ-CP về TƯLĐTT ban hành rất kịp thời, điều chỉnh những quan

hệ lao động phát sinh trong thời buổi kinh tế thị trường và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa và những quy định trong Nghị định

18 về TƯLĐTT rất tiến bộ, là cơ sở, nền tảng cho các quy định trong BLLĐ về TƯLĐTT giai đoạn sau này46

Từ khi Nghị định 18/NĐ-CP được ban hành và được triển khai thực hiện, nước ta nhiều lần ban hành, sửa đổi, bổ sung BLLĐ, trong đó có các quy định về

và NSDLĐ TƯLĐTT được thương lượng, ký kết trên nguyên tắc bình đẳng, công khai (Điều 3 Nghị định 18/NĐ-CP) và Nhà nước khuyến khích những bản thỏa ước có lợi cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao động

Trang 35

TƯLĐTT như BLLĐ 1994, BLLĐ 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 và hiện nay là BLLĐ năm 2012, các Bộ luật này đều khẳng định vai trò quan trọng của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT nhằm xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, góp phần làm cho đất nước ngày càng phát triển

Tóm lại, TƯLĐTT xuất hiện ở nước ta từ rất sớm nhưng tùy từng thời kỳ mà

TƯLĐTT được xây dựng nhằm mục tiêu khác nhau và Công đoàn phải có cơ chế thương lượng, thỏa thuận phù hợp với tình hình xã hội lúc đó để có thể ký kết

những bản TƯLĐTT hiệu quả, phát huy tác dụng trên thực tế

1.7.2 Vai trò của Công đoàn trong việc thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

1.7.2.1 Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thương lượng tập thể

Để có thể ký kết được một bản TƯLĐTT và để bản thỏa ước phát huy hiệu quả trong doanh nghiệp thì việc thương lượng giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ là vấn

đề rất quan trọng và Công đoàn có vai trò quan trọng góp phần quyết định hiệu quả trong việc thương lượng cũng như có thể thảo luận những vấn đề liên quan đến quyền lợi của NLĐ với NSDLĐ

Khoản 1 Điều 69 BLLĐ 2012 quy định chủ thể thương lượng tập thể trong doanh nghiệp là tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và NSDLĐ hoặc người

đại diện cho NSDLĐ Khoản 4 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định: “Tổ chức đại diện tập

thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành CĐCS hoặc Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập CĐCS” (sau đây gọi chung là Công đoàn)

Như vậy, BLLĐ 2012 chỉ thừa nhận tổ chức Công đoàn là đại diện duy nhất cho tập thể NLĐ tại doanh nghiệp để thương lượng tập thể

Trong quá trình thương lượng tập thể, để việc thương lượng đạt kết quả tốt nhất, Công đoàn và NSDLĐ phải tuân thủ những nguyên tắc luật định47:

Nguyên tắc thiện chí, tự nguyện: TƯLĐTT có tính chất của một hợp đồng,

do vậy đòi hỏi sự tự nguyện giữa các bên ký kết Nguyên tắc này thể hiện ở việc các bên tham gia thương lượng và ký kết TƯLĐTT phải có tinh thần tự giác, vì quyền lợi của mình mà tự nguyện tham gia và nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc xúc tiến các bên tiến tới ký kết TƯLĐTT, các bên tự đưa ra quan điểm phù hợp với

ý chí của mình, không bên nào được lừa dối ép buộc bên nào cũng như phải chịu sự

ép buộc của một bên thứ ba nào khác

Nguyên tắc bình đẳng và hợp tác: trong quá trình lao động, NLĐ và NSDLĐ

có địa vị kinh tế khác nhau, nhưng đều có điểm chung là lợi ích kinh tế, chỉ khi

Trang 36

NSDLĐ đáp ứng cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho NLĐ, đáp ứng các vấn đề về tiền lương một cách thỏa đáng, thời giờ làm việc thích hợp,… thì từ đó NLĐ mới có thể hoàn thành được nghĩa vụ lao động của mình, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Như vậy, hai bên rất cần nhau trong suốt quá trình lao động Và để trong một mối quan hệ lao động, cả hai bên đều đạt được lợi ích của mình thì hai bên phải làm việc trên tinh thần hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; không được dùng sức mạnh về kinh tế hoặc thế mạnh về lực lượng, áp đặt yêu sách cho phía bên kia Tuy nhiên họ hoàn toàn có thể tận dụng những ưu thế của mình để thương lượng, mặc cả48 nhằm đạt được những thỏa thuận đáp ứng được quyền lợi và yêu cầu của họ

Nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nguyên tắc bình đẳng là cơ sở cho nguyên tắc tự nguyện vì chỉ có bình đẳng với nhau thì NLĐ và NSDLĐ mới có thể thương lượng một cách tự nguyện được

Nguyên tắc công khai và minh bạch: mục đích thương lượng để đi đến ký

kết TƯLĐTT là nhằm đáp ứng quyền lợi cho tập thể NLĐ và cho NSDLĐ nên quá trình thương lượng phải được diễn ra một cách công khai để NLĐ quan sát, tham gia đóng góp ý kiến và cũng để NLĐ có thể bảo vệ quyền lợi của chính mình Khi Công đoàn và NSDLĐ đã thống nhất với nhau về nội dung của TƯLĐTT, Công đoàn phải phổ biến rộng rãi, công khai biên bản cuộc thương lượng tập thể cho tập thể NLĐ biết, tham gia đóng góp ý kiến cũng như biểu quyết thông qua các nội dung đã thương lượng để quyết định việc ký kết TƯLĐTT49 Đây là thủ tục rất cần thiết để đảm bảo việc TƯLĐTT được ký kết với sự nhất trí của đông đảo NLĐ, để sau khi ký kết TƯLĐTT, thỏa ước được tuân thủ trong doanh nghiệp

Ngoài ra Công đoàn trong quá trình hoạt động tại doanh nghiệp phải quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của NLĐ, nắm rõ những tâm tư nguyện vọng của NLĐ cũng như nắm rõ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có thể yêu cầu thương lượng tập thể một cách đột xuất hoặc định kỳ Để cuộc thương lượng được thuận tiện cho NLĐ tham gia về thời gian cũng như địa điểm thì việc Công đoàn xem xét, thỏa thuận về thời gian và địa điểm tiến hành thương lượng tập thể với NSDLĐ cũng là điều vô cùng cần thiết

Công đoàn và NSDLĐ phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc trên trong quá trình thương lượng, ký kết TƯLĐTT vì đó là những nguyên tắc luật định, để bản thỏa ước có hiệu lực thì hai bên cần phải tuân thủ những nguyên tắc này

Nam, 2012, tr 40

Trang 37

Cuộc thương lượng để đạt hiệu quả cao thì Công đoàn phải hoàn thành những trách nhiệm mà tập thể NLĐ đã giao phó đồng thời phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho việc thương lượng Khi Công đoàn yêu cầu thương lượng tập thể hoặc khi nhận được yêu cầu thương lượng tập thể từ phía NSDLĐ, thì pháp luật luôn quy định một khoảng thời gian để hai bên Công đoàn và NSDLĐ chuẩn bị nội dung thương lượng nhằm đảm bảo cho việc thương lượng đem lại hiệu quả cao cũng như hai bên đều có thể nêu ra những quan điểm để bảo vệ được quyền và lợi ích của

mình, cụ thể tại Khoản 1 Điều 68 BLLĐ 2012: “Mỗi bên đều có quyền yêu cầu

thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các bên thỏa thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng” Bên cạnh

đó, trước khi thương lượng, Công đoàn phải tổ chức lấy ý kiến của NLĐ về đề xuất của NLĐ với NSDLĐ hoặc của NSDLĐ đối với tập thể lao động50, điều này rất quan trọng vì khâu tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động là kênh quan trọng để Công đoàn có thể nắm được tâm tư nguyện vọng của NLĐ, những điều kiện lao động mà NLĐ mong muốn đạt được và những ý kiến đề xuất của NLĐ, những quan điểm, ý kiến của NLĐ về yêu cầu của NSDLĐ Để thương lượng tập thể được thành công, chậm nhất 5 ngày làm việc trước khi bắt đầu thương lượng tập thể, bên đề xuất yêu cầu thương lượng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết nội dung

dự kiến tiến hành thương lượng tập thể51, đây là cơ sở để chuẩn bị tốt cho cuộc thương lượng và rút ngắn thời gian thương lượng tập thể

Ngoài những yếu tố trên, Công đoàn còn phải trang bị cho mình những yếu tố cần thiết để cuộc thương lượng đạt kết quả tốt, có thể đi đến ký kết TƯLĐTT:

Công đoàn phải nắm rõ các quy định của pháp luật trong lĩnh vực lao động, có

kỹ năng thu thập và xử lý các loại thông tin của NLĐ về điều kiện lao động trong doanh nghiệp, chắc lọc những yêu cầu mà NLĐ trong doanh nghiệp đã đặt ra, thống nhất những mục tiêu cần phải đạt được để thương lượng tập thể, để Công đoàn khi thương lượng với NSDLĐ có thể đưa ra những yêu cầu có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật, và phù hợp với doanh nghiệp Tránh trường hợp NSDLĐ lợi dụng NLĐ cũng như Công đoàn thiếu kiến thức pháp luật trong lĩnh vực lao động mà khi thương lượng tập thể sẽ đưa ra những yêu cầu gây bất lợi cho NLĐ hoặc là NSDLĐ chỉ thông qua những vấn đề trong cuộc thương lượng mà nó giống với quy định của pháp luật lao động Như vậy cuộc thương lượng tuy được hai bên thông qua và TƯLĐTT được ký kết nhưng không hề phát huy hiệu quả trong doanh

Trang 38

nghiệp vì bản thỏa ước đó chỉ là sao chép những quy định trong pháp luật lao động, thỏa ước chỉ mang tính hình thức và quyền lợi NLĐ cũng không được đảm bảo Công đoàn phải nâng cao kiến thức, trang bị kỹ năng thương lượng và kỹ năng thuyết phục người khác: Công đoàn phải có kỹ năng thương lượng, đàm phán, cho NSDLĐ thấy được tác dụng của việc thực hiện quy chế dân chủ, việc đáp ứng các điều kiện lao động cho NLĐ mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp Có như vậy NSDLĐ mới đồng tình với những quan điểm mà Công đoàn đã đưa ra, thúc đẩy thương lượng tập thể thành công

Khi Công đoàn đã chuẩn bị những yếu tố cần thiết cho việc thương lượng thì Công đoàn và NSDLĐ bước vào giai đoạn quan trọng nhất của quá trình thương lượng để đi đến ký kết, thực hiện TƯLĐTT Cuộc thương lượng có thành công, có

đi đến ký kết TƯLĐTT và TƯLĐTT có phát huy tác dụng trong doanh nghiệp hay không, tất cả đều do cuộc thương lượng tập thể quyết định Vì vậy vai trò của Công đoàn vô cùng quan trọng, quyết định hiệu quả của cuộc thương lượng Để cuộc thương lượng thành công, Công đoàn cần thể hiện khả năng đại diện cho NLĐ, khả năng bảo vệ cho NLĐ của mình trong các nội dung của cuộc thương lượng tập thể như sau:

Về tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương52: đây là mối quan tâm lớn nhất mà NLĐ đặt ra khi ký kết hợp đồng lao động cũng như khi thương lượng

và ký kết TƯLĐTT Công đoàn cần xem xét tiền lương của NLĐ có đủ trang trải cuộc sống, có tương xứng với mức lao động mà họ đã bỏ ra, từ đó thỏa thuận với NSDLĐ mức lương cho phù hợp, ngoài ra Công đoàn cần thương lượng với NSDLĐ xây dựng thang lương, bảng lương, điều kiện thay đổi thang lương, bảng lương trong doanh nghiệp khi điều kiện sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp thay đổi cũng như sự thay đổi của nền kinh tế, cùng với đó là có cơ chế khen thưởng phù hợp cho NLĐ hoàn thành tốt công việc

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca53: chủ trương của Đảng và Nhà nước là giảm giờ làm việc và tăng thời giờ nghỉ ngơi cho NLĐ, giúp họ có thời gian tham gia các hoạt động chính trị - xã hội khác, đồng thời nếu cho NLĐ thời gian nghỉ ngơi, đáp ứng nhu cầu tinh thần cho họ thì năng suất lao động cũng tăng cao, đưa doanh nghiệp đi lên, nên vai trò của Công đoàn lúc này

là thương lượng với NSDLĐ về thời giờ làm việc tối đa, thời gian nghỉ ngơi cho NLĐ, nghỉ giải lao, nghỉ hàng tuần, về việc làm thêm giờ nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của NLĐ Bên cạnh đó, Công đoàn có thể thương lượng với NSDLĐ về thời

Trang 39

gian nghỉ hàng năm đối với NLĐ cho phù hợp với từng loại hình và tính chất của công việc

Bảo đảm việc làm đối với NLĐ54: Công đoàn cần thương lượng với NSDLĐ

về vấn đề đảm bảo việc làm cho NLĐ, đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ phù hợp với tình hình mới hoặc khi doanh nghiệp có sự thay đổi về kỹ thuật hoặc tổ chức sản xuất, đồng thời có thể thương lượng với NSDLĐ về các cam kết đảm bảo trả các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp trong thời gian họ nghỉ việc hoặc chờ xin việc mới

Bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động55: Hiện nay, nhiều doanh nghiệp do muốn tiết kiệm chi phí sản xuất mà coi thường tính mạng của NLĐ, không trang bị những phương tiện cần thiết để phòng ngừa tai nạn lao động Điều

đó đã để lại những hậu quả đáng tiếc xảy ra, để lại đằng sau đó nhiều vấn đề phải lo cho gia đình và xã hội Trong thời gian qua cũng có nhiều ca ngộ độc thực phẩm do các chế độ phúc lợi cho NLĐ như chất lượng các bữa cơm trưa mà NSDLĐ không

hề chú trọng tới, để công nhân phải ăn thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp hoặc thực phẩm tái chế sau khi bị ôi thiu, hỏng mốc, chế biến không hợp vệ sinh Như vậy, Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc đề xuất ý kiến và thương lượng với NSDLĐ về việc trang bị các phương tiện đảm bảo an toàn lao động như nón bảo hộ, trang phục bảo hộ, bình chữa cháy, và nâng cao các chế độ phúc lợi cho NLĐ như việc nâng cao chất lượng các bữa ăn

Các nội dung khác mà hai bên quan tâm56, đây là quy định mở, Công đoàn và NSDLĐ có thể thương lượng bất cứ vấn đề nào hai bên quan tâm Để bảo vệ quyền lợi của NLĐ, Công đoàn cần nắm bắt, tìm hiểu những nhu cầu của tập thể NLĐ mà không liên quan đến những vấn đề đã đề cập ở trên, thương lượng với NSDLĐ một cách phù hợp để đi tới sự đồng thuận và ký kết TƯLĐTT Các vấn đề đó có thể là thể thức giải quyết tranh chấp lao động; ăn giữa ca; phúc lợi tập thể; trợ cấp việc hiếu, hỷ,

Tóm lại, qua việc thương lượng tập thể, Công đoàn và NSDLĐ có thể xác lập

các điều kiện lao động mới mềm dẻo, linh hoạt hơn, phù hợp với tình hình doanh nghiệp, và đó cũng là cơ sở đi đến ký kết TƯLĐTT tại doanh nghiệp; đồng thời cuộc thương lượng giúp giải quyết những khó khăn, vướng mắc của NLĐ và NSDLĐ, giúp hai bên hiểu rõ nhau hơn, giúp cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả tốt và quyền lợi NLĐ được đảm bảo Như vậy Công đoàn

có vai trò quan trọng, để làm được những điều này đòi hỏi Công đoàn phải có đội

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Trường Đại học Công đoàn, Giáo trình lịch sử phong trào công nhân, Công đoàn thế giới và Việt Nam, Nguyễn Viết Vƣợng (chủ biên), Nxb. Lao động Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử phong trào công nhân, Công đoàn thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Lao động Hà Nội
6. Đào Thị Hằng, “Cơ chế ba bên và khả năng thực thi trong pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế ba bên và khả năng thực thi trong pháp luật lao động Việt Nam”
7. Lê Thị Hoài Thu, “Cơ chế ba bên - Những vấn đề đặt ra trong pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế ba bên - Những vấn đề đặt ra trong pháp luật lao động Việt Nam”, "Tạp chí khoa học pháp lý
8. Nguyễn Xuân Thu, “Cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 120, tháng 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động”, "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 120
9. Đỗ Năng Khánh, “Một số vấn đề lí luận về thỏa ƣớc lao động tập thể”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận về thỏa ƣớc lao động tập thể”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
10. Đỗ Năng Khánh, “Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thỏa ƣớc lao động tập thể”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 1/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thỏa ƣớc lao động tập thể”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
11. Hoàng Thị Minh, “Nghiên cứu so sánh về mối quan hệ giữa thỏa ƣớc lao động tập thể và pháp luật lao động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học (số 10/2009). Báo cáo của các tổ chức, cơ quan Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh về mối quan hệ giữa thỏa ƣớc lao động tập thể và pháp luật lao động quốc gia ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
1. Hiến pháp nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam năm 1992. 2. BLLĐ năm 2012 Khác
4. BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007). 5. Luật Công đoàn 1990 Khác
6. Nghị định 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 5 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 10 Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Khác
7. Nghị định 196/1994/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 31 tháng 12 năm 1994, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thỏa ước lao động tập thể Khác
8. Nghị định 93/2002/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 11 tháng 11 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thỏa ƣớc lao động tập thể Khác
9. Nghị định 47/2010/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 6 tháng 5 năm 2010 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động Khác
10. Nghị định 87/2007/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 28 tháng 5 năm 2007 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Khác
11. Quyết định 1846/QĐ-LĐTBXH, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 25 tháng 12 năm 2008 về việc thí điểm thực hiện thương lượng, ký kết thỏa ƣớc lao động tập thể ngành Dệt may Việt Nam Khác
14. Nghị định 18/NĐ-CP, của Chính phủ, ngày 26 tháng 12 năm 1992 về việc ban hành quy định về thỏa ƣớc lao động tập thể Khác
15. Nghị định 172/1963/NĐ-CP của Hội Đồng Chính Phủ ban hành, ngày 21-11- 1963 về việc ban hành điều lệ tạm thời về chế độ ký kết Hợp đồng Tập thể các xí nghiệp Nhà nước Khác
1. Công ƣớc 87 của ILO, năm 1948, Công ƣớc về quyền tự do liên kết và việc bảo vệ quyền đƣợc tổ chức Khác
2. Công ƣớc 135 của ILO, năm 1971, Công ƣớc về đại diện của NLĐ Khác
4. Công ước 154 của ILO, năm 1981, Công ước về thương lượng tập thể Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w